(The Collected Works of
Venerable Master Chin Kung)
淨空和尚法
語
Nguyên tác:
Venerable Master Chin Kung
Việt dịch:
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
--- o0o ---
Quyển
2
Nhận Thức Phật Giáo
(Trích trong bài giảng
ở Úc, tháng giêng 1996)
Ngày nay chúng ta thấy càng lúc càng có nhiều người trên khắp thế
giới tin theo Phật Giáo. Tuy nhiên, không có bao nhiêu người thực
sự hiểu Phật giáo có nghĩa là gì. Vì vậy, điều này trở thành một
đề tài rất quan trọng. Thật sự Phật giáo có nghĩa là gì? Chúng ta
cần phải hiểu rõ về Phật Giáo. Phật giáo được xem là một nền giáo
dục đạo đức nhất và hoàn hảo nhất do Ðức Phật truyền dạy cho chúng
sinh trong chín cõi. Làm sao có thể nói rằng "Phật giáo là một
nền giáo dục? Trước hết, chúng ta đã gọi Phật Thích Ca là "Ðức
Bổn Sư", do đó chúng ta có thể nói rằng ngài là vị sáng lập
Phật Giáo, và chúng ta là đệ tử của ngài. Như vậy, Ðức Phật và
chúng ta có liên hệ thầy trò, mà liên hệ này thì chỉ có ở trong
ngành giáo dục.
Nếu Phật giáo là giáo lý của ngài thì Ðức Phật là ai? "Phật",
tiếng Sanskrit có nghĩa là trí huệ và giác ngộ.
Nhưng trí huệ này không phải là trí huệ thế gian mà chúng ta biết
ngày nay. Nói một cách đại lược, trí huệ Phật là khả năng biết
đúng và trọn vẹn về chân lý của cuộc đời và vũ trụ trong ba thời:
quá khứ, hiện tại và vị lai. Người nào đã khai mở trí huệ này thì
được gọi là Phật. Phật Thích Ca nói rằng tất cả chúng sinh đều có
trí huệ và khả năng tiềm ẩn này. Vậy Phật giáo xem chúng sinh đều
bình đẳng. Mọi người bình đẳng với nhau từ khởi thủy, nhưng hiện
tại chúng ta không thấy như vậy, vì trí huệ và khả năng của mỗi
người đều khác nhau.
Trong xã hội, có người thông minh, có người kém thông minh, người
thì có nhiều khả năng, người thì không. Tại sao lại như vậy? Ðức
Phật nói rằng đó là do người ta khác nhau ở mức độ vô minh. Vì vô
minh mà chúng ta tạm thời mất trí huệ và khả năng nội tại của
mình, nhưng không thực sự bị mất vĩnh viễn. Nếu thoát khỏi vô minh
thì chúng ta sẽ có thể lấy lại được những khả năng này. Giáo lý
của Ðức Phật dạy chúng ta cách giải trừ vô minh và tìm lại những
khả năng tiềm ẩn của mình.
Kinh sách Ðại Thừa thường nói rằng Ðức Phật không trực tiếp cứu độ
chúng sinh. Như vậy làm sao chúng sinh có thể trở thành Phật?
Chúng sinh thành Phật bằng tự lưïc. Ðức Phật chỉ giúp đỡ bằng cách
khai thị cho chúng ta thấy nguồn gốc của sự vô minh. Khi đã biết
như vậy, chúng ta sẽ tinh tấn thực hành giáo lý của ngài để tảo
trừ vô minh, để đạt đến giác ngộ và thành Phật. Ðức Phật đã nói
rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính và đều có khả năng thành
Phật là như vậy đó.
Vì thế, chúng ta có thể thấy Phật giáo là một nền giáo dục. Tuy
nhiên, một vị thầy chỉ có thể dạy chúng ta về những nguyên tắc,
cho chúng ta biết về những kinh nghiệm tu tập và chứng đắc của
ngài, còn việc ứng dụng và thực hành là tùy thuộc vào chính mình,
vì vậy chúng ta cần phải có sự nhiệt thành và tinh tấn để đưa đến
thành tựu. Khi hiểu rằng Phật giáo là một nền giáo dục, tự nhiên
chúng ta sẽ xem Ðức Phật là thầy của mình. Từ đó chúng ta cũng
hiểu rằng ở trong những ngôi chùa chúng ta không coi tranh, tượng
Phật, Bồ Tát là những vị thần cần phải thờ phụng. Nhưng chúng ta
vẫn dâng cúng những tranh, tượng Phật, Bồ Tát với hai lý do. Lý
do thứ nhất là để nhớ ơn các Ngài đã ban cho mình một nền giáo
dục vĩ đại mà mình đã may mắn được thọ nhận trong kiếp này. Câu mở
đầu trong kinh điển là: "Phật Pháp cao siêu rất thậm sâu, trăm
ngàn muôn kiếp khó tìm cầu”. Chúng ta nhớ ơn Ðức Phật cũng
giống như người Trung Hoa nhớ ơn tổ tiên. Chúng ta nghĩ về nguồn
gốc của mình và thấy rằng nếu không có tổ tiên thì cũng không có
mình. Lý do thứ hai là chúng ta dâng cúng Ðức Phật để làm
theo gương đạo đức. Phật Thích Ca cũng là một người bình thường
giống như chúng ta, vậy mà ngài đã đạt giác ngộ, thành Phật, tại
sao chúng ta lại không thể làm được như ngài. Vì vậy, tranh và
tượng Ðức Phật nhắc nhở chúng ta cố gắng đạt mục tiêu này. Không
nên coi tranh tượng là những vị thần thánh có tính cách mê tín dị
đoan.
Trong ngôi chùa Phật Giáo, các vị Phật và Bồ Tát có nhiều hình
dạng khác nhau. Ðiều này thường làm cho người ta hiểu lầm Phật
giáo là một tôn giáo, mà lại là một tôn giáo thờ đa thần. Sự thật
là chư Phật, Bồ Tát có nhiều danh hiệu khác nhau. Thí dụ, trong
Tam Tạng Kinh Ðiển có cuốn “ Kinh Vạn Phật” (Ten Thousand
Buddha Names Sutra), kể ra mười ngàn danh hiệu của các vị Phật
và nhiều danh hiệu khác nữa của các vị Bồ Tát. Tại sao lại có
nhiều Phật và Bồ Tát như vậy? Trong chân tính của chúng ta có vô
số những khác nhau về trí huệ, đạo đức, và nghệ thuật mà nếu chỉ
dùng một danh hiệu thì không thể nói lên hết được, cũng giống như
một người có nhiều tài năng và ở địa vị quan trọng thì trên danh
thiếp của người đó có ghi nhiều danh hiệu và chức vụ. Danh hiệu
của các vị Phật nói lên những đức tính hoàn hảo ở bên trong chân
tâm của chúng ta. Tên của các vị Bồ Tát nói lên sự tu luyện những
đức tính khác nhau. Bên trong chân tính của chúng ta có vô số khả
năng nguyên thủy, nhưng chúng ta đã tạm thời bị mất những khả năng
đó. Nếu không biết tu tập đúng cách thì chúng ta sẽ không thể tìm
lại được. Danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát không có gì khác với
chính chúng ta. Khi hiểu điều này, chúng ta sẽ nhận thấy rằng giáo
lý của Ðức Phật được tượng trưng bằng một nền nghệ thuật cao cấp.
Thí dụ, những bức tranh và những bức tượng Phật có thể biểu lộ
Giáo Pháp. Khi hiểu ý nghĩa của những hình ảnh này chúng ta sẽ đạt
được những lợi ích trong giáo lý của Ðức Phật.
Nếu Phật giáo không phải là một tôn giáo thì tại sao Phật giáo
cũng không phải là một triết lý. Trong triết học có chủ thể và đối
tượng. Trong Phật giáo Ðại Thừa không có sự khác biệt giữa chủ thể
và đối tượng, tâm và vật, mà hai thứ chỉ là một. Ðiều này rất thâm
diệu và khó hiểu. Một vị thầy nói: "Lấy vàng để chế tạo một vật
dụng thì vật dụng là vàng". Vàng và vật dụng là một hay là hai thứ
khác nhau? Nhìn bề ngoài thì chúng có vẻ là hai vật khác nhau,
nhưng khi xét tính chất của chúng, chúng ta sẽ thấy chúng là một.
Chúng ta cần phải có trực giác sâu xa để hiểu đúng như thật của
đời sống và vũ trụ vạn vật. Tất cả các kinh Ðại Thừa đều có ý định
giải thích sự thật này. Khi chứng ngộ sự thật này chúng ta sẽ có
cùng tri kiến với Ðức Phật. Phàm phu như chúng ta đều vô minh,
nhưng chúng ta vô minh như thế nào? Chúng ta vô minh ở chỗ chỉ
nhìn thấy sự khác biệt nhau của vạn vật mà không biết rằng thực
thể của vạn vật là một chứ không phải là khác..
Sau khi tìm hiểu tính chất thật của Phật Giáo, chúng ta tiếp tục
xét mục tiêu của Phật Giáo. Mục đích của Phật giáo là giải trừ vô
minh, đạt giác ngộ. Ðức Phật nói cho chúng ta biết về nguyên nhân
của sự khổ và lý do có sự hiện hữu của sáu cõi luân hồi. Chúng ta
lăn trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi là vì chưa khám phá ra
những khả năng trí huệ và đức hạnh vốn có của mình. Như vậy chúng
ta đã có quan niệm và cách hành xử sai lầm với cuộc đời và vũ trụ,
và những sự sai lầm này gây ra mọi đau khổ trong vòng luân hồi.
Mục đích của những lời dạy của Ðức Phật là hướng dẫn chúng ta phá
trừ vô minh đạt đến giác ngộ và thoát khổ. Chúng ta tìm cái gì
trong Phật Giáo? Chúng ta đang tìm về quả vị “Chánh Ðẳng Chánh
Giác” tức sự giác ngộ viên mãn. Ðức Phật truyền dạy Giáo Pháp để
chúng ta cũng đạt giác ngộ vô thượng và thành Phật.
Có thể xem Giác Ngộ Viên Mãn có ba cấp là La Hán, Bồ Tát, và
Phật (Arhats, Bodhisattvas and Buddhas). Thứ nhất là "Giác
Ngộ Chân Chính". Trên thế giới có những người rất thông minh
và khôn ngoan, như những nhà khoa học, những triết gia và những
nhà lãnh đạo tôn giáo. Họ đã đạt mức tri thức cao hơn những người
khác. Tuy nhiên, dù họ có thể đạt một mức giác ngộ nào đó, Ðức
Phật cũng không xem tri kiến của họ là sự giác ngộ đích thực vì họ
chưa giải trừ được phiền não. Họ vẫn còn chấp vào điều phải và
điều trái của người khác, vẫn còn tham, sân, si, và kiêu ngạo. Họ
vẫn còn những tư tưởng tán loạn, phân biệt, và chấp thủ. Nói cách
khác, tâm của họ xao động, không thanh tịnh. Nếu tâm không thanh
tịnh thì dù đạt được tri kiến cao bao nhiêu cũng không phải là
giác ngộ chân chính.
Trong Phật Giáo, tiêu chuẩn của sự giác ngộ chân chính là tâm
thanh tịnh, từ đó trí huệ phát khởi. Chư Phật đều muốn chúng ta
đạt sự giác ngộ chân chính này. Các La Hán không còn những ảo
tưởng, những ý nghĩ sai lầm hay tà kiến. Các vị này không chấp vào
điều phải hay điều trái của người khác, cũng không có những ý nghĩ
tham, sân, si, hay kiêu ngạo.
Xét như vậy, chúng ta có thể cảm nhận được sự khác biệt giữa Phật
giáo và nền giáo dục thông thường. Nhờ Phật giáo mà chúng ta được
biết những giáo lý thâm diệu và sự giác ngộ chân chính. Chỉ khi
nào đạt được sự giác ngộ đích thực này thì chúng ta mới thoát mọi
đau khổ và hưởng hạnh phúc thực sự. Là con người, chúng ta đều
phải chịu những nỗi khổ sinh, lão, bệnh, và tử. Chúng ta không có
được những gì mình muốn có, phải sống xa cách những người mình
thương yêu, và phải sống chung đụng với những người mình ghét.
Chúng ta vị bủa vây bởi tất cả những sự đau khổ này mà không có
cách nào để thoát khỏi chúng. Chỉ khi nào đã học Phật Pháp, chúng
ta mới có thể đạt giải thoát thực sự.
Kinh Hoa Nghiêm có dạy rằng: "Tất cả chúng sinh đều có
những khả năng về trí huệ và đức hạnh giống như Ðức Phật, nhưng do
vọng niệm vaø chấp thủ mà đã mất những khả năng này". Ðó là
nguyên nhân của mọi vấn đề của chúng ta. Tu tập theo Phật giáo là
áp dụng lời dạy của Ðức Phật để giải trừ mọi vọng niệm, mọi ý nghĩ
phân biệt và chấp thủ. Chúng ta sẽ giữ cho tâm ta thanh tịnh để
trí huệ phát sinh. Ðó là sự giác ngộ chân chính. Vì vậy, chư Phật
, Bồ Tát không nói đến sự thông minh và trí khôn của thế gian, vốn
nó không phát xuất từ tâm thanh tịnh. Khi đạt được giác ngộ chân
chính chúng ta sẽ có khả năng giải quyết những vấn đề hằng ngày
cũng như khả năng vượt thoát luân hồi.
Trong nền giáo dục thông thường của thế gian, để có thể đạt đến
thành tựu, người học phải theo đuổi riêng một ngành học nào đó.
Trong nền giáo dục Phật giáo cũng vậy, người có ý nguyện đạt thành
tựu phải theo học với một vị thầy và thực hành một pháp môn duy
nhất. Nếu theo học hai vị thầy với hai pháp môn khác nhau, chuùng
ta sẽ lưỡng lự giữa hai ngã đường. Tệ hại hơn nữa, nếu theo học ba
vị thầy một lúc, chúng ta sẽ đứng lại ở ngã ba đường. Với bốn vị
thầy, chúng ta sẽ hoang mang ở giữa ngã tư. Ngày nay, giới trẻ
muốn học nhiều nhưng lại không đạt được kết quả tốt, vì họ đang bị
kẹt ở giữa những ngã đường này, không biết phải đi theo hướng nào.
Ðể thành công và đạt thành tựu trong quá trình tu học Phật, chúng
ta cần phải nhất tâm theo học một vị thầy và tập trung tâm trí vào
một pháp môn mà thôi.
Nhưng chúng ta sẽ thành tựu cái gì? Thành tựu thực sự là đạt được
tâm thanh tịnh. Khi đã đạt được một mức độ thanh tịnh nào đó,
chúng ta sẽ giảm bớt phiền não và trí huệ đích thực được gia tăng,
có khả năng giải quyết mọi vấn đề trong thế gian này cũng như
ngoài thế gian. Nếu không có trí huệ đích thực này thì không thể
thực sự giải quyết được những vấn đề.
Vậy, trí huệ chân thực là điều thiết yếu để đạt đời sống hạnh phúc
và mãn nguyện. Ở tầm mức lớn hơn, trí huệ này có thể giúp chúng ta
giải quyết những vấn đề của xã hội.
Trong thời đại này, có nhiều nhà chính trị cho rằng mình rất khôn
ngoan, nhưng họ đã đưa đất nước của họ tới bờ vực tai họa, làm cho
nhân dân của họ chịu nhiều khốn khổ. Tại sao lại như vậy? Tại vì
những nhà lãnh đạo này đã không trừ bỏ những phiền não, những vọng
niệm, những phân biệt và chấp thủ của mình. Họ chỉ nghĩ tới quyền
lợi bản thân một cách vị kỷ, ngã chấp.
Ðức Phật dạy chúng ta đạt trí huệ đích thực bằng cách trước hết
thoát ra khỏi những tà kiến của mình. Nếu không có trí huệ này,
chúng ta sẽ không hiểu đúng ý nghĩa trong kinh sách Ðại Thừa. Nếu
có thể buông bỏ tâm vị kỷ thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt được ích
lợi thực sự. Chỉ khi nào không còn tâm ngã chấp thì chúng ta mới
có khả năng nhận xét sự thật vaø sự giả, điều đúng và điều sai,
phải và trái, điều lợi ích và điều độc hại. Nếu không phá bỏ những
tà kiến của mình thì sẽ không có khả năng đó, Ðó là sự giác ngộ
đích thực.
Ở mức cao hơn giác ngộ chân chính là "Chánh Ðẳng Chánh Giác".
Chánh Ðẳng là bằng với Phật nhưng chưa thành Phật. Cấp này cao hơn
cấp La Hán. Chánh đẳng giác đòi hỏi chúng ta giải trừ một mức độ
vô minh và đạt được một mức độ Pháp thân. Ở mức này, tri kiến của
chúng ta về cuộc đời và vũ trụ rất gần với tri kiến của chư Phật.
Người đạt được chánh đẳng giác thì được gọi là Bồ Tát.
Kinh Hoa Nghiêm nói về bốn mươi mốt cấp Bồ Tát, tất cả đều
có những mức giác ngộ này. Sau khi đã giải trừ trọn vẹn vô minh,
hoàn thiện hóa trí huệ và giác ngộ, hành giả đạt giác ngộ viên mãn
tức Phật
Khi hiểu ý nghĩa của Phật Giáo, chúng ta sẽ thấy rằng mục đích của
thực hành tu tập là đạt trí huệ. Trong Thiền Tông, mục tiêu này
được gọi là "minh tâm kiến tánh"(in pursuit of clarity of mind
to see into one’s self-nature), tức "giác ngộ viên mãn"
(Complete Enlightenment). Trong Tịnh Ðộ Tông, điều này được
gọi là "Nhất tâm bất loạn" (One Mind Undisturbed). Tịnh Ðộ
Tông độc đáo ở chỗ chúng ta không chỉ tu tập để đạt nhất tâm bất
loạn mà còn để được vãng sinh Tịnh Ðộ. Các tông phái khác thì dựa
vào tự lực để đạt một mục tiêu mà thôi. Pháp môn Tịnh Ðộ có hai
mục tiêu để đạt ngay trong kiếp này.
Người nào quen thuộc với Kinh Vô Lượng Thọ và hiểu ý nghĩa
của kinh này sẽ thoát khỏi mọi nghi ngờ. Tên đầy đủ của cuốn kinh
này nói lên những mục tiêu của việc tu tập. "Phật nói Kinh Ðại
Thừa Vô Lượng Thọ Trang nghiêm, Thanh Tịnh, Bình Ðẳng, và Giác Ngộ.
Thọ mạng vô lượng và sự trang nghiêm là mục tiêu của các hành giả
Tịnh Ðộ. "Vô lượng thọ" hàm ý đức hạnh của chân tính của hành giả.
"Trang nghiêm" là trí huệ viên mãn với sự tự tại và mãn
nguyện. "Thanh tịnh", "Bình đẳng", và "Giác ngộ"
là ba phương tiện thực hành. Khi đạt được một điều thì đạt được cả
ba điều này. Trong tất cả các tông phái Phật Giáo, không có phương
tiện nào vượt qua ba phương tiện này.
Thiền Tông dùng pháp thức tỉnh để đạt đại giác ngộ, và sự trong
sáng nhìn thấy chân tính của mình. Các tông phái khác chú trọng sự
hiểu biết chân chánh cho tới khi đạt tri kiến hoàn hảo. Tịnh Ðộ
Tông thì tập trung vào việc tịnh hóa tâm trí. Người có tâm thanh
tịnh thì sẽ tự nhiên vô phân biệt và thức tỉnh. Người thức tỉnh
thì sẽ tự nhiên có tâm thanh tịnh và vô phân biệt. Những con đường
này có thể khác nhau nhưng đều dẫn tới cùng một mục tiêu.
Trong Thiền Tông, mục tiêu này được gọi là "minh tâm kiến
tánh". Các tông phái dùng những ngôn từ khác nhau nhưng
kết quả hai mức trạng thái tâm đạt được là một. Vì vậy, chỉ trích
tông phái khác là phỉ báng Ðức Phật cũng như giáo pháp của Ngài.
Tất cả những pháp môn này đều do Ðức Phật truyền dạy cho chúng ta.
Chúng ta hãy chọn một pháp môn nào thích hợp với mình để tu tập và
thành tựu. Làm sao chúng ta có thể nói pháp môn này tốt hơn pháp
môn kia? Nếu pháp môn mình chọn quá cao sẽ khó thực hành. Một pháp
môn cần phải thích hợp và thuận tiện cho lối sống của chúng ta.
Pháp môn đoù cũng cần phải khế hợp với xã hội ngày nay, vì chúng
ta không thể xa rời xã hội hay người khác. Vậy chúng ta cần phải
xét những điều này khi chọn một pháp môn để tu tập.
Tuy nhiên, dù áp dụng pháp môn nào chúng ta cuõng cần phải giải
trừ ngã chấp và pháp chấp để có thể đạt được lợi ích trong tu tập.
Nếu không như vậy thì dù có đặt hết sức lực vào việc hành trì cũng
vô ích, giống như nhiều người đã kinh nghiệm. Có những hành giả
cảm thấy sau nhiều năm tu tập mình vẫn gần như không thành tựu gì
cả. Có khi họ còn cảm thấy mình thua kém hơn lúc chưa tu tập. Hình
như càng tu tập họ càng cảm thấy tệ hơn. Tất cả những điều này là
do họ đã chọn một pháp môn không thích hợp với mình, cũng giống
như ở trường học người ta chọn một môn học không thích hợp với căn
cơ hay khả năng của mình, và như vậy sẽ rất khó thành công trong
việc học. Chọn đúng môn học thì việc học sẽ dễ dàng hơn và có
nhiều cơ hội thành đạt hơn. Tu tập theo Phật giáo cũng vậy, nếu
không biết khả năng của mình, chúng ta có thể tự trắc nghiệm. Lấy
trường hợp của chính tôi làm thí dụ. Sau khi đọc nhiều kinh điển
Ðại Thưøa tôi đã nghĩ là mình không khả năng thành tựu một chút
nào cả. Tôi rất muốn đoạn lìa những ý nghĩ tán loạn, phân biệt và
những sự chấp thủ của mình, nhưng tôi không thể thực hiện được
việc này. Sau cùng tôi đã chọn pháp môn Tịnh Ðộ để cố gắng thành
tựu. Pháp môn này không đòi hỏi hành giả phải giải trừ hoàn toàn
những chướng ngại, chỉ đè nén chúng. Chừng nào có thể đè nén tất
cả những phiền não chúng ta vẫn có thể sinh vào Tịnh Ðộ Tây Phương
mang theo những nghiệp quả xấu còn sót lại của mình và nơi đó
chúng ta vẫn tiếp tục tu tập và giải trừ cho đến ngày giác ngộ
hoàn toàn.
Tôi chọn pháp môn này vì thấy nó rất thích hợp với mình. Trước đó,
tôi đã thử Thiền Tông, Mật Tông, và các tông phái khác cũng như
thực hành trì giới, nhưng đã không đạt được kết quả nào cả. Vì vậy
tôi trở lại vói pháp môn Tịnh Ðộ, toàn tâm thâm nhập pháp môn Niệm
Phật trong khi tập trung vào việc giảng thuyết về các kinh Tịnh
Ðộ. Ðó là những kinh nghiệm của tôi trong mấy chục năm tu tập.
Sau khi đã hiểu rõ mục đích của Phật giáo, chúng ta sẽ nhìn kinh
điển với một nhãn quan khác trước. Kinh điển Phật giáo là một
trong những bộ sưu tập văn học lớn nhất thế giới. Tôi tin rằng khi
xét tất cả những học thuật, chúng ta sẽ thấy không có học thuật
nào vượt qua Phật Giáo. Ðể coù thể thọ nhận lợi ích từ kinh điển
Phật giáo, chúng ta cần phải biết và hiểu ý nghĩa nội dung của
những cuốn kinh này, vốn là chân lý của Giáo Pháp. Chân lý của
cuộc đời và vũ trụ vạn vật. Cuộc đời, hay nhân sinh, là con người
chúng ta. Vũ trụ là môi trường sống xung quanh chúng ta. Nếu cho
rằng Phật giáo là những giáo lý trừu tượng, khó hiểu, không ăn
nhằm gì tới đời sống hằng ngày thì như vậy là không đúng. Mỗi lời
kinh đều liên quan mật thiết tới đời sống hằng ngày của chúng ta.
Thêm nữa. kinh điển Phật giáo chắc chắn không phổ biến những điều
mê tín dị đoan.
Chúng ta sẽ bắt đầu ở đâu, và như thế nào? Phương tiện truyền dạy
giáo lý của Phật giáo có tính cách sáng tạo ở mức độ cao. Từ hai
ngàn năm trước Phật giáo đã dùng biểu tượng học và mỹ học để
truyền bá giáo lý. Thí dụ, tất cả những danh hiệu và hình tượng
Phật đều tượng trưng những đức tính và nhưõng tài năng mỹ thuật
của con người chúng ta. Tất cả các danh hiệu và hình tượng Bồ Tát
đều tượng trưng sự tu luyện của chúng ta, nói lên cho chúng ta
biết cách ứng dụng giáo lý trong đời sống hằng ngày và làm hiển lộ
những tự tánh của mình.
Theo Phật giáo Ðại Thừa Trung Hoa, bốn vị Ðại Bồ Tát tượng trưng
cho trình tự tu tập và chứng đắc. Thứ nhất là Bồ Tát Ðịa Tạng. Dù
là giáo lý thế gian, hay Phật Pháp, không có gì có thể được thành
tựu nếu không có đất sống hay một nơi để cư ngụ. Sự hiện hữu của
con người sống không thể tách rời khỏi đất lớn, vì chúng ta nương
tựa vào trái đất để tồn tại. Thực phẩm, y phục, đời sống hay công
việc, tất cả dựa vào sự sản sinh của đất. Vậy, những kho tàng vô
tận ở trong đất là dành cho chúng ta sử dụng. Chữ "địa"
trong danh hiệu Bồ Tát Ðịa Tạng có nghĩa là tâm trí, và chữ
"tạng" có nghĩa là kho tàng.
Giáo lý của Ðức Phật dạy chúng ta bắt đầu việc thực hành tu tập ở
tâm, vốn là chân tánh bao gồm trí huệ vô lượng và những khả năng
đạo đức không khác trí huệ và đức hạnh của chư Phật, Bồ Tát. Tuy
nhiên, ngày nay hình như chúng ta đã mất trí huệ và đức hạnh vốn
có của mình. Nhưng Ðức Phật nói rằng những phẩm tính đó không mất
thực sự mà chưa được chúng ta khám phá. Hiện tại, chúng ta đang
chìm đắm trong những ý nghĩ tán loạn, phân biệt, và những tham
muốn, vì vậy mà chúng ta tạm thời bị mất những khả năng nguyên
thủy đó. Bên trong chân tâm thì không có những ý nghĩ xao động nào
cả. Nếu tâm trí có những vọng niệm thì đó là giả tâm chứ không
phải là chân tâm. Chúng ta vốn đã có chân tâm, vì vậy thực hành tu
tập là chỉ để làm hiển lộ chân tâm này. Vậy, mục tiêu đích thực
của việc tu tập là tìm kiếm và khai mở kho tàng trong tâm của
mình. Phật giáo không tìm cái gì ở bên ngoài mà chỉ tìm cái ở bên
trong chân tánh của mình.
Bồ Tát Ðịa Tạng tượng trưng cho sự hiếu kính, và Kinh Ðịa Tạng là
một bản kinh nói về đạo hiếu, một ý niệm căn bản mà mọi người nên
bắt đầu ở chỗ này. Cha mẹ đã hết sức yêu thương chúng ta qua việc
các ngài ban cho chúng ta đời sống và nuôi dưỡng chúng ta. Có hiếu
và phụng dưỡng cha mẹ tất nhiên là bổn phận căn bản của mỗi người.
Chúng ta cần phải chăm lo cho nhu cầu vật chất cũng như đời sống
tinh thần của cha mẹ. Thêm nữa, chúng ta cần phải nuôi dưỡng ý
nguyện của các vị đối với chúng ta, và đây là bổn phận khó khăn
nhất. Cha mẹ muốn con cái của mình thành công trên đường sự
nghiệp, có đạo đức, và được thế hệ này cũng như thế hệ sau kính
trọng, vì vậy chúng ta phải làm sao để cho cha mẹ hãnh diện về
mình, và sự thành tựu vô thượng viên mãn của đạo hiếu là đắc Phật
Quả. Chúng ta bắt đầu công trình tu tập ở đạo hiếu và mở rộng lòng
hiếu kính của mình để bao gồm toàn thể chúng sinh.
Vị Ðại Bồ Tát thứ hai là Quan Âm, tượng trưng cho sự trưởng dưỡng
đại bi tâm. Việc dâng cúng Bồ Tát Quan Âm có nghĩa gì? Chúng ta
dâng cúng Bồ Tát Quan Âm là để tự nhắc nhở mình phát tâm đại từ bi
với tất cả mọi người, giúp đỡ chúng sinh một cách vô điều kiện.
Thứ ba là Bồ Tát Văn Thù, tượng trưng trí huệ và lý trí, nhắc nhở
chúng ta rằng trong thực hành tu tập cũng như trong việc cư xử với
người khác, chúng ta cần phải thực hiện bổn phận hiếu kính, phải
dựa vào trí huệ và lý trí chứ không dựa trên những cảm xúc nhất
thời.
Vị Bồ Tát thứ tư là Phổ Hiền, tượng trưng sự thành tâm tu tập, ứng
dụng đạo hiếu, từ bi, và lý trí trong đời sống hằng ngày. Khi
thành tựu viên mãn đạo pháp của Bồ Tát Phổ Hiền, chúng ta sẽ thành
Phật.
Phật giáo dạy chúng ta cách sống hợp với chân lý của cuộc đời và
vũ trụ vaïn vật, tức là sống một đời sống hoàn hảo và siêu diện
giống như đời sống của chư Phật, Bồ Tát. Ðó là giáo lý Ðại Thừa
đích thực, vô thượng và hoàn hảo.
Tu theo Phật Giáo, hành giả phải bắt đầu bằng: 1.- Hiếu kính với
cha mẹ, các vị thầy và những bậc trưởng thượng, 2.- Phát tâm đại
từ bi, 3.- Trưởng dưỡng tư duy và trí huệ, 4.- Mở rộng tâm trí
Tuy được xếp theo thứ tự trước sau những những điều này có thể
được thực hành cùng một lúc, vì điều này bổ túc cho điều kia. Thí
dụ, có hiếu với cha mẹ, bao gồm từ bi, lý trí và trí huệ. Trí huệ
bao gồm hiếu kính và từ bi.
Khi đã hiểu tổng quát về Phật Giáo, làm sao để ứng dụng sự hiểu
biết này trong sinh hoạt hằng ngày? Trước hết chúng ta cần phải
biết mỗi vị Phật và mỗi vị Bồ Tát tượng trưng cho điều gì. Nếu
không biết như vậy thì Phật giáo của chúng ta chỉ là một sự mê
tín, không mang lại một lợi ích nào cả. Tất cả những bộ kinh Phật
giáo đều chứa đựng những phẩm tính, những đặc điểm và những cách
tu tập này, vì vậy chỉ cần học một bộ kinh là đủ. Chúng ta cần
phải hiểu và biết cách ứng dụng những giáo lý một cách hiệu quả.
Thông thường, ở giữa chánh điện của một ngôi chùa là một pho tượng
Phật và hai tượng Bồ Tát, tượng trưng chân tánh và bản thể của
mỗi chúng ta. Nếu pho tượng ở giữa là Phật Thích Ca thì hai tượng
ở hai bên là Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Phổ Hiền, tượng trưng trí
huệ và phương tiện ứng dụng, sự hiểu biết và sự thực hành, và như
vậy là tri và hành hợp nhất. Nếu pho tượng Phật trong chánh điện
là Phật A Di Ðà tượng trưng chân tánh, hai tượng hai bên là Bồ Tát
Quan Âm và Bồ Tát Ðại Thế Chí. Bồ Tát Quan Âm tượng trưng đại từ
bi. Bồ Tát Ðại Thế Chí tượng trưng đại trí huệ. Hai vị là sự phối
hợp trí huệ và từ bi biểu trưng cho phẩm tính trong mỗi chúng ta.
Tên của các vị Phật và Bồ Tát có những ý nghĩa giáo dục thâm diệu.
Thí dụ, tên của Phật Thích Ca Mâu Ni tức là "Shakyamuni" nói lên
những nguyên lý của nền giáo dục Phật Giáo. Thích Ca (Sakya) nghĩa
là “năng nhơn”, “năng” tưùc là “ năng lực” và
“nhơn” nghĩa là “từ bi”; “ Mâu Ni” (Muni) nghĩa
là “ tịch mặc, vắng lặng và thanh tịnh”. Hai phẩm tính này
được đề cao vì thế gian này thiếu từ bi và thường vị kỷ, tâm
thường không vắng lặng, thanh tịnh, luôn luôn xao động với những
tham, sân, si, và ganh tị. bất cứ vị Bồ Tát nào đắc Phật quả trong
thế gian này cũng được gọi là Sakyamuni để dạy chúng sinh phương
cách giải quyết những vấn đề của mình. Khi ý nghĩa của những bưùc
tượng Phật và Bồ Tát được trực nhận bằng cách ngắm những pho tượng
này, chúng ta sẽ hiểu trọn vẹn mục đích của Phật Giáo.
Khi bước vào điện thứ nhất của một đạo đường, được gọi là Ðiện Hộ
Pháp, chúng ta sẽ thấy tượng Bồ Tát Di Lặc với bốn vị Hộ Pháp ở
giữa điện. Bồ Tát Di Lặc mà ở các nước Tây Phương thường gọi là
Phật Phúc Lạc, có nụ cười lớn biểu lộ sự hoan hỷ. Cái bụng lớn của
ngài tượng trưng sự bao dung và sự rộng lượng, khuyên dạy chúng ta
nên cư xử với người và sự việc một cách hoan hỷ, vô phân biệt, và
khoan dung. Bốn vị Hộ Pháp dạy chúng ta cách tự bảo hộ mình.
Hộ pháp Ðông Phương tượng trưng sự thi hành bổn phận và nhiệm vụ,
dạy chúng ta rằng dù ở địa vị nào chúng ta cũng phải thực hiện
nhiệm vụ của mình. Ngài cầm một cây đàn trong tay. Những sợi dây
đàn không quá căng, dễ đứt, cũng không quá chùng, tiếng đàn sẽ
không hay. Khi đàn được điều chỉnh đúng, tiếng nhạc sẽ du dương.
Ðiều này muốn nói chúng ta cần phải đi theo trung đạo trong việc
đối nhân xử thế. Nếu người nào cũng làm tròn nhiệm vụ và bổn phận
của mình thì làm sao quốc gia có thể không thịnh vượng được?
Vị Hộ Pháp Nam Phương tượng trưng sự phát triển và sự tiến bộ hằng
này. Không những mọi việc cần phải được làm đúng mà lại còn phải
có sự phát triển liên tục. Tay phải của vị Hộ Pháp này cầm thanh
gương trí huệ, tay trái cầm một cái vòng tượng trưng trí huệ hoàn
hảo, cho thấy rằng chúng ta cần phải dùng trí huệ trong việc tu
tiến. Thanh gươm muốn nói rằng cần phải đoạn lìa phiền não để tâm
trí được an lạc.
Vị Hộ Pháp Tây Phương tượng trưng sự nhìn bao quát, và vị Hộ Pháp
thứ tư, Bắc Phương tượng trưng sự nghe bao quát. Hai vị này dạy
chúng ta thấy và nghe cẩn thận hơn, cũng như đọc nhiều kinh sách
và đi nhiều nơi để có cái học bao quát, làm công việc hoàn hảo,
đạt được những đức tính, và không bới móc những khuyết điểm của
người khác. Vị Hộ Pháp Tây Phương tượng trưng sự quan sát bao
quát, một tay cầm "Naga", tức là rồng hay rắn thần. Naga là biểu
tượng của sự biến dịch, tay kia cầm chuỗi hạt tượng trưng những
nguyên lý. Người và sự vật trong trời đất luôn luôn biến đổi.
Chúng ta cần phải quan sát rất cẩn thận và kỹ lưỡng những nguyên
lý trong nội tâm để có thể kiểm soát "Naga" này. Vị Hộ Pháp Bắc
Phương cầm một cái lọng để che cho chúng ta không bị nhiễm ô. Ðiều
này nhắc nhở cho chúng ta rằng trong một xã hội phức tạp chúng ta
cần phải biết cách bảo hộ thân tâm của mình chống lại sự ô nhiễm
và hư hoại.
Từ những điều trên chúng ta có thể thấy phương diện mỹ thuật của
nền giáo dục Phật giáo quả là tuyệt đẹp. Có điều đáng tiếc là
nhiều người coi các vị Hộ Pháp này là những vị thần để thờ phụng,
như vậy là hoàn toàn sai lầm.
Ba Ðiều Kiện: Sau khi thiết lập những Trung Tâm Tịnh
Ðộ Học ở một số quốc gia, chúng ta đặt ra năm sự hướng dẫn cho các
hành giả Tịnh Ðộ. Năm sự hướng dẫn này được rút ra từ năm bộ kinh
Tịnh Ðộ để ứng dụng trong đời sống hằng ngày. Sự hướng dẫn thứ
nhất là Ba Ðiều Kiện được rút ra từ Kinh Quán Vô Lượng Thọ, cung
cấp những điều rất quan trọng để làm nền móng cho việc thực hành
tu tập. Trong cuốn kinh này Ðức Phật nói rằng Ba Ðiều Kiện là
những nguyên nhân tốt để chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại, và
tương lai tạo thiện nghiệp. Nói cách khác, tất cả những người nào
muốn đắc quả Phật đều phải thực hành hoàn hảo những điều này để
làm nền móng cho việc tu tập của mình. Vậy chúng ta không thể coi
thường Ba Ðiều Kiện này.
Ðiều kiện thứ nhất liên quan tới việc tu tạo phước
báo của người thế gian cũng như các vị thần ở các cõi trời. Muốn
đắc quả Phật hay Bồ Tát, một Phật tử chân chánh phải thực hành các
điều sau đây:
1.- Có hiếu với cha mẹ, 2.- Tôn kính Thầy Tổ, 3.- Từ bi, không
sát sinh. 4.- Tu mười thiệp nghiệp.
Ðiều Kiện Thứ Hai, bao gồm: 5.- Quy Y Tam Bảo, 6.-
Tuân giữ luật pháp, phong tục và các giới điều, 7.- Cư xử đúng đắn
và nghiêm chỉnh.
Ðiều Kiện Thứ Ba, gồm những điều sau đây: 8.-
Phát Bồ Ðề Tâm, 9.- Thâm tín giáo lý nhân quả, 10.- Tụng đọc và đề
cao kinh điển Ðại Thừa.11.- Khuyến khích người khác đi theo con
đường Giác Ngộ.
Trước khi tu theo Phật giáo Ðại Thừa, chúng ta cần phải phát Bồ Ðề
Tâm, tức tâm giác ngộ. Nếu quan sát kỹ xã hội, chúng ta sẽ đi tới
những kết luận đáng buồn. Nhìn lại ba mươi năm trước, chúng ta
thấy thời đó người ta thường tử tế và hiểu biết hơn, còn người bây
giờ thì vị kỷ hơn, chỉ nghĩ tới việc lợi dụng người khác để làm
lợi cho riêng mình. Chính tâm ích kỷ đã này tạo ra một thế giới
hỗn loạn làm cho cả thời tiết cũng trở nên bất bình thường. Vì
vậy, khi phát Bồ Ðề Tâm, hành giả nhận thức được rằng thế gian này
đầy đau khổ, còn Tịnh Ðộ Tây Phương là cõi cực lạc. Người ta thức
tỉnh thực sự khi tìm cách thoát khỏi và tu tập đạt được an lạc.
Khi thức tỉnh, hành giả cũng phát nguyện giúp đỡ chúng sinh. Quan
tâm tới người khác và không ích kỷ nữa. Chúng sinh có nhu cầu cấp
thiết nào? Ðiều quan trọng nhất mà chúng sinh cần phải có là giáo
lý của Ðức Phật. Vì vậy việc khẩn cấp mà chúng ta phải làm là đào
tạo những người có khả năng thuyết giảng để tiếp tục nhiệm vụ
truyền bá Phật Giáo. Ngày nay, do sự tiến bộ của ngành in và xuất
bản sách, vô số kinh sách đã được phát hành khắp thế giới, nhưng
có điều đáng tiếc là ít có người giảng thuyết về kinh điển Phật
Giáo. Vì người ta thường hiểu không đúng ý nghĩa của kinh điển nên
chúng ta cần những người có khả năng giảng dạy và giải thích kinh
sách. Ngày nay, cách tốt nhất làm lợi ích cho người khác là đào
tạo giảng sư, giảng viên để dạy giáo lý. Chúng ta hãy thực hiện
điều này với tâm bao dung, không chỉ cho riêng một đạo tràng, một
khu vực, hay một quốc gia, mà cho toàn thế giới. Nếu chỉ có một
nước thịnh vượng, còn những nước khác nghèo nàn, thì họ sẽ ganh tị
và thù ghét nước giàu, gây ra tranh chấp. Khi suy nghĩ như vậy làm
sao chúng ta có thể sống một cách bình thản được? Nếu mọi người
đều thịnh vượng thì tất cả sẽ có hòa bình và hạnh phúc.
Khi có nhiều giảng viên giúp người khác hiểu rõ những nguyên tắc
trong giáo lý của Ðức Phật, đến lượt những người đó sẽ dần dần
giúp những người khác xuyên phá màn vô minh, thoát khổ và đạt hạnh
phúc. Ðây là cách ích lợi nhất để chúng ta thực thi Bồ Ðề Tâm và
Bồ Tát hạnh.
Thâm tín luật nhân quả không chỉ là sự tin rằng "cái gì phải tới
sẽ tới". Ý nghĩa sâu xa ở đây là: "Ghi nhớ rằng Phật A Di Ðà là
nhân, và thành Phật là “quả". Ðối với hành giả Tịnh Ðộ thì việc
tụng đọc và đề cao kinh điển Ðại Thừa có thể được thành tựu chỉ
bằng cách tụng Kinh Vô Lượng Thọ. Một hành giả có thể đạt sự thuần
thục một pháp môn bằng cách tập trung tâm trí vào một cuốn kinh
độc nhất. Nếu thấy một bộ Kinh Vô Lượng Thọ không đủ, chúng ta có
thể tụng đọc thêm bốn bộ kinh khác và một bộ chú giải của Tịnh Ðộ
Tông. Sáu cuốn này là quá đủ. Chỉ cần để cho ý tưởng này bám rễ
và lớn mạnh. Sau cùng, chúng ta khuyến khích người khác cùng thực
hành để đạt giác ngộ. Vậy, ba phần đầu của Ðiều Kiện Thứ Ba là làm
lợi ích cho bản thân, còn phần thứ tư là dành những lợi ích mà
mình đã đạt được cho mọi người khác, giúp họ hiểu, thực hành, vaø
đạt thành tựu trên đường đạo tu tập theo Phật Giáo.
Lục Hòa: Ba Ðiều
Kiện nói ở trên là phần thứ nhất của Năm Sự Hướng Dẫn căn bản cho
việc thực hành pháp môn Tịnh Ðộ. Chúng ta chưa thành Phật và cũng
chưa rời bỏ thế gian này. Ngay cả khi thành Phật chúng ta cũng
không bỏ lại tất cả ở phía sau, vì chư Phật đều muốn cứu độ chúng
sinh khắp mười phương.
Làm sao để sống hòa hợp với mọi người? Ðức Phật đặt ra sáu nguyên
tắc sống hòa hợp, tức Lục Hòa, cho chúng ta làm theo. Lục Hòa
không những có thể được ứng dụng trong cộng đồng Phật giáo mà còn
có thể được ứng dụng trong tất cả những tổ chức khác.
Ðiều thứ nhất trong Lục Hòa là có cùng ý kiến, hay Kiến hòa.
Mọi người trong nhóm có cùng ý kiến với nhau, làm nền móng vững
chắc cho việc sống hòa hợp với nhau. Nếu có sự bất đồng ý kiến
trong nhóm thì chắc chắn sẽ có sự tranh chấp, không còn sự hòa hợp
nữa. Vậy, có ý kiến hòa hợp là điều rất quan trọng.
Ðiều thứ nhì trong Lục Hòa là cùng nhau tuân theo những giới điều
chung, hay Giới Hòa. "Giới" có nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
Nghĩa hẹp là năm giới hay mười giới của Phật tử tại gia, những
giới điều của các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, giới điều của bậc Bồ Tát và
giáo lý của Ðức Phật. "Trì Giới" theo nghĩa rộng là làm theo phép
lịch sự, phong tục, và pháp luật của mọi xứ trên thế giới.
Ngày nay, do sự tiến bộ kỹ thuật trong ngành truyền thông, tầm
hoạt động của chúng ta không chỉ giới hạn trong một quốc gia mà
đã mở rộng ra những nước khác. Khi đi tới xứ khác để du lịch, công
tác hay thăm viếng người thân, chúng ta cần phải tôn trọng tập
quán và luật pháp địa phương để sống hòa hợp với người ở xứ đó.
Vậy, tuân theo giới điều Phật giáo thì cũng làm theo tập quán và
luật pháp quốc gia. Chính phủ nào cũng hoan nghênh những người dân
biết trọng pháp luật, vì vậy tuân theo giới luật là một cách biểu
dương và làm lợi ích cho Phật Giáo. Với Giới Hòa làm căn bản,
người ta có thể sống hòa hợp và cùng thực hành tu tập với nhau.
Khi sống cùng với nhau và lại có cùng ý kiến thì tự nhiên mọi
người trong nhóm sẽ không có một sự tranh chấp nào cả? Một cộng
đồng tu tập với cùng một mục tiêu, cùng nhau đạt thành tựu mỗi
ngày thì chắc chắn cộng đồng đó sẽ được an lạc.
Ðiều cuối cùng trong Lục Hòa là chia xẻ lợi ích một cách
hòa hợp với nhau, hay Lợi Hòa. Tăng Ðoàn không chỉ có nghĩa
là một cộng đồng tăng sĩ. Ðối với Phật tử tại gia, một gia đình
cũng có thể thực hành tu tập cùng với nhau theo Lục Hòa để làm
thành một tăng đoàn. Cả trong một công ty, mọi người từ chủ nhân
cho tới nhân viên cũng có thể thực hành Phật Pháp và làm thành một
tăng đoàn. Vậy, tăng đoàn có ý nghĩa rất rộng. Ở trong một tăng
đoàn, chúng ta cùng chia xẻ lợi ích với nhau. Ðối với người xuất
gia thì điều này có nghĩa là mọi người trong đoàn thể có cùng một
lối sống, từ vị sư trưởng cho đến người không có trách vụ chính
thức trong cộng đoàng, và không có đặc quyền đặc lợi nào cả.
Chúng ta nên sống theo Lục Hòa để có thể sống hòa hợp với mọi
người. Khi ở cùng với những tổ chức hay những đoàn thể khác, dù họ
có sống theo Lục Hòa hay không, bản thân chúng ta cũng cần phải cư
xử theo tinh thần của Lục Hòa để tuân theo những lời dạy của Ðức
Phật.
Chư Phật, Bồ Tát là những khuôn mẫu tốt nhất của chúng ta, và
chúng ta cũng phải trở thành những khuôn mẫu tốt cho những người ở
ngoài Phật Giáo. Ðây là tinh thần của Phật Giáo, tức là dùng hành
vi của chính mình để gây ảnh hưởng và làm lợi ích cho người khác,
và do đó, biểu dương Phật Giáo. Chúng ta không dạy bảo người khác,
mà chỉ để cho họ quan sát chúng ta. Như vậy hành vi và lối sống
hằng ngày của chúng ta có thể tự nhiên gây ảnh hưởng và làm lợi
ích cho người khác, cũng giống như chư Phật, Bồ Tát thị hiện ở thế
gian này để giáo hóa chúng sinh.
Tam học: Sự hướng
dẫn thứ ba là Tam Học tức ba môn học: giới luật, thiền định, và
trí huệ. Tam học bao gồm tất cả những giáo lý của Phật Thích Ca và
chư Phật quá khứ, hiện tại, và tương lai. Ðại Tạng Kinh gồm ba
phần: kinh, luật, và luận. Kinh bao gồm những giáo lý về thiền
định. Luật bao gồm những nguyên tắc về giới luật. Luận bao gồm
những giáo lý về trí huệ. Tam Học giới, định, huệ là cốt tủy của
Phật Giáo.
Giới luật là những luật lệ được quy định cho các Phật tử tại gia
và xuất gia. Trái đất có bốn mùa thay đổi là Xuân, Hạ, Thu, Ðông.
Chúng ta cần phải có những luật lệ để cư xử đúng đắn với người và
sự vật, do đó làm cho mọi người trong xã hội được hưởng đời sống
an lạc và mãn nguyện. Một thế giới không có luật pháp và trật tự
thì đó là một thế giới hổn loạn. Dù có may mắn và nhiều tiền của,
chúng ta vẫn có thể không hạnh phúc, sống trong lo sợ và sự bất
an. Tại sao? Tại vì chúng ta đã buông bỏ luật pháp và trật tự.
Giới luật trình bày thấu đáo những nguyên tắc, những phương pháp,
và mức tâm trí mà chúng ta cần phải có để mang lại trật tự và an
lạc. Tam Học trình bày rõ ràng ý niệm này. Chúng ta thực hành giáo
lý của Ðức Phật là để đạt trí huệ vô thượng. Khi đã khám phá trí
huệ nội tâm này, chúng ta sẽ biết chân lý của cuộc đời và vũ trụ,
và cũng biết cách khôi phục lại nhưõng khả năng vốn có từ khởi
thủy của mình.
Ðức Phật dạy rằng chúng sinh đều có trí huệ và đức tính của một vị
Phật. Tri kiến về hiện tại, quá khứ, và tương lai là một phần quan
trọng trong khả năng nguyên thủy của chúng ta, nhưng không may là
chúng ta đã bị vô minh che phủ. Vô minh xuất hiện khi tâm trí
không an tĩnh, còn tâm giác ngộ thì không chịu một ảnh hưởng nào
cả. Khi sáu giác quan tiếp xúc với ngoại cảnh, tâm trí của chúng
ta sẽ xao động, phát sinh những ý nghĩ tán loạn.
Ðức Phật đã dạy vô số pháp môn để thực hành để được an tĩnh trong
mọi hoàn cảnh, không sinh ra những vọng niệm phân biệt hay chấp
thủ, và do đó tái khám phá những khả năng nguyên thủy của mình.
Trạng thái tâm an tĩnh này là thiền định. Tu tập tức là điều chỉnh
những ý nghĩ, lời nói, và hành vi sai lầm của mình, nhưng chúng ta
tu tập theo những tiêu chuẩn nào? Ðó là giới luật và thiền định.
Giới luật là tiêu chuẩn bên ngoài, trì giới là tiêu chuẩn bên
trong, còn thiền định thì là tiêu chuẩn để đạt tâm thanh tịnh.
Tiêu chuẩn bên ngoài là quan trọng, nhưng tiêu chuẩn bên trong còn
quan trọng hơn nhiều, vì nó giúp chuùng ta thành tựu trong việc
thực hành tu tập đạt trí huệ.
Với sự trì giới, chúng ta sẽ đạt trạng thái thiền định phát sinh
trí huệ. Trí huệ hoàn hảo tối hậu này được gọi là "Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác". Làm sao để đạt tri kiến đúng, rồi tri
kiến đúng và bình đẳng và sau cùng là tri kiến hoàn hảo? Ba mức
thành tựu này tùy thuộc vào lực thiền định, hay trình độ thanh
tịnh của tâm trí. Là Phật tử, chúng ta thực hành tu tập là để đạt
Giác Ngộ Viên Mãn. Nếu xa rời giới luật và sự thanh tịnh, sẽ không
bao giờ đạt được kết quả. Dù hành trì bất cứ pháp môn nào, như
Niệm Phật A Di Ðà, trì giới, trì chú hay thiền định, nếu không làm
theo những điều hướng daãn này thì chúng ta không thể đạt được sự
định tâm, nếu có cũng chỉ là những món trang trí bên ngoài mà
thôi.
Sáu Ba La Mật: Sự
hướng dẫn thứ tư là Sáu Ba La Mật tức sáu hạnh hoàn hảo của bậc Bồ
Tát. Mỗi hạnh bao gồm tất cả lối sống của chúng ta. Thí dụ, Ba La
Mật thứ nhất là Bố Thí. Người ta thường cho rằng bố thí chỉ có
nghĩa là cho tiền bạc. Thực ra cho tiền bạc chỉ là một trong vô số
loại bố thí. Nhìn bên ngoài thì bố thí là sự hy sinh vì người
khác, nhưng tính chất thật của bố thí là sự xả ly, hay buông bỏ.
Chúng ta có thể bố thí của cải hay sức khỏe của mình. Thí dụ, một
người nội trợ giữ cho ngôi nhà của mình là chỗ ở tiện nghi cho gia
đinh. Nếu không hiểu biết đúng thì người nội trợ có thể cảm thấy
những công việc hằng ngày như giặt quần áo, nấu ăn là nhàm chán.
Nhưng nếu người nội trợ hiểu ra rằng mình đang tu tập Bồ Tát đạo
bằng việc thực hành Sáu Ba La Mật thì người đó sẽ vui mừng ngay.
Làm một việc gì đó cho người khác với tâm xả ly, không chấp thủ
thì đó là thực hành hạnh bố thí hoàn hảo. Một người nội trợ giỏi
không những phục vụ gia đình của mình mà còn làm gương cho tất cả
những người trong gia tộc cũng như những người láng giềng, và như
vậy mọi người đều được lợi ích. Một gia đình như vậy là gia đình
kiểu mẫu cho mọi gia đình. Dù trông coi một tiệm tạp hóa hay quản
lý một doanh nghiệp, làm khuôn mẫu cho người khác noi theo chính
là thực hành Bồ Tát Ðạo vì lợi ích của chúng sinh. Hạnh Bố Thí Ba
La Mật có thể được mở rộng để bao trùm toàn thể vũ trụ và các cõi.
Với tâm quảng đại này người ta sẽ là một vị Bồ Tát Ðại Thừa.
Bố thí có ba loại: tài thí, pháp thí và vô úy thí (wealth,
teaching and fearlessness). Bố thí tài vật gồm bố thí bên trong và
bố thí bên ngoài. Bố thí bên trong là dùng công sức tâm trí và thể
xác của mình làm lợi ích cho người khác. Bố thí bên ngoài là hiến
tặng những thứ như tiền bạc, thực phẩm, v.v... Bố thí tài vật sẽ
có kết quả tốt là được hưởng tài vật về sau. Bố thí pháp là sẵn
lòng truyền đạt những kieán thức của mình cho người khác, và không
giấu giếm một chút nào cả. Bố thí pháp là làm hết sức để truyền
dạy cho những người muốn học với mình. Kết quả tốt của việc bố thí
pháp là chúng ta sẽ đạt được sự thông minh và thông tuệ. Vô úy thí
là giải tỏa sự lo sợ của người khác và làm cho họ cảm thấy an tâm.
Quả tốt của việc bố thí vô úy là có sức khỏe, trường thọ và thân
tâm được tự tại. Ða số người ta đều muốn giàu có, thông minh, trí
huệ, sức khỏe, sống lâu và an lạc. Khi người ta tạo nghiệp tốt thì
quả báo tốt sẽ tới với mình. Muốn được hưởng quả tốt thì trước hết
phải gieo nhân lành. Do thực hành tài thí, pháp thí, và vô úy thí
chúng ta sẽ được hưởng tất cả những nghiệp quả tốt này.
Khi quan sát cẩn thận chúng ta sẽ thấy rằng không có bao nhiêu
người đạt được tất cả những điều mình mong ước. Có những người chủ
giàu có nhưng không thông minh, tuy nhiên lại có những nhân viên
thông minh và khôn ngoan ở dưới quyền họ, làm theo lệnh của họ.
Những nhân viên thông minh và khôn ngoan này đã gây dựng trí huệ
trong những kiếp trước, nhưng đã không tu tạo phước báo. Ngược
lại, các chủ nhân thì vun bồi phước báo nhưng không tu tạo trí
huệ. Nhân và quả rất phức tạp và rất khó phân biệt. Vậy, khi dùng
những nguyên tắc của Phật giáo để quan sát xã hội, chúng ta sẽ
biết cách hành xử trong tương lai.
Thật ra, trí huệ đích thực quan trọng hơn là phước báo. Của cải là
phước báo, nhưng chúng ta phải có trình độ trí huệ cao để biết
dùng và phân phối tài sản của mình đúng cách. Nếu không có trí
huệ, sự sở hữu của cải có thể đưa chúng ta tới chỗ tạo nghiệp xấu
mà lại tưởng là mình đang làm những việc tốt. Nếu không có trí
huệ, chúng ta sẽ không thể phân biệt thật giả, đúng sai, phải
trái, lợi và hại. Chúng ta vẫn thường không biết đến những sai lầm
của mình.
Tất cả những nguyên tắc này được trình bày rất rõ ràng trong "Liễu
Phàm Tứ Huấn". Trong điều tốt và điều xấu có sự thật và giả
dối, một nửa và trọn vẹn, đúng và sai. Nhìn bên ngoài, một việc có
vẻ là nghiệp tốt nhưng do có sự biến đổi tính chất sau đó, có thể
là một nghiệp xấu. Ngược lại, một việc có vẻ là nghiệp xấu nhưng
đó lại là một thiện nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần phải có sự tinh
tế để hiểu hệ quả của tất cả những việc làm tốt hay xấu, chứ không
xét theo vẻ bên ngoài ban đầu của chúng. Chúng ta cần phải có mức
trí huệ cao để có thể hiểu sâu xa và có khả năng nhận ra chân lý.
Ba La Mật thứ nhì là Trì Giới, vốn có nghĩa rộng. Chúng ta
làm theo lời dạy của Ðức Phật, và tuân hành luật pháp của một quốc
gia, Mọi luật lệ cần phải được làm theo trong tinh thần cũng như
trong văn tự.
Ba La Mật thứ ba là Nhẫn Nhục, là sự kiên nhẫn lâu bền
trong hành xử với người và sự việc. Như Ðức Phật đã giảng giải
trong Kinh Kim Cương, vạn pháp đều có thể đạt được do nhẫn
nhục và chịu đựng. Ðể thành công trong pháp thế gian hay pháp xuất
thế gian, chúng ta phải có nhẫn nhục, nếu không thì khó thể đạt
thành tựu. Có sự nhẫn nhục để chịu đựng những gì người khác không
thể chịu đựng, chúng ta sẽ đạt được những gì người khác không thể
đạt được. Chỉ khi đó chúng ta mới thành tựu được những việc lớn.
Ba La Mật thứ tư là Tinh Tấn. Tinh tấn là tập trung vào sự
tu tập hằng ngày, không tìm cách tiến theo nhiều hướng khác nhau.
Tu tiến với sự tinh tấn một mức nào đó, chúng ta sẽ đạt được trạng
thaùi thiền định.
Ba La Mật thứ năm là Thiền Ðịnh, thiền ở đây có
nghĩa là tham thiền với thế ngồi hoa sen, quay mặt vào vách. Thiền
định là nhiếp phục được tâm trí của mình, không chịu ảnh hưởng bởi
ngoại cảnh. Ðiều này phuø hợp với Kinh Kim Cương, tức là không xao
động và không bị tác động bởi bất cứ một hiện tượng nào. Không
chấp thủ một hiện tượng nào có nghĩa là không chịu sự cám dỗ từ
những ảnh hưởng bên ngoài. Chúng ta đạt sự định tâm khi không bị
lay động bởi tất cả những hiện tượng, thí dụ như sự tiến bộ của
khoa học kỹ thuật, phức tạp mà sáng chói đối với mắt nhìn của
chúng ta. Trông thấy rõ tất cả và biết tất cả thì đó là trí huệ
trực giaùc tức trí huệ Bát Nhã (Ba La Mật thứ sáu là Trí Tuệ)
Như vậy, chúng ta sẽ sống một cách an lạc và giải thoát.
Mười Ðại Nguyện Của Bồ Tát Phổ Hiền: Sự hướng dẫn
thứ năm và cuối cùng là Mười Ðại Nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền. Bồ
Tát Phổ Hiền không giống bất cứ một vị Bồ Tát nào khác, vì tâm trí
quảng đại của ngài. Mọi ý nghĩ của ngài đều hướng về sự cứu độ
chúng sinh. Ngài không nghĩ đến bản thân, gia đình, xứ sở, hay thế
giới, mà nghĩ đến vũ trụ các cõi, đạt tới sự hoàn hảo đích thực.
Với tâm quảng đại này, tất cả những gì ngài làm đều vĩ đại.Tu theo
Phật giáo có nghĩa là tin tưởng, thông hiểu, tu tập, và chứng đắc.
Trước hết, chúng ta cần phải có niềm tin kiên cố, nếu không chúng
ta sẽ không thể tiếp nhận những giáo lý của Ðức Phật. Không dễ gì
có niềm tin vững chắc, vì nó tùy thuộc vào nhân duyên. Trong Phật
Giáo, nhân duyên hay những điều kiện là: caên cơ tốt, phước báo,
công đức, đức hạnh, và nguyên nhân. Nếu không có những điều này
thì sẽ rất khó được niềm tin không lay chuyển. Thứ hai, chúng ta
phải tin tưởng vào Ðức Bổn Sư Phật Thích Ca, vì biết rằng ngài
không lừa dối chúng ta. Chúng ta cũng cần phải tin rằng những gì
các vị thầy tổ truyền dạy đều là sự thật. Tuy nhiên, chỉ tin tưởng
không thôi thì chưa đủ.
Một điều cũng quan trọng là chúng ta phải có sự hiểu biết đúng và
hoàn hảo. Sau khi hiểu giáo lý, chúng ta cần phải ứng dụng thực
hành những nguyên tắc, những pháp môn, và những mức chứng đắc của
Phật giáo trong sinh hoạt hằng ngày. Sau cùng, chứng đắc là chứng
minh trong đời sống hằng ngày rằng tất cả những giáo lý cũng như
sự hiểu biết của chúng ta là đúng.
Một hiện tượng đáng buồn trong Phật giáo là người ta không hiểu
tính chất thật và ý nghĩa của những nghi thức. Một đạo sư Mật Giáo
là Ông Nian Chu Huang đã
nói rất rõ ràng trong bộ sớ giải Kinh Vô Lượng Thọ rằng: "Lễ
quán đảnh là một sự gia hộ từ bi. Nghi thức quán đảnh tượng trưng
sự truyền vào hành giả những giáo lý thâm diệu của Ðức Phật".
Ngày nay, khi tu tập theo pháp môn Tịnh Ðộ, chúng ta có ý thức
rằng Kinh Vô Lượng Thọ là một bộ kinh rất quan trọng, và là Pháp
vô thượng. Truyền bá Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh A Di Ðà cho người
khác là mang lại cho họ một lễ quán đảnh lớn. Một lần tụng kinh
này là một lần nhận được sự gia hộ của chư Phật mười phương. Hai
lần tụng là hai lần được gia hộ. Vì vậy, chúng ta cần phải hiểu
phương pháp thực hành bắt đầu từ căn bản Ba Ðiều Kiện.
Như đã nói, điều kiện thứ nhất là hiếu kính với cha mẹ và các vị
thầy của mình, từ bi không sát sinh, và làm mười điều lành. Việc
tu tập bắt đầu từ đây. Nếu chúng ta nghĩ rằng mình không thể làm
tròn những điều này thì dù có tu tập bao nhiêu chúng ta cũng không
đạt được một kết quả nào cả. Chúng ta cần phải thành tâm thi hành
và thành tựu những điều kiện này, nếu không thì không thể đạt
những lợi ích của Phật Giáo.
Cuối cùng chúng ta quy y pháp môn Tịnh Ðộ. Tại sao? vì chư Phật
khuyên chúng ta làm như vậy. Trong Kinh A Di Ðà, chư Phật sáu
phương đều ca tụng Tịnh Ðộ. Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Phật Thích Ca
tán tụng Phật A Di Ðà, vị Phật đáng tôn kính nhất, có hào quang
sáng nhất và là vua của chư Phật. Khi quy y một vị Phật, chúng ta
sẽ chọn vị Phật nào? Phật Thích Ca không bảo chúng ta quy y ngài
mà hãy quy y Phật A Di Ðà vì ngài là Phật Vô Thượng của chư Phật.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, cả hai Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền đều muốn
được sinh vào Tịnh Ðộ Tây Phương. Nếu Tịnh Ðộ Tây Phương không có
gì đặc biệt thì tại sao hai vị Bồ Tát của cõi Hoa Tạng này lại
muốn tái sanh vào đó? Kinh Vô Lượng Thọ giải thích lý do chúng ta
muốn niệm Phật A Di Ðà và sinh vào Tịnh Ðộ. Nếu chúng ta tụng Kinh
Vô Lượng Thọ thường xuyên và nghe thuyết pháp về kinh này chúng ta
sẽ hiểu và tu tập sâu xa hơn.
Nếu chúng ta không muốn mất nhiều thời giờ và sức lực để tìm hiểu
chân lý sự sống và vũ trụ thì làm theo những giáo lý trong kinh
này cũng đủ và cũng có kết quả. Tại sao? Vì trong tương lai, sau
khi sinh vào Tịnh Ðộ, trí huệ, đức năng, và phước báo của chúng ta
sẽ bằng với phẩm tính này của Phật A Di Ðà. Lúc đó chúng ta sẽ
thông hiểu chân lý của cuộc đời và vũ trụ. Vậy như các Thầy Tổ
thường nhắc, pháp môn Tịnh Ðộ là con đường tắt dẫn tới Giác Ngoä
Vô Thượng - Với những pháp môn khác, chúng ta sẽ phải đi đường
vòng để đạt giác ngộ. Tái sinh vào Tịnh Ðộ là con đường tắt giúp
chúng ta đạt Giác Ngộ ngay trong kiếp này. Vậy, chúng ta biết rằng
pháp môn này là độc đáo và siêu thắng hơn hết. Chư Phật, Bồ Tát và
chư Tổ ca tụng pháp môn này. Ðây là một cơ hội hiếm có cho chúng
ta gặp được trong kiếp này. Như câu mở đầu trong các kinh đã nói:
"Khó gặp trong vô số đại kiếp". Ðã gặp trong kiếp này mà
lại bỏ qua thật là đáng buồn và đáng tiếc cho chúng ta. Một pháp
môn tốt và hiếm có như vậy trong vô số đại kiếp thì chúng ta cần
phải nắm chặt, không buông bỏ, phải học và thực hành một cách chân
thành. Nếu làm được như vậy, kết quả giác ngộ và giải thoát đang
nằm trong tầm tay của chúng ta.
To
Understand Buddhism
Excerpts From a Talk by
Venerable Master Chin Kung, Australia
January, 1996
Today, we see an increasing number of people around the world starting to
practice Buddhism. However, not many people truly understand what Buddhism
is. Therefore, this becomes a very important topic. What exactly is
Buddhism? We need to understand it clearly. Buddhism is a most virtuous
and perfect education directed by the Buddha towards all sentient beings
in the nine realms. How can we tell that Buddhism is an education? First,
we can tell from the way we call Buddha Shakyamuni our "Original Teacher"
that he is the founder of Buddhism and that we are his students. From
this, it is very apparent that the Buddha and we share a teacher-student
relationship. This is only found in education.
If Buddhism is his teaching, who then is the Buddha? Buddha is a Sanskrit
word meaning wisdom and enlightenment. However, this wisdom is not the
worldly wisdom we think of today. Broadly speaking, the Buddha's wisdom is
the ability to ultimately, perfectly and correctly comprehend the true
reality of life and the universe in the past, present and future. One who
has perceived this wisdom is called a Buddha. Buddha Shakyamuni told us
that all sentient beings, including ourselves, possess this innate wisdom
and ability. Thus Buddhism regards all beings equally. Although we are
equal in origin, presently we cannot see this because everyone's wisdom
and abilities differ.
In our society, there are those who are intelligent and those who are not,
those with great ability and those with less. How do these things come
about? The Buddha told us that they are due to our varying degrees of
delusion. Our innate wisdom and abilities are temporarily lost due to this
delusion, but are not truly or permanently lost. If we can break through
this delusion, then we will be able to recover these abilities. Therefore,
the Buddha's teachings show us how to rid ourselves of delusion and to
uncover our innate abilities.
It is often stated in Mahayana sutras that the Buddha did not directly
help sentient beings. Then how do sentient beings become Buddhas? By
themselves. The Buddha only assists from the side by explaining the true
reality of how we delude ourselves. After realizing this, we diligently
put his teachings into practice to attain enlightenment of true reality.
We then become Buddhas. Buddha Shakyamuni clearly explained that becoming
a Buddha is attainable by all sentient beings.
From this, we can see that Buddhism is a teaching. However, a teacher can
only educate us about the principles, tell us of his/her experiences in
practice and attainment, and suggest various methods for our attainment.
The rest ultimately depends upon us. We are the ones who need to be
enthusiastic and diligent in order to attain achievement. Once we
understand that Buddhism is an education, we will logically regard the
Buddha as our teacher. From this, we understand that in proper Way Places,
we do not regard the Buddha or Bodhisattva images as gods to be
worshipped. We make offerings to these images for two reasons. First, to
remember and repay our gratitude for this truly great education, which we
have so fortunately encountered and accepted in this lifetime.
The opening verse to sutras says it very well; "It is extremely difficult
to encounter this teaching in infinite eons." The debt of gratitude we owe
the Buddha is similar to the remembrance, which some Chinese have toward
their ancestors. We reflect on our origins for without these ancestors we
would not exist. The second reason we make offerings to the Buddha is to
follow the examples of the virtuous. Buddha Shakyamuni was an ordinary
person like us; yet, he was able to be awakened and become a Buddha. What
is there to stop us from achieving this as well? Therefore, the pictures
or statues of the Buddha serve to remind us every moment to advance
diligently towards this goal. The images are not to be regarded as gods or
objects of superstition.
In Buddhist Way Places, the images of Buddhas and Bodhisattvas have many
appearances. This has often led to the misconception that not only is
Buddhism a religion but one that worships multi-deities as well. Indeed
Buddhas and Bodhisattvas have many names. For example, in the Tripitaka
there is the Ten Thousand-Buddha Names Sutra, which gives us over
twelve thousand Buddha's names and even more names for Bodhisattvas. Why
are there so many Buddhas and Bodhisattvas? Within our original-nature
there exists infinite wisdom, virtuous and artistic abilities that cannot
be completely represented by merely one name. It is similar to a highly
accomplished person in a prominent position; his or her business card
could have numerous titles.
The names of the Buddhas represent the complete, innate and virtuous
abilities within our self-nature. All the Bodhisattva names represent
cultivation of different virtues. The original abilities within our
self-nature are infinite, but temporarily lost. Without genuine
cultivation, we will not be able to uncover any of them. All the Buddha
and Bodhisattva names are none other than ourselves. Once we understand
this, we will realize that a high level of artistry represents the styles
of the Buddha's teachings. For example, sculptures and pictures can
express the Dharma. Understanding the true meaning of these images will
help one to gain the true benefits of the Buddha's teachings.
If Buddhism is not a religion, why is it not then a philosophy? In
philosophy, there is both a subject and an object. In Mahayana Buddhism,
there is no difference between subject and object; they are one. This
meaning is very profound and difficult to understand. For example, a great
master said, "Utilizing gold to form utensils, all utensils are of gold."
Are the gold and the utensil the same thing or different? From their
appearances they look like two different things. However, from their
composition we realize that they are the same. One needs a profound
intuitive comprehension to truly understand the reality of life and the
universe. All of the Mahayana Sutras try to explain this concept and
truth. One will share the same viewpoints with the Buddha when one truly
understands and clearly recognizes this truth. Ordinary people, like we
are deluded. In what way? Because we see everything in opposition to the
other, not knowing that in reality that everything is actually one and not
two.
From the intrinsic nature of Buddhism, we proceed to the goal of the
Buddha's teachings. This goal is to break through delusion and achieve
enlightenment. The Buddha pointed out to us why we are leading lives of
suffering and why the six realms of reincarnation exist. It is so, because
the wisdom and virtuous abilities in our original nature have yet to be
uncovered. Thus, all our viewpoints and ways of interacting with life and
the universe are incorrect. The erroneous acts committed due to these
incorrect viewpoints and ways have resulted in the suffering of
reincarnation within the six realms.
The goal of the Buddha's teachings is to help and guide us to break
through our delusion, to be awakened and escape this suffering and to
obtain happiness. What do we seek in Buddhism? We seek
Annuttara-Samyak-Sambodhi, the Perfect Complete Enlightenment. The Buddha
teaches and hopes that all of us will attain this ultimate enlightenment,
in other words, will become a Buddha.
The Perfect Complete Enlightenment can be explained as three levels:
Arhats, Bodhisattvas and Buddhas. The first is "Proper Enlightenment." In
our world, there are some very intelligent and wise people, such as
scientists, philosophers and religious leaders. They have reached higher
realization than most people have. However, although they may have reached
a certain level of realization, the Buddha would not recognize their
knowledge as the proper enlightenment, because they have not severed their
afflictions. They still dwell on the rights and wrongs of others, on
greed, anger, ignorance and arrogance. They still harbor wandering,
discriminatory thoughts and attachments. In other words, their minds are
not pure. Without the pure mind, no matter how high the level of
realization one reaches, it is still not the proper enlightenment.
In Buddhism, the standard for proper enlightenment is the pure mind from
which wisdom arises. It is the wish of all Buddhas that we attain this
proper enlightenment. This is the level or degree of an Arhat and is
similar to attending a university to earn an undergraduate degree.
Therefore, Arhat, Bodhisattva and Buddha are titles similar to degrees of
enlightenment attained in Buddhism. Those who achieve proper enlightenment
are called Arhats. Arhats do not have illusory or misleading thoughts and
viewpoints. They do not dwell on the rights and wrongs of others, or on
thoughts of greed, anger, ignorance or arrogance.
From this, we can comprehend intuitively the difference between Buddhism
and worldly education. From the Buddha, we learn the true teachings and
proper enlightenment. Only with this proper enlightenment can one escape
all sufferings to obtain true happiness. As human beings, we undergo the
sufferings of birth, old age, sickness and death. We do not attain what we
seek, are parted with our loved ones and find ourselves in the presence of
those whom we resent or even hate. We are surrounded by all these
sufferings with no apparent way of being truly free. Only after learning
Buddhism will we be able to reach genuine liberation.
The Flower Adornment Sutra explains to us, "All sentient beings
possess the same wisdom and virtuous capabilities as the Buddha, but these
qualities are unattainable due to wandering thoughts and attachments."
This clearly explains the root cause of our problems. Practicing Buddhism
is to accord with the teachings of the Buddha, to rid us of wandering,
discriminating thoughts and attachments. Thus, we uncover our pure mind,
in turn giving rise to true wisdom, which is proper enlightenment.
Therefore, Buddhas and Bodhisattvas would not recognize the intelligent
and worldly wisdom, as it lacks the pure mind, the proper enlightenment.
Upon attaining proper enlightenment, one has the ability to transcend the
endless cycles of birth and death, not to mention the ability to solve
everyday problems.
Whether talking about the Buddha's education or worldly education, it is
essential to understand the concept of delving deeply into one method in
order to attain achievement. This is especially so in Buddhism. One who
truly wishes to learn effectively needs to follow only one teacher and
practice only one path to ensure a smooth journey. When following two
teachers with two different paths, one is bound to become confused as to
which path to take. Even worse, following three teachers catches one at a
T street. With four teachers one is caught at a cross street. Today's
young people like to learn a lot, but fail to attain a good result. The
problem lies with being caught at those cross streets, confused as to
which way to take. For one to succeed and attain achievement in practicing
Buddhism, one needs to follow just one teacher and concentrate on just one
method.
What is this achievement? True achievement is attaining a pure mind. Upon
achieving some degree of pure mind, one will have fewer afflictions and
thus an increase in true wisdom, enabling one to solve problems in this
world and beyond. Without this true wisdom, there is no way to truly solve
problems. Therefore, true wisdom is essential in leading a happy and
fulfilling life. On a broader scale, it can help us to solve society's
problems.
Today there are many intelligent politicians who thought they were very
smart but have ended up bringing their countries to the brink of disaster,
as well as putting their citizens through much misery. What is the reason
for this? These leaders have not severed their afflictions, discriminating
and wandering thoughts, and attachments. Consequently, their first
consideration is their own benefit, their self-attachment.
The Buddha taught us to attain true wisdom by first breaking free of our
own viewpoints. Without this wisdom, one could misinterpret the meanings
within the Mahayana sutras. If one is able to part from the selfish mind,
then true benefits will definitely be received. With proper enlightenment,
only when one has no ego or self-attachment, will one be able to
differentiate true from false, proper from deviated, right from wrong and
beneficial from harmful. Without breaking through one's own viewpoints,
one will not have these abilities. From this, we understand there is a
standard to the proper enlightenment.
One level above the proper enlightenment is the "Equal and Proper
Enlightenment." Equal means equal to the Buddha, but not yet having become
a Buddha. This level is higher than that of an Arhat. The equal and proper
enlightenment requires one to break through one degree of ignorance, to
attain one degree of Dharma body. At this point, the way one views the
reality of life and the universe is very close to that of the Buddhas. One
who achieves the equal and proper enlightenment would be called a
Bodhisattva.
The Flower Adornment Sutra explains the forty-one levels of
Bodhisattvas, all of which have these levels of enlightenment. After
breaking through the very last degree of ignorance, perfecting wisdom and
enlightenment, one achieves the "Perfect, Complete Enlightenment" that is
Buddhahood. Therefore, Buddha, Bodhisattva and Arhat are common titles,
not a specific name for a specific person. They are titles similar to
those of Doctorate, Master or Graduate degrees. For example, in the name
Guan Yin Bodhisattva, Guan Yin represents great compassion and kindness.
The title of Bodhisattva is similar to a Masters Degree. Presently, people
have misconceptions about Buddhas and Bodhisattvas, thinking these names
are specific beings. They do not understand that these titles refer to any
being who possesses those characteristics. Buddha or Bodhisattva, when
added to a name is simply referring to a specialty.
From the intrinsic nature of Buddhism, we realize that our purpose of
practice is to seek wisdom. In Zen, this goal is called, "In pursuit of
clarity of mind to see into one's self-nature." In other words "Complete
Enlightenment." In the Pure Land School, this is called "One Mind
Undisturbed." The Pure Land School is unique in that not only does one
seek to have One Mind Undisturbed but also seeks birth into the Western
Pure Land. This is unlike other schools, which rely on one's own strength
of cultivation in seeking solely one goal. The Pure Land method has two
goals that can be achieved in one lifetime.
One who is very familiar with the Infinite Life Sutra and
understood its teachings would be free of doubt. The full title of this
sutra reveals the goals of our practice: The Buddha Speaks of the
Infinite Life Sutra of Adornment, Purity, Equality and Enlightenment of
the Mahayana School. Infinite life and adornment are what Pure Land
practitioners seek. Infinite life refers to the merits and virtues of
one's perfect self-nature. Adornment refers to perfect complete wisdom
with great ease and fulfillment. Purity, equality and enlightenment are
the methods, the three ways of practice. Upon attaining any one, all three
are attained. Of all the schools of Buddhism, none surpass these three
ways of practice.
The Zen School uses the awakening path to reach the great enlightenment
and attain the clarity to see into one's true nature. Buddhist schools
other than Zen stress the practice of understanding or proper viewpoints,
until reaching great complete understanding. The Pure Land School, on the
other hand, concentrates on the pure mind. A person with purity of mind
will naturally be non-discriminating and awakened. An awakened person will
naturally have a pure and non-discriminating mind. The route chosen may be
different but all reach the same goal. In Zen practice it is expressed as
"obtaining clarity of mind and seeing into one's true nature."
Different schools may use different names but the results or the level of
the state of mind are the same. Therefore, to criticize any other schools
would be to slander both the Buddha and the Dharma. All these methods were
passed down to us from Buddha Shakyamuni. Choosing any path will enable
one to attain achievement. How can we say that one method is better than
another? From all these different methods we just need to know how to
choose the one method that is most suitable for us and our level.
First, if the level of the method we chose were beyond us, making it
difficult to practice, we would not succeed easily with that method.
Second, it needs to be suitable and convenient for our manner of living.
Third, it needs to be compatible with modern society, because we cannot
separate ourselves from society or other human beings. Therefore, we need
to consider these factors to choose our method of cultivation.
However, no matter which method one practices, it is essential to be rid
of self-viewpoint and attachment in order to obtain the benefits from
practice. Or else, like so many have experienced, the great efforts put
into the practice will have been in vain. Some practitioners have felt
that even after years of practice they have achieved virtually nothing,
even to the point of feeling that they were better off before they
practiced. It seemed as if the more they practiced, the worse they felt.
All this comes from having chosen a method that was unsuitable for them.
This is similar to choosing an unsuitable major in school. When one
chooses a major that is not suited to one's foundation and ability, one
has an extremely difficult time trying to succeed. Choosing the right
major makes studying much easier, so one will have a much better chance of
success. The same thing goes for practicing Buddhism. If one does not know
one's own capacity, one can test oneself.
Like myself, for example. After reading many Mahayana sutras, I thought
myself incapable of any achievement. I wanted very much to sever my
wandering, discriminating thoughts and attachments, but was unable to.
Finally, I chose the Pure Land method to attain achievement. It does not
require one to be completely rid of but rather to suppress these
hindrances. As long as one is able to suppress all afflictions, one can
still be born into the Western Pure Land carrying over one's existing
karma.
This method suits me very well and thus is how I chose it. Previously, I
had tried Zen, the Teaching Schools, the Esoteric School and the practice
of following the precepts, but could not reach achievement with them.
Thus, I came back to the Pure Land method and wholeheartedly delved deeply
into the Buddha Name Chanting Method while concentrating solely on
lecturing on the Pure Land sutras. These are my experiences from decades
of practice.
After we understand clearly the goal of the Buddha's teachings, we will
view the sutras differently. These sutras are one of the world's largest
literary collections. I believe that when considering the range of all
academia, none of them surpass Buddhism. To obtain the benefits from this
vast collection, it is necessary for us to know and understand the essence
of it's content, which is the true reality of all Dharma, the true reality
of life and the universe. Life refers to ourselves. Universe refers to the
living environment that surrounds us. It would be incorrect to treat
Buddhism as an abstract and obscure learning that had nothing to do with
our daily lives. Every word in the sutra closely relates to our daily
living. Furthermore, it is definitely not superstition.
How and where do we start? For convenience, the perfection in the methods
of the Buddha's teaching, uses a high level of creativity. Buddhism of two
thousand years ago had already taken an artistic path. For example, all
the Buddha's names and sculptures represent our virtuous nature, innate
qualities of wisdom, virtuous abilities and artistic talents. All of the
Bodhisattva's names and forms represent our cultivation of virtue. They
instruct us how to apply the teachings in our daily lives to bring out our
virtuous nature so that we may receive Buddhism's benefits.
In Chinese Mahayana Buddhism, four great Bodhisattvas represent our order
of practice and level of achievement. The first is Earth Store
Bodhisattva. Whether we are thinking of worldly teachings, the dharma or
Buddhism; nothing can be accomplished without the earth or a place of
existence. The existence of humans cannot be separated from our great
earth as we rely upon it for survival. Whether clothing, food, living or
working, all rely on the production of the land, thus the infinite
treasures t1hat the great earth encompasses are seemingly endless for us
to use. The word "earth" in the name Earth Store Bodhisattva represents
the mind and the word "store" means treasure.
The Buddha's teachings guide us to first start the practice from our mind,
as our true nature encompasses the infinite wisdom and virtuous abilities
that are no different from those of Buddhas or Bodhisattvas. However,
today it seems as if we have lost our innate wisdom and virtuous
abilities. The Buddha told us that all these qualities are not truly lost,
just not yet uncovered. In the present moment, we endlessly immerse
ourselves in wandering, discriminating thoughts and attachments, which
have resulted