(The Collected Works of
Venerable Master Chin Kung)
淨空和尚法
語
Nguyên tác:
Venerable Master Chin Kung
Việt dịch:
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
--- o0o ---
Quyển
6
Giải pháp: Sự hiền hòa và tâm an lạc
(bài giảng của Venerable Wu
Lin, đệ tử của Hòa Thượng Tịnh Không)
Một lần nữa tôi được hân hạnh chào mừng quý
vị đã đến với Hội Phật Giáo Singapore, và tôi muốn bày tỏ niềm hân
hạnh về sự may mắn lớn của tôi, sự may mắn lớn của chúng ta, được
có mặt ở đây, đạo tràng hiếm có nhất trong các Phật đường. Ở tầng
phía dưới chúng ta là đại sảnh tu tập nơi các hành giả tụng niệm
liên tục trong ít nhất mười hai tiếng đồng hồ mỗi ngày. Sau khi
đại sảnh mở cửa mấy tháng trước, mỗi cuối tuần chúng ta đã dùng
phần lớn thời giờ để thực hành pháp môn Niệm Danh Phật. Ðại sảnh
tu tập này rất đặc biệt. Bầu không khí có vẻ khác lạ, tiếng tụng
niệm nghe rõ hơn, việc tu tập tinh tấn hơn.
Giảng đường này cũng rất đặc biệt cho những cuộc nói chuyện đã
được tổ chức ở đây từ ngày mười tám tháng năm khi Hòa Thượng Tịnh
Không bắt đầu những buổi thuyết pháp về Kinh Hoa Nghiêm (Flower
Adornment Sutra). Chúng ta đến giảng đường để nghe giáo lý.
Chúng ta đeán đạo tràng để thực hành những giáo lý đó. Chúng ta
cần có cả hai.
Trong mấy năm nay, thế giới phát sinh nhiều sự đối nghịch, đời
sống thêm đau khổ mỗi lúc mỗi nhiều hơn. Theo thời gian, những sự
đối nghịch này trở nên nghiêm trọng hơn và thường xuyên hơn. Có
người hỏi là chư Phật, Bồ Tát, đại từ bi giúp chúng sinh thoát khổ
như thế nào. Các ngài làm công việc này bằng cách dạy chúng ta
giải trừ tham, sân, si để tâm trí không mê muội nữa, mà trở nên
giác ngộ. Các ngài cũng dạy chúng ta về luật nhân quả (Law of
Cause & Effect).
Ðể thoát khổ, trước hết chúng ta phải biết về nguyên nhân của sự
khổ. Là con người, chúng ta phải chịu khổ về sinh, già, bệnh, và
chết. Chúng ta phải chịu khó nhọc; không đạt được những gì mình
mong muốn; phải chia ly với những người thương yêu, và phải sống
chung đụng với những người mình ghét. Chúng ta bị vây bủa bởi tất
cả những sự đau khổ này mà không biết cách nào để thoát ra.
Chúng ta cần phải hiểu rằng phải có cơ duyên hay hoàn cảnh để cho
nguyên nhân sinh ra hệ quả. Nếu biết kiểm soát hoàn cảnh, chúng ta
có thể phần nào ảnh hưởng tới nghiệp quả của mình. Trong đời sống
chúng ta cần phải tạo nghiệp tốt để được hưởng quả tốt. Lúc đó
chúng ta sẽ hiểu rõ rằng đời sống hạnh phúc chính là nghiệp quả
tốt phát sinh từ nhân duyên tốt, và đó là cách thoát khỏi đau khổ
để được sống trong an lạc.
Ngày nay, khi chứng kiến những đau khổ ở xung quanh mình, nhiều
người trong chúng ta có thể cảm thấy sức nặng của nghiệp xấu.
Những nghiệp xấu này đã phát sinh từ tâm ích kỷ và hành vi sai lầm
của mình. Chúng ta đã chỉ biết làm hại người khác để làm lợi cho
mình. Vậy chúng ta phải làm sao để giải trừ nghiệp xấu và tránh
tạo thêm nghiệp xấu? Chúng ta phải thực hành những lời dạy của Ðức
Phật, không lợi dụng người khác để làm lợi cho mình, mà ra sức
giúp đỡ người khác và làm lợi ích cho xã hội.
Ða số chúng ta, trong tiềm thức đều có ý muốn kiểm soát người
khác, cả những con vật và những đồ vật nữa. Nếu biết buông bỏ sự
chấp thủ này, chúng ta sẽ có thể đạt giải thoát. Những người giác
ngộ thì có đời sống an nhiên tự tại. Họ làm tròn nhiệm vụ hướng
dẫn và giáo dục chúng sinh bằng cách giải thích cho mọi người biết
về chân lý của đời sống và vũ trụ, về luật nhân quả, để mọi người
biết rằng mỗi hành vi thân, khẩu, ý đều có hậu quả của nó.
Mọi người đều tự quyết định làm điều tốt hay điều xấu, và do đó họ
sẽ nhận lãnh quả tốt hay quả xấu. Chúng ta chỉ giáo dục họ theo
nhân duyên, còn thì để cho họ tự quyết định sẽ tạo nghiệp tốt hay
xấu. Như vậy tâm của chúng ta sẽ trụ trong an tĩnh, phát sinh
thiền định và trí huệ, có thể giao tiếp một cách có hiệu quả với
người và sự vật. Cách thực hành như vậy sẽ mang lại lợi ích vô
lượng, vì chúng ta sẽ không những giải trừ được đau khổ hiện tại
của mình mà lại còn giải trừ được những nghiệp xấu đã tích lũy từ
vô số kiếp trước.
Vậy tại sao chúng ta không nhận ra sự lợi ích đích thực này? Vì
chúng ta bị nghiệp xấu của mình ngăn che, không thể trông thấy
điều hay lẽ phải ở trước mắt mình. Chúng ta liên tục được nhắc nhở
với những tranh và tượng chư Phật, Bồ Tát, với những câu kinh mà
mình tụng niệm, và với những bài thuyết pháp mà mình nghe, nhưng
chúng ta vẫn không hiểu đúng giáo lý, vẫn không thể ứng dụng giáo
lý trong đời sống hằng ngày.
Chúng ta không thể đổ lỗi cho chư Phật, Bồ Tát, là đã không giúp
đỡ mình. Sự thật là các ngài luôn luôn giúp đỡ chúng ta, nhưng
chúng ta không để ý tới. Chúng ta đã có một cơ hội quý báu và hiếm
có là hội ngộ được với Phật giáo, nhưng bây giờ cơ hội đó đang
tuột khỏi tầm tay chúng ta. Ðược sinh ra làm người có khả năng
nghe Giáo Pháp là một cơ hội rất hiếm có, cơ hội đó chỉ ra một lần
trong hằng triệu năm. Ðược gặp Giáo Pháp là một điều hiếm có giống
như một cái bọt nước từ dưới đáy nổi lên mặt biển đúng vào giữa
một cái vòng hoa đang trôi nổi.
Chúng ta đã phạm sai lầm lớn nếu để lỡ cơ hội quý báu này. Chúng
ta cần phải suy ngẫm và sám hối những lỗi lầm của mình để có thể
giải trừ phiền não và những thói quen phàm tục, và do đó giải trừ
được nghiệp xấu.
Nghiệp xấu này là cái gì? Một phần của nghiệp xấu là những phiền
não và những thói quen phàm tục, hay những tập khí xấu. Chúng ta
có thể giải trừ những nghiệp xấu này bằng cách sám hối những lỗi
lầm của mình và phát nguyện không tái phạm. Việc tu tập hằng ngày
sẽ giúp chúng ta giảm bớt nghiệp xấu. Chúng ta cần phải tu tập ở
giữa xã hoäi chứ không xa lánh xã hội. Chúng ta có thể chọn một
pháp tu nào đó trong số tám mươi bốn ngàn pháp môn mà Ðức Phật đã
dạy. Ðức Phật nói rằng trong vô số pháp môn này ở vào thời mạt
pháp, Niệm Phật là pháp môn tiện lợi, đơn giản,và hiệu quả nhất.
Niệm Phật có thể thấy kết quả tốt, và do đó có sức mạnh cần thiết
để giải trừ mọi phiền não và ác nghiệp của chúng ta.
Có người hỏi rằng tại sao họ chưa thấy việc tụng niệm hằng ngày
của họ có kết quả gì cả. Ðã có nhiều người đạt kết quả đáng kể và
đã thành công trong việc giải trừ nghiệp xấu của họ. Nếu chúng ta
không thấy có kết quả, đơn giản vì việc thực hành hằng ngày của
chúng ta không đúng với lời hướng dẫn của Ðức Phật. Nói cách khác,
chúng ta đã không làm những gì mình được khuyên phải làm, mà lại
làm những gì mình được khuyên phải tránh. Thí dụ, chúng ta có
tránh trộm cướp, nói dối, tà dâm, nói hành, nói xấu, dụ dỗ, tham,
sân, và si hay không?
Chúng ta nên làm theo lời dạy của Ðức Phật để giảm bớt nghiệp xấu.
Việc tụng niệm, tu tập hằng ngày, và mục tiêu của chúng ta phải
phù hợp với giáo lý. Việc tụng kinh nhắc nhở chúng ta về những
giáo lý, và nhắc nhở chúng ta phải làm theo giáo lý để tu sửa bản
thân. Nếu không tu theo giáo lý thì chúng ta sẽ gia tăng nghiệp
xấu của mình.
Mục tiêu của chúng ta là tâm chân thực, thanh tịnh, bình đẳng, từ
bi, và giác ngộ. Chỉ với tâm trí như vậy thì chúng ta mới có thể
giải quyết được mọi vấn đề, vốn không thể được giải quyết bằng võ
lực, bằng chiến tranh. Những vấn đề này chỉ có thể được giải
quyeát bằng sự hiền lành và lòng từ bi đối với toàn thể chúng
sinh, các loài sinh linh cũng như những vật bất động. Chúng ta cần
phải buông bỏ ý muốn điều khiển người khác, vì như vậy chỉ làm cho
chúng ta tạo thêm nghiệp xấu. Không ai có thể thực sự kiểm soát
được người khác. Lịch sử đã cho chúng ta nhiều thí dụ về những
quốc gia dùng võ lực để kiểm soát một quốc gia khác: Hitler xâm
chiếm Âu Châu, Nhật Bản xâm lăng Trung Hoa, người Nga ở
Afganistan, và người Mỹ ở Việt Nam; tất cả đều đã mang lại khổ đau
khốn cùng.
Ngược lại, việc truyền bá Phật giáo ở khắp thế giới của Hòa Thượng
Tịnh Không, đặc biệt là ở Trung Quốc, nơi ngài phân phối miễn phí
băng ghi âm và sách để khuyên mọi người làm điều tốt, đã có kết
quả là hơn hai mươi triệu người được nghe giáo lý của Ðức Phật.
Hòa Thượng đã không phải tốn kém nhiều để đạt được loại kết quả
này. Trong khi đó có những quốc gia chi tiêu những món tiền lớn
cho chiến tranh. Ðáng ra họ có thể dùng tiền đó để giúp đỡ những
người nghèo đói. Như vậy họ sẽ có hòa bình và dễ thu phục được mọi
người. Họ cũng có thể dùng tiền để giáo dục ngươøi dân của họ biết
tự túc. Họ nên quan tâm tới những nhu cầu trong nước của họ hơn là
can thiệp vào nội bộ của nước khác.
Mỗi ý nghĩ của chúng ta cần phải có lợi ích cho chúng sinh. Không
những trong hành vi chúng ta khoâng bao giờ làm hại một sinh linh
nào mà cả trong ý nghĩ và lời nói chúng ta cũng không bao giờ gây
đau khổ cho người khác. Nếu làm được như vậy thì trong đời sống
hằng ngày bất cứ công việc gì của chúng ta cũng có tính chất lợi
ích và hiền từ. Ðây là cách tốt nhất để gây ảnh hưởng tới người
khác với lòng từ bi. Việc dùng võ lực để giải quyết vấn đề không
chỉ tạo thêm thù hận mà lại còn mang lại quả xấu phải đọa vào địa
ngục. Việc hành xử phù hợp với Giáo Pháp làm cho tâm trí của chúng
ta được chuyển hóa, và do đó chúng ta sẽ đạt thành tựu. Sự vật là
hình phản chiếu của tâm trí, vì vậy tâm trí của chúng ta có thể
chuyển hóa được hoàn cảnh. Khi sống theo Giáo Pháp, ý nghĩ của
chúng ta sẽ thay đổi và hành vi của chúng ta sẽ đúng đắn.
Chúng ta nên buông bỏ tính vị kỷ, và nghĩ đến việc làm lợi ích cho
người khác. Hiện tại, chúng ta chỉ quan tâm tới bản thân, chỉ nghĩ
tới việc bảo vệ quyền lợi của chính mình, của đoàn thể mình, hay
của nước mình. Lối nghĩ như vậy đã đưa tới sự tranh chấp giữa mọi
người, sự kình chống giữa những đoàn thể, và chiến tranh giữa các
quốc gia. Hậu quả laø mọi bên đều bị thiệt hại về nhân mạng, tiền
bạc, tài sản, và đất đai, tình thân hữu và hòa bình bị phá vỡ, và
tất nhiên sẽ phải chịu nghiệp quả xấu.
Chúng ta hoàn toàn thiếu quan tâm tới vạn vật trong môi trường tự
nhiên, vì vậy môi trường sống của chúng ta đang bị hủy diệt, chính
chúng ta sẽ phải chịu hậu quả xấu của sự vô tâm và thiếu từ bi
này. Tất cả vạn vật là một thực thể, và có sự tương liên chặt chẽ
với nhau. Muôn loài vạn vật, kể cả chúng ta, đều sinh ra từ nhân
duyên, vì vậy, làm hại người khác hay vật khác là làm hại chính
mình, chỉ khi nào hiểu rõ điều này thì chúng ta mới có thể giải
quyết được những vấn đề của thế giới. Nguyên nhân của mọi tranh
chấp và tai họa là tính vị kỷ chỉ nghĩ tới quyền lợi của bản thân,
của nhóm hay của nước mình. Nếu giải quyết được vấn đề này, chúng
ta cũng sẽ giải quyết được tất cả những vấn đề khác. Khi thực
hành, tu tập theo Giáo Pháp với hành vi đúng đắn, chúng ta sẽ thấy
nghiệp quả xấu của mình, giảm bớt, và nghiệp tốt gia tăng. Kết quả
là sự đau khổ của chúng ta sẽ giảm thiểu, hay có thể được giải trừ
hoàn toàn. Nói cách khác, hoàn cảnh của chúng ta sẽ được thay đổi
một cách thuận lợi.
Khi để cho một ý nghĩ xấu không bình đẳng xuất hiện thì như vậy là
chúng ta làm cho một tình trạng thuận lợi trở thành tình trạng bất
lợi, còn khi một ý nghĩ bình đẳng xuất hiện thì khi đó cõi Phật
hiển lộ tức khắc. Khi chúng ta có một ý nghĩ về Bồ Tát đạo thì cõi
Bồ Tát sẽ xuất hiện ngay lúc đó. Như vậy, với một ý nghĩ tham,
sân, hay si, đời sống hằng ngày của chúng ta sẽ trở nên bất ổn và
rối loạn. Ngược lại, với một ý nghĩ thanh tịnh, đời sống của chúng
ta sẽ trở thành Cõi Tịnh Tây Phương.
Ðời người ngắn ngủi, nhưng chúng ta đã rất may mắn được sinh ra
làm người, lại có khả năng nghe giáo lý của Ðức Phật, có khả năng
hiểu một chút về chân lý thâm diệu trong giáo lý đó. Luật nhân quả
là thường tồn và không bao giờ thay đổi. Chúng ta gieo giống nào
thì gặt giống đó, tạo nghiệp tốt thì được hưởng quả tốt, tạo
nghiệp xấu thì sẽ lãnh quả xấu, đem niềm vui đến cho người, mình
sẽ được hạnh phúc, tạo sự khổ đau cho người, mình sẽ chịu bất
hạnh. Ðó là quy luật của ngàn đời, ngay cả Chư Phật, Bồ Tát cũng
không thể thay đổi được luật nhân quả này.
Tuy nhiên, đối với những nghiệp xấu mà chúng ta đã tạo, chúng ta
có thể học cách sửa đổi nhân duyên trước khi chúng kết thành quả.
Chúng ta cần phải tránh và dứt khoát không bao giờ tạo thêm nghiệp
ác, và nên tinh tấn tạo thiện nghiệp. Chúng ta lại còn phải tránh
những điều kiện xấu. Trong một số trường hợp, việc này có thể làm
giảm hay giải trừ quả xấu. Như vậy, chúng ta có thể kiểm soát
nghiệp quả của mình, chuyển hoá hoàn cảnh và đổi hướng trong đời
sống, để được thuận lợi hơn.
Hiện tại, mỗi lúc chúng ta lại nghe nói nhiều hơn về những lời
tiên tri báo trước những tai họa và cả tận thế nữa. Những lời tiên
tri này cũng nói rằng người ta có thể giảm bớt, trì hoãn, hay cả
giải trừ những tai họa này nếu biết tu sửa để trở thành người tốt,
biết làm lợi ích cho người khác chứ không vị kỷ. Nếu không biết,
quay trở lại với điều tốt thì người ta sẽ khó tránh khỏi tai họa.
Người ta cần phải biết rằng võ lực không thể giải quyết được vấn
đề, dù có hủy diệt được cả một quốc gia hay dùng đủ bom để quét
sạch vạn vật trên trái đất. Chúng ta không thể bỏ lỡ cơ hội này,
mà nên thành tâm tinh tấn tu sửa và tu tập theo đạo pháp với những
ý nghĩ và hành vi vô vị kỷ. Chúng ta hãy trở thành người tốt,
thành thực, và có lòng giúp đỡ người khác với tất cả khả năng của
mình. Như vậy, tất cả những gì tốt đẹp sẽ đến với chúng ta.
Ðức Phật nói rằng có ba tai họa lớn và ba tai họa nhỏ trong thế
gian này. Ba tai họa lớn là lửa, nước, và gió. Theo Kinh Hoa
Nghiêm thì đại họa lửa có thể đốt cháy cõi Thiền Thiên thứ
nhất, một trong hai mươi tám cõi trời, và là cõi cao nhất mà lửa
có thể tới được. Lửa sẽ phát sinh từ bên trong ta khi ta ganh tị
và sân hận với nhau. Và tất nhiên cõi Thiền Thiên thứ nhất cũng
phải chịu tai họa lửa, nơi chúng ta có thể thấy rằng những sinh
linh ở cõi trời này vẫn chưa giải trừ được tính nóng giận. Họ đã
tu tập bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả nhưng chưa tận diệt được
sân hận, vì vậy họ vẫn có thể bị nạn lửa tiêu diệt.
Các sinh linh trong cõi Thiền Thiên thứ nhì đã hoàn toàn giải trừ
được tính sân hận của họ vì họ không có một ý nghĩ sân hận nào cả.
Vì vậy cõi trời này sẽ không phải chịu nạn lửa, nhưng hoï vẫn phải
chịu nạn nước, là tai họa có thể làm chìm đắm cõi trời này. Do đâu
mà có tai họa nước lụt? đó là do tính tham dục của chúng ta.
Chúng sinh ở cõi Thiền Thiên thứ ba đạt trạng thái thiền định sâu
hơn chúng sinh ở hai cõi trời thứ nhất và thứ nhì, vì vậy họ không
phải chịu nạn lửa hay nạn nước, nhưng họ vẫn có thể phải chịu nạn
gió, là tai họa từ gốc rễ của là si mê.
Cõi Thiền Thiên thứ tư không có những tai họa lửa, nước hay gió,
vì vậy cõi này được gọi là cõi trời phúc lạc. Chúng sinh ở cõi này
có phúc lạc lớn nhất trong sáu cõi.
Nếu muốn tránh hay được miễn những tai họa này, chúng ta phải trừ
bỏ tính tham dục, sân hận, si mê, cũng như tính kiêu ngạo của
mình. Chúng ta cũng không nên có cảm giác tham muốn giáo lý thế
gian hay giáo lý của Ðức Phật, vì một chút cảm giác tham muốn cũng
là chướng ngại trong việc đoạn lìa tâm tham dục, và giải trừ mọi
tai họa, trong khi thế giới đang phải chịu những tai họa mỗi lúc
mỗi nhiều hơn và nghiêm trọng hơn. Ðây là điều rất quan trọng,
nhiều tai họa này đã được tiên tri từ ngày xưa của các vị giáo chủ
nhiều xứ khác nhau.
Ba ngàn năm trước, Ðức Phật Thích Ca đã nói rằng thế gian sẽ bị
hủy diệt một phần từ chiến tranh, bệnh tật, và nạn đói. Ngài nói
rằng sẽ có một trận chiến tranh kéo dài bảy ngày và bảy đêm. Sau
cùng là nạn đói kéo dài bảy năm, bảy tháng, và bảy ngày, trước
đây, người ta khó có thể tưởng tượng một trận chiến tranh chỉ kéo
dài bảy ngày mà lại gây ra hậu quả tàn khốc lớn như vậy, nhưng khi
Hòa Thượng Tịnh Không viếng thăm hai thành phố Hiroshima và
Nagasaki ở Nhật Bản thì ngài hiểu ra rằng Ðức Phật đã nói tới
chiến tranh hạt nhân. Ở Nagasaki nhiều người sống sót sau vụ nổ
nhưng lại bị nhiễm phóng xạ và nhiều người trong số họ đã chết
trong sáu tháng đầu tiên. Sự kiện này có thể được coi là một bệnh
dịch.
Bệnh do phóng xạ gây ra sẽ diễn biến một cách âm thầm. Bạch cầu
trong máu bị hủy diệt dần dần rồi sau đó nạn nhân bị xuất huyết
không thể cứu chữa được, và sau cùng laø tử vong. Những người nào
vẫn còn sống ít nhất là bảy tháng sau vụ nổ sẽ được coi là đã
thoát được hiệu ứng tức khắc của bom nguyên tử.
Mấy năm sau vụ nổ cây cỏ không mọc nổi. Tất cả đều khô cằn. Cây cỏ
chỉ bắt đầu mọc trở lại khoảng tám năm sau khi hai quả bom rơi
xuống. Như Ðức Phật đã nói: đất không mọc gì cả trong bảy năm, bảy
tháng, bảy ngày. Trong khoảng thời gian này, tất cả sẽ phải chịu
nạn đói.
Như vậy, chúng ta thấy rằng sự hủy diệt được một phần thế giới mà
Ðức Phật đã nói chính là hậu quả của chiến tranh hạt nhân. Ðiều
này có thể xảy ra thực sự hay không? Nhiều người tin là rất có thể
sẽ xảy ra như vậy. Càng ngày càng có nhiều võ khí hạt nhân hơn, và
càng khó kiểm soát hơn. Không ai biết là việc kiểm soát nửa vời
này còn được duy trì bao lâu nữa. Phải thành thật mà nói rằng chỉ
có một cách độc nhất để đạt được sự kiểm soát thực sự võ khí hạt
nhân, đó là khuyến khích và giúp mọi người hiểu rằng cần phải ngăn
ngừa những tai họa do con người tạo ra. Khi nhìn vào tình trạng
của thế giới một cách khách quan, chúng ta sẽ thấy là rất khó
tránh được tai họa tieàm ẩn này.
Nếu xảy ra chiến tranh lúc này thì một nửa số người trên thế giới
sẽ bị chết. Làm thế nào để thoát khỏi một cuộc chiến tranh như
vậy? Một ngày trước khi vãng sinh Tịnh Ðộ, ngài Lý Bỉnh Nam, thầy
của Hòa Thượng Tịnh Không, đã nói với các đệ tử rằng thế giới sắp
phải chịu một tai họa lớn, mà ngay cả chư Phật, Bồ Tát và các vị
Thần, Thánh cũng không thể cứu được. Ông dạy các đệ tử rằng chỉ có
một cách để giúp mình thoát khỏi tai họa này, đó là tìm sự sinh
vào Tịnh Ðộ Tây Phương. Ðể được như vậy, chúng ta cần phải chấm
dứt việc tạo những ác nghiệp qua thân, khẩu và ý.
Chúng ta cần phải tích lũy nghiệp tốt bằng cách trừ bỏ mọi ý nghĩ
vị kỷ, luôn luôn nghĩ tới việc làm lợi ích cho người khác, không
nghĩ tới quyền lợi của mình mà chỉ giúp đỡ người khác. Như vậy
chúng ta sẽ không tạo nghiệp xấu nữa và sẽ chỉ tích lũy nghiệp
tốt, còn nếu chỉ nghĩ đến bản thân thì chúng ta sẽ khó tránh khỏi
tai họa đang tiến tới gần này.
Tại sao chúng ta vẫn sân hận, và vẫn có khuynh hướng bạo động? Tại
sao chúng ta tranh chấp mà không biết khoan dung với nhau? Tại sao
chúng ta lại có vẻ nhất quyết đi về phía vực thẳm như vậy? Tại vì
tâm ích kỷ và tà kiến. Tại vì chúng ta không có khả năng thực sự
quan tâm tới người khác. Chúng ta không thể hiểu được rằng mọi sự
vật đều phát sinh từ chính tâm của mình. Chuùng ta không biết rằng
mỗi ý nghĩ của mình có ảnh hưởng tới toàn thể vũ trụ.
Chúng ta cần phải bỏ tính vị kỷ và cần phải hiểu rằng vũ trụ là
quê nhà của mình; mình và vũ trụ vạn vật là một thực thể độc nhất.
Mỗi người chúng ta có cùng chân tính với chư Phật, Bồ Tát. Chúng
ta và chư Phật, Bồ Tát chỉ khác nhau ở chỗ các ngài là những người
đã giác ngộ tất cả những điều này. Chúng sinh đều đã là cha mẹ của
chúng ta trong quá khứ. Chúng sinh đều sẽ thành Phật trong tương
lai. Khi biết như vậy, làm sao chúng ta không tôn trọng chúng
sinh? Làm sao chúng ta có thể làm hại chúng sinh?
Trong khởi thủy chúng ta đã có sự hiểu biết này, đã có tâm vĩ đại
này rồi. Tại sao bây giờ chúng ta lại có tâm trí chật hẹp như thế?
Chúng ta đã trở nên mê muội và đầy tà kiến. Chúng ta đã tạm thời
bị mất những khả năng tâm linh và trí huệ nguyên thủy. Nhưng nếu
có thể dẹp bỏ được taám màn vô minh, chúng ta sẽ tìm lại được trí
huệ này. Trong Kinh Hoa Nghiêm chúng ta được thấy tâm quảng đại
của chư Phật, Bồ Tát. Vô lượng vô biên những sinh linh tập hợp để
nghe giáo lý vô thượng này là một.
Chỉ cần hieåu chân lý này và mở rộng tâm trí của mình là chúng ta
sẽ thấy rằng dù thuộc chủng tộc nào, tôn giáo nào, nền văn hóa
nào, tất cả mọi người cũng đều là một. Khi hiểu biết như vậy thì
những sự phân biệt, hiểu lầm, và tranh chấp giữa mọi người sẽ tự
nhiên giảm thiểu. Loài người sẽ trước hết tránh được những tai họa
do chính mình tạo ra, và sau đó là những tai họa được coi là tự
nhiên cũng sẽ không còn.
Hoàn cảnh thay đổi theo tâm trí. Khi tâm trí của chúng ta an lạc
và từ bi, môi trường sống của chúng ta sẽ trở nên yên ổn và hòa
bình. Nghe nói về Tịnh Ðộ Tây Phương trong Kinh Vô Lượng Thọ,
chúng ta có thể hỏi là cõi cực lạc kỳ diệu này do đâu mà có. Kinh
sách nói rằng chỉ có những người đạo đức nhất mới được sống ở cõi
đó. Như vậy, khung cảnh kỳ diệu của cõi tịnh Tây Phương chính là
hình phản chiếu của đức hạnh và tâm trí của họ.
Ngày nay môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm và hủy hoại.
Có người nói rằng trái đất đang mau chóng trở nên không còn thích
hợp cho sự sống nữa. Tại sao lại có sự kiện này. Sự kiện này là
hậu quả của ý định và hành vi xấu của loài người chúng ta. Ðây là
nguyên nhân thực sự của những gì đang xảy ra ngày nay. Ðể có thể
cứu thế giới này, chúng ta cần phải dùng trí huệ để giúp những
người còn mê muội trở nên giác ngộ. Chúng ta sẽ giúp họ bằng giáo
dục. Tất cả các nhà đại hiền triết đều đã dùng giáo dục để giải
trừ vô minh. Thí dụ, Phật Thích Ca đã thuyết pháp trong bốn mươi
chín năm, và Khổng Tử đã suốt đời dạy học.
Nhưng làm sao chúng ta có thể mang giáo dục đến cho nhiều người để
làm thay đổi tình trạng của thế giới? Chúng ta sẽ làm điều này
bằng tận dụng các khoa học kỹ thuật mà chúng ta đang có. Khi đã
bắt đầu thức tỉnh và hiểu biết, chúng ta có thể dùng kỹ thuật cao
cấp đeå mang những điều hiểu biết của mình tới cho mọi người. Hiện
tại vẫn chưa quá trễ để cứu thế giới của chúng ta. Nếu tất cả các
đài truyền hình trên toàn thế giới phát sóng hai giờ giáo dục mỗi
ngày thì trong vòng một năm trái đất sẽ trở lại trạng thái bình
thường. Những thiên tai sẽ tự nhiên chấm dứt. Quang cảnh là hình
ảnh phản chiếu của tâm trí, vì vậy nếu có thêm nhiều người biết
nghĩ đến người khác, có ý định cứu thế giới, có ước nguyện hòa
bình, thì môi trường sống của chúng ta sẽ trở nên tốt đẹp .
Nhiều nơi trên thế giới đã có những chương trình truyền hình như
vậy. Ở Ðài Loan có ba hay bốn giờ diễn thuyết được phát sóng mỗi
ngày. Các quốc gia thuộc Bắc Mỹ và Trung Mỹ, gồm Canada, Hoa Kỳ,
Mexico, và Panama có ít nhất là một giờ diễn thuyết được phát sóng
mỗi ngày. Ở Macao, và Hawaii, có hai buổi diễn thuyết mỗi tuần.
Nếu có nhiều khán giả hơn các đài sẽ tăng thời gian phát sóng, và
có thể cũng sẽ tăng số ngôn ngữ của những bài pháp luận nữa. Những
việc này cần phải được thực hiện nhanh để mọi người trên toàn thế
giới có thể sửa đổi bản thân và trở nên tốt hơn. Bằng cách này,
chúng ta có thể đóng góp vào việc giải cứu thế giới của mình.
Một điều khẩn cấp nữa là thiết lập những thư viện điện tử
Internet. Ðạo tràng tu học ở Singapore của chúng ta có ít nhất là
hai giờ giảng pháp được phát mỗi ngày, bằng tiếng Hoa và tiếng
Anh. Trên khắp thế giới, những người nào có máy vi tính đều có thể
nhận được những bài giảng trực tuyến này. Chúng ta dùng Internet
để truyền thông với nhau, và có thể trả lơøi những câu hỏi trong
những chương trình "Nói Chuyện Buổi Sáng" được phát năm
ngày mỗi tuần. Khi đã có kỹ thuật cao, chúng ta có còn cần phải
dựng xây đạo tràng hay không? Chúng ta vẫn cần phải xây dựng đạo
tràng vì hai lý do: thứ nhất là để đào tạo cho giảng sư mới, và
thứ nhì là để có chỗ cho mọi người đến cùng tu tập với nhau.
Như vậy, mọi người trên khắp thế giới đều có thể nghe thuyết pháp,
nhưng chúng ta cũng cần phải thực hành, cần phải dùng pháp môn
Niệm Phật. Ðức Phật dạy rằng, trong thời đại của chúng ta, cách
tốt nhất để đạt thành tựu trong tu tập là pháp Niệm Phật. Chúng ta
niệm "Nam Mô A Di Ðà Phật". "Nam Mô" nghĩa là quy y,
trở về với; "A Di Ðà Phật" nghĩa là sự vô lượng và sự giác
ngộ. Vậy "Nam Mô A Di Ðà Phật" có nghĩa là trở về nương tựa
sự giác ngộ vô lượng.
Niệm Phật có những lợi ích gì? Pháp môn này dựa trên những nguyên
lý nào? Ðức Phật dạy rằng: "Tất cả đều do tâm tạo". Nói
cách khác, hoàn cảnh là phản ảnh của những ý nghĩ của chúng ta.
Khi chưa thành Phật, Bồ Tát, chúng ta vẫn còn có những ý nghĩ phân
biệt, xao động, sân hận, chấp thủ; vẫn còn tham, sân, si và kiêu
ngạo. Sự gia tăng những ý nghĩ này gây ra sự gia tăng những vấn đề
của chúng ta ngày nay, và cũng làm cho những vấn đề đó trở nên
nghiêm trọng, từ sự bất hòa trong gia đình cho tới sự tranh chấp
giữa caùc quốc gia, rồi dẫn tới sự hỗn loạn của thế giới. Những ý
nghĩ xấu này sẽ gây ra tai họa lớn cho loài người nếu chúng ta
không làm gì để hóa giải chúng.
Làm sao để giải trừ những ý nghĩ xấu? Bằng cách niệm "Nam Mô A
Di Ðà Phật". Niệm Phật làm cho tâm trí ta trở về với sự thanh
tịnh, bình đẳng, thức tỉnh, và an lạc. Khi tâm trí an tĩnh thì
ngoại cảnh cũng phản chiếu trên sự an tĩnh đó. Ý nghĩ của chúng ta
tạo ra những làn sóng. Từ thập niên sáu mươi của thế kỷ hai mươi,
người Tây phương gọi những làn sóng này là Sự "rung động".
Sự rung động của ý nghĩ không chỉ truyền tới những cá nhân khác mà
còn có sức mạnh hóa giải những làn sóng ý nghĩ rối loạn phát ra từ
những cảm xúc tham, sân, si và kiêu ngạo của họ.
Vậy nguyên tắc và nền móng của pháp môn niệm Phật là sự phát ra
những làn sóng ý nghĩ tốt. Ðức Phật đã biết và dạy điều này hơn
hai ngàn năm trước. Mục đích của pháp niệm Phật không chỉ là vãng
sinh Tịnh Ðộ mà còn là gạn lọc những ý nghĩ xấu của người khác.
Ðức Phật đã biết về nhu cầu hiện tại của chúng ta, và ngài đã dạy
chúng ta cách thay đổi số phận của thế giới.
Khi đã hiểu nguyên tắc của pháp niệm Phật, chúng ta sẽ thực hành
như thế nào? Chúng ta có thể tập hợp ở trong điện Phật ở đây các
quý Thầy sẽ dùng khánh, mõ hoặc nhạc cụ hướng dẫn mọi người. Việc
mọi người tụng niệm với nhau sẽ mang lại lợi ích. Nếu không có
thời giờ hay ở xa chùa, chúng ta có thể mở máy niệm Phật và niệm
theo ở nhà.
Khi làm việc chúng ta tập trung tâm trí vào công việc mình đang
làm. Khi làm việc xong, chúng ta tức khắc lại tụng niệm. Nếu những
ý nghĩ xao lãng nổi lên, đừng để cho chúng lôi cuốn theo. Khi ý
nghĩ xao lãng đầu tiên xuất hiện hãy tức khắc niệm "A Di Ðà
Phật" để ngăn cản sự xuất hiện của ý nghĩ xao lãng kế tiếp.
Nếu những ý nghĩ này vẫn nổi lên, chúng ta lại niệm “A Di Ðà
Phật" cho tới khi mọi ý nghĩ đều hướng về Phật A Di Ðà.
Không cần phải là tín đồ Phật giáo mới có thể nhận được lợi ích
của pháp niệm Phật. Hội Phật Ðà ở Dallas, Hoa Kỳ đã có những trẻ
em trong vùng tới hỏi về băng ghi âm tụng niệm. Một nhà tâm lý học
tới tham dự một kỳ nhập thất bảy ngày nói rằng ông ta mở băng ghi
âm tụng niệm suốt ngày trong văn phòng vì các thân chủ của ông ta
cảm thấy an tĩnh khi nghe những lời tụng niệm. Ở bệnh viện nơi mẹ
tôi tới chữa bệnh, chúng tôi tặng băng ghi âm tụng niệm và chuỗi
hạt cho một nữ y tá người Gia Tô giáo thuần thành, vì bà ta nói
rằng bà ta thích nghe tiếng tụng niệm khi tới phòng của mẹ tôi. Ba
tháng sau, khi mẹ tôi trở lại bệnh viện để được khám bệnh lần kế
tiếp, bà y tá nói rằng vợ chồng bà ta nghe cuốn băng niệm Phật mỗi
buổi tối, vì nó giúp cho hoï an tĩnh.
Chúng ta không thể biết khi nào người ta có thể nhận được lợi ích
của việc niệm Phật. Em gái của tôi chưa bao giờ tụng niệm, nhưng
cô ta kể với tôi về một chuyến máy bay mà cô ta đã đi mới đây.
Chiếc máy bay đi vào một vùng không khí nhiễu loạn và lay động
thật mạnh. Em gái tôi đã quen đi máy bay nhưng vẫn bị vùi dập như
tất cả những hành khách khác. Bỗng cô ta nhớ tới và niệm "A Di
Ðà Phật, A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật". Thêm vào với việc tụng
niệm còn có những phương tiện trợ giáo khác giúp chúng ta có chánh
niệm. Khi bước vào một Niệm Phật Ðường chúng ta sẽ trông thấy
tượng của một vị Phật và hai vị Bồ Tát. Trong một ngôi chùa Tịnh
Ðộ, ba bức tượng này là Phật A Di Ðà, Bồ Tát Quán Thế Âm, và Bồ
Tát Ðại Thế Chí. Phật A Di Ðà tượng trưng cho chân tính của chúng
ta. Bồ Tát Quán Thế Âm tượng trưng lòng từ bi. Bồ Tát Ðại Thế Chí
tượng trưng trí huệ. Từ bi và trí huệ là hai phẩm tính giúp chúng
ta tu tập để khám phá chân tính của mình, nhắc nhở chúng ta có
lòng từ bi với người khác, có sự duy lý chứ không bị lôi cuốn theo
cảm xúc nhất thời, và có sự tỉnh thức.
Trên bàn thờ, chúng ta sẽ thấy có một số vật. Ðó là những vật trợ
giúp chứ không phải là những vật đối tượng để chúng ta thờ phụng,
vì Phật giáo không phải là một tôn giáo, mà là một nền giáo dục.
Một chén nước tượng trưng cho giáo lý. Nước trong tượng trưng cho
sự thanh tịnh của tâm trí mà chúng ta cần phải đạt được, không để
cho mình bị nhiễm ô bởi tham, sân, và si. Nước yên tĩnh không một
chút gợn sóng nhắc nhở chúng ta hãy giao tiếp với người và sự vật
một cách bình đẳng và với tâm bình đẳng vô phân biệt. Nước trong
trẻo và phẳng lặng phản chiếu rõ ràng mọi vật cũng như tâm trí
thanh tịnh va an tĩnh, chúng ta sẽ trông thấy rõ sự vật ở xung
quanh mình.
Nhưõng bông hoa và trái cây trên bàn thờ tượng trưng cho nhân quả,
và nhắc nhở chúng ta rằng mỗi hành vi thân, khẩu, ý của mình đều
sẽ sinh ra hậu quả.
Ðèn hay nến trên bàn thờ tượng trưng sự sáng suốt của trí huệ, xua
tan bóng tối vô minh. Nhang thơm tượng trưng sự trì giới, thiền
định, và sự hiến thân vì lợi ích của người khác. Việc tụng niệm
giúp chúng ta tránh được những phiền não và hóa giải những rung
động xấu của những tạp niệm.
Thông thường thì trước mỗi buổi hành trì, chúng ta phát nguyện
thành tựu những mục tiêu của mình. Tất cả các vị Phật và các vị Bồ
Tát khi bắt đầu việc tu tập đều phát đại nguyện. Dù ước nguyện
điều gì thì những lời nguyện đó cũng không thể cao hơn bốn đại
nguyện của chư Phật, Bồ Tát như sau đây:
1.- Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
2.- Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
3.- Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
4.- Phật Ðạo vô thượng thệ nguyện thành.
Chúng ta phát nguyện theo thứ tự như trên, vì trước khi đạt giác
ngộ vô thượng, chúng ta cần phải quán thông các pháp môn. Trước
khi quán thông các pháp môn, chúng ta cần phải đoạn lìa mọi phiền
não, và trước khi giải trừ phiền não, chúng ta cần phải thề giúp
đỡ chúng sinh. Các vị Bồ Tát đã thực hiện xong bốn lời thề nguyện
sâu xa và rộng lớn này rồi, còn chúng ta thì chỉ mới phát nguyện
chứ có lẽ chưa thành tựu được một điều nào cả.
Tư tưởng và ý kiến của chúng ta phải phù hợp với bốn đại nguyện
này. Lời nguyện thứ nhì phù hợp với lời nguyện thứ nhất của chư
Phật, Bồ Tát. Nếu không chấm dứt mọi phiền não thì làm sao chúng
ta có thể cứu độ chúng sinh? Chỉ khi nào đã đoạn lìa được tất cả
mọi phiền não thì chúng ta mới vượt qua được mười cõi.
Sau khi giải trừ phiền não, chúng ta có thể học những pháp môn
khác nhau. Có đức hạnh chưa phải là đủ, chúng ta còn phải có tri
thức, sự thông minh, và trí huệ, vì chúng ta sẽ phải giúp đỡ nhiều
loài sinh linh khác nhau. Nếu muốn đạt đến chân trí huệ và biện
tài vô ngại, chúng ta cần phải thông thạo vô số pháp môn.
Nếu không thể đạt thành Phật quả thì chúng ta không thể giúp đỡ
được chúng sinh, mà chỉ có thể giúp được những sinh linh thuộc
trình độ thấp hơn trình độ của chúng ta. Chỉ khi nào đạt trạng
thái giác ngộ viên mãn của một vị Phật thì chúng ta mới có khả
năng giúp đỡ được tất cả chúng sanh.
Như vậy lời nguyện thứ nhất là mục tiêu của chúng ta, còn ba lời
nguyện sau là phương tiện giúp chúng ta thành tựu lời nguyện thứ
nhất. Nếu phát nguyện mà không thực hiện được điều ước nguyện thì
cũng vô ích. Việc phát nguyện và việc thực hành bổ túc cho nhau.
Khi phát nguyện thành Phật và cũng tinh tấn tu tập không thoái
chuyển thì chúng ta sẽ đạt được niềm vui trong Chánh Ðạo.
Trong vô số kiếp trước, chúng ta đã tích lũy những tập khí xấu.
Ngày nay, chư Phật, Bồ Tát dạy chúng ta cách đoạn trừ những thói
quen xấu đó. Giải trừ những tập khí đã thành hình qua nhiều kiếp
là việc làm khó khăn, nhưng chúng ta cần phải làm được việc này.
Khi thói quen xấu được dẹp bỏ, việc tu tập của chúng ta sẽ trở nên
dễ dàng và trôi chảy hơn, chúng ta có thể thành tựu những đại
nguyện của mình, đi tới cõi Tịnh Ðộ Tây Phương, và từ đó có thể
giúp đỡ chúng sinh.
Mới đây, có những người hỏi Hòa Thượng Tịnh Không làm sao họ có
thể tin chắc là mình sẽ vãng sinh Tịnh Ðộ. Hòa Thượng hỏi lại họ
rằng họ có tin là mình sẽ vãng sinh Tịnh Ðộ trong kiếp này hay
không. Họ thành thật lắc đầu nói không. Hòa Thượng Tịnh Không cũng
không tin chắc như vậy, bởi vì muốn đạt vãng sinh Tịnh Ðộ phải có
hai điều kiện. Thứ nhất là có niềm tin và ý nguyện không lay
chuyển. Thứ hai là buông bỏ mọi ái dục. Chúng ta sẽ không thể đến
được cõi tịnh Tây Phương nếu không hội đủ hai điều này.
Hiện tại, chúng ta còn bám giữ vào một cái gì đó. Chúng ta cần
phải tìm cho ra điều chấp thủ của mình. Nếu không biết là mình còn
chấp thủ cái gì thì dù chúng ta có được tái sinh trong cõi trời
cao nhất và được sống ở đó trong tám mươi ngàn đại kiếp, chúng ta
cũng vẫn còn bị kẹt trong vòng luân hồi sinh tử. Chúng ta phải làm
sao? Chúng ta phải tìm ra điều mình đang chấp thủ để buông bỏ nó.
Buông bỏ tất cả mọi chấp thủ! Buông bỏ mọi ý tưởng về được và mất,
lợi và hại. Buông bỏ mọi vọng niệm phân biệt. Buông bỏ sự suy nghĩ
về lối cư xử của người khác đối với mình. Buông bỏ sự suy nghĩ về
những người mắc nợ mình, về những người mà mình mắc nợ hay chịu
ơn.
Chúng ta buông bỏ hay xả ly với tâm trí thanh tịnh, và chỉ khi đó
chúng ta mới có thể chắc chắn vãng sinh Tịnh Ðộ. Nếu không như vậy
thì chúng ta không thực hiện được những đại nguyện của mình. Chúng
ta không thực sự thành tâm tin tưởng. Dù niệm bao nhiêu biến "A Di
Ðà Phật". chúng ta cũng vẫn không thể vãng sinh Tịnh Ðộ, vì chúng
ta vẫn còn đang bám giữ vào năm điều tham muốn, đó là tài năng,
sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ. Chúng ta vẫn còn phân
biệt những gì mình cho là phải hay trái, đúng hay sai. Những sự
tham muốn này sẽ đưa chúng ta rơi vào ba cõi khổ, địa ngục, ngạ
quỷ, và súc sinh. Nếu vẫn còn chấp thủ như vậy thì dù Phật A Di Ðà
cùng với các vị Bồ Tát đến đưa chúng ta về cõi Tây Phương Cực Lạc
chúng ta cũng không thể đi được.
Có nhiều thí dụ về những người đã lìa bỏ được sự tham dục của
mình. Một thí dụ nổi tiếng trong số này là
truyện đại sư Ying Ke.
Ngài là một tăng sĩ đã phạm nhiều giới luật, nhưng ngài biết là
mình đã tạo những nghiệp xấu, và cũng biết rằng sau khi chết mình
sẽ đọa xuống địa ngục. Ngài hỏi các bạn đồng tu là bây giờ mình
phải làm sao. Họ đưa cho ngài coi một cuốn sách nói về những người
đã được vãng sinh Tịnh Ðộ Tây Phương. Cuốn sách làm cho ngài caûm
động và sám hối, vì vậy ngài ở yên trong phòng của mình để tụng
niệm ba ngày ba đêm liền không ăn uống hay ngủ nghỉ gì cả. Với sự
thành tâm buông bỏ tất cả, ngài được Phật A Di Ðà cảm ứng, nói với
ngài rằng ngài sẽ còn sống mười năm nữa, và trong khoảng thời gian
này ngài hãy tinh tấn tu tập, rồi Ðức Phật sẽ trở lại đưa ngài về
cõi cực lạc. Nhưng đại sư nói với Phật A Di Ðà: " Con là người
yếu đuối và có nhiều tập khí xấu, khoâng thể chống lại được những
cám dỗ. Vì vậy con không thể đợi mười năm nữa. Con muốn được đi
với Phật ngay bây giờ". Ba ngày sau, Phật A Di Ðà trở lại đưa
đại sư Ying Ke tới cõi Tịnh Ðộ.
Kinh A Di Ðà viết rằng nếu chúng ta thành tâm và tinh tấn tụng
niệm từ một tới bảy ngày thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt thành tựu.
Pháp môn Tịnh Ðộ dễ thực hành như vậy, nhưng có một vấn đề ở đây
là chúng ta có thực sự muốn về cõi tịnh hay không. Nếu ơû lối vào
điện Phật cho rằng treo một tấm bảng đề "Tụng Niệm Trong Ba Ngày
Sẽ Ði Tịnh Ðộ Tây Phương" thì sẽ không có ai vào điện Phật nữa, vì
họ sợ rằng mình sẽ chết sau ba ngày tụng niệm. Rất ít có ai trong
chúng ta sẵn sàng rời bỏ thế gian này, và đây là nguyên nhân chính
yếu làm cho chúng ta không thể vãng sinh Tịnh Ðộ được.
Trong Khế Kinh, Ðức Phật nói rằng chúng ta Niệm Phật để đạt được "Nhất
Tâm Bất Loạn" (One mind undisturbed), gồm ba cấp. Cấp thấp
nhất là Nhất Tâm Quán Niệm Phật A Di Ðà, và ở cấp này chúng ta đã
có thể vãng sinh Tịnh Ðộ. Lúc vãng sinh chúng ta có thể ở vào một
trong ba cấp này. Nếu đạt được cấp cao nhất, chúng ta sẽ có khả
năng tự quyết định lúc nào mình sẽ vãng sinh Tịnh Ðộ. Vào lúc đó
chúng ta sẽ ra đi trong khi thể xác không có bệnh tật nào cả, và
có thể đang ở trong tư thế đứng hay ngồi. Nếu đạt cấp trung bình,
chúng ta sẽ biết trước mấy tháng lúc mình qua đời, đi tới cõi tịnh
và cũng có thể rời bỏ thế gian trong tư thế đứng hay ngồi. Ở cấp
thấp nhất, chúng ta biết trước mấy ngày cái chết của mình, nhưng
lúc đó chúng ta có thể bị bệnh.
Có người hỏi Hòa Thượng Tịnh Không rằng ông Lee, thầy của ngài đã
đạt được cấp nào. Ngài trả lời rằng ngài biết ông Lee đã đạt được
cấp cao nhất "Nhất Tâm Quán Niệm Phật A Di Ðà", vì ông có
khả năng quyết định mình sẽ vãng sinh lúc nào. Ai cũng có thể đạt
được những cấp thành tựu này, nhưng vấn đề là chúng ta có sẵn lòng
tu tập hay không. Nếu thành tâm tu tập thì chúng ta sẽ đạt được
cấp này.
Ðã có nhiều người vãng sinh Tịnh Ðộ Tây Phương sau vài năm tu theo
pháp môn Niệm Phật. Có phải khi đạt trình độ cao thì thọ mạng đã
tới lúc chấm dứt? Không phải như vậy. Khi đó hành giả đạt trạng
thái thanh tịnh, có thể vãng sinh Tịnh Ðộ, và có thể tự quyết định
vãng sinh ngay hay ở lại thế gian. Ða số những người có thể vãng
sinh sớm không muốn ở lại thế gian lâu hơn để tiếp tục chịu đau
khổ. Những người quyết định ở lại là vì hạnh nguyện của họ phải
hướng dẫn người khác về pháp môn này. Nhưng nếu một hành giả không
có một người nào có liên hệ nhân duyên với mình để mình hướng dẫn
thì hành giả đó không có lý do gì để ở lại thế gian.
Ðây là trường hợp của ông Lee. Ông đã chọn vãng sinh sớm, vì dù
những buổi diễn thuyết của ông có nhiều thính giả nhưng ít có ai
theo học ông, và những người này đều đã thành tựu, vì vậy ông
không cần phải ở lại thế gian lâu hơn. Nếu có một người cần sự
hướng dẫn của ông thì ông đã không vãng sinh sớm. Lời nguyện thứ
nhất của chư Phật, Bồ Tát là cứu độ chúng sinh, vì vậy các ngài sẽ
không bao giờ bỏ rơi một người nào cả, dù người đó trong quá khứ
đã làm hại, phỉ báng, hay giết các ngài.
Ngày xưa, các đạo tràng có tám giờ học giáo lý và tám giờ tu niệm.
Ðạo tràng của chúng ta ở Singapore đây có hai giờ thuyết pháp và
mười hai giờ Niệm Phật mỗi ngày. Nhưng chúng ta chưa đạt tiến bộ
trong tu tập và đó là vì chúng ta chưa hoàn toàn buông bỏ tất cả
mọi phiền não. Chỉ khi nào nhìn thấu chân lý thì chúng ta mới xả
ly tất cả.
Hiện tại chúng ta vẫn còn những chướng ngại do không có tuệ giác.
Chúng ta chưa xả ly, mà vẫn còn chấp thủ một cái gì đó, vì sự chấp
thủ này mà chúng ta vẫn còn kẹt trong luân hồi sinh tử. Chúng ta
cần phải biết rằng nếu không thoát khỏi luân hồi thì phần lớn thời
gian sống của chúng ta là ở trong ba cõi thấp địa ngục, quỷ đói và
súc sinh. Do si mê chúng ta sẽ tái sinh trong loài thú. Do tham
dục chúng ta sinh vào cõi ngạ quỷ, và sân hận sẽ làm cho chúng ta
rơi xuống địa ngục.
Nếu tạo đủ thiện nghiệp, chúng ta có thể tái sinh lên tới cõi
trơøi cao nhất là Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ. Các sinh linh ở cõi
này có thọ mạng là tám mươi ngàn đại kiếp. Nhưng họ sẽ vẫn có thể
rơi vào địa ngục trong vô số đại kiếp nếu họ không tiếp tục tu
tập. So với tám mươi ngàn đại kiếp thì thời gian sống ở trong địa
ngục dài không thể tưởng tượng được. Vì vậy mà đại sư Ying ke muốn
rời bỏ thế gian này càng sớm càng tốt. So với thời gian sống trong
những cõi khác thì đời người giống như một tia chớp, một giọt
sương.
Luân hồi sinh tử là vấn đề quan trọng ở trước mặt mà chúng ta
không biết tới. Chư Phật, Bồ Tát đã hết sức dạy bảo mà chúng ta đã
không nghe, không tin, không chấp nhận. Tới khi nào chúng ta mới
thưïc sự tin nhận lời dạy của các ngài? Có lẽ sau nhiều năm, khi
chúng ta bất ngờ thức tỉnh.
Những người nào có thể giác ngộ chỉ sau khi nghe thuyết pháp một
lần thì đó là những người ngoại hạng. Họ phải là một vị Phật hay
một vị Bồ Tát tái sinh. Ða số chúng ta cần phải nghe thuyết pháp
và thực hành tu tập mỗi ngày. Khi nghe giáo lý, suy ngẫm về giáo
lý, và thực hành đúng theo giáo lý, chúng ta sẽ có thể đạt thành
tựu. Nhưng hiện tại chuùng ta không thể tìm được một vị thầy có
khả năng dạy giáo lý cho mình tám tiếng đồng hồ mỗi ngày. Tuy
nhiên chúng ta có thể nghe thuyết pháp trong một cuốn băng video
hay băng ghi âm vài lần một ngày. Ðừng nghe nhiều cuốn khác nhau,
vì khi nghe xong cuốn cuối cùng thì chúng ta đã quên những gì đã
nói trong cuốn thứ nhất; tập trung vào một cuốn băng mà thôi. Nếu
nghe thuyết pháp liên tục như vậy thì chỉ sau ba năm chúng ta có
thể đạt được moät định lực nào đó, một mức giác ngộ nào đó.
Sau khi nghe thuyết pháp và thực sự hiểu giáo lý, chúng ta sẽ có
thể ứng dụng giáo lý vào trong đời sống hằng ngày. Nếu tìm hiểu
đúng và tu tập đúng theo lời dạy của Ðức Phật, chúng ta sẽ biết
cách thoát luân hồi, vượt qua mười cõi sinh tử. Cách an toàn nhất
để thoát luân hồi là tìm sự vãng sinh Tịnh Ðộ Tây Phương.
Có một hôm, sau khi dùng điểm tâm, vị tổ thứ tư của Tịnh Ðộ Tông
là Fa Zhao nhìn vào bình
bát của mình và thấy một hình ảnh. Ngài hỏi các vị tăng khác về
hình ảnh này. Các vị này nói rằng đó là điện thờ Bồ Tát Văn Thù ở
Ngũ Ðài Sơn. Fa Zhao liền tìm đến Ngũ Ðài Sơn, và khi tới ngôi
chùa, ngài cùng với mười ngàn người khác nghe Bồ Tát Văn Thù
thuyết pháp. Rồi ngài hỏi Ðức Bồ Tát là trong thời Mạt Pháp, pháp
môn nào thích hợp với loài người nhất. Bồ Tát Văn Thù trả lời đó
là pháp Tịnh Ðộ, mà cách thực hành pháp môn này là niệm "A Di
Ðà Phật". Khi đi khỏi chùa, Fa Zhao quay lại nhìn một lần nữa,
nhưng ngôi chùa đã biến mất. Lúc đó ngài mới hiểu ra rằng Bồ Tát
Văn Thù đã hiện ra để dạy mình pháp môn tốt nhất cho thời mạt
pháp.
Khi vãng sinh Tịnh Ðộ và được gặp Phật A Di Ðà, chúng ta có thể
nói với ngài rằng mình muốn trở lại thế gian để giúp đỡ chúng
sinh. Với sự phù hộ của ngài chúng ta sẽ không bao giờ mê muội nữa
và sẽ không chìm đắm trong sáu cõi luân hồi nữa.
Hòa Thượng Tịnh Không đã thuyết pháp trong bốn mươi năm. Mỗi tuần
ngài thuyết pháp ít nhất là ba buổi. Hiện giờ ngài đang ở
Singapore và đang thuyết pháp mỗi ngày. Từ năm bốn mươi lăm tuổi
cho tới khi ngoài năm mươi, ngài đã thuyết pháp ít nhất là ba mươi
giờ một tuần. Ai được lợi nhiều nhất? Ngài chính là người được lợi
nhiều nhất! Vì ngài không bỏ lỡ một buổi thuyết pháp nào, còn
thính giả thì bỏ lỡ nhiều buổi. Chúng ta rất khó bỏ được những
thói quen xấu, nhưng ngài thì có thể sửa đổi được những tập khí
xấu của mình, vì ngài nói pháp cho mọi người hầu như mỗi ngày.
Ngài đã thuyết pháp liên tục trong bốn mươi năm, vì vậy ngài có
thể trừ bỏ được mọi tập khí xấu.
Xin quý hành giả nghe cẩn thận. Luật nhân quả là bất biến. Ngay cả
chư Phật, Bồ Tát cũng không thể thay đổi được luật nhân quả. Tính
tham, sân, si, và kiêu ngạo của chúng ta có hậu quả là những tai
họa, và những tai họa này đang gia tăng về tần số cũng như sự
nghiêm trọng, và cũng đang tiến tới mức độc không thể tưởng tượng
được.
Mọi sự vật hiện tượng đều do tâm trí của chúng ta tạo ra, vì vậy
nếu chúng ta gây ra nguyên nhân của tai họa đang tiến tới gần này
thì chúng ta cũng có thể tạo ra một nguyên nhân khác lớn hơn, có
khả năng giảm thiểu hoặc còn có thể ngăn cản được tai họa này.
Chúng ta phải thay thế những ý nghĩ ích kỷ bằng những ý nghĩ vị
tha. Chúng ta phải bỏ tính kiêu ngạo và sự tham muốn lợi danh.
Chúng ta phải loại bỏ tham vọng kiểm soát người khác, tâm trí hẹp
hòi, và những thành kiến lệch lạc Chuùng ta không phê phán và buộc
tội người khác, phải chấm dứt nói những chuyện thị phi. Chúng ta
phải từ bỏ sự suy nghĩ về những người mắc nợ mình và về những
người mà mình mắc nợ. Chúng ta phải xả ly hết tất cả.
Chỉ
bằng cách buông bỏ thì tâm trí của chúng ta mới có thể trở lại
trạng thái thanh tịnh và an tĩnh. Chỉ bằng cách này tâm ta mới trở
nên yên ắng, hiền hòa và tịnh lạc, và ta đạt được trí huệ để sống
hòa hợp với mọi người cũng như mọi vật. Chỉ với tâm hiền hòa và an
lạc thì chúng ta mới có thể giải quyết được những vấn đề lớn. Với
lòng từ bi chúng ta có thể mang lại lợi ích vô lượng cho người
khác. Ðây là cách tốt nhất và là cách duy nhất để mang lại hòa
bình thực sự cho thế giới. Chúng ta sẽ không sống cho riêng mình
mà sống để làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh.
Volume VI
“THE SOLUTION: GENTLE HEARTS AND SERENE
MINDS”
By Venerable
Wu Lin
Respected
Dharma Masters, respected practitioners and guests. I would like to again
welcome you to the Singapore Buddhist Lodge and to express my continued
gratitude at my great fortune, our great fortune, to all be here in this
rarest of way places. One floor below us is a wondrous cultivation hall
where chanting has continued daily for at least twelve hours a day. After
its opening several months ago, we have spent a good part of our weekends
Buddha Name Chanting. This cultivation hall is very special. The air feels
different, the chanting sounds clearer, the cultivation is stronger.
This lecture
hall is also very special for talks have been given here every day since
May 18th when Master Chin Kung began his talks on the Flower
Adornment Sutra. We come to the lecture hall to listen to the
teachings. We come to the cultivation hall to practice those teachings. We
need both.
In recent
years, our world has become beset with adversities and our lives filled
with increasing suffering and unhappiness. As time goes on, these
adversities will become more and more severe, more and more frequent.
Someone asked how the Great Compassionate Buddhas and Bodhisattvas help
all sentient beings to be liberated from pain. They do this by teaching us
to overcome greed, anger and ignorance so that our minds will no longer be
deluded, but awakened. By teaching us the Law of Cause and Effect.
To end our
suffering, we first have to know what causes it. As human beings, we
undergo the sufferings of birth, old age, sickness and death. We suffer
hardships, do not attain what we seek, are parted from our lived ones and
find ourselves in the presence of those whom we resent or even hate. We
are surrounded by all these with no apparent way of being truly free.
We need to
understand that catalystic conditions or circumstances have to exist for a
cause to generate an effect. By controlling these catalystic conditions,
we can have some influence on our consequences. We need to practice good
deeds during our lifetime to generate good karma. Then we will truly
appreciate that living a happy and fulfilling life is the karmic result
generated from a good cause and a good condition. And this is the way to
attain liberation from suffering and to attain happiness.
Today, many of
us feel the weight of our negative karma and we witness the unhappiness
and suffering around us. They are caused by our selfish and erroneous
behaviour. By our choosing to benefit ourselves at the expense of others.
How do we remove this negative karma? How do we prevent further
occurrences? By practicing what the Buddha taught. By dedicating ourselves
to helping and benefiting society, by not protecting ourselves while
harming others.
Most of us
have the sub-conscious desire to control other people, animals, even
inanimate objects. But by letting go of this attachment, we can be
liberated. Awakened beings live their lives with great ease. They fulfil
their responsibility of advising and educating sentient beings by
explaining to them the true reality of life and the universe, the Law of
Cause and Effect. By explaining that every cause, every thought, word and
action has a result.
Whatever
people decide to do, it is their choice, their consequence. We simply
accord with the condition as we educate them and then leave the rest up to
them. By doing this, our mind will remain serene, as it generates the
concentration and thus the wisdom to effectively interact with people,
matters and objects. The benefits that can be derived from such practice
are infinite and boundless. Not only can our present suffering be
resolved, but our negative karma accumulated over infinite life times can
be eliminated as well.
Why then are
we unable to realize the true benefit? Because we are obstructed by our
own negative karma, unable to see what is right before our very eyes? We
are constantly reminded by the images of Buddhas and Bodhisattvas.
Constantly prompted by our reciting the sutra. Impelled by our daily
chanting of the Buddha’s name and listening to dharma talks. Yet, we still
are unable to truly comprehend the teachings, still unable to apply the
principles in our daily living.
We cannot
blame the Buddhas and Bodhisattvas for not helping. The fact is they are
trying to. We are not paying attention. We have a wondrous and rare chance
to encounter Buddhism, which is about to slip by us. To be born as human
beings who are able to hear the teachings is an unbelievably rare
opportunity, not encountered for millions of years. To encounter the
teachings is as rare as a bubble rising to the surface of a vast sea and
breaking the surface of that sea within the one wreath of flowers that is
floating upon it.
Allowing this
to happen will be a tragic mistake that is entirely of our own making. To
prevent this from happening, we need to reflect and feel remorse for our
mistakes. This is a learning process that will enable us to overcome our
afflictions and worldly habits and thus to remove our negative karma.
What is this
negative karma? A part of it is these afflictions and worldly habits. How
do we overcome these? By feeling deep regret for our mistakes and vowing
to not commit them again. Daily practice will help to decrease our
negative karma. It is to practice in the midst of society, not to be
separated from it. We can choose any one of the eighty-four thousand
methods that the Buddha taught. From all these infinite ways, he tells us
that in this Dharma Ending Age, the Buddha Name Chanting Method is the
most convenient, simple and effective. It can generate the positive effect
and thus the strength needed to eradicate our afflictions and negative
karma.
Some people
have questioned why they do not yet feel the results of their daily
chanting. It is not because the chanting method is ineffective. Some
practitioners have achieved remarkable results and successfully eliminated
their negative karma. If we are not feeling the results it is because our
daily practice does not accord with the Buddha’s guidance, in other words,
we are not doing what we are advised to do. Instead we are doing what we
are advised not to do. For example, are we refraining from killing any
living creature, refraining from stealing? Are we refraining from
committing the misdeeds of stealing, lying, sexual misconduct, abusive
language, bearing tales, seductive words, greed, anger and ignorance?
We would do
well to follow the Buddha’s guidance. This will help to decrease our
negative karma. Our chanting, our daily practice and our goals need to
accord with the principles in the teachings. Our recitation of the sutra
reminds us of the teachings and of our need to accord with them to correct
our erroneous ways. Failure to do so will increase our negative karma.
Our goal is
the mind of sincerity, purity, equality, compassion and awakening. Only
with this mind will we be able to solve all problems. They cannot be
solved by physical force, by war. They are solved with gentleness and
loving-kindness toward all other beings, animate and inanimate. It is in
our best interest to be rid of the desire to control, for it will only
result in our committing further transgressions, thus increasing our
negative karma. No one can truly control another. History provides us with
many examples of countries that tried to use force to control another
country; Hitler’s invasion of Europe, the Japanese invasion of China, the
Russians in Afghanistan and the United States in Vietnam. All failed.
On the other
hand, the work of Master Chin Kung in propagating Buddhism throughout the
world, especially in China where he freely distributes tapes and books to
teach people to practice good deeds has resulted in over twenty million
people listening to the Buddha’s teachings. He did not have to spend much
to gain this kind of result. Instead of those countries spending huge sums
of money on warfare, they could have spent the money on caring for and
supporting people who are suffering hardships. In this way, they would
have peacefully and easily won them over. Or they could have used the
money to educate their own citizens, to help them become self-sufficient;
to pay more attention to internal needs instead of constantly interfering
with external affairs.
Our every
thought needs to be of benefiting all sentient beings. Not only in our
behaviour should we never hurt any sentient beings, but also we should
never give rise to a single hostile thought or say anything that can cause
distress to others. If we can truly follow this teaching then in our daily
lives no matter what we do, there will be great goodness, great
gentleness. This is the way to truly influence people, with
loving-kindness and compassion. Using physical force to try to solve
problems will not only create enemies but will also generate the cause to
be born into the hell realms. By practicing in accordance with the
teachings, we will achieve results for in this way we will transform our
minds, everything can be transformed by our minds. When we accord with the
teachings, our thoughts will change; our actions will be proper and
correct.
We would do
well to let go of selfishness, to only have thoughts that benefit others.
Instead, we are wrapped up in our own concerns, thinking only of
protecting the interests of ourselves, our group or our country. This way
of thinking has let to quarrels between people, feuds between families,
wars between countries. It has let to massive damage on both sides; the
tragic loss of lives, the excessive monetary cost, the disastrous
destruction of land, the final destruction of friendships and peace and
the grave consequences incurred due to the Law of Cause and Effect.
Our complete
lack of concern for the plants, living and non-living creatures of our
natural environment has resulted in the destruction of our environment.
Ultimately, it is we ourselves who suffer from this negligence and lack of
compassion. We are all one entity, one being, all interrelated closely
with one another. Everything, including us arises from the coming together
of causes, so to harm others is to harm ourselves.
Once we
thoroughly comprehend this, we will have no more problems. Being overly
concerned with our own interest and those of our group and country, is the
root cause of all misfortunes and adversities. Taking care of this problem
solves everything else. When we practice accordingly, with proper and
caring behaviour, we will see an increase in our good karma and a decrease
in our bad. In turn, our suffering will be reduced or eliminated. In other
words, we will experience a favourable change in our circumstances.
When we give
rise to one single bad thought of inequality, we turn a favourable
situation into an unfavourable one. However, with one single good thought
of equality, the Buddha realm will appear in that moment. When we give
rise to one single thought of the Bodhisattva way, the Bodhisattvas realm
will appear in that moment. Likewise, with one thought of greed, anger or
ignorance, our daily lives will become unsettled and unmanageable.
However, with one thought of purity, our lives will become harmonious and
peaceful. Thus, the world in which we live will become the Western Pure
Land.
Our life is
short. However, we are unbelievably fortunate to have been born as humans,
able to listen to the Buddha’s teaching, able to understand a little of
its profound and incomparable truth. The Law of Cause and Effect is
unchangeable, is permanent. We reap what we sow. By sowing good causes, we
reap good consequences; sowing bad causes, we reap bad consequences. Even
Buddhas and Bodhisattvas cannot alter this reality.
However, with
the causes that we have already planted, we can learn how to alter our
catalyst condition before it comes into effect. Furthermore we need to
refrain from committing any more bad deeds and to commit more god deeds,
to distance ourselves from adverse conditions. In some cases this can
reduce or eliminate the bad effect. In this way we can control our own
consequences, transform our environment and change the direction in which
we are currently headed.
We are
learning of more and more prophecies that speak of upcoming disasters,
even of the end of the world. These prophecies also tell us that these
could neither be reduced or delayed or even prevented if we replaced our
incorrect ways with those that are good, with those that benefit others
and not ourselves. But if we do not turn back now, then it will be very
hard to avoid them.
It is crucial
that people understand that using physical force cannot solve problems,
for even if we totally destroy a country, even if we detonate enough bombs
to wipe out the face of the earth, it still will not solve our problems.
We cannot waste this opportunity but need to cultivate in a sincere and
diligent manner, to apply the principles with unselfish thought and
behaviour. To be good, to be warm, to be sincere, to put all our efforts
into helping others. In this way, all that is good will come our way.
Buddha
Shakyamuni told us that there are three cataclysmic disasters and three
lesser disasters in this world. The cataclysmic ones are comprised of
fire, water and wind. The Flower Adornment Sutra tells us that
disasters of fire can burn up to the First Meditation Heaven Realm, one of
the twenty-eight levels of the heavens. This is the highest realm that a
fire can reach. Fire is caused when ordinary people feel jealousy, feel
hatred.
Since this
First Meditation Heaven is still subject to fire disasters, we know that
even these heavenly beings have not yet completely suppressed their anger.
They have cultivated the Four Immeasurable Hearts of loving kindness,
compassion, joy and letting go, but the cultivation of these four hearts
still cannot effectively suppress their angers. Thus, they are still
subject to fire disasters.
Beings in the
Second Meditation Heaven Realm have thoroughly conquered their anger since
they do not give rise to any thought of hatred. So, this heaven realm will
not suffer from fire. However, it is still subject to flood disasters,
which can submerge this heaven realm. Where does the flood come from? From
our greed.
Having
attained deeper concentration than those in the First and Second Heavens,
the beings in the Third Meditation Heaven, will not suffer fires or
floods. But they are still subject to wind disasters, which are caused by
ignorance.
The Fourth
Meditation Heaven Realm has no fire, flood or wind. Therefore, we call
this heaven realm the good fortune heaven. The beings here possess the
foremost fortune among the six realms.
If we want to
avoid or to be rid of all disasters, we must sever our greed, anger,
ignorance and arrogance. We should neither feel greed for worldly teaching
nor for the Buddha’s teachings. For to feel the slightest trace will block
us from severing the mind of greed. Will block us from eradicating the
disasters, which are increasing in both frequency and severity. This is
very important. These have been predicted by many ancient prophecies from
respected religious leaders in many different countries.
Three thousand
years ago Buddha Shakyamuni told us of the partial destruction of the
world, which would be from war, epidemic and famine. He told of a war that
would last for seven days and seven nights. Then there would be an
epidemic that would last for seven months and seven days. Finally, a
famine that would last for seven years, seven months and seven days. In
the past, it was difficult to imagine how a war could last just seven days
but have such devastating results. It was beyond imagination.
But when
Master Chin Kung was in Hiroshima and Nagasaki on a trip to Japan, he
realized that what the Buddha was describing was nuclear warfare. In
Nagasaki, after the atomic explosion, many
People survived the
explosion itself, but were infected with atomic fallout and consequently
many of them died during the first six months. This can be described as an
epidemic.
The radiation
sickness that results from atomic fallout is insidious. It starts by
destroying one white cell and gradually progresses until there is massive
cell destruction then uncontrolled bleeding and finally, death. Anyone,
who was still alive at least seven months after the detonation would be
considered as having survived the immediate effects of the bomb.
For years
after the explosion, there were no trees, no plants, no grass. All was
barren. The trees and grass started to grow approximately eights years
after the detonation of the bombs. It was as the Buddha had told us; the
ground would grow nothing for seven years, seven months, seven days. In
this period, all will suffer from famine.
From this, we
realize that the partial destruction of the world that was told to us by
the Buddha is indeed that of nuclear warfare. Could it really happen? Many
believe it is very likely. Access to nuclear weapons is becoming more
widespread, more difficult to control. No one knows how long this
tentative control can be maintained. Very honestly, the only way to attain
real control is to encourage and help all to understand the need to
prevent human made tragedies. If we observe the world situation
objectively, then we will see that it is very difficult to avoid this
probably disaster.
If the war
were to happen now, half of the world’s population could be killed. How
can we escape such a war? The day before he passed on to the Western Pure
Land, Master Chin Kung’s teacher, Mr Bing-Nan Lee told his students, that
this world was going to experience a significant disaster. Even Buddhas
and Bodhisattvas and Heavenly beings would not be able to help. He urged
his students that the only way to free themselves would be to seek birth
into the Pure Land. To assure this, we need to stop all bad thoughts,
speech and behaviour.
We need to
accumulate only good deeds. How? By ceasing all selfish ideas, by
constantly thinking of how to benefit all others, by letting go of our own
interest for the sake of others. This will stop our bad deeds and help us
to accumulate only good ones. But, if our every thought is only of
ourselves, it will be very difficult for us to avoid this approaching
disaster.
Why do we
persist in our anger, our hatred, our fighting? Why do we have conflicts,
the inability to tolerate others? Why do we seem so determined to keep
heading towards the brink? Selfishness. Wrong viewpoints. The inability to
truly care for others. The inability to truly understand that everything
arises from our minds. The inability to understand that every thought we
have is instantly felt throughout the entire universe.
We need to let
go of our selfishness and comprehend that the whole universe is our home
and that we are one with the universe. We have the same self-nature as
Buddhas and Bodhisattvas. The difference between them and we is that
Buddhas and Bodhisattvas comprehend this. All sentient beings have been
our past parents. All sentient beings will be future Buddhas.
Understanding this, how can we not be respectful to all beings? How can we
possibly harm them?
We originally
had this comprehension, this great broad mindedness. Then why are we so
narrow minded now? We are deluded, unable to see through our false beliefs
and wrong viewpoints. Our innate wisdom and abilities are thus temporarily
lost to us. However, if we can break through this delusion, then we will
be able to uncover this wisdom for it is not permanently lost. In the
Flower Adornment Sutra, we can see the broad-mindedness of Buddhas and
Bodhisattvas. All of the infinite and countless numbers of beings at the
assembly who gathered to hear this unsurpassed teaching are one.
If we could
just understand this true reality and expand our mind, then we too would
recognize that no matter what race, what religion, what culture, we are
all one. With this wisdom; discrimination, misunderstanding and conflict
among beings would naturally diminish. First, man made tragedies would be
avoided. Then what we think of as natural tragedies would likewise
dissolve.
The
environment changes with our minds. When our minds are serene and
compassionate, our living environment will become tranquil and peaceful.
As we learn of the magnificence of the Western Pure Land from the
Infinite Life Sutra, we might ask where this magnificence and
adornment come from? The sutras tell us that only the most virtuous people
dwell there. Thus, the wonderful environment is a reflection of their
virtues, their minds.
Today our
living environment is being polluted and destroyed. Some say that the
earth is rapidly becoming unsuitable for living. How did this happen? It
is the result of the bad intentions and deeds of we human beings. And this
is the real reason for what is happening today. To save our world, we need
to use great wisdom to help those who are deluded to become awakened. How?
Through education. All the great sages have used education to overcome
ignorance. For example, Buddha Shakyamuni taught for forty-nine years and
Confucius taught for his entire lifetime.
But how can we
reach enough people to change what is about to happen? High technology.
Once we begin to understand and awaken, we can use high technology to
bring our message to everyone. It is not too late to save our world. If
all the worldwide television companies would broadcast two hours of the
teaching everyday, in one year the earth could return to normal. The
disasters would naturally cease. The environment is a reflection of our
mind, so if there are more people who are thinking of others of saving our
world, of peace, then it will happen.
There are
areas around the world where broadcasting has already begun. In Taiwan,
there are three to four hours of lectures broadcast daily. In large areas
of North and Central America including Canada, the US, Mexico and Panama,
there is at least one hour of lectures broadcast daily. In Macao and
Hawaii, there are two lectures weekly. If more people watch, the stations
will increase the broadcasting time and hopefully the languages of the
lectures as well. This needs to be done quickly to urge people to change
for the better. In this way, we can help to save our world.
The most
pressing need is to set up Internet locations. From our Singapore Way
Place there are at least two hours of lectures broadcast daily, both in
Chinese and in English. People around the world, who have access to a
computer, are able to receive a live transmission. We use the internet to
communicate with each other and can answer questions during the Morning
Talks that are broadcast five days a week. Since we use high technology do
we really need to build any way places? Yes, for two reasons. One is to
train new lecturers; the other is to provide a place for people to
practice together.
In this way,
people around the world can listen to the lectures. But we also need to
practice, to use the Buddha Name Chanting Method. The Buddha tells us that
for our times, the primary way to be assured of success in cultivation is
to rely on this method. What do we chant? “Namo Amituofo”. “Namo” means to
turn back, to take refuge. This does not mean that we take refuge with the
Dharma Master but rather that we return and rely. “Amituofo”, means
infinite and awakening. Thus, “Namo Amituofo” means to turn back and rely
upon the infinite awakening.
What are the
benefits of Buddha name chanting? Upon what principles is it based? The
Buddha tells us that “everything arises from our minds”. In other words,
the environment is a reflection of our thoughts. Not yet having become
Buddhas or Bodhisattvas, we still have discriminating thoughts, wandering
thoughts, afflictions, attachments. Still have greed, anger, ignorance,
arrogance. The increase of these thoughts is what has caused the increase
in the frequency and severity of today’s problems. From disagreements in
our family to discord in our country to chaos unimaginable chaos in our
world if nothing is done to neutralize them.
How? Chanting
“Amituofo” enables us to restore our minds to purity, equality, awakening
and peace. When our minds are at peace, the environment will in turn
reflect serenity and tranquillity. Our thoughts create waves. In the
sixties, westerners referred to these as “Vibrations”. What we did not
understand was the breadth that these “Vibes” had. We thought of them
simply on an interpersonal level. But the strength from this kind of
thought wave is amazing, able to neutralize the turbulent thought waves
even from other’s greed, anger, ignorance and arrogance.
The principle
and basis of Buddha name chanting are these thought waves. The Buddha
understood this and told of them three thousand years ago. The purpose is
to achieve so much more than our individual birth into the Western Pure
Land. Buddha Shakyamuni knew and understood how great our present need
would be. And he taught how to change the fate of the world. Not for
himself, but for us.
Understanding
the need for Buddha name chanting, how do we proceed? We can gather in a
Chanting Hall where dharma masters using musical instruments lead the
group. As we would imagine, the effect from everyone chanting together
harmoniously is the most productive. But if time or the lack of a good
chanting hall make this difficult, then we can simply turn on the chanting
machine in our own home and chant along with it.
When working,
concentrate on working. When finished, immediately start chanting. As
wandering thoughts arise; pay no attention to them. Upon giving rise to
the first wandering thought, immediately replace the second thought with
“Amituofo”. If wandering thoughts again rise, then again replace the
thought with “Amituofo”. Do this continuously until every thought is of
mindfulness of Buddha Amitabha.
One does not
have to be a Buddhist to receive the benefits from chanting. At the Dallas
Buddhist Association in the US, several neighbourhood children have come
and asked for chanting machines. A psychologist who came to a seven-day
retreat said that he played the chanting machine all day in his office
because his clients said they felt calmer while listening to it.
When my mother
was in the hospital for an operation for cancer we gave a chanting machine
and beads to one of the nurses, a devout Christian, who had told us that
she liked to hear the chanting when she came into the room. When my mother
went back three months later for a follow up visit, the nurse who heard we
were back, found me and said that she and her husband listened to the
chanting every night because it was so calming.
We never know
when someone will benefit from chanting. My sister who does not listen to
it told me of an airplane trip she had recently taken. They had entered an
area of strong turbulence and the plane was experiencing unusually violent
movements. My sister, who has travelled a great deal, was being buffeted
like everyone else. Suddenly she remembered “Amituofo, Amituofo,
Amituofo”.
In addition to
chanting, there are other teaching aids to help us in our mindfulness.
When we first enter the Cultivation Hall to join in the group chanting, we
will see images of one Buddha and two Bodhisattvas. In a Pure Land way
place, they will be Buddha Amitabha, Great Compassion Bodhisattva and
Great Strength Bodhisattva. Buddha Amitabha symbolizes our original
self-nature. Great Compassion Bodhisattva symbolizes compassion. Great
Strength Bodhisattva symbolizes wisdom. Compassion and wisdom are the two
virtues for us to cultivate to uncover our original self-nature, reminding
us to be compassionate towards others, to be rational and not emotional,
to be awakened.
One the Buddha
table, we will see several objects. Again, they are teaching aids not
objects of worship. For Buddhism is not a religion but an education. A cup
of water symbolizes the teachings. The clear water symbolizes the
principle that our mind needs to be as pure as the water, to be void of
greed, anger and ignorance. It is calm without a single ripple indicating
that we interact with people and matters with the serene and
non-discriminating mind of equality. Furthermore, it is pure and calm,
reflecting clearly and thoroughly just as we would see everything around
us in a mirror.
Flowers
symbolize the cause as the blossom result in the bearing of fruit, which
is also seen frequently on the Buddha Table. The fruit serves to remind us
that there are consequences from our every thought, word and action.
Lamps, which
have replaced candles symbolize wisdom and brightness illuminating the
darkness of our ignorance. Incense symbolizes self-discipline and deep
concentration as well as the giving of ourselves to benefit others.
Chanting enables us to suppress our afflictions and to neutralize the
negative vibrations from our thoughts.
Generally
early in our practice, we begin to generate the vows to accomplish our
goals. Every Buddha, every Bodhisattva when they start to cultivate,
generates great vows. No matter what vows they make, they cannot surpass
the Four Great Vows of Buddhas and Bodhisattvas.
- Sentient beings are
innumerable, I vow to help them all,
- Afflictions are
inexhaustible, I vow to end them all,
- Ways to practice are
boundless, I vow to master them all and
- Enlightenment is
unsurpassable, I vow to attain it.
We start
with the first vow, then proceed to the second, etc. In other words,
before attaining unsurpassable Enlightenment, we need to master the ways
of practice. Before we master the ways of practice, we need to end
afflictions. And before beginning to end afflictions, we need to vow to
help all sentient beings. These vows are profound and vast. Bodhisattvas
have already fulfilled these Four Vows. While, we may have generated the
four great vows but we probably have not yet fulfilled any of them.
Our viewpoints, our thoughts have to accord with the great vows. The
second way to end all afflictions accords with the original vow of all
Buddhas. If we have not cut off our afflictions then how can we help all
sentient beings? Only when we succeed in cutting off our afflictions, can
we transcend the ten realms.
Only after we have cut off our afflictions, can we learn different
methods. To be virtuous is not enough; we also need to have knowledge,
intelligence and wisdom because we will have to help all kinds of
different species, different sentient beings. If we want to gain perfect
wisdom and undefeated eloquence, we will need to be well versed in
countless methods.
If
we cannot reach the highest level to become a Buddha, we cannot help all
sentient beings. We can only help those, whose level is lower than ours.
Only when we reach the state of the Buddha, the state of perfect complete
enlightenment, will we possess the ability to help all sentient beings.
So, the first vow is our original vow while the following three help us
achieve the first. To generate the vows but not cultivate to meet them
will be futile. Cultivation and vows compliment each other. As long as we