--- o0o ---
Lời Tựa
Tổ Quy
Sơn dạy: “Nếu mình chưa là bậc thượng lưu, vượt thẳng lên thềm Vô thượng
giác thì hãy để tâm vào giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh
hoa, truyền bá tuyên dương tiếp dẫn hậu lai, trả ơn Ðức Phật. – Lời vàng
ngọc ấy như tiếng chuông đánh thức tâm hồn tôi phải luôn nghĩ nhớ ơn đức
Tam Bảo và đàn na thí chủ.
Với
tài hèn đức mọn, nghĩ rằng mình chưa thể đóng góp cho sự nghiệp HOẰNG PHÁP
LỢI SINH một cách xứng đáng, lớn lao như các bậc Tổ Sư tiền bối. Tuy thế
“thà thắp lên một ngọn đèn leo lét còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”.
Với
nhiệt tình ấy cùng với sự khuyến khích nung đúc ý chí của các bậc Tổ Thầy,
các vị Giáo sư tại Phật học viện Thiện Hòa chùa Giác Ngộ khiến tôi mạo
muội soạn ra tập sách này. Vả lại đây cũng là sự kết tập các buổi thuyết
giảng tại Chùa, nhằm làm tài liệu tham khảo thêm cho Phật tử tại gia tu
học.
Mặc dù
về Nhân thừa Phật giáo, đã có rất nhiều sách của các Cao Tăng, thức giả
trình bày, chỉ dẫn rất rõ ràng cặn kẽ, nhưng thiết nghĩ, mỗi cuốn sẽ có
một nét hay riêng của nó. Mong rằng tập sách này sẽ không thừa đối với
những người thích nghiên cứu, tìm hiểu giáo lý đạo Phật.
12-1982
Nếu cõi đời không đau khổ tối tăm
ta không xuất hiện ở trần gian
SAKYA
MUNI
Cuộc sống
nhân loại càng ngày càng trở nên phức tạp và hỗn hợp. Vì mãi đấu tranh cho
cuộc sống, cho những dục vọng tham, sân, si đã dắt dẫn con người đi sâu
vào con đường của đau khổ, sa đọa. Do bởi không nhận chân được thực tướng
vô thường của thế gian, rõ biết sự giả hợp nơi bản thân, sự sinh diệt của
vũ trụ nên mải mê tham đắm khổ cầu chạy theo thị dục, thị hiếu của xã hội
để rồi phải sa lầy vào đống bùn nhơ tham vọng. Càng đấu tranh, khuấy động
bao nhiêu thì bùn lầy tội lỗi sẽ nhận chìm con người lún xuống bấy nhiêu.
Như vậy đã sa vào vũng bùn tham dục, còn khuấy động thêm nữa thì hậu quả
càng trầm trọng khó có thể trở lên nơi khô ráo một cách dễ dàng được.
Từ chỗ sạch sẽ đi vào con đường
bùn lầy. Ví như bệnh đã bộc phát nơi thân thì phải có phương pháp, thuốc
men chữa trị. Vậy muốn lìa khổ được vui chúng ta phải theo sự chỉ dẫn của
những vị hướng đạo. Ðại biểu là Ðức Phật. Vì Ngài là người đã chứng nghiệm
bằng chính bản thân và đạt đến kết quả giải thoát, xứng đáng làm mô phạm
cho cả trời người noi theo học tập. Chính các đệ tử của Phật đã hành trì
theo lời dạy và thâu hoạch được rất nhiều lợi ích an vui, hạnh phúc, giải
thoát trong cuộc sống. Lịch sử ra đời của đạo Phật đã chứng minh điều đó,
không phải chuyện hão huyền vô căn cứ. Mỗi người trong chúng ta ai có thực
hành mới thấy được giá trị đích thực cao siêu tuyệt vời của nó. Ví như
người uống nước nóng lạnh tự mình biết được. Như người thưởng thức những
món cao lương mỹ vị mới có thể cảm nhận cái ngon lành thơm quý của các món
ấy mà thôi. Nếu chỉ nghe và biết, chưa hoặc không trực tiếp hưởng thụ thì
chẳng bao giờ được lợi ích thiết thực.
Giáo pháp Ðức Phật có muôn ngàn
phương tiện. Thế nên tùy theo căn cơ trình độ chúng sinh thích hợp mà thực
hành. Ðiều này đòi hỏi con người phải có một trí tuệ sáng suốt để nhận
định, chọn đúng hướng đi cho mình, khỏi nhọc lòng mà kết quả lại khả quan.
Nhưng cho dù pháp môn nào đi nữa cũng không ngoài mục đích hướng dẫn chúng
sinh lìa khổ đạt vui, giũ sạch phiền não tham sân si đạt đến chỗ thanh
tịnh giải thoát. Ðức Phật dạy: “Cũng như nước trong tất cả biển duy
chỉ có một hương vị, hương vị của mặn. Trong tất cả giáo pháp của Như Lai
chỉ có một hương vị, hương vị của giải thoát”. Ðường đến thủ đô Hà Nội
có rất nhiều, hoặc gần hay xa, mau hay chậm, tùy theo lữ hành chọn lựa.
Tuy nhiên, nếu biết nhầm đường mà không trở lại, có bệnh mà không chịu
kiêng cử, uống thuốc, lỗi ấy không phải tại người hướng đạo không chỉ dẫn
cặn kẽ, thầy thuốc không căn dặn rõ ràng, mà chính do ta không chịu hồi
đầu đi theo con đường bằng phẳng, chẳng chịu uống thuốc, chắc chắn không
bao giờ ta đến nơi tốt đẹp hoặc hết bệnh cho được. Chẳng phải đường khó mà
do lòng ta ngại khó, chẳng phải tại thuốc không công hiệu mà tại ta sợ
đắng. Phải đi, dù cho đi chậm vẫn còn hơn không. Phải uống, dù cho chưa
hết bệnh ngay nhưng thuốc sẽ thấm dần vào cơ thể. Kiên trì nhẫn nại tiến
bước thì dù xa đến đâu, khó khăn cách mấy cũng sẽ vượt qua và tới đích.
Trái lại, nếu một bước tới hai bước lùi thì dù cho lâu đài hạnh phúc có
hiển hiện trước mắt vẫn xa ta muôn trùng chẳng làm sao tới được. Thanh Sĩ
có câu:
Cố đi mãi đường dài hóa ngắn
Còn nghỉ luôn lộ cận hóa xa.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật
dạy: “Nhân thị tối thắng, năng sinh nhất thiết chư thiện pháp cố”.
Nghĩa là: Con người là hơn cả, vì con người có khả năng thể hiện hết thảy
mọi sự cao đẹp. Thật vậy, nhìn hạn hẹp vào một thế giới ta đang sống, con
người là một động vật như bao loài động vật khác. Cũng tham sống, sợ chết,
cũng đau khổ buồn vui, cũng thỏa mãn dục tính... Nhưng do lý trí và khả
năng sáng tạo, con người đã vượt lên trên mọi động vật khác, thay đổi và
chuyển biến cuộc đời từ lạc hậu thô sơ đến tiến bộ thẩm mỹ. Xét về mặt
rộng, theo kinh Phật dạy, con người là một thú trong lục đạo luân hồi. Tuy
cõi Ta bà mà ta hiện sống là tạp sinh và khổ vui lẫn lộn, không như các
cõi khác có sự phân định rõ rệt. Nhưng nhờ ở điểm này mà con người có ưu
thắng và dễ ý thức về tính cách vô thường của thế gian để cầu tiến.
Dưới tuệ nhãn của Phật:
“Trong tất cả các loài, con người có đủ điều kiện hơn, như về trí khôn
ngoan chẳng hạn. Nhất là hoàn cảnh con người không quá khổ như địa ngục,
không quá vui như thiên đàng và không ngu si như thú vật” (Kinh Ưu
Bà Tắc). Xét về lục đạo luân hồi, ta có thể phân chia cõi Trời biểu
tượng sự vui và địa ngục biểu tượng của đau khổ đọa đày. Ðối với cảnh giới
cao đẹp, chúng sinh ở cõi Trời toàn hưởng những phước báu, thân hình tốt
xinh, tướng hảo uy nghi, khí hậu thanh khiết, cảnh trí trang nghiêm tuyệt
mỹ, cuộc sống đầy đủ tiện nghi sung sướng, những thứ khổ não lo sầu không
thể xâm nhập len lỏi vào thế giới ấy được. Từ nguyên nhân hoàn hảo này
khiến họ trở nên giải đãi chỉ biết hưởng thụ mà không tiến tu hầu tăng
trưởng thiện pháp. Khi đã hết phước báo đã gieo trồng trong quá khứ, rồi
tùy theo nghiệp lực có thể sa đọa trở xuống cảnh giới thấp hơn thậm chí
còn rơi vào khổ cảnh. Ðó là luật tiến hóa và đào thải của vũ trụ nhân quả.
Ví như chiếc thuyền trên dòng nước ngược nếu không tiến ắt phải bị lùi.
Tương phản với cõi Trời là địa ngục. Những chúng sinh đọa đày nơi khổ cảnh
này hoàn toàn không có một chút vui sướng, luôn sống trong những lo âu sợ
sệt, chịu bao cực hình đau khổ, chung quanh họ toàn là cảnh tượng hãi hùng
diễn biến. Do quả nghiệp này, họ khó có thể phát khởi thiện tâm, gieo nhân
giải thoát cho được. Duy chỉ có con người là trọng tâm giữa các sự khổ và
vui, là nấc thang thăng hoa từ phàm phu đến quả vị Thánh Hiền, là chủ thể
của vạn hữu. Do vậy con người được tôn xưng là tối linh hơn cả: “Nhân
linh ư vạn vật”. Con người có khả năng tự định đoạt vận mạng tương lai của
mình. Con người dễ đạt đến quả vị Chánh đẳng Chánh giác.
Trong Kinh Pháp Cú, Phật dạy:
“Làm dữ bởi ta mà nhiễm ô cũng bởi ta. Làm lành bởi ta mà thanh tịnh
cũng bởi ta. Tịnh hay bất tịnh cũng bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ta
thanh tịnh được”. Vậy chính ta làm cho ta trong sạch và cũng chính ta
làm cho ta ô nhiễm. Hạnh phúc hay đau khổ do chính con người tạo ra, không
ai có quyền ban phước giáng họa hoặc thưởng phạt ai cả. Chỉ có nhân quả
nghiệp báo là quan tòa công lý vận hành quyết định số phận của mỗi chúng
sinh mà thôi. Ví như một người được gọi là bác sĩ, có phải do tự nhiên mà
được không? Hoặc Thượng đế hay vị Thần nào đó “cảm tình riêng” vì lỡ nhận
chút ít quà cáp biếu xén nên đã tặng cho ông danh hiệu ấy? Không, chính
thực tế nhân quả đã tạo thành danh phận bác sĩ. Với một quá trình lâu dài
học tập chuyên cần, tốn bao công sức, tài của, trong đó ý chí là sức mạnh
vô biên thúc đẩy để người ta trở nên những tài năng hữu ích. Do lẽ đó mỗi
con người chúng ta phải tự tạo cho mình một lý tưởng để từ đó mà thăng
tiến, xây dựng một tương lai huy hoàng xán lạn.
Muốn qua sông phải nhờ thuyền,
nhưng có thuyền cũng chưa đủ, cần phải chống chèo nó đi. Muốn trở thành
con người hoàn thiện, hưởng sự an vui giải thoát, chúng ta không chỉ có
phương pháp hướng dẫn sẵn sàng, mục đích rõ rệt mà điều quan trọng nhất là
phải thực hành cho đúng và cho được. Cái khó là ở chỗ này. Thế nên sau khi
tiếp thu và hiểu thấu lời Phật dạy, chúng ta nên từng bước từng bước chậm
rãi mà đi. Như người leo núi cao chẳng nên hấp tấp vội vã. Nếu không cẩn
thận vô tình trợt chân té ngã sẽ khó lòng đi tiếp được. Chẳng may “bất đắc
kỳ tử” thì coi như bao nhiêu công trình đều dang dở hết. Hãy nhớ câu “Dục
tốc bất đạt”. Hoặc cây chóng lên thì dễ bị gió thổi gẫy non. Thế nên, TU
NHÀ là bước đầu căn bản cho người Phật tử tại gia làm bàn đạp tiến lên con
đường giải thoát sau này. Vậy thế nào là TU NHÀ?
Nói đến chữ TU có lẽ – hầu như
đa số – đều nghĩ ngay đến ông sư bà vãi nào đó ở chùa, giam mình trong
cảnh hiu quạnh cô độc, quanh năm suốt tháng chỉ tương dưa, rau quả khổ
hạnh, suốt đời áo vải nâu sòng chẳng biết gì đến thế sự nhân tình... Nói
chung họ gần như là người chôn vùi cuộc sống nơi cửa Thiền, “còn sống mà
coi như đã chết”. Do vậy nhiều người rất sợ tiếng “TU”. Khi xưa hễ ai nói
với tôi về vấn đề tu hành là tôi gạt ngang phản đối lại liền. Bởi vì tôi
rất “cữ” tiếng ấy. Ðiều này cũng dễ hiểu tại sao tôi lại cữ. Thú thật tôi
rất sợ gò bó, không được tự do nhất là – xin độc giả chớ cười – không được
đi xem xi nê! Lại thêm một tội mê coi đá banh, vì ít ra tôi đã có một thời
là “cầu thủ tí hon”. Nếu xét cho cùng chữ tu không phải tuyệt đối như thế,
mà còn tùy theo mỗi trình độ tu hành của con người. Vậy Tu là gì?
Chữ tu nói chung là sửa đổi.
Nếu đi cùng với một từ nào đó nó sẽ cho ta được nhiều nghĩa. Chẳng hạn:
Tu tâm: Sửa đổi tâm tính từ tà
vạy thành ngay thẳng, xấu ra tốt, dữ hóa hiền, ích kỷ thành độ lượng, phàm
thành thánh...
Tu thân: Sửa mình cho đứng
đắn, nghiêm trang, tề chỉnh. Hành động phải cẩn thận không nên phóng túng
buông lung...
Tu bổ: Sửa đổi cho được tốt
đẹp, thêm thắt cho đầy đủ. Như tu bổ nhà cửa, kiều lộ, tịnh xá...
Tu dưỡng: Sửa những điều xấu
và vun bồi nuôi dưỡng các điều thiện.
Tu hành: Sửa đổi và thực hành
theo một phương pháp nào đó để đưa hành giả đạt đến lý tưởng mà họ theo
đuổi.
Nói tóm lại, chữ tu có nghĩa là
sửa đổi và bồi bổ. Sửa những điều sai trái, sai lầm, xấu ác; bồi bổ đức
tính từ bi hỷ xả, tăng trưởng các thiện pháp tới chỗ chân thiện mỹ. Người
tu ví như kẻ sửa đường, chỗ nào cao thì san xuống cho bằng, chỗ nào thấp
trũng bồi đắp lên cho đầy. Thế nên ý nghĩa chữ tu này tùy theo trình độ mà
có cao thấp khác nhau. Từ người xấu thành tốt, từ phàm phu đến Thánh Hiền,
từ chúng sinh lên quả vị Phật.
Còn “nhà” là nơi tụ họp của một
gia đình nhỏ hẹp, trong đó có cha mẹ con cái cùng nương náu để che mưa đỡ
nắng, xây dựng cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc. Nhà là một phần tử hết
sức quan trọng trong cộng đồng xã hội, là môi trường đạo đức rất tốt, sản
sinh ra những nhân tài sau này nối tiếp cha ông xây dựng đất nước, cường
thịnh quốc gia. Một xã hội có thể ví như tòa nhà đồ sộ, mỗi gia đình là
một viên ngói đan khít với nhau để che chở bảo vệ đồ vật trong nhà khỏi bị
mưa nắng làm hư hoại. Nếu một tấm ngói – một gia đình – bị hư bể thì toàn
bộ căn nhà cũng ảnh hưởng không ít. Do vậy, nói chung thì một gia đình hay
gần hơn nữa là từng con người sẽ đóng một vai trò khá quan trọng trong
việc xây dựng và cải hóa thế giới Ta bà thành cõi Tịnh độ hiện tiền.
Tóm lại, TU NHÀ là nói về những
điều cơ bản mà người Phật tử tu tập tại gia, trong phạm vi gia đình chưa
vượt khỏi hạn chế bổn phận và trách nhiệm đối với cha mẹ, vợ chồng, con
cái. Thế nên, hiểu rõ chữ Tu người Phật tử phải biết phận sự của mình ở
địa vị nào hầu làm tròn. Ðồng thời để tránh tình trạng có người vừa quy y
Tam Bảo, hiểu chút ít giáo lý Phật về nhà lại tỏ ra lãnh đạm thờ ơ với
công việc gia đình, chẳng thiết quan hệ với ai, nhắm mắt làm ngơ không
thèm thấy nghe tin tức thế sự. Thậm chí đến việc giáo dục con cái cũng
“phớt tỉnh Ăng lê” luôn. Sống chết tốt xấu mặc bay, ta cứ thản nhiên lim
dim ngồi niệm Phật cầu sinh Tây phương Tịnh độ. Hành động ấy ta lại vô
tình gây thêm sự xáo trộn, bất hòa giữa cha mẹ và con cái, sai tinh thần
giáo lý Phật dạy.
Tu đâu phải tách biệt mọi quan
hệ với mọi người chung quanh. Chúng ta nên nhớ câu: “Bà con xa, không bằng
láng giềng gần”. Ðời sống con người đâu phải lúc nào cũng bình thản, lặng
yên, đôi khi cũng có những biến cố tai họa xảy đến. Nếu thật sự hằng ngày
ta chẳng thèm đếm xỉa đến ai, thì khi gia đình ta hữu sự lẽ nào ta lại
thản nhiên ngồi đón nhận những ân huệ kẻ khác ban cho, quả là tủi hổ lắm
đấy! Tu đâu phải nhắm mắt bịt tai, nếu có chăng là đừng nhìn bậy, đừng
nghe lời xàm quấy. Còn tất cả sinh hoạt tin tức xã hội rất cần thiết cho
việc mở mang kiến thức và là bài học quý giá để chúng ta học tập và ngăn
ngừa. Trong Kinh Bát Ðại Nhân Giác có dạy: “Quảng học đa văn,
tăng trưởng trí tuệ”. Nếu chúng ta không học rộng nghe nhiều làm sao
tăng trưởng trí tuệ cho được?
Ý nghĩa của chữ học ở đây không
chỉ có cắp sách đến trường mới gọi là học. Thực ra qua kinh nghiệm bản
thân, qua thực tế hiện sinh, qua những cái mắt thấy tai nghe, qua sách vở
ta chọn lọc tiếp thu được những điều hay lẽ phải, tất cả hình thức đó đều
là học cả. Thế nên theo dõi tin tức thế gian là nâng cao kiến giải cho sự
tu hành của mình phù hợp với quy luật phát triêån của xã hội. Riêng vấn đề
giáo dục gia đình, người Phật tử phải có trách nhiệm cao hơn nữa. Khi chưa
hiểu đạo thì ta hướng dẫn con cái theo chiều hướng thế gian. Nay hiểu đạo
phải có bổn phận hướng dẫn con trẻ sống theo tinh thần Phật dạy. Thế nên,
tu không phải mặc nhiên, ai làm gì thì làm, tốt xấu mặc kệ, mình chỉ biết
lo phận mình là đủ. Chính ra người hiểu đạo phải tích cực cải thiện bản
thân và khuyến hóa người khác tránh ác hành thiện.
I. SỰ TU THÂN CỦA CHA MẸ
A. ÐỐI VỚI BẢN THÂN
Cha mẹ là người thầy giáo đầu
tiên, là bài học vỡ lòng, là tấm gương sáng để con trẻ soi bóng, noi theo
và học tập. Ðức hạnh của cha mẹ ảnh hưởng lớn tới đời sống tương lai của
con trẻ. Vai trò cha mẹ trong gia đình ví như vị đứng đầu quốc gia. Gia
đình hạnh phúc hay chia rẽ, anh em có trên kính dưới nhường hòa thuận hay
không, quốc gia hưng thịnh hay suy vi, nhân dân an cư lạc nghiệp hay đói
khổ loạn lạc đều do cha mẹ hay vị lãnh đạo trực tiếp hoặc gián tiếp có
trách nhiệm về sự tốt hay xấu ấy.
Khổng Tử nói: “Thành ý, chính
tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Theo quan điểm của ông
cũng lấy tu thân làm gốc trong việc tề gia trị quốc bình thiên hạ. Ðối với
cha mẹ việc tu thân rất cần thiết. Vì qua đó mà con trẻ mới cảm thụ, thấm
nhuần những cái hay cái đẹp toát ra từ hành động thiết thân hằng ngày. Ví
như một bông hoa thơm, một nén hương trầm để trong nhà sẽ tỏa ngát hương
thơm đến tất cả mọi người. Trái lại, nếu là hũ mắm mở nắp thì thật cơ khổ
cho con cháu và mọi người khi bước vào nhà ấy! Thế nên, muốn xây dựng tô
bồi hạnh phúc gia đình, muốn làm mô phạm giáo dục con cháu, muốn trở thành
người hữu ích cho xã hội, muốn làm việc quốc gia đại sự... trước tiên con
người phải biết tu sửa bản thân, biết cải ác tùng thiện, làm tròn bổn phận
trách nhiệm vị trí của mình, nhiên hậu mới có thể thực hiện được các lợi
ích trên.
Là Phật tử tại gia vấn đề tu
thân càng phải thể hiện một cách tiêu biểu, tích cực hơn nữa. Vì sao thế?
Vì chúng ta đã tự hào hãnh diện, sung sướng mang danh Phật tử tức là con
Phật. Mà Phật đại biểu cho trí tuệ siêu tuyệt, tình thương vô lượng. Ít ra
chúng ta “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” chứ! Suốt 49 năm
ròng rã, Phật luôn vì lợi ích cho chúng sinh không ngừng gian khổ hành
đạo, gieo rắc ánh đạo vàng khắp cõi Ta bà, hướng dẫn nhân loại lên đường
giải thoát, nêu bao gương hạnh cao quý, uy đức trang nghiêm để thâu phục
lòng người, cảm hóa kẻ ác, khiếp đảm ma quân. Ngày nay chúng ta hữu phước
đa duyên gặp được Tam Bảo thấm nhuần đôi chút giáo lý Phật đà, thừa hưởng
gia tài Pháp bảo, ta phải cố gắng tu tập để khỏi phụ lòng những vị đã khai
đạo, noi theo dấu chân xưa hầu tô điểm đức hạnh, làm đẹp cuộc đời. Ðược
vậy, mới xứng danh đệ tử của đấng “Thiên nhân chi đạo sư, tứ sinh chi Từ
phụ”.
Sự tu thân của cha mẹ sẽ là
nhịp cầu bắc ngang giữa lời dạy của Ðức Phật. Vì qua lời nói, cử chỉ, hành
động hằng ngày mà con trẻ sẽ hiểu phần nào giá trị giáo lý Phật và ít
nhiều nó cũng nhận ra rằng Phật pháp đã tạo nên những đức hạnh mẫu mực ấy
nơi cha mẹ mình. Từ những hành vi cao đẹp, những việc làm từ thiện hữu ích
đó sẽ dần dần ăn sâu, ảnh hưởng trực tiếp vào tiềm thức con trẻ và là bài
học thực tế nhất giáo dục chúng trở thành những đứa con hiếu hạnh, có đạo
đức và là công dân tốt của xã hội tương lai. Sự tu thân của cha mẹ cần nên
thực hiện các điều sau:
1/ Tránh sát sinh
Trong Kinh Pháp Cú Phật dạy:
“Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ sự chết. Vậy lấy lòng mình suy
lòng người, chớ giết chớ bảo người giết”. Tất cả chúng sinh đều có
tính tham sống sợ chết. Vì mạng sống là điều rất quý. Tiền bạc mất đi có
thể kiếm lại được bằng sức lao động và sự cần kiệm, sức khỏe hao mòn suy
yếu có thể phục hồi bằng thuốc men, ăn uống bồi dưỡng, thế nhưng thân
người nếu mất đi muôn kiếp khó được. Chúng ta nên biết mọi nhân lành quả
tốt đều từ sự sống mà nảy sinh. Do vậy, với bản tính tự nhiên ai ai cũng
ngán sợ trước những thảm cảnh giết hại dã man, những tai nạn khủng khiếp
xảy đến với mình. Cứ suy lòng mình ra lòng người, những gì mình sợ, mình
không muốn thì đừng nên tạo cái khổ cho kẻ khác. Như câu Khổng Tử đã nói:
“Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Ðiều mình không muốn thì đừng đem đến cho
người) là thế. Hiểu được mạng sống là quý, giết hại làm mất sự sống kẻ
khác là độc ác, người Phật tử phải luôn luôn tôn trọng sự sống, không vì
tham vọng hay ích lợi riêng tư mà hủy hoại sự sống.
Tránh sát sinh sẽ tạo cho chính
bản thân cha mẹ được các điều như:
a/ Nuôi dưỡng lòng từ và
dạy con đức tính từ ái
Tình thương là chất nhựa gắn
liền con người với con người, con người với muôn loài động vật khác. Nó
làm cho nhân loại chúng sinh gần gũi, thông cảm và thương yêu nhau hơn. Ðể
hiểu rõ điều này qua lịch sử cuộc đời Ðức Phật ta thấy: Khi Ngài từ bỏ
cung điện nguy nga, vợ đẹp con xinh, một mình dấn thân vào rừng sâu cảnh
vắng tầm đạo, sống đơn độc không một vũ khí nơi mình, trong khi chung
quanh Ngài toàn những thú dữ, nhỏ như muỗi, mòng, rắn, rít, lớn như cọp,
beo, sư tử, gấu... Thế nhưng tại sao Ngài vẫn ung dung trải qua bao tháng
năm nơi rừng thiêng nước độc mà không hề tổn thương đến tính mạng? Ðây là
điều mà ít ai để ý nhưng rất quan trọng. Hay là Ðức Phật có phép lạ chăng? Hay Ngài có võ thuật cao cường? Hoặc phương thuốc bí truyền nào đó?
Không, chẳng có một sức mạnh nào khác hơn tâm bình đẳng và lòng từ bi vô
lượng của Ngài. Chính những đức hạnh này là mạng lưới vô hình bao bọc, che
chở, đồng thời cảm hóa tất cả thú dữ quy phục dưới chân Ngài.
Ðể thực tế chứng minh rõ lòng
từ và tâm bình đẳng có tác dụng thế nào, hằng ngày trong cuộc sống ta cố
gắng thể hiện tình thương và hòa hợp với bà con lối xóm, tận tụy giúp đỡ
họ lúc khó khăn hoạn nạn, chúng ta sẽ cảm thấy mọi người yêu thương, quý
mến ta thế nào. Ðối với loài vật cũng vậy, nếu ta thương mến chúng, chúng
sẽ gần gũi và không sợ hãi ta.
Do đó tránh sát sinh cũng có
nghĩa là nuôi dưỡng lòng từ, thể hiện tâm bình đẳng với muôn loài, không
nỡ thấy những chúng sinh bị đâm giết, quằn quại đau khổ. Từ tâm niệm ấy sẽ
giúp cho ta thông cảm nỗi khổ đau của kẻ yếu và phát khởi tình thương chan
chứa đến muôn loài. Do tôn trọng sự sống và lấy từ bi làm phương châm hành
động sẽ cảm hóa được con trẻ xa lìa tâm sát hại, nẩy nở đức tính thương
người mến vật và biết quý trọng sự sống, mở lòng bao dung rộng rãi đến tất
cả muôn loài.
b/ Tránh nhân quả báo ứng
và thù hận
Có lẽ làm người ai cũng muốn
sống trong sự an vui hạnh phúc, không thích kẻ nào quấy rầy hoặc dùng bạo
lực để gây thương tổn đến bản thân. Ðó là mong ước của mọi loài động vật.
Ðúng, chỉ có thế thôi: An vui hạnh phúc và không bị ai quấy rầy sát hại.
Tuy nhiên, với sức mạnh và sự bất công của con người nói chung, lại tìm sự
an vui hạnh phúc trên những đau khổ đọa đày của kẻ khác, thỏa lòng thích
khẩu trước những cái chết thê thảm của các loài khác. Nếu đứng về phương
diện bình đẳng giữa sự sống với nhau, thì hành động ấy quả thật là “cá lớn
nuốt cá bé” hoặc “mạnh được yếu thua”. Chúng ta cứ tưởng tượng một con gà
đang vùng vẫy trước sức mạnh của con người. Họ đè cánh chúng, trói chân
lại, nhổ lông, rồi kê dao vào cổ cứa ... cứa ... ôi chao ghê quá! Máu
chảy ra. Thử hỏi con gà ấy có đau khổ, oán thù kẻ cắt cổ nó không? Rồi ta
hãy xét qua trường hợp này. Một gia đình nọ đang sống êm ấm an vui hạnh
phúc. Bỗng một hôm có toán quân cướp với vũ khí trong tay xông vào nhà
cướp của và bắt con gái hiếp dâm. Người cha thấy vậy quá đau lòng nhào vô
can ngăn và bị chúng dùng dao đâm chết. Trước thảm cảnh này vợ và con sẽ
nghĩ gì? Có căm tức oán thù bọn cướp ấy không? Nếu có thì làm gì họ được
đây hay cũng đành cắn răng nhẫn chịu trước lưỡi dao họng súng kia? Qua
hai trường hợp ấy chúng ta thấy chỉ vì sức yếu nên con vật chịu cắt cổ
trước sức mạnh của loài người, con người bất lực dưới sức mạnh của tập thể
uy hiếp, họng súng dọa nạt. Thế nhưng hai trường hợp ấy đâu phải kẻ cô yếu
không oán hờn mong ngày báo thù? Nếu xét về nhân quả, không sớm thì muộn
hễ gây ác nhân sẽ gặt ác quả. Kinh Pháp Cú Phật dạy: “Người nào cầu
hạnh phúc cho mình mà dùng dao gậy phá hoại hạnh phúc kẻ khác thì sẽ không
bao giờ được hạnh phúc”.
Một vấn đề nan giải là người mẹ
phải đảm đương về việc ăn uống hằng ngày của gia đình, làm sao tránh khỏi
sát sinh? Có lẽ nhiều Phật tử băn khoăn lo nghĩ như thế. Ở đây chúng tôi
mong rằng quý vị nên cố gắng bằng mọi cách giảm tối đa việc sát sinh. Nếu
vì gia đình đòi hỏi hoặc cần ăn thì ta có thể mua những thứ bán sẵn ở chợ
đem về nấu nướng. Thế mình không giết, đi mua ở chợ người ta giết sẵn mình
ăn cũng là tội vậy? Ðúng, nhưng vì không còn giải pháp nào hơn, chúng tôi
đành phải đề nghị như thế. Nếu chúng ta không ăn thì đâu có ai giết bán
làm gì! Ðã ăn thì không trực tiếp cũng gián tiếp khuyến khích kẻ khác sát
sinh.
Ngoài ra, cha mẹ nên ngăn ngừa
và nhắc nhở con trẻ không nên lấy việc giết hại để làm trò giải trí. Chẳng
hạn như trường hợp sau mà tôi đã chứng kiến.
Vào buổi tối nọ, sau khi công
phu chiều vừa xong, tôi nghe tiếng reo hò ầm ĩ của trẻ con xen lẫn giọng
cười thích thú của một số người lớn bên cạnh chùa. Từ trên lầu nhìn xuống,
tôi thấy một con chuột đang bị thui sống. Bọn trẻ dùng phương pháp là cột
chú chuột bằng sợi kẽm ngang lưng, treo tòn ten thòng đầu xuống, ở phía
dưới đốt lửa. Con chuột vì nóng quá phải dãy dụa, kêu la chí chóe. Nhìn
chuột vùng vẫy trong cái chết thê thảm, trong khi mọi người chung quanh vỗ
tay cười reo, tôi cảm thấy đau xót và thương hại cho lũ trẻ mới lớn đã tập
tính sát sinh, vui cười trước sự đau khổ của kẻ khác. Riêng bậc phụ huynh,
lẽ nào ta lại đứng xem con trẻ hành động thiếu lương tâm như thế. Ðã không
ngăn cản lại còn vui cười với chúng, vô tình – hay nói đúng là cố ý – ta
cũng đồng lõa với việc làm dã man của chúng. Thử hỏi, ở địa vị cha mẹ như
vậy có xứng đáng làm mô phạm hoặc đủ tư cách dạy bảo con trẻ không? Vả
lại, thử đặt ta vào trường hợp con chuột đang bị thui ấy, ta sẽ cảm thấy
thế nào? Hẳn chúng ta vẫn tự hào con người là loài động vật cấp cao, có
đầy đủ trí khôn, giàu lòng nhân ái và nhờ những đức tính này mà con người
khác hơn loài vật. Nhưng nếu chúng ta hành động theo bản năng, thiếu suy
nghĩ, trái lương tâm, thô bạo, dã man thì có khác chi loài thú đâu?
Nên nhớ, ăn để mà sống không
phải sống để “xực” cho đẫy đà thỏa mãn khẩu vị của mình. Cũng vì cái miệng
tham ăn đã đầy đọa tấm thân, gây bao nghiệp chướng và chiến tranh ngày nay
có ra cũng do từ sự xung đột tranh giành miếng ăn, chỗ ở. Tại sao ta muốn
sống, muốn giữ gìn bảo vệ sức khỏe lại đi cướp đoạt sự sống của loài khác
tô đắp cho sự sống của mình chứ? Ôi! Quả là bất công và tàn nhẫn vô
cùng. Vì phục vụ cho dục vọng, con người đã bày ra đủ mọi cách ăn uống,
chế biến đủ loại cho hợp khẩu vị, khiến bao loài vật phải chết thê thảm,
đau khổ, rên xiết. Thế nhưng “máy xay của Trời tuy chậm, nhưng xay thật
kỹ” (The mills of the gods grind slowly, but they grind exceedingly
fine – English Proverb). Không sớm thì muộn quả báo sẽ đến cho những
ai làm ác. Câu chuyện sau đây sẽ chứng minh điều ấy.
Ở Thượng Hải, có nhà triệu phú
họ Bành, một doanh thương cự phú ở đô thị. Ông nghiên cứu được món ăn rất
hấp dẫn, mệnh danh là món “quán miết giáp” (rót nước vào mai ba ba).
Ông chế một chiếc nồi đất, trên vung có đục một lỗ nhỏ vừa bằng đầu con ba
ba chui lọt. Rồi cho ba ba vào nồi nước đem đặt lên bếp đun. Dĩ nhiên, một
lúc sau nước nóng ba ba chịu không nổi phải tìm lối thoát và nó chỉ còn
một cách duy nhất là cho cổ chui ra khỏi lỗ vung nồi, nhưng thân mình thì
đâu dễ gì thoát khỏi. Nước càng nóng ba ba chỉ còn biết hả miệng chờ chết,
thế là nhà cự phú họ Bành đàng hoàng ngồi đổ gia vị vào miệng ba ba
(dầu, húng lìu, mỡ, thịt băm nhỏ) rồi bịt kín nồi hầm nhừ thành một
món ăn mà họ Bành cho là “dzách lầu” ở trên thế gian này... Họ Bành thường
ăn như vậy và thường làm cả trăm con một lúc để đãi khách. Thế nhưng “ác
giả thì ác báo”. Một hôm nhà họ Bành xảy ra hỏa hoạn, lúc ấy họ Bành đang
say sưa trong giấc mộng sau một đại tiệc toàn là món miết giáp. Khi phát
hiện ra hỏa hoạn, họ Bành tỉnh giấc thì đã muộn, lửa cháy chung quanh,
luống cuống, họ Bành tìm không ra chìa khóa cửa. Vì là cự phú nên ông rất
sợ bị bắt cóc và trộm cướp cho nên lúc nào cũng ở trong phòng kiên cố trên
lầu, cửa sắt bao bọc vững chắc. Lửa cháy tứ tung kéo đến gần kề. Cùng
đường họ Bành thấy còn một lối thoát duy nhất là chiếc cửa sổ, ông liền
chui đầu qua song sắt, nhưng khốn nỗi thân mình to béo với cái bụng nước
lèo không thể lọt qua. Lúc ấy xe cứu hỏa tới, vì đầy khói nên không thấy
họ Bành, cứ phun nước vào mặt mũi làm ông chết ngạt, đồng thời trong phòng
lửa cháy dần dần thui sống ông trong thật thê thảm. Nhìn cảnh ấy ai cũng
liên tưởng tới món miết giáp của ông. Trước kia ông hành hạ những con ba
ba vô tội hết sức tàn ác, thì bây giờ ông cũng bị chết trong trường hợp y
hệt như những con ba ba nạn nhân của ông. Thật là luật nhân quả có vay có
trả, lúc nào cũng cân xứng.
Qua câu chuyện trên ta thấy,
lúc thọ hưởng và thỏa mãn khẩu vị trên những đau khổ, quằn quại, rên xiết
của động vật khác, ta tưởng là thú lắm, sung sướng lắm, bổ béo lắm. Nhưng
khi chính ta lâm vào hoàn cảnh ấy ta mới thông cảm được thế nào là nước
sôi lửa đốt. Chừng đó ta có oán hận ngọn lửa tàn ác kia sao lại dã man
“thui” mình không một chút thương tiếc như thế, nó vẫn cứ mặc nhiên thiêu
đốt, giống như họ Bành “rung đùi” lạnh lùng thản nhiên ngồi nhìn con ba ba
thò đầu trong nồi nước sôi kia vậy. Quả là trước công lý mọi chúng sinh
đều bình đẳng. “Khi ác nghiệp chưa thành thục người ngu tưởng như đường
mật, nhưng khi ác nghiệp đã thành thục họ nhất định chịu khổ đắng cay”
(Kinh Pháp Cú)
Sát sinh có rất nhiều hình
thức, nói chung thì hình thức nào cũng dẫn đến quả báo. Tùy theo hành động
thô bạo hay tế nhị, cố sát hay ngộ sát mà có sự nặng nhẹ khác nhau. Tổ Quy
Sơn dạy: “Giả sử bá thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội
ngộ thời, quả báo hườn tự thọ”. Nghĩa là dầu trải trăm nghìn kiếp,
nghiệp tạo rồi chẳng mất, khi nhân duyên đầy đủ, quả báo trở lại mình. Thế
nên, tất cả mọi hành động nơi thân khẩu ý phải e dè thận trọng, tránh gây
nhân bất thiện. Bởi vì, một khi hạt giống đã gieo xuống đất không sớm thì
muộn, lúc nhân duyên đầy đủ nó liền nảy mầm đâm chồi. Tích truyện Mục Kiền
Liên sau đây sẽ chứng tỏ cho thấy việc sát sinh tạo sự oan trái, thù hận
rất lâu dài.
Mục Kiền Liên là một vị đệ tử
đứng vào hàng thứ hai trong Thập đại đệ tử của Ðức Phật, nổi tiếng về
phương diện thần thông đệ nhất.
Một lần nọ đang trên đường hóa
đạo, đi ngang qua núi Y Tư Xa Lê, Mục Kiền Liên bị bọn lõa hình ngoại đạo
sát hại bằng cách xô đá từ trên núi xuống. Ðá rơi loạn xạ như mưa khiến
nhục thân của Tôn giả dập nhừ tan nát.
Ðược tin này, các vị Tỳ kheo vô
cùng thắc mắc, bèn tập họp lại để cầu thỉnh Ðức Phật chỉ rõ nguyên do.
– Bạch Ðức Thế Tôn, Mục Kiền
Liên là người có thần thông oanh liệt, tại sao không dùng sức thần để đối
kháng với ngoại đạo?
Ðức Phật giải thích:
– Các Tỳ kheo! Khi Mục Kiền
Liên lâm nạn chẳng phải ông ấy không biết dự phòng mà bảo vệ cho mình khỏi
tai nạn, nhưng thần thông không vượt qua nghiệp lực, vì thần thông không
phải là biện pháp cứu cánh, người tu hành chẳng thể đi ngược lại lý nhân
quả. Mục Kiền Liên (trong quá khứ làm nghề chài lưới) vì gieo nhân
sát sinh nên quả nghiệp sát cần phải kết thúc đời này để được giải thoát
vĩnh viễn.
Là một bậc thần thông biến hóa
như Mục Kiền Liên còn không tránh khỏi nghiệp quả do mình gây tạo trong
quá khứ, huống hồ chúng ta là kẻ phàm phu đầy nghiệp chướng lại không e dè
sợ sệt tránh nghiệp sát ư! Thử nghĩ lại coi, mỗi ngày chúng ta sát hại
bao nhiêu sinh mạng loài vật? Ở đây chỉ cần đơn cử một ngày giết một con
cá thôi và một năm sẽ có 365 con chết, mười năm 3.650 con, rồi hai mươi,
ba mươi, bốn mươi năm cho đến trọn đời, chúng ta sát hại bao nhiêu? Ðương
nhiên mỗi loài sẽ căm thù một ít, hờn oán chất chồng khiến cho oan oan
tương báo, xoay chuyển trong vòng luân hồi lục đạo trả vay vay trả mãi
mãi. Ðừng tưởng lỗ nhỏ không làm đắm thuyền, tội nhỏ không phải trả báo.
Là Phật tử khá nên suy xét cẩn thận điều này. “Chẳng phải bay lên không
trung, chẳng phải lặn sâu xuống đáy biển, dù tìm khắp thế gian này, chẳng
có nơi nào trốn khỏi ác nghiệp đã gây” (Kinh Pháp Cú)
Những dẫn tích vừa qua đã cho
ta hiểu sự báo ứng và oán thù về nghiệp sát. Thế thì theo thiển ý của tôi
có lẽ ai ai cũng sợ sự khổ, sợ đau đớn, sợ tai nạn, sợ cực hình, nhất là
luân hồi sinh tử. Vậy không lý do gì ta cứ gieo thêm nhân sát sinh nữa.
Muốn không có quả ớt thì đừng trồng cây ớt, muốn hết khổ báo đọa đày đền
mạng thì đừng nên sát sinh. Vả lại, khi nêu lên mục này, chúng tôi đã dùng
hình thức tránh sát sinh để trình bày. Còn sau khi đọc xong đoạn trên, quý
Phật tử đã hiểu rõ quả báo của sự sát sinh ghê gớm như thế nào. Có lẽ vì
tình thương và tránh báo ứng, chúng ta sẽ không ác tâm đang tay giết hại
loài vật cho đành.
Miệng người là huyệt mộ, bao tử
là mồ chôn, thân là bãi tha ma đã dung chứa biết bao sinh mạng loài vật
phải chết oan uổng đau đớn vì cái xác ô uế giả tạm này. Xét cho kỹ thân
thể con người được đúc kết bằng huyết nhục, bằng oan hồn, bằng đau khổ của
loài thú. Nghiệp ác chất chồng, oán thù đầy dẫy. Vả lại thân người chỉ tồn
tại một thời gian rồi cũng hư hoại, tan rã, trả về với cát bụi. Một khi
hơi thở ra không trở lại, hỏi có đem theo được cái xác thúi này không, hay
cũng chỉ làm cho người đời ghê tởm, vùi sâu dưới ba tấc đất hoặc đốt thành
nắm tro tàn vô dụng! Lúc ấy, bao nhiêu máu thịt của súc sinh tô bồi lên
ta thể ta còn được lại gì? Rồi ai chịu trách nhiệm về những tội lỗi ấy?
Mong rằng Phật tử nói riêng và nhân loại nói chung, ai cũng muốn an vui
hạnh phúc thì đừng nên phá hoại sự sống kẻ khác.
“Ta lấy con mắt trí tuệ mà
nhìn thì thấy hết thảy chúng sinh đều là cha mẹ của nhau. Tại sao ta lại
bắt giết mà ăn thịt!” (Kinh Niết Bàn)
2/ Không gian tham trộm cắp
Mạng sống con người đã là quý,
mà những tài vật nuôi sống con người cũng không kém phần quan trọng trong
đời sống nhân loại.
Người nông dân chân lấm tay bùn
vất vả với công việc đồng áng; anh đạp xích lô còng lưng dốc sức chở
khách; công nhân quần quật suốt 8 tiếng đồng hồ nơi nhà máy; cô bán hàng
thức khuya dậy sớm với đôi gánh trên vai; người giáo viên canh thâu vẫn
còn ngồi bóp đầu nặn óc soạn bài... Tất cả những việc làm cực nhọc ấy
không ngoài mục đích vì sự sống, vì miếng cơm manh áo. Hơn thế nữa với sự
tiến bộ khoa học ngày nay, nhu cầu vật chất cao, con người làm việc không
chỉ để có miếng ăn mà còn mong sao có thêm được những phương tiện cần
thiết giúp cho sự sống thoải mái và mở mang kiến thức như: Nhà cửa, xe
máy, ti vi, cassette... Thế nên, trèo non lặn suối, đi ngược về xuôi, thức
khuya dậy sớm, buôn tảo bán tần, lao thân khổ trí cực khổ vô cùng cũng bởi
đồng tiền bát gạo, bởi cuộc sống đầy đủ ấm no. Ðược nó ai cũng vui mừng
sung sướng, gia đình vui vẻ ấm no. Mất nó người ta sẽ đau khổ xót xa, lo
rầu thương tiếc. Từ đó có thể dẫn đến tình trạng gia đình sa sút, đời sống
khó khăn khiến anh em chia lìa, vợ chồng ly cách, hạnh phúc tan vỡ.
Muốn sống con người phải có
thực phẩm để ăn; muốn ấm thân cần có quần áo để mặc; muốn có cuộc sống
thoải mái, đỡ vất vả người ta cần có những dụng cụ để sử dụng hằng ngày,
nhất là tiền bạc, một phương tiện cần thiết trong mọi sinh hoạt đời sống
nhân loại. Ắt hẳn ai ai cũng muốn giữ gìn bảo vệ nó, không thích kẻ khác
xâm phạm hoặc cướp đoạt. Vì dù sao nó cũng là thành quả của biết bao công
sức và mồ hôi nước mắt của họ đổ ra. Nếu chẳng may ai đó bị lường gạt,
hoặc bị trộm cắp, không hiểu họ có buồn rầu đau khổ, xót xa, tiếc rẻ không
nhỉ? Cứ suy lòng mình sẽ biết lòng người, của mình mình biết quý trọng
giữ gìn, không lý nào lại tham lam trộm cắp của người để làm của riêng
mình được. Ðiều này rất trái nguyên tắc, coi chừng có ngày vào tù thì khổ
đấy.
Là Phật tử tu tại gia lại thêm
bổn phận, danh nghĩa cha mẹ trong gia đình cần phải lập hạnh chân thật
ngay thẳng để con trẻ noi gương. Trong sinh hoạt hằng ngày từ cây kim,
cọng rau, quả ớt... nếu ta muốn xài phải mua, trường hợp không có thì hỏi
xin người, chớ nên tự lấy ngang và cho vật đó là không đáng. Tục ngữ ta có
câu “Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt”. Nếu từ việc nhỏ nhặt ta không
cẩn thận giữ gìn cho đứng đắn, lâu ngày thành quen thấy đồ vật quý của
người là sáng mắt muốn “chôm chỉa” liền. Cứ nhìn những người nghiện trầu,
thuốc, rượu sẽ rõ. Lúc đầu họ chỉ dùng chơi cho đỡ buồn hoặc xã giao thôi,
nhưng dần dần tập nhiễm lâu ngày thành quen (ghiền). Bấy giờ không
có thuốc hút sẽ ngáp lia ngáp lịa buồn ngủ vô cùng, cái miệng thiếu trầu
nhai nhóp nhép thì lạt lẽo chả ra làm sao cả, bữa cơm không có ba xị đế
thì mất ngon... Thế nên, muốn tránh hại lớn, ta phải cẩn thận từng hành
động nhỏ ban đầu. Hơn nữa, chúng ta hay có quan niệm những vật nhỏ bé
không đáng bao nhiêu có chi gọi là gian tham trộm cắp? Nếu lỡ thiếu hụt
chút đỉnh lấy của người xài đỡ, cũng nên vì tình đồng bào mà hoan hỷ xí
xóa cho, hơi đâu chấp nhất mần chi cho mệt người. Dạ thưa, người ta không
chấp nhất những thứ cỏn con ấy đâu, nhưng khốn nỗi nhân quả có chịu tha ta
đâu. Câu chuyện sau đây sẽ cho ta rõ thế nào là vay trả, dù là vật rất nhỏ
nếu không xin cũng phải trả.
Ngày xưa, có một ông Phú gia nọ
rất nhiều của. Mọi người trong xóm đều biết danh nhà cự phú này. Ông có
nuôi một con ngựa rất khôn, đặc biệt là nó biết nói tiếng người và có linh
tính biết trước các việc sắp xảy ra (?). Một hôm nó bảo với ông chủ là:
“Tối nay sẽ có một toán cướp gồm mười tám tên đến đây, vậy ông hãy tránh
đi nơi khác”. Ông chủ không chịu đi và nói rằng:
– Nếu quả thật bọn cướp có đến
đây thì tôi sẽ đem vàng bạc cho chúng là xong, cần gì phải đi đâu cho cực.
Con ngựa bèn đáp:
– Nếu ông không đi nơi khác, e
rằng chúng đến đây cướp của còn giết ông nữa thì sao? Tốt hơn ông hãy lấy
vàng chia ra mười tám phần để đó rồi trốn đi nơi khác, một mình tôi ở nhà
định liệu.
Ông chủ nghe xong cho là phải,
lấy vàng chia ra mười tám phần để sẵn và gia đình kéo nhau đi trốn nơi
khác. Tối hôm đó, mười tám tên cướp gõ cửa, con ngựa liền trả lời:
– Ai đó. Cứ việc đẩy cửa vào.
Sau khi nghe xong, bọn cướp
xông vào nhà chia nhau lục soát khắp nơi mà không thấy một ai, chúng mới
cất tiếng hỏi thì con ngựa trả lời:
– Chính tôi là ngựa đây, tôi
biết các ông tối nay đến đây nên tôi đã dặn chủ nhà chia sẵn mười tám phần
vàng cho các ông rồi, còn chủ nhà đã đi khỏi.
Nghe xong, tất cả bọn cướp rất
ngạc nhiên và hỏi ngựa tại sao biết nói tiếng người và biết hôm nay chúng
đến cướp nhà này. Con ngựa đáp:
– Tôi là người tu hành trong
nhiều kiếp trước, trai giới rất nghiêm minh. Chỉ vì một hôm đi hành đạo
phương xa, trong lúc băng qua một cánh đồng, vì bụng đói thấy nơi đám lúa
có một cây trổ bông duy nhất, tôi bèn xuống ngắt lấy ăn. Vì không xin chủ
nên kiếp này phải bị làm thân ngựa để đền trả lại cho chủ nhân đây.
Sau khi nghe con ngựa kể xong,
cả bọn cướp kinh hãi. Suy nghĩ về việc làm bất chính của mình từ trước đến
nay. Nhà sư chỉ vì không xin một bông lúa mà phải bị đọa làm thân ngựa để
đền trả như thế, huống chi cả đời cướp của hại người tránh sao cho khỏi
quả báo. Từ đó, họ sám hối ăn năn quay trở về con đường lương thiện, bỏ
nghề gian tham, tinh tấn tu hành về sau trở thành mười tám vị La Hán.
Cổ nhân nói: “Nhân phi nghĩa
bất giao, vật phi nghĩa bất thủ”, nghĩa là người không có lễ nghĩa thì
chẳng nên thân, đồ vật phi nghĩa chẳng nên lấy giữ. Vì vật phi nghĩa là
của cờ bạc, của rơi rớt ngoài đường, của hối lộ móc ngoặc, của lừa gạt dối
trá người... những thứ này không phải mồ hôi công sức mình tạo ra nên khó
thể bền vững lâu dài với mình được. Tục ngữ ta có câu: “Của làm ra để
trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ”. Chúng ta cứ
suy xét cho kỹ những kẻ tham lam trộm cắp lừa gạt của người đem về xây đắp
gia đình, thử hỏi họ có bao giờ hạnh phúc dư thừa đâu? Hay lúc nào cũng
phải phập phồng lo sợ đêm ngày không yên. Khi lấy của người thì muốn vơ
vét cho thật đầy, thật nhiều, đến lúc bị tội lại mong thật ít, thật nhẹ.
Giả sử nếu công việc trôi chảy êm xuôi, chưa chắc những của phi nghĩa ấy
tồn tại với kẻ gian lâu đâu. Rồi nó cũng sẽ tiêu ma hết, hoặc xui khiến
gia đình không tai kia thì tật nọ, không vợ đau thì con ốm, họa hoạn dồn
dập, rốt cuộc bao nhiêu tiền phi nghĩa ấy đổ vào thuốc thang, tai nạn cũng
chẳng đủ. Thế là nghèo vẫn hoàn nghèo, khổ vẫn hoàn khổ, chỉ thêm được một
số lời: Ðó là tội lỗi và tính gian tham. Trong bài kệ Khất sĩ có đoạn:
Thân này chưa biết ra chi
Của kia lại có chắc gì mà
ham
Bao nhiêu cho thỏa lòng tham
Càng thâu càng đắm càng làm
càng say
Tiếc cho tháng rộng năm dài
Chung quy hoang phí về tay
thần tiền
Ðược thua, thua được liền
liền
Hả hê mới đó ưu phiền đâu
đây.
Gian tham có rất nhiều hình
thức, là Phật tử chúng ta nên cẩn thận và xử lý kịp thời khi phát hiện,
không nên làm ngơ bỏ qua và cho rằng việc nhỏ không đáng. Chẳng hạn như:
Người khác trả dư tiền mình cũng làm ngơ, mượn đồ của người biết họ quên
giữ luôn xài, đi xe, qua đò không trả tiền v.v... Chính tôi khi xưa lúc
vừa lên bậc Trung học, đường đi từ nhà đến trường khoảng 8 cây số phải đi
bằng xe buýt. Hôm nào gần tới bến, lơ xe quên lấy tiền vé, tôi cảm thấy
“mở cờ” trong bụng, ngồi êm re thầm khấn cho họ chẳng nhớ đòi. Khi xuống
xe thấy êm xuôi rồi, tôi hí hửng chạy ngay đến hàng cà rem làm một cây ăn
mừng cái đã. Tôi rất thích màn này diễn ra đều đều. Quả thật là trẻ con!
Muốn tránh gian tham, không có
phương pháp nào hơn là giữ hạnh ngay thẳng và tâm chân thật. Nói chung từ
tâm niệm cho đến hành động phải thống nhất, không nên bề ngoài ra vẻ chính
trực, trong tâm lại tính toán quá chừng. Ví dụ khi ta đi đường gặp người
làm rớt bóp tiền, ngó trước nhìn sau thấy có người, ta làm bộ ra vẻ chân
thật, lượm lên gọi người ấy trao trả cho họ, nhưng khi đi thì trong lòng
tiếc rẻ, than thầm: Nếu đừng có ai trông thấy thì mình “trúng mánh” rồi,
thật xui ghê! Hành động như vậy là mâu thuẫn với tâm ý. Trái lại khi làm
việc ấy ta cảm thấy vui vẻ sung sướng vì mình vừa thực hiện việc phải,
giúp người khỏi bị đau khổ vì mất số tiền, tâm hồn khoan khoái nhẹ nhàng.
Có thế mới xứng đáng là người Phật tử chân chính.
“Ta thà giữ đạo nghèo mà
chết chứ không chịu vô đạo mà sống”
(Kinh Lục Ðộ Tập)
3/ Không nên tà hạnh
Vợ chồng là bạn tình trăm năm,
là nghĩa vụ thiêng liêng, là mối quan hệ chặt chẽ trong việc xây dựng tổ
ấm hạnh phúc gia đình, gây tạo con cháu nối dõi tông đường. Thế nên, người
bạn tình mà ta thề non hẹn biển suốt đời chung sống đến lúc răng long đầu
bạc, quả là hệ trọng vô cùng. Do vậy chúng ta không thể một sớm một chiều
mà định đoạt hoặc hấp tấp se duyên kết nghĩa thiếu sự cân nhắc, tìm hiểu
kỹ càng cẩn thận. Hậu quả của nó thường đi đến chỗ ân hận suốt đời. Tình
yêu khổ nỗi hay dẫn đến sự mù quáng. Trước mắt họ người yêu là thần tượng
tuyệt vời, đáng yêu trăm ngàn lần hơn ghét.
Trí óc có cả nghìn con mắt
Song quả tim chỉ có một mắt
thôi
Nhưng khi đã yêu
Thì ánh sáng của cả cuộc đời
sẽ tắt...”
(Harley Coleride)
Ðã yêu nhau, họ sẵn sàng tha
thứ tất cả và hình như không muốn nghe, muốn biết lỗi lầm của nhau. Chỉ có
tràn đầy yêu thương và hy vọng. Vì các cô các cậu thanh niên vẫn công bố
trước cuộc đời là: Ôi, khi yêu nhau thì không nên tính toán, tình yêu
chân thật chẳng nên so sánh thiệt hơn tốt xấu. Dạ thưa xin nhất trí với
các bạn trẻ mà hoa tình yêu vừa chớm nở trong lòng. Hẳn ta vẫn nghe nhiều
đôi bạn khi chưa kết hôn thường ca ngợi, tán thán người tình của mình nào
là: Có anh như bầu trời mở rộng, thiếu em như trái đất ngừng quay, anh là
mạng sống, là trái tim, là linh hồn, là cuộc đời, là là đủ thứ... Quả
thật, khi nên duyên cầm sắt rồi thì trái đất lại quay mạnh hơn nữa – có lẽ
vì lúc này yêu nhiều nên quay nhiều chăng! – quay đến nỗi chén bát vỡ
toang, đồ đạc trong nhà bay ra ngoài đường nằm la liệt. Hoặc sau tuần
trăng mật “Tuần đầu chồng nói vợ nghe, tuần thứ hai vợ nói chồng nghe và
bây giờ vợ chồng cùng nói cho hàng xóm cùng nghe”. (During the first
week, I talked and she listened then during a fortnight she talked and I
listened. Now the both talk and the neighbours listen). Như vậy những
lời tâm sự của đôi vợ chồng trẻ đã trở thành buổi hòa tấu vô cùng sôi nổi
và đầy hào hứng đã hấp dẫn thu hút hàng xóm đến dự phần nghe ké luôn! Ðây
có lẽ là kết quả của những bạn yêu vội thương nhanh.
Chúng ta nên nhớ tình yêu phát
xuất từ tâm hồn chân thật, trong sáng khác với tình dục thấp hèn. Tình yêu
vợ chồng nhắm đến sự hòa hợp, hiểu biết và thông cảm lẫn nhau, nương nhau
trong cuộc sống, cùng chung xây dựng hạnh phúc tương lai. Còn tình dục là
sự thèm muốn về ái dục, chỉ nhằm đến mục đích thỏa mãn khoái lạc thể xác,
sau đó mặc kệ chẳng cần quan tâm đến người đã dâng trọn tình yêu cho mình.
Con người sở dĩ khác con vật ở chỗ có lý trí, hành động phải được chỉ đạo
của lương tâm. Thế nên tình yêu chân thật phải từ chỗ hiểu biết lẫn nhau
dẫn đến hôn nhân và mối quan hệ xác thịt. Không phải hành động theo bản
năng thú tính: Thích là làm, làm xong thì thôi. Ở đây không tà hạnh có
nghĩa là khuyên Phật tử tại gia phải biết tiết dục, không nên ăn nằm trái
phép chẳng phải lúc, không nên có những cử chỉ lố lăng trêu chọc kẻ khác
phái ngoài đường... Nói chung, khi đã trở thành vợ chồng rồi cần phải có
bổn phận trách nhiệm với cương vị của mình, phải giữ tình thủy chung như
nhất, chẳng nên mơ tưởng đến kẻ khác, lang chạ bừa bãi để gây xáo trộn gia
đình, mất nhân phẩm con người, đôi khi còn làm trò cười cho thiên hạ nữa.
Truyện “Cục đá biết la” của
Thiên Phúc sẽ cho chúng ta vài phút cười tội nghiệp về hai lão già còn
“ham của lạ”.
Ngày xưa, có một thôn nữ có sắc
đẹp mặn mà, duyên dáng và rất đỗi khôn ngoan. Sắc đẹp của nàng khiến cho
lão quan huyện sói đầu và tên thầy đề háo sắc chết mê chết mệt. Lão quan
huyện thường hay ve vãn, lui tới tỏ lời ong bướm, còn tên thầy đề thì hay
hẹn hò tán tỉnh. Nàng chẳng ưa và rất bực mình với hai lão già dê này.
Một hôm, quan huyện lại đến nhà
tán tỉnh dây dưa, nàng cho lão một cái hẹn:
– Ðúng canh ba đêm ba mươi,
quan đến trước nhà em, chỗ có cây ớt. Quan ngồi kế bồn ớt, nếu có ai đi
qua, quan cứ ngồi im đừng động đậy hay lên tiếng gì hết. Quan cứ ngồi đó
chờ lát em sẽ ra tâm sự với quan tới sáng...
Lão quan huyện ra về khấp khởi
mừng trong bụng “vậy là nàng đã thương ta”.
Lát sau, thầy đề mò đến. Nàng
cũng hẹn:
– Tối mai đêm ba mươi, sau
trống điểm canh ba chừng một lúc, thầy đến trước cửa nhà em, chỗ cây ớt,
ngồi đó chờ em. Nếu không thấy em ra, thầy lấy cây dùi em bỏ dưới gốc ớt
gõ vào cục đá trắng trắng kế đó cho em nghe, em sẽ ra với thầy.
Thầy đề ra về mở cờ trong bụng
“phen này thì cá phải cắn câu”.
Ðêm ba mươi chưa tới canh ba,
lão quan huyện đã mò đến gốc cây ớt, rồi chui xuống sát bồn cây ngồi ló
cái đầu hói lên, ló cặp mắt dòm vô nhà, rộn ràng chờ đợi giây phút sung
sướng.
Sau hồi trống điểm canh ba,
thầy đề mò đến, chui vào gốc ớt, thấy có cái dùi thầy mừng lắm. Chờ một
lát, thầy cầm dùi gõ vào cục đá tròn tròn bóng bóng, nghe cái “cốc”. Quan
huyện thấy ê đầu nhức óc, nhưng không dám la, cứ ngồi cắn răng mà chịu
đựng. Không thấy “người yêu” ra, thầy đề tưởng mình gõ nhẹ quá, bèn dơ cái
dùi gõ cái “cốc” nữa, mạnh hơn lần trước. Quan huyện bị gõ muốn bể đầu
nhưng đành nhăn mặt nhăn mày chịu trận, vì nàng đã căn dặn không được lên
tiếng. Ðợi thêm một hồi, thấy lâu quá, thầy đề giơ cao dùi định tán thật
mạnh thì “cục đá” đứng lên nói mếu máo:
– Nãy giờ tao nhịn nhiều rồi
nghen, thằng chó nào dám gõ đầu tao?
Thầy đề hết hồn liệng dùi đâm
đầu chạy tháo thân. Người nhà của cô gái nghe động tưởng là ăn trộm bèn la
lên.
Lão quan huyện mang cái đầu hói
vừa mới mọc hai cái sừng, nhảy cái rột, dông tuốt.
Vợ chồng là bạn tình trăm năm
được kết nghĩa se duyên khi còn trẻ đẹp, thương yêu nhờ cậy giúp đỡ lẫn
nhau trong cuộc sống với bao kỷ niệm vui buồn. Chúng ta phải sống hết lòng
với nhau đến lúc tuổi già sức yếu. Người phụ nữ lấy chồng khi trẻ để nhờ
lúc tuổi già. Hoa nở phải có lúc héo tàn, nhan sắc cũng theo thời gian mà
thay đổi. Thế nên, đừng vì một chút địa vị, giàu sang mà vội vã phụ tình,
chạy theo những cô gái trẻ đẹp hơn, lãng quên người vợ cũ đã suốt đời yêu
thương và tàn tạ dung nhan vì mình.
Từ vợ chồng sẽ thành cha mẹ đối
với con cái trong gia đình, người Phật tử tại gia cần phải nêu gương đứng
đắn để giữ gìn nhân phẩm và danh dự. Vì đức hạnh của cha mẹ sẽ ảnh hưởng
đến tính tự trọng nơi con trẻ, là bài học gương mẫu để con noi theo học
tập. Do vậy một khi ta đã chấp nhận đây là vợ là chồng, ta không muốn ai
xâm phạm, cướp đoạt hoặc ô nhục danh dự gia đình, thì ta cũng không có
quyền dụ dỗ hoặc phá hoại hạnh phúc kẻ khác. Hằng ngày trên quả đất chúng
ta có biết bao gia đình rơi vào tình trạng “ông ăn chả bà ăn nem” hoặc
“chồng mèo vợ chuột” đưa đến mất niềm tin lẫn nhau, sứt mẻ tình cảm vợ
chồng, làm hổ thẹn cho con trẻ, hạnh phúc gia đình tan vỡ. Ðiển hình như
câu chuyện sau:
Có một Phật tử hằng ngày đến
chùa tụng kinh rất vui vẻ. Thời gian sau thấy vắng và thỉnh thoảng có đi
thì vẻ mặt không được vui lắm. Biết có chuyện buồn, một hôm tôi gợi hỏi
nguyên do. Người ấy với sự chân thành đã thuật lại cho tôi nghe như sau:
Thưa thầy, đáng lẽ con không
nên đem chuyện gia đình ra kể để làm phiền lòng thầy phải quan tâm lo
nghĩ. Nhưng vì tình nghĩa thầy trò thân thiết con không thể dấu được. Mong
thầy hoan hỷ khi nghe qua sự việc.
Nguyên ba má con trước đây rất
hòa nhã vui vẻ, gia đình trong ấm ngoài êm. Sau đó vì bão lòng nổi lên
khiến hạnh phúc tan vỡ, cha mẹ phân ly. Lý do, ba con hằng ngày đi làm
thường ghé quán cà phê để giải khát và điểm tâm. Vì tính tình vui vẻ, vả
lại cũng khá bảnh trai và có chút ít tiền, nên đã lọt vào cặp mắt xanh của
bà chủ quán. Mặc dầu đã có chồng, bà này đã tỏ ra lạnh nhạt với chồng và
rất thân mật với ba con. Rồi lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, tình cảm hai
người mỗi ngày một đậm đà, hơn nữa bà này bám sát quá mức. Cuối cùng ba
con đã ngã lòng và chung sống với bà ấy. Như vậy, từ khi hai người có
những tình cảm cá nhân với nhau, ba con rất lơ là với gia đình, hay kiếm
chuyện gây sự với má con. Ðến khi đổ vỡ má con mới biết là ba con có người
tình khác. Má con nhất định làm giấy ly dị. Từ đó chúng con cảm thấy buồn
tủi và cuộc sống trở nên vất vả khó khăn.
Qua câu chuyện trên, với địa vị
một người cha, mẹ trong gia đình còn có khả năng, tư cách để dạy bảo con
cái không? Người con sẽ nghĩ thế nào và có mặc cảm gì với bạn bè hàng xóm? Thiết nghĩ như thế còn chưa đến nỗi ô nhục cho lắm. Nếu như việc làm tà
hạnh gian dâm ấy bị phát hiện trong lúc tư tình, bị nhục mạ tại chỗ thì
còn mặt mũi nào mà nhìn ngó bạn bè hàng xóm, vết nhơ tà hạnh này khi nào
mới rửa cho sạch, nhân phẩm và danh dự con người chừng nào mới được phục
hồi? Hay phải chịu ôm nhục suốt đời?
Vả lại, chúng ta nên biết, con
người sở dĩ sống và khỏe mạnh cường tráng là do các chất tinh huyết trong
cơ thể. Các chất này là tinh hoa của bao nhiêu thứ bổ dưỡng mà ta ăn uống
hằng ngày. Một phần nuôi cơ thể, một phần đưa xuống bộ phận sinh dục. Nếu
không biết tiết chế tình dục, tham dâm quá độ vô tình chúng ta đem của báu
đổ đi. Hậu quả sẽ vô cùng đau khổ như: Thân thể tiều tụy, bệnh tật phát
sinh, gối mỏi lưng đau, tuổi thọ giảm sút và tinh thần suy nhược... Chắc
hẳn, đọc qua lịch sử thời phong kiến, ai cũng biết có những ông vua có
hàng ngàn cung tần mỹ nữ; những ông quan, những hào môn có hàng trăm tỳ
thiếp. Do quyền lực và bất công, các vua quan mặc sức thỏa mãn “con lợn
lòng” của mình một cách bừa bãi, hỗn tạp, vô luân. Hậu quả đưa đến cho kẻ
đa dâm hiếu sắc ra sao? Những ông vua hôn mê chết yểu, những chàng công
tử bột liệt nhược, những quan quyền lầy lụa bệnh hoa liễu, những tiểu thư
đài các bơ phờ thất sắc. Hỡi ơi! “Tình yêu là nguồn vui ngọt ngào nhất và
là sự thống khổ dã man nhất”. (Bailey)
Ðể bảo vệ sức khỏe, tránh xa
bệnh tật, giữ gìn nhân phẩm và hạnh phúc gia đình, xứng đáng là tấm gương
sáng cho con trẻ soi bóng, người Phật tử tại gia nên giữ hạnh đoan chính,
không được phá hoại hạnh phúc kẻ khác. “Nếu ở thế gian này mà hàng phục
được những ái dục khó hàng phục thì sầu khổ tự nhiên rụng tàn như giọt
nước lá sen” (Kinh Pháp Cú)
4/ Không nên vọng ngữ
Miệng là cửa ngõ của suy tư, là
nơi phát xuất tất cả ý nguyện của mình với tha nhân, đồng thời nó cũng là
nguồn gốc của bao tai họa và bệnh tật. “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu
xuất”. Hằng ngày chúng ta ai ai cũng phải cần nó để sử dụng trong việc
giao tế, biện bác, tranh luận... Vậy gia đình có được hòa thuận hay chia
rẽ, ngoài xã hội mọi người thương yêu hay thù ghét nhau cũng đều do miệng
lưỡi mà ra. Do vì lời nói rất quan trọng, một khi thốt ra phải suy nghĩ
cân nhắc kỹ càng. “Nói mà không suy nghĩ có khác nào bắn mà không nhắm”
(Speaking without thinking is like shooting without aiming – Spanish
Proverb). Hoặc câu “Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy”, nghĩa là: Một
lời nói ra bốn ngựa khó theo.
Từ xưa tới nay, đã biết bao
nhiêu những tai họa xảy đến cũng vì lời nói qua lại, hơn thua, đâm thọc
khích bác lẫn nhau mà ra cả. Một lời nói có thể cứu sống người trong cơn
nguy biến, đem lại sự vững tâm cho người lúc sợ sệt, tạo đức kiên nhẫn cho
người trong cơn nóng giận, mang lại hòa bình ổn định cho xã hội quốc gia.
Trái lại, nó cũng làm cho cảnh máu đổ thịt rơi, nhà tan cửa nát, chia rẽ
thù hiềm. “Một lời nói còn sắc bén hơn cả gươm đao” (Burton).
Hoặc câu “Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn táng bang” là vậy.
Nói có rất nhiều hình thức. Nói
thêm nói bớt, thấy nói không thấy, nói lời trau chuốt, chuyện có nói
không, trước mặt nói phải sau lưng nói trái, nói dua nịnh, nói đâm thọc,
nói lời chia rẽ, nói giọng hung ác... Tất cả lời nói trên đều có tính cách
gây chia rẽ, bất hòa tạo sự thù hiềm ghen ghét lẫn nhau, làm mất niềm tin
của người khác đối với mình. Hàn Thi ngoại truyện có câu: “Chim mà mỏ
quắp thì loài chim sợ, cá mà mồm ngoáp thì loài cá sợ, người mà ngọn lưỡi
sắc xảo thì loài người sợ”.
Tại chùa tôi có một cô nọ không
biết vì
lý do gia đình ra sao, đến chùa xin làm công quả nương náu cửa thiền. Thời
gian đầu, với
lời nói trau chuốt ngon ngọt của cô ai nấy
cũng thương và cho là người đàng hoàng tử tế. Những cổ nhân có câu:
“Trường đồ tri mã lực, cửu xứ thức hiền nhân”, có nghĩa: “Ðường dài mới
biết ngựa hay, ở lâu mới rõ ai là hiền nhân”. Quả thật, lâu ngày dần dần
bắt đầu “lòi tẩy” cái chân tướng “đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà” của
cô ra. Nịnh bợ người trên, nói xấu kẻ dưới, trước mặt người khen ngợi, sau
lưng thì chê bai. Ðến người này nói xấu người kia, đặt chuyện nói thêm nói
bớt cho người khác để gây sự bất hòa. Lại thêm tính hay nghe trộm chuyện
người khác để đâm thọc với nhau... Vì bởi “Cái lưỡi không xương những
đường lắt léo, cái miệng không vành nó méo tứ tung” nên mọi người trong
chùa dần xa lánh hết, không ai dám thân cận và nói chuyện với cô nữa cả.
Ðã mất tín nhiệm với mọi người
nên cô cảm thấy bị bỏ rơi, bèn tìm cách xin đi nơi khác. Trước khi đi, tại
chùa có cuộc họp nội bộ, tôi bèn kể lại một câu chuyện rất lý thú với ngụ
ý nhắc nhở cô:
Một hôm con cú mèo gặp con chim
gáy. Chim gáy hỏi:
– Bác sắp đi đâu đây?
Cú mèo nói:
– Tôi sắp sang ở bên phương
Ðông.
– Tại làm sao thế?
– Ở đây mỗi lần tôi cất tiếng
kêu, ai cũng ghét nên tôi đành phải đi chỗ khác sống.
Chim gáy nói:
– Theo ý tôi bác nên đổi tiếng
đi mới được. Nếu không đổi tiếng kêu thì dù có sang phương Ðông ở người ta
nghe tiếng kêu ấy cũng lại ghét bác thôi. Vì nhân tình ở đâu mà chả thế!
Quả đúng như câu chuyện chim cú
và chim gáy kia. Sau này tôi được biết cô ta đi đến nơi nào ở một thời
gian cũng bị cô lập và sa thải, không ai dám chứa nữa. Thật đáng thương!
Qua bài học trên ta có thể kết luận: Không phải kẻ khác ghét ta mà chính
ta tạo ra phiền não nơi người. Thế nên đừng tưởng lời nói khôn xảo sẽ che
đậy được hành vi bất chính của mình. Gian dối cuối cùng sẽ bị phơi bày
trước ánh sáng sự thật.
Thế nhân thường nói: “Ðàn ông
miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà”. Nhưng theo
thiển ý của tôi thì đàn ông cái miệng nhỏ lại một tí cũng vẫn hay hơn. Vì
sang cho lắm có lẽ tai ương cũng nhiều đấy. Vả lại “Chúng ta có hai tai và
chỉ có một lưỡi để cho chúng ta biết nghe nhiều hơn nói” (We have two
ears and only one tongue in order that we may hear more and speak less –
Diogenes). Ôi! Nhất là đàn bà mà miệng rộng thì lại còn nguy hiểm hơn
nữa. Người ta thường đặt cho từ “ngồi lê đôi mách” từ đầu xóm tới cuối
hẻm, chưa thấy mặt đã thấy tiếng, hết chuyện “trong nhà ngoài phố” đến
chuyện làng nước xóm giềng... Chẳng may gia đình nào có người mắc phải
chứng bệnh miệng rộng này, có lẽ chồng con phải xa lánh sớm mà hàng xóm
rồi cũng sẽ “bái bai” luôn.
Một khi đã nói láo quen rồi đến
khi ta có nói sự thật thì cũng có ít người tin theo “một sự bất tín, vạn
sự bất tin”. Ðể đảm bảo sự tín nhiệm với mọi người, chúng ta phải cẩn thận
khi nói, suy xét kỹ càng, đừng vì vui miệng mà thốt ra một cách bừa bãi,
hoặc lấy chuyện làm quà. Hậu quả sẽ tai hại vô cùng. Như câu chuyện “Kẻ
nói láo” trong cuốn Stories for children của Lev Tolstoi. Tôi xin lược
dịch lại như sau:
Có một cậu bé chăn cừu ở ngoài
cánh đồng. Một hôm cậu ta bèn la lên hốt hoảng như có chó sói thật:
– Giúp tôi với! Chó sói! Chó
sói!
Dân trong làng tưởng thật kéo
nhau đến cứu và nhận ra rằng cậu ta đang đùa giỡn với họ. Cậu bé chăn cừu
đã tái diễn màn này nhiều lần. Một hôm điều đó đã trở thành sự thật. Con
chó sói xuất hiện đang tấn công đàn cừu. Cậu bé hốt hoảng la:
– Bớ người ta! Chó sói!
Mặc dầu kêu la cầu cứu, nhưng
dân làng cho là hắn đùa giỡn với họ nữa và không có ai chú ý đến sự cầu
cứu của cậu bé cả. Chó sói bèn tấn công và giết cả bầy cừu.
Trong Ðại Luật có câu:
“Luận kẻ ở đời, búa ở trong miệng, sở dĩ chém mình, do lời nói ác”.
Nói không đúng sự thật đã là tai hại cho mình dường nào, huống hồ nói lời
hung ác nhục mạ, gây sự đau khổ cho người. Có khi chỉ vì lời nói ác khiến
cho người bực tức đêm ngày, lo buồn mà phát sinh bệnh tật. Bởi vì làm
người ai cũng có mặc cảm tự ti và danh dự. Nên trước mặt người ta không
nên vì sự khoe khoang hay giỏi hoặc cậy quyền thế chức vị để chê bai, nhục
mạ kẻ khác. Tích chuyện sau đây sẽ cho ta thấy quả báo lời nói ác như thế
nào.
Thuở xưa có 500 người buôn đem
một con chó trắng cùng qua một nước khác, giữa đường nghỉ ngơi. Chó nọ bèn
ăn vụng thịt, người buôn tức giận chặt bốn chân chó quăng trong hầm mà đi.
Bấy giờ ngài Xá Lợi Phất dùng thiên nhãn xa thấy thân chó rên xiết, đói
khát khốn khổ quằn quại sắp chết, ngài bèn bưng bát cơm bay đến chỗ chó
dùng lòng từ bi mà bố thí cho ăn. Sau khi ăn xong chó rất mừng. Ngài lại
vì nó mà thuyết pháp cho nghe.
Qua bảy ngày chó kia thoát
kiếp, sinh vào nước Xá Vệ nhà người Bà La Môn được đặt tên là Quân Ðề. Ðến
bảy tuổi, ngài Xá Lợi Phất độ cho xuất gia. Sau này chứng quả A La Hán, đủ
phép thần thông, tự biết mình kiếp trước là chó đói nhờ ngài Xá Lợi Phất
hóa độ.
Các đệ tử bèn bạch hỏi Ðức Phật
nguyên do của Quân Ðề. Ngài dạy rằng:
– Về đời quá khứ thuở Phật Ca
Diếp có một vị Tỳ kheo trẻ tuổi thấy vị Tỳ kheo già thường hay tán tụng,
tiếng tăm ồ ề, vì ỷ mình có tiếng tốt đã chê vị Tỳ kheo già:
– Ông này tiếng như chó sủa.
Thầy Tỳ kheo già nghe được liền
nói với vị Tỳ kheo trẻ rằng:
– Ngươi biết ta chăng? Ta nay
đã chứng quả A La Hán rồi.
Vị Tỳ kheo trẻ tuổi nghe nói
hoảng hốt tự trách mình dại dột, vội ra trước xin sám hối. Thầy Tỳ kheo
già cũng sẵn sàng hoan hỷ tha thứ. Song vị Tỳ kheo trẻ tuổi nhờ biết sám
hối nên khỏi tội đọa địa ngục, nhưng do lời nói ác nên 500 đời phải chịu
thân chó như thế.
Quả thật “Con chim bị vướng vì
cái chân của nó và con người thì vì cái lưỡi của họ (Birds are
entangles by their feet and men by their tongues – Thomas Fuller). Là
người Phật tử tại gia nên lấy những bài học này mà răn dè miệng lưỡi. Phải
cẩn thận chân thật với lời nói, dù hoàn cảnh nào cũng không thay trắng đổi
đen. Không vì sự yêu ghét nhau mà lời nói trở thành tốt xấu. Ðừng nên lúc
yêu nhau hậu bao nhiêu, đến khi giận ghét nhau lại bạc bấy nhiêu: “Yêu
nhau cau bảy bổ ba, ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười”.
Ngày trước tại nước Vệ, vua
nước ấy rất yêu Di Tử Hà. Ðối với phép nước Vệ ai đi trộm xe của vua thì
phải tội chặt chân. Mẹ Di Tử Hà đau nặng. Ðêm khuya có người đến gọi, Di
Tử Hà vội vàng lấy xe vua ra đi lo cho mẹ. Vua nghe thấy chuyện ấy khen
rằng:
– Có hiếu thật! Vì hết lòng
với mẹ mà quên cả tội chặt chân.
Lại một hôm Di Tử Hà theo vua
đi chơi ở ngoài vườn. Ðang ăn quả đào thấy ngon ngọt mà còn có một nửa bèn
dâng vua ăn. Vua nói:
– Yêu ta thật! Của đang ăn
thấy ngon miệng mà biết nhường ta.
Về sau vua không còn thương mến
Di Tử Hà như trước nữa. Một hôm phạm lỗi, vua giận nói rằng:
– Di Tử Hà trước dám tự tiện
lấy xe của ta đi. Lại một bận dám cho ta ăn quả đào thừa. Thực mang tội
với ta đã lâu ngày rồi. Nói xong liền bắt đem trị tội.
Ôi! Di Tử Hà ăn ở với vua
trước sau như một. Thế mà trước vua khen, sau vua bắt tội là chỗ tại khi
yêu ghét khác nhau mà thôi.
(Hàn Phi Tử)
Vậy người Phật tử không nên nói
dối, nói lời thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều, nói giọng hung ác, mà phải nói
lời ngay thật, hòa nhã vui tươi, đạo đức hiền từ khiến cho mọi người
thương yêu nhau. Nếu lời nói của ta không đem lại sự lợi ích nào đối với
mình và tha nhân tốt hơn hết là nên im lặng. “Nói là bạc, nín là vàng”.
Nhưng nếu ta biết kết hợp lời nói vào mục đích thiện như khuyến khích
người học đạo giải thoát, giúp họ tin hiểu giáo lý nhân quả, xa lánh điều
ác thì quả lời nói quý giá vô cùng.
Miệng ta là cánh hoa
sen
Một khi hé nở một phen thơm
lừng
Tiếng ta là gió mùa
xuân
Một cơn thổi nhẹ muôn dân
mát lòng.
5/ Không nên uống rượu
Thân người như chiếc xe mà trí
tuệ là tài xế. Chiếc xe này có an toàn trên xa lộ hay không đều do người
tài xế cả. Nếu tài xế lơ là mê ngủ hoặc bị ma men ám ảnh thì tai họa dễ
xảy đến một cách khủng khiếp cho mình lẫn người.
Trong xã hội hằng ngày việc
giao thiệp, buôn bán, áp phe cho đến những đám cưới hỏi, sinh nhật, tang
chế v.v... thường lấy rượu làm món uống chính. Do từ chỗ tiệc tùng như thế
đã đưa các thanh thiếu niên mới lớn lên tập nhiễm, bắt đầu đi vào con
đường “say sưa be bét”. Lúc đầu ta còn từ chối, nhưng vì nể bạn bè, vì để
cuộc vui trọn vẹn... Rồi một chén có sao, một ly có thấm là bao, “Nam vô
tửu như kỳ vô phong” mà bồ. Cứ thế rồi mỗi ngày một ít, lâu dần thấm vào
người thành quen rồi thành xị thành lít dẫn đến bợm ghiền. Lúc bấy giờ
rượu sẽ thành người yêu lý tưởng nhất của đời họ. Vắng mùi nó cuộc đời sẽ
trở nên mất hương vị, cõi lòng sẽ lạnh lẽo cô đơn, cảm thấy khó chịu, nhớ
thương (thèm). Nhưng có nó nhiều quá, mải mê say đắm sẽ dẫn đến sa
đọa trầm trọng, hư hoại thân thể.
Rượu nếu uống nhiều sẽ gây tác
hại rất lớn đến bản thân, gia đình và xã hội.
a/ Ðối với bản thân
q
Về tâm trí: Rượu trước nhất tác động đến não bộ. Uống nhiều nồng
độ trong máu sẽ tăng lên làm tê liệt các trung tâm ức chế của thần kinh hệ
khiến cho các hoạt động của tâm trí gia tăng mãnh liệt, mất quân bình,
không kiểm soát được xúc cảm và hành động, tâm tính biến đổi khác thường,
đầu óc mất sáng suốt, tính toán rất chậm chạp dẫn đến ngu si đần độn.
q
Về thể xác: Rượu gây tổn hại toàn bộ cơ thể con người nhiều nhất
là gan. Ðối với gan là cơ quan giải độc, uống nhiều rượu sẽ làm cho tế bào
gan mất khả năng tổng hợp protéin tiến đến làm chết (chai) tế bào
gan, rồi từ từ dẫn đến bệnh xơ gan không phục hồi được. Xơ gan dẫn tới các
chứng bệnh ghê gớm như phù thủng (xơ gan cổ trướng), mửa ra máu
hoặc trở thành ung thư. Ðến như viêm giây thần kinh, viêm não, chứng bọc
máu trong sọ, sưng lá lách v.v... cũng từ rượu mà ra.
b/ Ðối với gia đình
q
Ðối với vợ: Người nghiện rượu thường dẫn đến hậu quả tan vỡ hạnh
phúc gia đình. Vì trong cơn say người chồng dễ trở nên nóng tính, thô lỗ,
cộc cằn, “rượu vào lời ra”, hay lè nhè đòi hỏi vu vơ, nếu không thỏa
nguyện sẽ đâm ra gây sự đánh đập. Hẳn ta vẫn biết, đứng gần người uống
rượu sẽ cảm thấy khó chịu thế nào, huống chi người vợ ăn nằm với ông chồng
nặc nồng mùi rượu thì “ngửi” sao cho thấu! Do vậy, đôi khi bà vợ phải
kinh sợ mà tránh xa. Từ lý do ấy khiến cho ông chồng “ba xị đế” đầy nghi
ngờ và dễ ghen bóng ghen gió, kiếm chuyện hành hạ vợ đủ điều. Tiền bạc làm
ra chỉ nghĩ đến bạn bè và nhậu nhẹt lai rai, chẳng biết đến vợ con gia
đình túng thiếu, khiến cho tình cảm vợ chồng bị sứt mẻ đưa đến tình trạng
chán ghét lẫn nhau.
q
Ðối với con: Người nghiện rượu sẽ di hại rất nhiều đến con cái,
ảnh hưởng lớn đến tương lai của các thế hệ mai sau. Vì măng có mụ mẫm thì
tre mới to lớn được. Y học ngày này đã phát hiện ở người say nồng độ rượu
trong túi tinh cao xấp xỉ nồng độ trong máu. Tinh trùng ở người nghiện
rượu bị đứt đuôi hoặc méo mó, đi thụt lùi hoặc lắc lư xiêu vẹo. Không may,
các loại tinh trùng này lọt vào trứng để chuyển thành thai sẽ dẫn đến
“tiên thiên bất túc”. Và hậu quả như thế nào? Vô cùng nguy hại. Ðứa bé dễ
bị dị hình, xấu xí, èo uột, suy dinh dưỡng hay ốm đau và chậm phát triêån
tâm thần, trí tuệ thoái hóa, kém thông minh, học hành không tiếp thu
nhanh. Ngoài ra cha mẹ nghiện rượu còn truyền lại cho con cháu chứng bệnh
“xỉn” tối ngày nữa.
c/ Ðối với xã hội
Người nghiện rượu sẽ làm ảnh
hưởng đến năng suất lao động, thiếu bổn phận trách nhiệm đối với công việc
mình làm, có thể gây tổn hại về sinh mạng và tài sản của tập thể. Như
trường hợp người lính biên phòng, kẻ bảo vệ cơ quan, nhà máy, kho tàng...
Nếu quá chén sẽ nguy đến tính mạng còn tạo điều kiện cho kẻ trộm và quân
địch có cơ hội phá hoại. Tài xế mà say sưa be bét, đường không chạy mà lại
đâm vào nhà người ta hoặc gây tai nạn giao thông. Ngoài ra người nghiện
rượu thường gây xáo trộn mất trật tự trị an, trở ngại đến sinh hoạt chung
quanh. Tạo thêm cho gia đình và xã hội một gánh nặng to lớn về bệnh tật và
tính di truyền xấu xa cho con cháu.
Trên thế gian này có biết bao
nhiêu loại nước uống ngon lành béo bổ, vô hại, tại sao ta lại không uống,
đi uống thứ cay đắng độc hại như thế? Nhân cách sẽ như thế nào khi say
sưa quá chén. Hãy ngắm nhìn kẻ say: Mặt đỏ tía tai, dáng người đáng sợ,
đi đứng loạng choạng, nói năng lảm nhảm không biết phải trái, ói mửa hôi
tanh, gục ngã ngoài đường... bản thân đã như thế còn gây sầu khổ cho vợ
con, làm cho xóm làng chê cười, trẻ nít chọc ghẹo, người trí lánh xa. Có
lần tôi được xem một tờ báo trong đó có vẽ một bức tranh châm biếm người
say rượu rất lý thú. Hình vẽ diễn tả bà vợ đi làm về ghé qua nhà trẻ đón
con và tạt qua quán rượu rước chồng. Trong khi ông chồng say sưa như chết
không còn biết trời trăng gì cả, mặc cho bà vợ vác đi, đứa con đi theo mẹ
cầm hộ bố đôi dép. Ôi! Còn gì là “nam nhi chi chí”, còn gì xứng đáng với
chức phận cha, chồng trong gia đình nữa.
Trong Kinh Chuyển Luân Ngũ Ðạo
có dạy: “Làm người ưa uống rượu say sưa, chết đọa vào địa ngục Phất
thỉ, rồi đến đọa trong loài thú tinh tinh (đười ươi). Sau có được làm
người bị ngu si, dốt nát, không biết chi cả”. Vậy người uống rượu
nhiều đối với hiện tại rước bệnh vào thân, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia
đình, gieo nhân xấu cho con cháu, trở ngại cho xã hội. Về nhân quả, nếu
đời sau có được làm người cũng bị ngu si đần độn. Chúng ta nên nhớ câu:
“Phàm làm việc gì phải xét đến hậu quả của nó”.
Ðể cuộc sống được an vui, gia
đình được hạnh phúc, người Phật tử phải sáng suốt khi hành động, tuyệt đối
không được uống rượu hoặc mời người khác uống rượu. Ngoại trừ trường hợp
phải dùng rượu thuốc để chữa bệnh thì có thể tạm thời uống được.
Tóm lại, vừa qua chúng tôi
trình bày về năm điều nên tránh mà Ðức Phật đã dạy. Năm giới này là căn
bản của hết thảy Phật tử tại gia và xuất gia. Nó ví như nền móng của tòa
nhà giải thoát. Nếu nền móng vững bền thì công việc xây dựng mới bảo đảm.
Trái lại, bao nhiêu công trình sẽ sụp đổ hết. Ngũ giới cũng là món báu
trang nghiêm bản thân, tô điểm cuộc đời, làm đẹp lòng mọi người, thiên
thần nể phục, tà ma khiếp sợ, và chính là nhân lành của giải thoát.
B/ TRÁCH NHIỆM ÐỐI VỚI CON
1/ Nuôi dưỡng và giáo dục
con trẻ