--- o0o ---
Quyển
1
Phật giáo như một nền giáo
dục
Ngày nay, xã hội Ðài Loan và những nơi
khác trên thế giới đã trở nên không bình thường, một hiện tượng
chưa hề có trước đây, dù ở Tây phương hay Ðông phương. Một vài
người Tây phương tiên đoán rằng tận thế diễn ra vào năm 1999, và
Chúa Giê-Su sẽ trở lại thế gian trong ngày phán xét. Người Ðông
phương cũng tiên tri về những tai họa sắp xảy ra tương tự như
những lời tiên tri của Tây phương, chỉ khác nhau về thời gian, tức
là khoảng hai mươi năm sau nữa. Một số lời tiên tri như thế đã có
từ thời xưa, và chúng ta không nên quá coi trọng những lời này.
Tuy nhiên nếu xét một cách khách quan, chúng ta sẽ thấy thế giới
này đang ở trong tình trạng nguy hiểm thực sự.
Ô nhiễm môi trường đã trở thành một vấn
đề nghiêm trọng, ngày nay loài người đã bắt đầu hiểu sự cần thiết
phải bảo vệ môi trường của mình. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm tâm
linh còn nghiêm trọng hơn vấn đề ô nhiễm môi trường bên ngoài. Ðây
là nguồn gốc của những tệ nạn đang diễn ra trên thế giới mà ít có
ai nhận ra được. Người Trung Hoa có câu nói: “Giáo dục là điều
cần thiết để thành lập một quốc gia, để huấn luyện người lãnh đạo
cũng như người dân”. Trong nhiều thế kỷ người Trung Hoa đã
luôn luôn tin vào sự quan trọng hàng đầu của giáo dục, vốn được
coi là nền móng của một xã hội hòa bình và thịnh vượng. Giáo dục
sẽ cung cấp cho chúng ta cách giải quyết vô số những tệ nạn của xã
hội, và sẽ hướng dẫn cách chuyển khổ đau thành phúc lạc cho mỗi
người. Giáo dục có sức tác động mạnh mẽ vào quốc gia và dân tộc.
Thêm nữa trường sơ học là nền tảng của một hệ thống giáo dục.
Phật giáo chính thức truyền vào Trung
Hoa vào 67 Tây lịch. Hoàng đế Trung Hoa đã cử một đoàn sứ giả đặc
biệt đi Ấn Ðộ cung thỉnh các Tăng sĩ Phật giáo đến Trung Hoa để
truyền bá lời Phật dạy mà vào thời đó được coi là một hệ thống
giáo dục chứ không phải là một tôn giáo. Có điều đáng tiếc là
khoảng hai trăm năm trước đây việc tu hành đã trở thành như một
tôn giáo.Vì vậy, mục đích của bài này là để điều chỉnh lại sự hiểu
lầm này bằng cách đưa chúng ta trở về với hình thức Phật giáo
nguyên thủy như Phật Thích Ca đã truyền dạy.
Mục đích của lời dạy của Ðức
Phật
Phật giáo là một hệ thống giáo dục của
Phật Thích Ca, tương tự như nền giáo dục của Khổng Tử, vì cả hai
hệ thống này trình bày những quan điểm và những phương pháp giống
nhau. Mục tiêu của nền giáo dục Phật giáo là đạt tới trí tuệ.
Trong Sanskrit, cổ ngữ của Ấn Ðộ, trí tuệ Phật giáo được gọi là
“Anuttara-Sanyak-sambhodi”, tức “Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”
hay “trí tuệ của hoàn hảo tối thượng”. Ðức Phật dạy rằng mục đích
chính yếu của việc tu tập là đạt trí tuệ vô thượng này. Ngài còn
dạy rằng ai cũng có tiềm năng chứng ngộ trạng thái trí tuệ tối
thượng, vì nó là một thành phần cốt yếu trong chân tính của con
người, chứ không phải là một cái gì ở bên ngoài để người ta thủ
đắc. Nhưng vì đại đa số chúng sinh quá vô minh nên đã khoâng biết
tới tiềm năng này. Vì vậy nếu biết giải trừ vô minh lầm chấp thì
chúng ta sẽ chứng ngộ được phần cốt yếu trong chân tính của mình.
Vậy, Phật giáo là một hệ thống giáo dục nhắm tới việc chứng ngộ
chân tính. Phaät giáo cũng dạy về sự bình đẳng tuyệt đối, vì Ðức
Phật nói rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh tức là chân tính
và trí tuệ vô thượng. Vì thế không có sự khác biệt thực sự nào
giữa chúng sinh. Hiện tại chúng ta thấy mọi người có sự sai biệt
khác nhau, đó là vì chúng ta không nhận ra chân tính của mình và
đã trở nên vô minh, mức độ thông minh của mỗi người tùy thuộc vào
mức độ vô minh chứ không liên quan gì tới chân tính của người đó.
Giáo lý của Ðức Phật giúp chúng ta nhận ra trí tuệ nội tại, hoàn
hảo, và vô thượng của mình. Với trí tuệ, chúng ta có thể giải
quyết mọi vấn đề và chuyển khổ đau thành phúc lạc. Do thiếu trí
tuệ mà chúng ta đã có nhận thức, ý kiến và hành vi sai lầm, và do
đó phải chuốc lấy những nghiệp quả xấu. Nếu có trí tuệ thì ý nghĩ,
quan điểm và hành vi của chúng ta đúng đắn, và như vậy ta sẽ không
phải chịu sự hành hạ của đau khổ, vaø tất nhiên ta sẽ hưởng những
niềm vui. Từ đây chúng ta có thể thấy rằng vô minh là nguyên nhân
của đau khổ, và chứng ngộ trí huệ là gốc rễ của phúc lạc.
Cốt tủy của Ðạo Phật
Giáo lý của Ðức Phật có ba điểm chính
yếu, đó là trì giới, thiền định và trí tuệ. Trí tuệ là mục tiêu,
còn thiền định là tiến trình cần yếu để đạt trí tuệ. Trì giới là
phương tiện giúp hành giả đạt trạng thái tâm ổn định và khi đó
hành giả tự nhiên sẽ chưùng ngộ trí tuệ. Toàn bộ hệ thống giáo lý
Ðạo Phật được bảo tồn trong kinh điển không bao giờ xa rời ba điểm
này. Phật giáo được bao gồm trong ba Tạng Kinh Ðiển, tức là ba
Tạng Kinh, Luật và Luận, nói về thiền định, trì giới, và trí tuệ,
theo thứ tự như vậy.
Tổ chức giáo dục Phật giáo ở Trung
Hoa
Nền giáo dục Phật giáo có nền móng là
sự hiếu thảo, giống như nền văn hóa Trung Hoa vậy. Trước khi Phật
giáo du nhập vào Trung Quốc, sự hiếu để đã là cột trụ của xã hội
và đã được ủng hộ bởi các nhà thông thái của Trung Hoa thời xưa.
Khi các Tăng sĩ từ Ấn Ðộ tới Trung Hoa và bắt đầu thuyết pháp cho
các quan chức thì mọi người nhận thấy ngay rằng Phật giaùo có vô
số điểm tương đồng với truyền thống Khổng giáo bản địa. Kết quả là
triều đình Trung Hoa đã tiếp nhận Phật giáo và thỉnh cầu các Tăng
sĩ ở lại quốc gia này lâu dài.
Hai Tăng sĩ Ấn Ðộ đầu tiến đến Trung Quốc laø Ma Ðằng và Trúc Pháp
Lan. Hai vị này được Hồng Lô Tự (Hong Lu Si) đón tiếp một cách
nồng hậu. Hồng Lô Tự tương đương như Bộ Ngoại Giao hay Bộ Nội Vụ
ngày nay. “Tự” có nghĩa là một bộ của chính phủ. Vị đứng đầu Hồng
Lô Tự tương đương như Bộ Trưởng Ngoại Giao hay Bộ Trưởng Bộ Nội
Vụ. Tuy nhiên, Hồng Lô Tự chỉ có thể đón tiếp các khách ngoại giao
một thời gian ngắn, vì vậy để các vị khách có thể ở lại thường
trực, Hoàng đế Trung Hoa đã thành lập thêm một bộ nữa là, đó là
“Bạch Mã Tự”, phụ trách về Phật học. Như vậy lúc đầu, “Tự” không
có nghĩa là một ngôi chùa, mà là một bộ của chính quyền. Chỉ về
sau này ở Trung Hoa, "Tự” mới của nghĩa là “chùa”. Vậy có hai bộ
phụ trách về giáo dục, đó là “Bộ Lễ” và “ Bạch Mã Tự”. Bộ Lễ trực
thuộc tể tướng, và phụ trách Khổng học, hệ thống giáo dục truyền
thống của Trung Hoa. Bộ Lễ tồn tại cho tới đầu thế kỷ hai mươi. Do
hoàng đế Trung Hoa giúp đỡ rất nhiều cho Bạch Mã Tự nên Phật học
mau chóng lan truyền khắp Trung Hoa. Có những nơi Phật học có ảnh
hưởng đến dân chúng nhiều hơn là nền giáo dục truyền thống của Bộ
Lễ. Kết quả cho thấy, không phải ở làng nào, xóm nào cũng có
trường Khổng giáo, nhưng ngược lại ở đâu cũng có “Tự”, tức là ngôi
chùa Phật giáo. Trong thời gian đầu tiên, chùa Phật là nơi giáo
dục hay là học viện và không cử hành bất kỳ lễ nghi tôn giáo nào,
không giống như ngôi chùa ngày nay.
Một nhiệm vụ khác của ngôi “Tự” nguyên thủy là dịch thuật kinh
sách. Nỗ lực dịch thuật này rất lớn mà người ngày nay khó có thể
tưởng tượng được. Trong thế kỷ thứ bảy, Pháp sư Huyền Trang đã
trông coi sáu trăm học giả trong việc dịch kinh sách. Trước đó một
nhà phiên dịch kinh tạng khác là Ngài Cưu Ma La Thập (Kumaraja) đã
có một nhóm dịch thuật gồm bốn trăm học giả. Như vậy, “Tự” là một
tổ chức lớn của chính quyền. Nhưng không may là khoảng hai trăm
năm trước “ Tự” đã hoàn toàn biến thành nơi mê tín. Tính chất
giáo dục và học thuật của “ Tự” đã hoàn toàn không còn nữa, thật
là một điều đáng buồn.
Bốn loại Phật Giáo Ngày nay
Ngày nay có bốn loại Phật giáo đang được
thực hành. Thứ nhất là tôn giáo Phật giáo mà người ta có thể thấy
trong các chùa ở Ðài Loan. Loại hình này không phải là Phật giáo
chính thống. Thứ hai là Phật giáo kinh viện, được dạy ở các trường
đại học ngày nay, nơi Phật giáo chỉ được xem như một triết lý, một
môn học, đặc biệt là ở Nhật bản . Ðây không phải là nền giáo dục
thật sự của Ðức Phật.Thứ ba, và không may mắn nhất là sự thoái hóa
hoàn toàn của Phật giáo thành một loại hình mê tín. Loại Phật giáo
thứ ba này làm tổn hại nhiều cho quần chúng hơn là hai loại trên.
Sau cùng là loại Phật giáo chân truyền, cốt tủy của những lời dạy
của Ðức Phật, rất hiếm có trong thời đại của chúng ta.
Khi còn là một sinh viên trẻ tuổi ở Nam
Kinh, tôi không tin vào một tôn giaùo nào cả. Tôi đã đến nhà thờ
cùng với một số bạn học để tìm hiểu về Gia Tô giáo. Nhưng dù cố
gắng đến đâu tôi cũng không thấy có cách gì để chấp nhận tôn giáo
này. Lúc đó tôn giáo mà tôi ưa thích là Hồi giáo, vì Hồi giáo chú
trọng đến những nguyên tắc luân lý và đạo đức, và tôi nghĩ rằng
đây là điều hiếm có trong các đạo giáo. Khi tôi biết Phật giáo vào
thời đó thì các tăng sĩ đã không thuyết phục được tôi, vì vậy tôi
cũng không chấp nhận PG, và đây là tôn giáo mà tôi đối kháng nhiều
nhất. Lúc đó tôi còn quá trẻ, và lại không gặp được một bậc thiện
hữu tri thức nào.
Sau khi tới Ðài Loan tôi được nghe nhiều
về giáo sư Ðông Mỹ Phương (Dong Mei Fang), lúc đó là một triết gia
nổi tiếng và là một giáo sư thuộc viện Ðại học Quốc gia Ðài Loan.
Với lòng ngưỡng mộ, tôi viết cho ông một bức thư để hỏi về việc
theo học một lớp của ông ở trường đại học. Lúc đó giáo sư Phương
khoảng chừng bốn mươi tuổi. Ông mời tôi đến nhà và nói với tôi
rằng “ngày nay ở trường học, thầy không phải là thầy, mà trò
cũng không phải là trò, nếu cậu tới trường để mong học được cái gì
đó thì cậu sẽ thất vọng”. Nghe ông nói vậy tôi hơi bối rối như
thể ông đã dội nước lạnh vào những dự tính của tôi. Sau cùng ông
lại nói: “ tại sao cậu không đến nhà tôi vào mỗi chủ nhật, rồi
tôi sẽ hướng dẫn riêng cho caäu trong khoảng hai tiếng đồng hồ”.
Tôi đã không tin là ông lại quá tốt với mình như vậy. Thế là tôi
học được từng triết lý một ở cái bàn nhỏ trong phòng khách hẹp của
giáo sư Phương, và điều này rất quý báu đối với tôi. Ông dạy về
triết học Tây Phương, Trung Hoa, Ấn Ðộ và sau cùng là Phật giáo.
Ông dạy tôi rằng Phật giáo là đỉnh cao của triết học thế giới và
Phật giáo đã dâng tặng hạnh phúc tối thượng cho loài người. Những
gì ông nói với tôi rất hấp dẫn và chẳng bao lâu sau tôi nhận ra
rằng Phật giáo chứa đựng một cái gì đó rất tuyệt vời. Tôi bắt đầu
đi thăm các chùa ở Ðài Bắc. Tuy nhiên với một người đa nghi như
tôi thì các tăng sĩ ở những chùa này không có khả năng trình bày
Phật giáo một cách rõ ràng. May mắn thay ngày nay tăng sĩ có thể
truyền dạy giáo lý tốt hơn xưa rất nhiều. Sau đó tôi đến thăm San
Dao Si (Sơn Ðảo Tự), một ngôi chùa lớn ở Ðài Bắc có rất nhiều kinh
sách. Trong thời đó rất hiếm sách Phật giáo được xuất bản và lưu
hành. Các Tăng sĩ ở Shan-Dao-Si đã rất tốt với tôi, cho phép tôi
mượn nhiều kinh sách quý và hiếm. Ðiều này rất lợi ích đối với
tôi.
Ít lâu sau khi bắt đầu nghiên cứu Phật
giáo một cách nghiêm chỉnh, tôi đã được may mắn gặp Ðại Sư Chương
Gia (Zhang Jia). Ngài là một hành giả Mật Tông thành tựu, người đã
dạy và hướng dẫn tôi trong việc học cũng như thưïc hành. Giống như
giáo sư Phương, đại sư dạy tôi hai giờ mỗi tuần trong ba năm, cho
tới khi ngài qua đời. Sau đó tôi đi Ðài Trung để học và thực hành
với pháp sư Lý Bỉnh Nam ( Lee Bing Nan).
Phật giáo là một loại tri thức đaëc biệt
chứ không phải là tôn giáo. Ðể đạt được lợi ích thực sự, chúng ta
phải hiểu tính chân thật của Phật giáo. Tôi đã hết sức tôn trọng
Phật giáo, và tin rằng Phật Thích Ca là một nhà giáo dục bậc nhất
trong lịch sử thế giới. Ðức Phật giống như đức Khổng Tử ở chỗ dạy
mọi người một cách không mệt mỏi và phân biệt.
Chương bốn: Phương pháp học và biểu
tượng học Phật giáo
Hệ thống giáo dục liên tục dành cho
các vị xuất gia
Phật Thích Ca là người đầu tiên thiết
lập hệ thống giáo dục liên tục cho các đệ tử xuất gia. Nhiều đệ tử
của Ðức Phật đã thành tựu dưới sự hướng dẫn của Ngài. Mỗi năm,
những đệ tử này được chỉ định dạy giáo lý ở các nơi khác nhau
trong chín tháng. Ở Ấn Ðộ mùa mưa kéo dài từ tháng ba đến giữa
tháng bảy, gây bất tiện cho việc đi lại và việc học trong ba
tháng. Vì vậy, tất cả các đệ tử trở về với Ðức Phật để học thêm
giáo lý và học hỏi lẫn nhau trong các giờ học. Khoảng thời gian
này được gọi là Mùa an cư kiết hạ, và tương ứng với cái mà
bây giờ gọi là giáo dục liên tục cho giáo viên. Hệ thống giáo dục
ngày nay là việc cần thiết do có sự tiến bộ về kỹ thuật, nhưng hai
ngàn năm trăm trước, Ðức Phật đã thực hiện điều này để đưa các đệ
tử của ngài trở về để học thêm giáo lý.
Mỹ thuật Phật giáo
Phật giáo có những biểu tượng mỹ thuật.
Khởi thủy Phật giáo là một nền giáo dục, phối hợp những cái tương
ứng với hệ thống trường học và viện bảo tàng ngày nay. Vậy “chùa”
là bao gồm trường học, thư viện và viện bảo tàng. Ngày xưa ở Trung
Hoa, hệ thống trường học truyền thống không được phổ biến rộng rãi
nên đa số học sinh đến một chùa để học, vì ở đây thường có
đủ sách vở, giống như một thư viện ngày nay, và không chỉ có toàn
kinh điển, mà còn có gần như tất cả những loại sách khác. Các tăng
sĩ học Phật giáo , Khổng giáo, Lão giáo và các sách cổ của Trung
Hoa, họ có khả năng trả lời các câu hỏi và thông thạo về các đề
tài khác nhau. Kết quả là các học viện Phật giáo giữ nhiệm vụ giáo
dục cho xứ sở này.
Những ngôi tự viện Phật giáo là sự biểu
lộ mỹ thuật được gọi là “Phật giáo biểu hiện”. Tuy nhiên
những bức tượng Phật và Bồ Tát không phải là sự biểu lộ của đa
thần giáo. Mỗi bức tượng đều có tính chiêu cảm trí tuệ và giác ngộ
trong mỗi người chúng ta. Những bức tượng này cũng tượng trưng một
số phương diện của PG, nhắc nhở các hành giả về một giáo lý nào
đó. Thí dụ bồ tát Quan Âm, vị Bồ Tát phổ biến nhất ở Trung Hoa,
tượng trưng cho lòng từ bi, tượng Quan Âm sẽ nhắc nhở chúng ta
phát tâm từ bi đối với thế gian, với mọi người và vạn vật. Nhưng
ngày nay người ta thờ Bồ Tát Quan Âm như một vị thần và cầu nguyện
với ngài để được cứu khổ cứu nạn. Ðây là một sự mê tín và sai lầm,
vì người ta quên rằng những bức tượng này tượng trưng cho những ý
niệm trong Phật giáo.
Kiến trúc Phật giáo cũng là một sự biểu
hiện mỹ thuật. Ngôi chánh điện tương ưùng với một phòng học hay
một phòng họp lớn, và nhìn từ bên ngoài có vẻ như có hai tầng
nhưng ở bên trong chỉ có một tầng. Hai tầng bên ngoài tượng trưng
cho Chân đế và Tục đế hay chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối.
Chân đế là sự thật của đời sống trong vũ trụ, còn Tục đế là kiến
giải thế tục vẫn còn vô minh. Tầng độc nhất bên trong muốn nói
rằng Chân đế và Tục đế chỉ là một chân lý. Với người vô minh thì
Chân đế và Tục đeá là hai điều khác nhau, còn đối với người giác
ngộ thì Chân đế và Tục đế là một.
Ở giữa chánh điện có một tượng Phật và
hai tượng Bồ Tát. Tượng Phật tượng trưng tính chất thật của vũ trụ
và con người, được gọi là “Phật tính” hay “chân tâm”.
“ Phật”, tiếng Sanskrit có nghĩa là “người đã giác ngộ viên mãn”.
Tượng Phật biểu trưng cho sự giác ngộ nguyên thủy của chúng ta,
còn hai bức tượng Bồ tát thì biểu trưng sự ứng dụng tâm giác ngộ
nguyên thủy này. Tất cả những biểu tượng và những ý nghĩa nhiều vô
số có thể được chia làm hai loại: Trí tuệ và Thực hành. Thí dụ:
Tịnh Ðộ Tông thờ một vị Phật và hai Bồ Tát của Tịnh Ðộ Tây Phương.
Phật A Di Ðà (Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ) tượng trưng
sự giác ngộ vốn là một phần chân tính của chúng ta. Bồ tát Quan Âm
tượng trưng lòng từ bi, và Bồ Tát Ðại Thế Chí tượng trưng cho đại
trí tuệ. Chúng ta nên từ bi với chúng sanh, nên có ý nghĩ, kiến
giải và hành vi hợp lý, chứ không nghĩ, nói và làm theo tình cảm
riêng tư, để chỉ gây ra phiền não. Vì vậy chúng ta không nên coi
Ðức Phật và các Bồ Tát là những vị thần, Nhưng các ngài có gia hộ
cho chúng ta không? Có, các ngài sẽ trao cho chúng ta những tri
kiến để biết cách giải trừ phiền não và thoát khổ. Khi đã biết ý
nghĩa của kiến trúc, âm nhạc, tranh và tượng Phật giáo, chúng ta
sẽ có được kinh nghiệm phong phuù khi viếng thăm một ngôi chùa.
Tuy nhiên ngày nay có nhiều người không
hiểu ý nghĩa và giáo lý của Phật giáo, nên họ cho rằng tranh và
tượng Phật, Bồ Tát là dấu hiệu của Ða Thần Giáo. Thật ra trong
Phật giáo, hình tượng chỉ là phương tiện để hỗ trợ việc học đạo
chứ không phải là tượng thần linh để phụng thờ và cầu xin. Chúng
ta có vô số khả năng ẩn sâu trong chân tánh bất tư nghì của mình,
vì vậy chúng ta có vô số biểu tượng để tương ứng, giống như ngày
nay một người có thể có nhiều chức vụ và tước vị ghi trên tấm danh
thiếp để cho thấy những địa vị và những thành tựu mà họ đạt được.
Chư Phật, Bồ Tát là những biểu tượng của chân tánh bên trong chúng
ta. Phật tượng trưng cho chân tâm, các Bồ Tát tượng trưng những
đức tánh đạt được ngang qua việc tu luyện. Tất cả chúng ta đều có
những phẩm tính này. Chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa của biểu tượng
học Phật giáo để có thể cảm nhận được sự phong phú và hoàn hảo của
nền giáo dục Phật giáo.
Ngày nay, những tự viện tiêu biểu
rất hiếm thấy. Ngôi điện đầu tiên của chùa là Ðiện Hộ Pháp. Ở giữa
điện này là tượng Bồ Tát Di Lặc được tạc theo hình ảnh của Bố Ðại
Hòa Thượng. Nụ cười lớn của tượng Di Lặc hàm ý để thông hiểu Phật
Pháp, người ta phải biết vui vẻ và hòa nhã với tất cả mọi người và
mọi sự vật. Cái bụng to tướng của Ngài là tượng trưng sự công
bằng, uyển chuyển, không thiên lệch, nhẫn nhục và tính khoan
dung.
Bên cạnh tượng Di Lặc là bốn tượng Hộ
Pháp, tượng trưng cho sự bảo hộ những ai thọ trì Phật pháp. Các
Ngài bảo hộ chúng ta bằng cách nhắc nhở chúng ta tu học và gìn giữ
chánh kiến của mình. Mỗi vị Hộ Pháp biểu trưng cho mỗi ý nghĩ hay
hành vi.
Hộ Pháp Ðông Phương (cầm cây đàn) tượng
trưng cho bổn phận và sự bảo đảm lãnh thổ, nghĩa là tất cả chúng
ta phải có bổn phận với bản thân, gia đình, xã hội, và tổ quốc.
Nếu mỗi người chúng ta làm tốt bổn phận và làm tròn những nhiệm vụ
của mình thì như vậy là chúng ta hỗ trợ lẫn nhau cũng như phục vụ
chính mình. Hộ Pháp Nam Phương (cầm kiếm) tượng trưng sự tiến bộ
và dạy chúng ta phải tinh tấn. Ngài nhấn mạnh sự quan trọng của
việc tu sửa liên tục để gia tăng đức hạnh, trí huệ, và kiến thức,
phát triển khả năng thi hành những bổn phận của mình. Ðiều này
giống như là dạy người ta nên tu sửa mỗi ngày của Khổng Giáo.
Hộ Pháp Tây Phương (cầm con rồng) tượng
trưng tri kiến bao quát về thế gian. Chúng ta cần phải mở mắt quan
sát con người và vạn vật, phát triển tri kiến, và biết phân biệt
phải trái, xấu tốt. Hộ Pháp Bắc Phương (cầm lộng) tượng trưng sự
học bao la. Hai vị Hộ Pháp này chỉ dạy cách thực hành và đạt đến
thành tựu trong việc thi hành bổn phận và tu sửa bản thân. Cổ nhân
có câu "Ðọc vạn cuốn sách, đi vạn dặm đường". Chúng ta đọc
sách để gia tăng kiến thức, và đi đây đó để quan sát sự vật. Như
vậy chúng ta sẽ có khả năng tự tu sửa và thi hành bổn phận của
mình hiệu quả hơn.
Ngày nay, người ta vào Ðiện Hộ Pháp để
đốt nhang, lễ bái và dâng hoa quả để mong được phù hộ về tài lộc
và phúc lạc. Như vậy là mê tín, vì tất cả những tiện nghi, những
tranh tượng Phật, Bồ Tát, những nghi thức dâng cúng chỉ là những
phương tiện giáo hóa, gây cảm hứng cho tâm trí của chúng ta, nhắc
nhở chúng ta cần phải đạt giác ngộ, thay vì vô minh, trở nên người
đức hạnh thay vì tội lỗi, thanh tịnh thay vì ô trược. Giác ngộ,
tri kiến chân chính, và thanh tịnh là ba nguyên lý của Phật Pháp.
Pháp môn thực hành
Phật Giáo có tám mươi tư ngàn pháp môn,
tức là có vô số pháp môn thực hành khác nhau, nhưng tất cả đều đưa
tới ba mục tiêu: giác ngộ, tri kiến chân chánh, và thanh tịnh.
Như vậy tất cả các pháp môn đều bình đẳng, không có pháp nào cao
hơn pháp nào. Người ta có nhiều căn cơ khác nhau, tức là khả năng
và mức thành tựu khác nhau. Thêm nữa, người ta có hoàn cảnh khác
nhau, nên mỗi người phải chọn pháp môn nào thích hợp với mình
nhất. Chúng ta có thể chọn một trong ba mục tiêu nói trên để tập
trung nỗ lực tu tập của mình vào đó. Khi đạt được một mục tiêu thì
hai mục tiêu kia sẽ tự nhiên xuất hiện.
Phật Giáo Trung Hoa có mười tông phái
khác nhau. Thiền tông chú trọng việc đạt tâm quang minh hay giác
ngộ. Tịnh độ tông và Phật Giáo Tây Tạng hay Kim Cương Thừa quan
tâm tới việc đạt tâm thanh tịnh, còn các tông phái khác thì tập
trung vào việc tu tập đạt tri kiến chân chánh. Dù chúng ta chọn
một pháp môn nào hay một tông phái nào thì tất cả đều dẫn tới cùng
một kết quả. Nói cách khác, một khi ta đã quán thông một pháp môn
thì chúng ta sẽ quán thông tất cả các pháp môn khác.
Sự thanh tịnh của thế gian phát xuất từ
sự thanh tịnh nội tâm của cá nhân. Với tâm thanh tịnh, không phân
biệt và không chấp thủ, chúng ta sẽ đạt được mức trí huệ cao hơn
mà trong đó thế giới xung quanh chúng ta sẽ tự nhiên hòa hợp. Bằng
việc niệm danh hiệu Phật, tham thiền, tụng kinh, trì chú, và thực
hành lời Phật dạy, hành giả sẽ đạt giác ngộ, tri kiến chân chánh,
và tâm thanh tịnh. Tuy nhiên, với quan niệm sai lầm, hành giả tụng
niệm để cầu xin tài lộc hay thăng quan tiến chức, là tôn giáo mê
tín, trái ngược với lời dạy của Phật Thích Ca.
Từ ngữ Phật học cho thấy Phật giáo
là một nền giáo dục
Phật Giáo (Buddhism) là giáo lý của Phật
Thích Ca, vị sáng lập Ðạo Phật. Chúng ta gọi ngài là "Ðức Bổn Sư",
giống như người Trung Hoa gọi Khổng Tử là vị thầy và là triết gia
vĩ đại nhất. Liên hệ giữa Ðức Phật và chúng ta là liên hệ thầy
trò, và mối liên hệ này không có tính cách tôn giáo. Trong tôn
giáo, không có liên hệ thầy trò, mà chỉ có liên hệ cha con hay
liên hệ chủ tớ.
Khoảng hai mươi năm trước, tôi đã thực
hiện một loạt những bài diễn thuyết ở đại học Gia Tô Giáo Fu Ren
và dạy ở tu viện Thomas một khóa. Tôi nói với các sinh viên, đa số
là tu sĩ, rằng họ hãy quy y với Ðức Phật và học thấu đáo Phật
Pháp. Tuyệt đối không có sự mâu thuẫn nào giữa Phật Giáo và tôn
giáo, vì một bên là liên hệ thầy trò, và một bên là liên hệ cha
con. Nếu các tu sĩ đó theo Phật Giáo và bỏ tôn giáo của họ thì tôi
tin rằng Ðức Phật cũng không chấp nhận họ, vì bỏ cha mẹ để theo vị
thầy là trái luân thường đạo lý. Vì vậy, các tín đồ tôn giáo sẽ
đạt được lợi ích nếu học thực hành Phật giáo. Khi tu tập chúng ta
sẽ đạt được trí huệ để biết Thiên Ðường thực sự, và sẽ có khả năng
quyết định khi nào mình muốn đi lên Thiên Ðường và đi bằng cách
nào. Vậy, Phật giáo chỉ một đạo đưa đường dẫn lối cho chúng ta đạt
lại trí huệ thực sự của mình.
Khi một Tăng sĩ được gọi là Hòa Thượng
(He-Shang) thì vị đó tương đương với giám hiệu của một trường học
ngày nay, vì ngài là người chăm lo về đường hướng giáo dục. Tất cả
các vị khác trong trường học là các giáo sư thi hành đường lối
giáo dục của vị giám hiệu, và giữ vai trò khuoân mẫu về hành vi và
ngôn từ cho các học sinh noi theo. Người thầy quá cố của tôi là
giáo sư Phương luôn nói với tôi rằng Phật Giáo là một nền giáo
dục (Buddhism is an education). Về sau, khi nghiên cứu kinh
sách, tôi đã tái khẳng định lời nói của ngài, rằng Phật giáo là
đỉnh điểm trí huệ của thế giới. Phật giáo mang lại niềm vui lớn
nhất cho loài người. Tôi đã chứng nghiệm niềm hân hoan tối thượng
này khi thoát khỏi phiền não, mê muội và vọng niệm. Thân thể và
tâm trí của tôi thanh tịnh, hoàn toàn dễ chịu. Tôi là người hạnh
phúc nhất thế gian. Vì vậy tôi cảm thấy mình chịu ơn giáo sư
Phương, vì nếu không có ngài thì tôi đã không nghiên cứu Phật Pháp
vaø đã không đạt được phúc lạc viên mãn như ngày hôm nay nhờ việc
tu theo lời Phật dạy.
Phật giáo đã hội nhập thành công vào nền
văn hóa Trung Hoa, và đã trở thành bất khả phân ly với nền văn hóa
này. Văn hóa Trung Hoa và Phật giáo có chung một ý niệm căn bản,
đó là từ bỏ quyền lợi của bản thân vì quyền lợi của người khác.
Khổng giáo và Phật giáo chủ trương phát huy và tôn vinh đạo hiếu,
tức là sự tôn kính đối với cha mẹ và các vị thầy của mình. Hiếu để
là một thành tố quan trọng trong việc kiến tạo nền hòa bình trên
thế giới.
Giáo dục nghĩa là gì? Giáo dục là ý
nghĩa và giá trị của đời người, nhưõng liên hệ giữa mọi người cũng
như giữa con người với vũ trụ. Khổng Giáo bao gồm ba điểm chính
sau đây: Thứ nhất là cần phải hiểu mối liên hệ giữa mọi
người để biết yêu thương người khác. Thứ nhì là cần phải
hiểu mối liên hệ giữa con người và vũ trụ để biết kính trọng thần
linh. Thứ ba là cần phải hiểu mối liên hệ giữa con người và
môi trường để biết cách bảo vệ môi trường và vạn vật. Trong Khổng
giáo có bốn môn học là đạo đức, ngôn từ, khả năng kiếm sống, và
nghệ thuật. Ðiều cốt tủy của Khổng giáo là dạy đạo đức. Ðây là
việc quan trọng hàng đầu, vì không có đạo đức và luân lý thì người
ta trở nên vị kỷ, chỉ nghĩ tới bản thân mà không quan tâm tới xã
hội, và thái độ này có thể gây ra tình trạng hỗn loạn trên thế
giới. Nền giáo dục ngày nay không coi trọng việc dạy đạo đức nữa.
Các trường học chỉ dạy về các nghề nghiệp chuyên môn, và như vậy
chỉ là phương diện bên ngoài chứ không phải là gốc rễ của giáo
dục. Khi gốc rễ bị hỏng thì nền tảng xã hội bị lung lay, và xã hội
bị xáo trộn như tình trạng ngày nay. Trường tiểu học giống như gốc
rễ của giáo dục, còn trường trung học và đại học thì giống như lá
và hoa. Các giáo viên nên dạy về đạo hiếu cho con em càng sớm càng
tốt.
Khi nghiên cứu nguồn gốc chữ viết của
người Trung Hoa, chúng ta không thể không khâm phục trình độ trí
huệ cao siêu của tổ tiên. Chúng ta biết ơn các ngài đã ban cho ta
một tài sản quý báu như vậy. Chữ “hiếu” của Trung Hoa hàm
chứa tinh thần của Phật giáo và nền móng của giáo dục, vì trong
chữ này có chữ "lão" và chữ "tử" (nghĩa là "con").
Ngày nay, người ta nói đến hố sâu thế hệ giữa cha mẹ và con cái mà
truyền thống gia đình không hề có trước kia. Theo truyền thống
Trung Hoa không chỉ có mối liên hệ chặt chẽ giữa cha mẹ và con
cái, mà còn coù những mối liên hệ khác như ông bà và các cháu nội
ngoại v.v..., tất cả đều là những thành phần của một dòng liên
tục. Ðây là một ý niệm độc đáo. Người Tây phương thường hỏi là tại
sao người Trung Hoa lại thờ kính những tổ tiên mà mình không được
biết rõ. Thờ kính tổ tiên là nền móng của Khổng giáo và Phật giáo,
và là nguồn gốc của hòa hợp xã hội và hòa bình thế giới.
Ngày nay mọi người đều mong muốn thế giới được hòa bình, nhưng để
có hòa bình chúng ta phải bắt đầu từ nền móng hiếu kính. Phật giáo
chú trọng tâm từ bi vô điều kiện đối với chúng sinh trong vũ trụ,
cả trong quá khứ, hiện tại, cũng như tương lai. Dòng liên tục thời
gian và không gian là bất khả phân ly với bản thân mỗi chúng sinh,
vì Tất Cả Chúng Ta Là Một Thực Thể (We are all one Entity).
Ý niệm bao quát này không có ở trong tôn giáo. "Như Lai",
một trong mười danh hiệu Phật, hàm ý một đấng giaùc ngộ vốn là bản
tính của chúng ta và cũng là tính chất thật của vũ trụ và đời
người. Ý niệm này được thể hiện
bởi chữ "hiếu" của Trung Hoa và danh hiệu Phật A Di Ðà trong Tông
Tịnh Ðộ. Những danh từ này có thể khác nhau nhưng ý nghĩ vẫn là
một, đó là: tình yêu vô điều kiện dành cho mọi sinh linh, vượt
thời gian và vượt không gian.
Năm mối liên hệ của loài người
Khổng Giáo có nền móng là năm mối liên
hệ của loài người, tức "Ngũ Thường", được thiết lập trên
những nguyên tắc đạo đức. Năm mối liên hệ này là liên hệ vợ chồng,
liên hệ cha mẹ với con cái, liên hệ anh chị em, liên hệ bạn bè, và
liên hệ chính quyền với người dân. Trong những liên hệ này thì
liên hệ vợ chồng là nhỏ nhất và mật thiết nhất. Sau đó gia đình mở
rộng, gồm mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái, và mối liên hệ giữa
anh chị em. Bên ngoài gia đình là xã hội, gồm mối liên hệ bạn bè
và mối liên hệ giữa cá nhân và chính quyền. Ngày nay chúng ta
thường nói tới sự cần thiết phải đoàn kết nhân dân. Ngày xưa người
Trung Hoa không cần dùng chữ "đoàn kết", vì năm mối liên hệ, hay
"ngũ thường" chính là sự đoàn kết giữa mọi người. Mọi người trên
trái đất này đều là anh, chị, em của chúng ta. Mỗi người có bổn
phận đối với người khác; cha mẹ hiền từ với các con; các con có
hiếu với cha mẹ; anh, chị, em và bạn bè kính trọng lẫn nhau. Như
vậy, đất nước và nhân dân dân đã có sự đoàn kết hoàn hảo. Những
mối liên hệ giữa mọi người cũng nói lên những bổn phận của một
người đối với người khác. Người nào cũng có bổn phận và nhiệm vụ
của mình để thi hành.
Thực hành Khổng Giáo và Phật Giáo
Con người khác con vật ở chỗ biết biết
sống theo luân thường và đạo lý. Việc thực hành Khổng Giáo có nền
móng là ý nghĩ chân thành, hành vi chân chính, gia đình và đất
nước có tổ chức tốt và hòa hợp, và có hòa bình cho mọi người. Phật
giáo cũng chú trọng việc học và thực hành, bắt đầu với việc phát
Bồ Ðề Tâm, hay tâm giác ngộ, nguyện đạt giải
thoát để có khả năng giúp đỡ người khác. Việc này giống như
tâm chân thành của Khổng giáo. Có người định nghĩa "thành tâm là
không có ý nghĩ nào cả". Ðúng như vậy, người ta sẽ không có sự
thành thật khi nào còn có những ý nghĩ xấu, những ý nghĩ xao lãng,
hay cả khi có một ý nghĩ phát khởi. Lục Tổ Huệ Năng có lần nói
rằng khi tâm thanh tịnh không chứa đựng gì cả thì nó sẽ không bị
bụi bám vào. Tuy nhiên tâm trí người ta thường xao động với nhiều
ý nghĩ, vậy làm sao để loại bỏ những ý nghĩ xao lãng này? Khổng Tử
nói rằng khi chống lại những dục vọng phát khởi, người ta sẽ đạt
được trí huệ. Phương pháp này được nói tới trong trường sơ học của
nền giáo dục Khổng Giáo. Ðức Phật cũng nói rằng muốn giải trừ mọi
phiền não người ta phải đoạn lìa ác dục.
Hệ thống sơ học Khổng Giáo:
Ngày xưa, các học sinh trường sơ học ở
Trung Hoa được dạy cách phòng vệ chống lại sự phát khởi của ái
dục. Trường học chú trọng tới việc huấn luyện học sinh cách định
tâm và đạt trí huệ. Học sinh bắt đầu đi học vào năm lên bảy tuổi.
Họ sống ở trường và chỉ trở về nhà vào những dịp lễ, tết. Họ được
dạy cách cư xử trong đời sống hằng ngày, có cử chỉ lễ phép đối với
thầy giáo và các bạn học lớn tuổi hơn mình. Ðây là sự giáo dục về
đạo đức và luân lý. Ở nhà của mình, học sinh sẽ cư xử với cha mẹ
và anh chị em một cách hiếu để và thành kính.
Từ năm lên bảy cho tới mười hai tuổi,
các học sinh phải học thuộc lòng những kinh sách cổ điển. Vị thầy
chọn những bài học chứa đựng những lời dạy thâm thúy của thánh
hiền để các học sinh tụng đọc một hay hai trăm lần mỗi ngày. Việc
này cũng có mục đích là để tâm trí của các em không xao lãng mà có
sự tập trung, đạt thanh tịnh và trí huệ, dù có thể các em không
hiểu ý nghĩa của những lời dạy. Tuy nhiên, kể từ cuộc cách mạng
năm 1911 lối giáo dục hiện tại đã bỏ truyền thống có từ hai ngàn
năm trước để thu nhận nền giáo dục Tây Phương. Khi xét kỹ, người
ta sẽ thấy sự thay đổi này đưa tới nguyên nhân của những vấn đề xã
hội ở Trung Hoa ngày nay.
Hệ thống Ðại Học Khổng giáo:
Vào năm mười ba tuổi, các học sinh tới
học ở trường Ðại Học. Ở Trung Hoa ngày xưa không có trường tiểu
học hay trung học. Trường Ðại Học chú trọng việc diễn giải và thảo
luận về những kinh sách mà các học sinh đã học thuộc lòng ở trường
sơ học. Các vị thầy là những học giả chuyên nghề dạy học. Mỗi vị
dạy một lớp học nhỏ với khoảng từ mười tới hai mươi học sinh, và
vị thầy không nhất thiết phải giảng bài trong phòng học với sách
giáo khoa. Thời đó tất cả các sách giáo khoa đều được in với hình
thức chung là hai mươi chữ một cột và mười cột một trang, không có
khoảng trống giữa các chữ và các cột. Ðây là tiêu chuẩn toàn quốc,
bất kể là nhà in hay nhà xuất bản nào. Cả thầy lẫn trò đều thuộc
lòng kinh sách tới mức họ biết đúng bài học nằm ở trong phần nào
của cuốn sách nào. Vì tất cả đều đã được học thuộc lòng trong giai
đoạn sơ học nên sau đó các học sinh không cần phải có kinh sách để
tham khảo.
Vị thầy thường đưa các học trò của mình
đi đây đó để mở mang kiến thức và thêm kinh nghiệm. Các học sinh
học hỏi trên đường đi. Như vậy trong những chuyến đi này họ không
mang theo sách vở và không có kỷ luật gò bó, nhưng lại có rượu,
thực phẩm, và đầy vui thú. Các học sinh cũng vui lòng hầu hạ thầy.
Khi kết thúc những chuyến đi tới những nơi danh lam thắng cảnh thì
khóa hoïc cũng chấm dứt. Ðối với nhiều người thì học Ðại Học là
khoảng thời gian vui sướng nhất trong đời của họ.
Ở Ðài Loan, những vị ở tuổi tám mươi hay
chín mươi có thể đã trải qua lối giáo dục Ðại Học này. Vị thầy quá
cố của tôi là ông Lee lúc đó đã ngoài chín mươi tuổi khi viết bài
đăng báo vẫn cho vào những lời dạy của thánh hiền mà ông đã học
thuộc lòng lúc theo học trường sơ học, không còn phải tham khảo
kinh sách. Ðây là phương phaùp mà ông đã dùng để đắc trí huệ phát
sinh từ tâm thanh tịnh. Khi tâm trí thanh tịnh thì trí huệ đích
thực sẽ xuất hiện. Có trí huệ đích thực là biết về quá khứ cũng
như tương lai của mình và giác ngộ luật nhân quả. Người ta không
nên phán xét sự vật bằng vẻ bề ngoài của chúng, mà cần phải hiểu
là chúng đã xuất hiện như thế nào. Trí huệ giác ngộ tính không
trong Phật Giáo là trí huệ nguyên thủy. Chỉ khi nào có tâm thanh
tịnh, không chứa đựng gì cả thì người ta mới biết mọi sự vật khi
tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Vì vậy việc học và thực hành Phật
Giáo bắt đầu với việc giải trừ mọi ý nghĩ để đạt tâm thanh tịnh.
Tất cả những điều này làm cho tôi nghĩ
tới trẻ em, những con người nhỏ bé rất trong sạch, ngây thơ và vô
tội trong ý nghĩ của chúng. Vì vậy chúng ta nên cho con em của
mình học Phật Học sớm trong tuổi ấu thơ, với một chút nỗ lực, trẻ
em có thể dễ dàng đạt lợi ích trong việc này. Những chứng nghiệm
của người có tâm thanh tịnh thì rất khác lạ và sâu xa mà không có
người thường nào có thể cảm nhận được.
Ðạt hòa bình thế giới với thân tâm được
tu luyện, gia đình hòa hợp, và xứ sở thịnh vượng:
Một hành giả thực sự sẽ giữ cho mình
không tham, sân, si, và kiêu ngạo đối với người khác cũng như đối
với môi trường sống. Nếu còn có một phiền não nào nói trên thì
hành giả không phải là ngươøi thành thực và chân chính. Thành thực
và có ý kiến chân chính là hai điều căn bản của việc luyện tâm.
Người nào có thân thể và tâm trí trong sạch thì sẽ không bị bệnh
tật, vì vậy khi chúng ta đau ốm thì đó là do tâm trí có đầy vọng
niệm và phiền não phát xuất từ tham, sân, si, và kiêu ngạo.
Như đã nói ở trên, thành thực và chân
chính là nền móng của việc thanh lọc tâm trí. Tâm thanh tịnh sẽ
đưa tới thân trong sạch, và do đó, người ta sẽ tự nhiên miễn nhiễm
đối với bệnh tật. Như vậy, một hành giả thành tựu sẽ không bao giờ
bị bệnh nặng. Thêm nữa, khi đã quyết tâm đi theo con đường của Ðức
Phật thì người ta sẽ không phải chết một cách thông thường. Chết
thông thường có nghĩa là người ta không biết mình sẽ lìa đời lúc
nào, và sẽ đi đâu sau đó. Ngược lại, những hành giả chân chính,
tin tưởng vào bản thân và vào Phật A Di Ðà, tu tập theo lời dạy
của Ðức Phật, thì sẽ có khả năng lúc nào quyết định lúc nào mình
từ giã thế gian và lúc nào mình tái sinh vào Tịnh độ Tây Phương.
Ðây không phải là truyện kỳ dị hay truyện thần tiên mà là một sự
thật đơn giản, có thể đạt được bằng cách tu tâm luyện tính và phát
nguyện vãng sinh Tịnh độ Tây Phương. Vì vậy, cần phải biết rằng
việc giải trừ phiền não và ái dục là rất quan trọng. Mỗi Phật tử
nên giữ cho tâm trí và thân thể luôn luôn trong sạch, đối xử vơùi
mọi người và mọi vật một cách bình đẳng và bình tĩnh. Chỉ có như
vậy thì gia đình mới hòa hợp, xã hội mới đoàn kết, và thế giới mới
hòa bình. Chúng ta sẽ không còn bất hòa tranh chấp, và chiến
tranh. Hòa bình và hạnh phúc mà tất cả chúng ta đều mong muốn ngày
nay sẽ không còn là một giấc mộng mà sẽ trở thành sự thật nếu
chúng ta biết phối hợp Khổng giáo và pháp giới vào hệ thống giáo
dục của mình.
Tám đức tánh căn bản của Khổng giáo
Trung thành, hiếu để, từ bi, bác ái,
đáng tin cậy, có trách nhiệm, hòa hợp và bình đẳng là tám nguyên
tắc đạo đức căn bản của Khổng giáo, và được tượng trưng bằng bốn
vị Bồ Tát trong Phật giáo. Bồ Tát Ðịa Tạng Vương tương trưng hiếu
để, và vì vậy mà Kinh Ðịa Tạng còn được gọi là Hiếu Kinh. Cuốn
kinh này dạy lòng hiếu kính đối với cha mẹ cũng như thầy dạy học
của mình. Các vị này đều được kính trọng ngang nhau trong Phật
giáo và Khổng giáo. Có hiếu với cha mẹ và tôn kính các vị thầy là
đức tính tự nhiên của con người. Mục đích của Phật giáo là dạy
người ta nhận biết tính chất thật của tâm trí bằng cách khám phá
những đức tính của nó, nếu không như vậy thì người ta sẽ không thể
giác ngộ.
Bồ Tát Quan Âm tượng trưng bi tâm và từ
ái. Bồ Tát Văn Thù tượng trưng trí huệ, tín tâm và lòng trung
thành. Bồ Tát Phổ Hiền tượng trưng đại nguyện thực hành giáo lý
của Ðưùc Phật bao gồm hiếu để, từ bi và trí huệ. Ngài cũng tượng
trưng sự hòa hợp và bình đẳng. Có từ bi và trí huệ thì có thể tạo
công đức. Hạnh phúc lớn nhất của con người là hưởng công đức xây
dựng trên nền móng thanh tịnh và bình đẳng với mọi người. Người
Trung Hoa nói tới ba điều chân, thiện, và mỹ. Ba điều này có nghĩa
là trưởng dưỡng công đức trong tuổi ấu thơ, tạo công đức tuổi
trung niên, và hưởng công đức trong tuổi già. Người nào hưởng công
đức trong tuổi già thì được gọi là người hoàn toàn, giống như một
vị Phật vậy. Chúng ta cần phải hiểu rằng chư Phật, Bồ Tát không
phải là những vị thần, mà là những người hoàn hảo nhất và phúc lạc
nhất đeå chúng ta noi gương.
Các bậc tiên hiền của Trung Hoa ngày xưa
đã nói tới những nguyên tắc đạo đức này trước khi Phật giáo du
nhập Trung Quốc. Phật Thích Ca, Khổng Tử, và Mạnh Tử không bao giờ
gặp nhau, nhưng các vị đều có giáo lý và phương pháp giống nhau,
và đây là một sự tình cờ, như người Trung Hoa nói "Anh hùng tương
ngộ" và người Tây phương nói "Chí lớn gặp nhau".
Mới đây một sinh viên tới gặp tôi để hỏi
về cách thực hành Phật giáo. Câu trả lời là bốn lời nguyện của chư
Phật, Bồ Tát sau đây:
"Chúng sinh vô biên, thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học.
Phật Ðaïo vô thượng, thệ nguyện đạt".
Giúp đỡ người khác có nghĩa là hết sức
giúp họ giải trừ vô minh, đạt giác ngộ, như vậy họ sẽ thoát khổ và
hưởng phúc lạc thực sự. Ðể có khả năng cứu độ chúng sanh, người ta
phải tu tập tốt, có học và có đức hạnh cao. Hành giả phải luôn
luôn cảnh giác với những hành vi thân, khẩu, ý của mình, tức là
hành động, lời nói, và ý nghĩ. Trước hết hành giả gây dựng đức
tính bằng cách giải trừ những phiền não tham, sân, si, và kiêu
ngạo, vì chúng là nguồn gốc của mọi ái dục và vô minh. Trí huệ
đích thực là kết quả của việc tu tập đức tính cao cấp, phát xuất
từ tâm trí thanh tịnh, từ bi, và vô phân biệt, chứ không phải là
từ kiến thức sách vở. Nếu không có tâm trong sạch thì kiến thức
góp nhặt được chỉ dẫn tới quan kiến sai lầm. Vì vậy trong việc
thực hành Phật giáo thì điều tiên quyết là thanh lọc tâm trí và
đoạn lìa mọi chấp thủ vào những tà kiến. Với tâm thanh tịnh chúng
ta có thể trông thấy sự vật một cách rõ ràng hiểu biết tất cả, và
như vậy đạt trí huệ đích thực và giác ngộ.
Phật giáo là nền giáo dục dành cho mọi
người, không phân biệt nam nữ, nghề nghiệp, chủng tộc, hay tôn
giáo. Người nào cũng có thể học và thực hành Phật giáo, vì đây là
trí huệ viên mãn, tối thượng. Bất cứ nơi nào ở trên thế giới này
cũng cần phải có giáo lý của Ðức Phật. Tuy nhiên, không dễ gì tìm
được những vị thầy Phật giáo có khả năng, vì đa số vẫn bám giữ vào
danh và lợi, vốn là những chướng ngại chính yếu trong việc học và
thực hành Phật giáo. Tâm trí không thanh tịnh thì không thể nào
hiểu đúng giáo lý của Ðức Phật và hiểu rõ những nguyên nhân của
mọi vấn đề trên thế gian này. Trong khi đó nếu không có công đức
và nhân duyên tốt thì hành giả không tìm được một vị thầy có khả
năng. Vì vậy, tôi luôn luôn khuyên các hành giả trẻ tuổi hãy quyết
định ra sức phục vụ tổ quốc và thế giới.
Mới đây chúng ta đã thiết lập một Trung
Tâm Tịnh Ðộ Học ở Hoa Kỳ, mục đích là để giới thiệu văn hóa Trung
Hoa truyền thống với người Tây Phương và để giúp họ thực hành Phật
Giáo. Tổ tiên của chúng ta đã phát sinh một công cụ vượt thời gian
quý báu nhất, đó là cổ ngữ Trung Hoa được gọi là "Wen-Yen-Wen", để
di truyền văn hóa cổ cho các thế hệ tương lai và cho chúng ta. Với
công cụ mạnh mẽ này, chúng ta có thể đọc được các sách của Khổng
Tử hay Mạnh Tử vốn đã được viết từ hai ngàn năm trăm năm trước. Vì
biết rằng ngôn ngữ biến đổi theo thời gian nên tổ tiên của chúng
ta đã dùng loại cổ ngữ Trung Hoa này để truyền trí huệ, tư tưởng,
xảo năng, và kinh nghiệm của các ngài. Việc học Wen-Yen-Wen không
phải là khó. Thầy của tôi là ông Lee đã dạy chúng tôi bí quyết đọc
loại cổ ngữ này, chỉ cần đọc thành thạo năm mươi chương cổ văn
Trung Hoa. Ðể có thể viết cổ ngữ Trung Hoa, cần phải ghi nhớ một
trăm chương. Với chìa khóa Wen-Yen-Wen này, chúng ta có thể tiếp
cận và học Phật giáo cũng như minh triết cổ truyền Trung Hoa, vì
những bản dịch mới nhất của các kinh Phật giáo là bằng loại cổ ngữ
này. Cùng với tâm thanh tịnh, vô phân biệt, và từ bi, chúng ta có
thể mở khoa học tàng trí huệ vô thượng của mình.
Tôi đã khuyến khích các Phật tử đọc kinh
Vô Lượng Thọ, được viết với hình thức đơn giản của loại cổ
ngữ Trung Hoa này. Mọi người sẽ dễ dàng hiểu tới tám mươi phần
trăm nội dung cuốn kinh này. Bản Kinh Vô Lượng Thọ này chỉ
có bốn mươi tám chương, tương đương với số lượng chương mà ông Lee
đã yêu cầu chúng ta ghi nhớ. Ðây là một phương pháp tốt để học
loại cổ ngữ này. Sau khi đọc và ghi nhớ cuốn kinh này, tôi tin
rằng sẽ không còn chướng ngại nào trong việc đọc các kinh Phật
giáo. Tôi mạnh mẽ khuyến khích không những các tín đồ mà cả những
người Tây phương muốn học văn hóa Trung Hoa và Phật giáo hãy học
thuộc năm mươi chương Wen-Yen-Wen hay Kinh Vô Lượng Thọ.
Với nỗ lực trong hai hay ba năm, hành giả có thể thủ đắc chìa khoá
khám phá sự kỳ diệu của minh triết Trung Hoa cổ truyền và đồng
thời có thể chuyển hóa kinh sách Phật giáo thành kho tàng trí huệ
của mình. Nếu không có chìa khóa này thì dù có tất cả kinh sách và
cổ văn Trung Hoa cũng vô ích, vì không có cách nào để bước vào kho
tàng này.
Thưa quý vị, các phụ huynh và các em học
sinh, trường sơ học là nền móng của hạnh phúc trong đời sống, là
gốc rễ tương lai của đất nước, và là cơ sở đảm nhiệm xã hội tương
lai. Quý vị đã cống hiến nhiều cho công tác vĩ đại nhất này trong
đời sống và trong xã hội. Trưởng dưỡng thế hệ trẻ có năng lực và
đức hạnh là việc làm có ý nghĩa nhất và giá trị nhất của xã hội.
Tôi xin có lời cảm tạ với sự tôn kính cao nhất tới quý vị. Tôi xin
chúc quý vị an lạc và hạnh phúc. Nguyện cầu mọi người an khang và
thịnh vượng.
Today's societies in Taiwan and elsewhere in the world are rather
abnormal, a phenomenon that has not been witnessed before either
in the West or the East. Some Westerners have predicted that the
end of the world will occur in 1999 and that Christ will return to
earth for Judgement Day. Easterners have also predicted impending
disasters that are similar to those predictions in the West, the
only difference being the time frame, which is some twenty years
later. Some of these are ancient prophecies, which we should not
place too much importance on. However, if we view our environment
objectively, we will realize that this world is really in danger.
Environmental pollution has become a serious problem and now
humankind has finally begun to understand the need for protecting
our environment. However, the problem of mental or spiritual
pollution is many times more serious than that of the environment.
This is the source of worldly ills that not many people realize.
The Chinese have a saying, "Education is most essential to
establish a nation, train its leaders and its people." For
centuries, the Chinese have always believed in the primacy of
education, which is considered the foundation for a peaceful and
prosperous society. It provides the solution to a myriad of social
ills and leads the way to changing one's suffering into happiness.
Education has a strong impact on the nation and its people.
Moreover, elementary school is the foundation, the basic building
block in an educational system.
Buddhism officially came to China in 67 AD. The Emperor had sent
special envoys to India to invite Buddhist monks to come to China
to teach Buddhism, which in that period, was regarded as an
educational system, and not as a religion. Regretfully, about two
hundred years ago, the practice of Buddhism had taken on a more
religious facade. Therefore, the purpose of this talk is to
correct this misunderstanding, by leading us back to the original
form of Buddhism as taught by Buddha Shakyamuni.
The Goal of the Buddha's Teaching
Buddhism is Buddha Shakyamuni's educational system, which is
similar to that of Confucius for both presented similar viewpoints
and methods. The goal of Buddhist education is to attain wisdom.
In Sanskrit, the language of ancient India, the Buddhist wisdom
was called "Anuttara-samyak-sambhodi" meaning the perfect ultimate
wisdom. The Buddha taught us that the main objective of our
practice or cultivation was to achieve this ultimate wisdom. He
further taught us that everyone has the potential to realize this
state of ultimate wisdom, as it is an intrinsic part of our
nature, not something one obtains externally. However, most of us
have become confused through general misconceptions and therefore,
are not able to realize this potential. Therefore, if we break
through this confusion, we will realize this intrinsic part of our
nature. Thus, Buddhism is an educational system aimed at regaining
our own intrinsic nature. It also teaches absolute equality which
stemmed from Buddha's recognition that all sentient beings possess
this innate wisdom and nature. Therefore, there is no inherent
difference among beings. Everyone is different now because we have
lost our true nature and have become confused. The degree of
wisdom exhibited by individuals depends on the degree of delusion
and has nothing to do with the true nature of the individual. The
Buddha's teaching helps us to realize that innate, perfect,
ultimate wisdom. With wisdom, we can then solve all our problems
and turn suffering into happiness. Due to our lack of wisdom, we
perceive, view and behave foolishly, and thus suffer the
consequences evoked by our incorrect actions. If we have wisdom,
our thoughts, viewpoints and behavior will be correct; how then
can we suffer when there are no ill consequences to suffer from?
Of course, we will be happy. From here, we can see that suffering
is caused by delusion and the source of happiness is our own
realization of wisdom.
The Core of the Buddha's Teaching
The Buddha's teaching contains three major points: discipline,
meditation and wisdom. Wisdom is the goal and deep meditation or
concentration is the crucial process toward achieving wisdom.
Discipline through observing the precepts, is the method that
helps one to achieve deep meditation; wisdom will then be realized
naturally. Buddha's entire teachings as conveyed in the sutras
never really depart from these three points. Buddhism encompasses
the entire collection of works by Buddha Shakyamuni and is called
the Tripitaka. This can be classified into three categories:
sutra, vinaya (precepts or rules), and sastra (commentaries) which
emphasize meditation, discipline, and wisdom respectively.
The Buddhist Educational Organization in China
Buddhist education is based on filial piety, as is the Chinese
culture. Prior to the introduction of Buddhism to China, filial
piety was the pillar of society and was supported by the wise men
of ancient China. When Buddhist monks from India came to China and
started to discuss Buddhism with government officials, it was
immediately apparent to everyone that Buddhism shared numerous
similarities with the indigenous Confucian traditions.
Consequently, the government embraced them and requested that the
monks stay in China permanently.
The first two monks, who came to China, Moton and Chufarlan, were
received by the "Hong-Lu-Si" which is equivalent to our present
Foreign Ministry or State Department. "Si" was designated as a
ministry of the government. The Chief of Hong-Lu-Si is equivalent
to a foreign minister or Secretary of State. However, Hong-Lu-Si
could only receive foreign guests temporarily. In order to allow
them to stay permanently, the Emperor added another ministry,
"Bai-Ma-Si," to take charge of Buddhist education. Originally, the
"Si" had nothing to do with a temple, but merely denoted a
ministry of the imperial court, now it denotes a temple in
contemporary Chinese. So, there were two ministries in charge of
education. The "Li-Bu," managed by the Prime Minister, was in
charge of the traditional Confucian educational system. This
organization served the same function until the early 1900's. As
the Emperor had given enormous support to the "Bai-Ma-Si,"
Buddhist education rapidly spread throughout China. In many
instances, it had even far exceeded the efforts to educate people
than the traditional education system of "Li-Bu." Consequently,
there may not have been a Confucian or Manfucian school in every
village, but there was a "Si" everywhere. Again, the Buddhist
"Si", or temple, used to be an educational institution and did not
perform religious ceremonies at all, unlike what often takes place
in contemporary temples nowadays.
Another important mission for the original "Si" was sutra
translation. The scale of the translation effort is hard to
imagine today. During the seventh century, the famous monk
Xuan-Tsuang had supervised six hundred scholars in sutra
translation. Prior to this, a monk named Kumaraja had a
translation team of about four hundred scholars. Therefore, the
"Si" was a large governmental organization. Unfortunately, it was
completely transformed into a place to deal with superstition and
spirits around two hundred years ago. Its educational
characteristics totally disappeared, which was truly regretful.
The Four Current Types of Buddhism
Today, there are four types of Buddhism being practiced. First,
there is the religious Buddhism, which can be witnessed in temples
throughout Taiwan. However, this does not represent the real
Buddhism. Second, there is the academic Buddhism being taught in
many universities today, where we see Buddhism being treated
purely as philosophy, an academic pursuit, especially in Japan.
This is not exactly Buddha's education either. Third, and the most
unfortunate of all, is the total degeneration of Buddhism into a
cult. This third type of Buddhism is much more damaging to the
public than the first two types. Finally, there is the traditional
Buddhism, the teachings of Buddha Shakyamuni in its true essence,
which is very rare in our day and age.
When I was a young student in Nanjing, I did not believe in any
religion. I went to church with some classmates to learn about
Christianity. Although I tried to understand it, I could not find
a way to accept it. My favorite religion at that time was Islam
because its emphasis was on moral principles and ethics, and I
thought that this was rare among religions. When I encountered
Buddhism back then, the monks were not very convincing. Therefore,
I could not accept Buddhism either and it was the one I resisted
the most. I was too young at that time and had not met a true
practitioner.
After I arrived in Taiwan, I heard of Professor Dong-Mei Fang, who
was then a famous philosopher and a professor at the National
Taiwan University. Having become an admirer of his, I wrote him a
letter asking about taking a class from him at the university.
Professor Fang was only in his forties at that time. He invited me
to his house and told me, "Nowadays in school, professors do not
act like professors, and students do not act like students either.
If you come to the university and expect to learn something, you
will be sorely disappointed." When I heard this, I was pretty
upset since he had basically poured cold water over my plans.
Finally, he told me: "Well, why don't you come to my house every
Sunday, and I will give you personal instruction for two hours." I
could not believe that he was so compassionate towards me. I
learned about philosophies at Professor Fang's small table in his
little living room, one on one. This was extremely precious to me.
He introduced the philosophies of the West, China, India and
finally Buddhism. He taught me that Buddhism is the pinnacle of
the world's philosophy and that it provides the greatest enjoyment
for humanity. What he told me was fascinating and soon I realized
that Buddhism contained something magnificent. I started to visit
the temples in Taipei. However, the monks I met in those temples
just could not clearly explain Buddhism to an intellectual skeptic
like me. However, the monks are much better in teaching Buddhism
today. Then I set my first sight on Shan-Dao-Si, which was a large
temple in Taipei with a vast collection of sutras. During that
period of time, the wide publication and circulation of Buddhist
books was very rare. The monks at Shan-Dao-Si were extremely kind
to me as they allowed me to borrow many of the precious and rare
sutras. This was a great help to me. Soon after I started to learn
Buddhism seriously, I was fortunate to meet Master Zhang-Jia. He
was a well-accomplished Esoteric practitioner who taught and
guided me in my study and practice. Just like Mr. Fang, he taught
me two hours every week for three years until he passed away. I
then went to Taizhong to follow Mr. Bing-Nan Lee and started
studying and practicing with him.
Buddhism is a special kind of knowledge; it is not a religion. In
order to derive true benefit from it, we have to understand it's
true nature. I have the utmost respect for Buddhism and I believe
Buddha Shakyamuni to be the foremost educator in the history of
the world. He was just like Confucius in that he taught everyone
tirelessly and without discrimination.
The Continuing Education System for Teachers
The continuing education system for teachers was first established
by Buddha Shakyamuni. Many of his students were well accomplished
under his instruction. Every year, these students were assigned to
teach at different places for nine months. In India, the rainy
season runs from mid-April to mid-July. Since it was inconvenient
to travel and teach during those three months, all the students
would come back to meet with the Buddha to receive additional
teachings and to learn from each other in class discussions. This
was called the summer retreat and it parallels what is currently
known as continuing education for teachers. The modern continuing
educational system is necessitated by the advancement in
technology. However, twenty-five hundred years ago, Buddha had
already adopted this idea in bringing his students back for
additional teachings.
The Artful Buddhist Teaching
Buddhist teaching is full of artistic expressions. It was
originally an education, which combined what was equivalent to
today's museum and school system. Therefore, the "Si" combined the
traditional school, library and museum. In ancient China, the
traditional school system was not universal. Most students went to
a "Si" to study because it usually had a complete collection of
books, similar to today's library. The collections included not
only sutras, but also almost every kind of publication. The monks
were familiar with Buddhism, Confucianism, Taoism and ancient
Chinese texts. They were capable of answering questions and were
well versed on various subjects. Consequently, Buddhist
institutions began to take over the educational mission for
China.
Typical Buddhist buildings are expressions of art, which are
called "Expressions of Buddhism." However, Buddha and Bodhisattva
statues do not represent polytheism, the worship of more than one
god. Each statue serves to inspire wisdom and awakening in each of
us. They also represent certain aspects of Buddhism, which remind
practitioners of the particular topic of teaching. For example,
Guan Yin Bodhisattva, the most popular Bodhisattva in China,
represents Infinite Compassion. When we see this statue, it
reminds us to apply compassion when dealing with the world, its
people and surroundings. However, people nowadays worship Guan Yin
Bodhisattva as a god and pray for the relief of suffering and to
eliminate obstacles. This is a superstitious view and
misconception because people forget the fact that the statues are
expressions of concepts in Buddhism.
Buddhist architecture is also an artistic expression, with the
temple's main cultivation hall being similar to a large meeting or
teaching hall. From the exterior, it appears to have two stories,
but there is only one story inside. The external two stories
represent "absolute truth" or the true reality of life and the
universe, and "relative truth" or worldly views still clouded with
delusion. The interior single story illustrates that both are the
same truth. To the deluded, the two appear distinct and different;
however, to the enlightened, they are one and the same.
In the center of the main cultivation hall, there are three
statues, one Buddha and two Bodhisattvas. Buddha represents the
true nature of the universe and human life, which is called
"Buddha nature" or true mind. "Buddha" is translated from
Sanskrit, and means someone who is totally enlightened. The Buddha
statue represents our original enlightenment and the Bodhisattvas
statues represent the application of our original enlightened
mind. All the representations and applications are infinite and
can be classified into two categories: wisdom and practice. For
example, the Pure Land School pays respect to the Buddha and two
Bodhisattvas of the Western Paradise. Amitabha Buddha (Infinite
Life and Infinite Light) represents the infinite enlightenment
that is an intrinsic part of our nature. Bodhisattvas Guan Yin
(Avalokiteshvara) and Da Shi Zhi (Great Strength or
Mahasthamaprapta) respectively portray compassion with kindness
and great wisdom. We should be compassionate and kind toward all
beings. Our thoughts, views and behavior should be rational rather
than emotional, for emotional behavior spells trouble. Therefore,
we should not treat the Buddha and Bodhisattvas as gods. But will
they help us? Yes, they will by providing us with the knowledge of
how to protect ourselves from delusion, thereby obtaining release
from suffering. Once we have learned the background of the
artistic components in Buddhist architecture, music and statues,
we will gain an enriched experience when paying a visit to a
traditional Buddhist temple.
However, nowadays many people do not understand the meaning and
teachings of Buddhism. They mistake the multi-representations of
Bodhisattvas as a sign of polytheism. What people fail to
understand is the fact that the statues in Buddhism are teaching
aids and not statues of gods. All Buddhas and Bodhisattvas
represent our nature and cultivation of virtue. We have infinite
capabilities within our true nature that cannot be expressed by
just one single term. Therefore, we have multiple representations;
for instance, a capable person today may have many titles on
his/her business cards to show his/her positions and
accomplishments. The Buddha and Bodhisattvas are actually
representations of the nature within ourselves: Buddha, as in our
true nature of mind, and the Bodhisattvas, in our virtue of
cultivation. We all possess these qualities. Not until we come to
realize the meaning of Buddhist symbolism, will we appreciate the
sophistication and completeness of its education.
Typical "Si" buildings are rare today. The first hall of a "Si" is
the hall of Heavenly Guardians, also known as Dharma Protectors.
Situated in the center of the hall, facing the front door, is Mi
Le Pu Sa (Maitreya Bodhisattva) who is represented by the image of
the historical monk Bu-Dai. Mi Le Pu Sa has a big smile that
conveys the idea that in order to truly learn Buddhism, one should
learn to be cheerful and courteous to all. He also has a huge
belly that represents fairness, flexibility, impartiality,
patience and tolerance.
Standing beside Mi Le Pu Sa are the four Heavenly Guardians or
Dharma Protectors. They are symbolic guardians of the
practitioners of the Buddhist way. Whom do they protect? They
protect us by reminding us to educate ourselves and to safeguard
the proper knowledge, which we should learn. Each guardian
portrays a different aspect of thought or action.
The Eastern Dharma Protector (holding a lute) symbolizes
responsibility and safeguards the territory, which means that all
of us are responsible for ourselves, our family, society and the
country as a whole. If each of us performs our duties well,
fulfilling our obligations, we support each other and ourselves as
well. The Southern Dharma Protector (holding a sword) symbolizes
progress and teaches us diligence. He emphasizes the importance of
constantly cultivating and advancing our virtue, wisdom and
knowledge, and to improve performance in ourselves and our duties.
This is similar to Confucian ideas of daily self-improvement.
The Western Dharma Protector (holding a dragon or snake)
symbolizes comprehensive vision and knowledge gained through
exposure to the world. He represents the need to open our eyes to
observe nature and man, to refine what we see and learn, and to
distinguish good from ill. The Northern Dharma Protector (holding
an umbrella) symbolizes comprehensive study and learning. Both
teach ways of practice and how to achieve the goals in
responsibility fulfillment and self-improvement. As the ancient
Chinese have said: "To read ten thousand books and to travel
ten-thousand miles." We read to gain more knowledge and travel to
observe more effectively. We will then be able to improve
ourselves and to perform our duties most effectively.
Today, people visit the Hall of Dharma Protectors to burn incense,
prostrate and offer flowers and fruit praying for protection and
safety. This is superstition. All the facilities, images of Buddha
and Bodhisattvas and any offerings made are teaching tools
designed to inspire our mind and wisdom. They also serve to remind
us of the importance of being enlightened instead of deluded,
virtuous instead of deviated, pure instead of polluted. These are
the three principles of Buddhist teaching and practice
Methods of Practicing Buddhism
The ways in practicing Buddhism are numerous, about eighty-four
thousand. Each path is different from the others but ultimately
leads to the same goals: enlightenment, proper thoughts and
viewpoints, and purity. As such, all paths are equal without one
being superior to the other. People have different abilities and
levels of accomplishment. Furthermore, they are from different
environments and should choose a path most suited to them. We can
choose any one of the three goals to concentrate our practice on.
When we achieve any one of them, the other two will come
naturally.
There are ten schools of practice in Chinese Buddhism. Zen
stresses the pursuit of the perfect clear mind or enlightenment.
The Pure Land and Tibetan Buddhism or Vajrayana school stress
obtaining the pure mind. Other schools concentrate their practice
on proper thoughts and viewpoints. Regardless of which method or
school one chooses, they all lead to the same outcome. In other
words, once we become expert in one method, we will become an
expert in all methods.
The purity of the world comes from an individual's inner purity.
With a pure mind, a mind without discrimination or attachment, a
higher level of wisdom arises in which the world around us
naturally comes into harmony. By reciting the Buddha's name,
meditating, reciting sutras or mantras, and practicing in
accordance with Buddha's teaching, one will attain enlightenment,
proper thoughts and viewpoints, and purity of mind thus becoming
void of all deluded thoughts.
On the other hand, one is totally on the wrong path if one chants
Buddha's name in the hope of gaining a promotion or wealth. That
is religion and superstition, and it goes against the teaching of
Shakyamuni Buddha.
How Buddhist Terminology Illustrate that Buddhism is an Education
Buddhism is the teaching of Buddha Shakyamuni as he was its
founder. We call Him the "Original teacher," just like the Chinese
call Confucius the "Greatest sage and teacher." The relationship
between Buddha and ourselves is a teacher-student relationship,
which is not religious in nature. In religion, there is not a
teacher-student relationship but that of father-son or
master-servant.
About twenty years ago I gave a series of lectures in Fu-Ren
Catholic University and taught in the Thomas Monastery for one
semester. I told my students, who were mainly priests and nuns, to
take refuge in the Buddha and to learn Buddhism well. There is
absolutely no conflict between Buddhism and religion, for one is
teacher-student and the other father-son. If the priests and nuns
were to practice Buddhism and in turn abandon their own religion,
I believe that even Buddha would not accept them, for it is
against human ethics to discard the parent for the teacher.
Therefore, religious followers will benefit if they practice
Buddhism. As we practice, we will attain the true wisdom to know
exactly what Heaven is like and will be able to decide when and
how we want to go there. Thus, Buddhism is a way of teaching as it
teaches us how to regain our true wisdom.
When a monk is called "He-Shang," he is equivalent to the
principal in today's school, for he is the director of educational
strategies. All other faculty members are teachers who execute the
principal's educational strategies and act as role models for the
students' behavior and speech. My late teacher, Professor Fang
constantly assured me that Buddhism is an education. Later in my
studies of the sutras, I reaffirmed his statement that Buddhism is
the pinnacle of the world's wisdom. It provides the greatest
enjoyment for humankind. I have experienced the unsurpassable joy
of being free from afflictions, delusions and wandering thoughts.
My body and mind are clean and pure, totally at ease. I am the
happiest person in the world. Therefore, I feel indebted to
Professor Fang, for without him, I would not have learned Buddhism
nor would I have such complete happiness derived from practicing
Buddha's teaching.