tóm lược như sau:
Vào thời kỳ Ðức Phật
Kassapa xuất hiện trên thế gian, Ðức Phật cùng với 20 ngàn bậc Thánh
A-ra-hán ngự đến thành Bārāṇasī. Một hôm, sau khi độ vật thực xong,
Ðức Phật thuyết pháp dạy rằng:
Này chư cận sự nam – nữ,
trong đời này:
- Có số người tự mình làm
phước bố thí, mà không động viên khuyến khích người khác cùng làm
phước bố thí, người ấy sanh nơi nào cũng có được nhiều của cải đầy đủ,
nhưng không có bạn bè, thuộc hạ thân thiết.
- Có số người động viên
khuyến khích người khác làm phước bố thí, còn mình thì không chịu đem
của cải làm phước bố thí, người ấy sanh nơi nào cũng có nhiều bạn bè,
thuộc hạ thân thiết, nhưng không có nhiều của cải.
- Có số người tự mình không
làm phước bố thí, cũng không động viên khuyến khích người khác làm
phước bố thí, người ấy sanh nơi nào cũng không có của cải, nghèo khổ
và cũng không có bạn bè, thuộc hạ thân thiết.
- Có số người tự mình làm
phước bố thí, lại còn động viên khuyến khích người khác cũng làm phước
bố thí, người ấy sanh nơi nào cũng có được của cải đầy đủ, giàu sang
phú quý và còn có nhiều bạn bè, thuộc hạ thân thiết, sống an lạc hạnh
phúc....
Một người cận sự nam có trí
tuệ ngồi nghe pháp, suy tư rằng: "ta muốn có được nhiều của cải và
được nhiều bạn bè, thuộc hạ thân thiết".
Người ấy đảnh lễ Ðức Phật
bạch rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
ngày mai con kính thỉnh Ðức Thế Tôn cùng tất cả 20.000 chư Ðại Ðức
Tăng, để làm phước bố thí vật thực.
Ðức Phật làm thinh nhận
lời, ông trở về đi thông báo cho toàn thể dân chúng trong thành biết
rằng ngày mai ông sẽ làm phước bố thí đến Ðức Phật cùng tất cả 20.000
chư Ðại Ðức Tăng, ai có khả năng làm phước bố thí đến bao nhiêu vị,
xin ghi danh. Có gia đình đăng ký 10 vị, 20 vị, 100 vị... v.v....
Khi gặp cậu Mahāduggata là
người nghèo khó nhất trong thành, ông động viên khuyến khích rằng:
Này cậu Mahāduggata, ngày
mai, tôi có thỉnh Ðức Phật cùng 20.000 Ðại Ðức Tăng để làm phước bố
thí, cậu có khả năng làm phước bố thí được bao nhiêu vị?
Thưa ông, gia đình con
nghèo khó, vợ chồng con đi làm thuê, làm được ngày nào ăn ngày ấy còn
không đủ nữa, thì lấy gì mà làm phước bố thí thưa ông?
- Này cậu Mahāduggata,
trong thành này, những người giàu sang phú quý, có nhiều của cải, có
quyền cao chức trọng... là do nhờ quả của phước thiện bố thí. Còn gia
đình cậu, ngày qua ngày làm thuê mà không đủ ăn, đó là do không làm
phước bố thí, cậu có hiểu biết rõ như vậy không?
- Thưa ông, con hiểu rồi,
xin ông cho gia đình con một vị Ðại Ðức Tăng, để cho gia đình con làm
phước bố thí ngày mai.
Ông cận sự nam hoan hỉ chấp
thuận cho gia đình cậu Mahāduggata thỉnh một vị Ðại Ðức Tăng, để làm
phước bố thí vào ngày mai, nhưng ông quên ghi vào danh sách, tiếp tục
đi động viên khuyến khích người khác nhận đủ 20.000 vị Ðại Ðức Tăng.
Sau khi được ông cận sự nam
cho lãnh một vị Ðại Ðức để làm phước bố thí vào ngày mai, cậu
Mahāduggata vô cùng hoan hỉ, trở về báo tin cho người vợ hay biết,
người vợ cũng vô cùng hoan hỉ, bàn tính nhau làm thuê kiếm gạo, đồ ăn
về để ngày mai làm phước bố thí đến một vị Ðại Ðức.
Mahāduggata đi tìm việc
làm, ông phú hộ nhìn thấy cậu gọi lại thuê chẻ đống củi, để ngày mai
nấu đồ ăn dâng cúng đến chư Ðại Ðức Tăng, cậu vô cùng hoan hỉ, lấy búa
chẻ một lát là xong ngay, ông phú hộ ngạc nhiên hỏi:
- Này Mahāduggata, sao hôm
nay cậu làm việc siêng năng và nhanh nhẹn đến thế?
- Thưa ông, ngày mai gia
đình con có làm phước bố thí đến một vị Ðại Ðức, nên con cảm thấy hoan
hỉ, sung sướng làm việc không biết mệt.
Ông phú hộ ca tụng cậu, làm
một việc khó làm. Ông trả công cho 4 ô gạo sāli (loại gạo ngon).
Về phần vợ của cậu đi giúp
việc nhà bếp cho bà phú hộ, cô rất hân hoan làm công việc nhà bếp sạch
sẽ gọn gàng, nhanh nhẹn, làm cho bà phú hộ hài lòng lại vừa ngạc nhiên
hỏi.
- Này con, sao hôm nay con
có vẻ vui sướng, làm việc giỏi quá vậy?
- Thưa bà, ngày mai gia
đình con có làm phước bố thí đến một vị Ðại Ðức, nên con cảm thấy sung
sướng làm việc để được những món gia vị làm đồ ăn ngày mai.
Nghe nói vậy, bà phú hộ ca
tụng làm một việc khó làm! Bà trả công bằng bơ, dầu, đồ dùng....
Vợ chồng Mahāduggata vô
cùng hoan hỉ được gạo ngon, dầu bơ, đồ dùng để làm phước bố thí vào
hôm sau.
Sáng sớm hôm sau, người vợ
thưa với chồng, sáng nay anh đi kiếm một ít rau về nấu một bát canh,
Mahāduggata đi ra khỏi nhà, vừa đi vừa ca hát, đi ngang bến ghe chài;
đêm hôm trước, người dân chài bắt được nhiều cá vừa cập bến, nghe
tiếng ca hát của Mahāduggata bèn gọi:
- Này Mahāduggata cậu đi
đâu đó? Sao hôm nay vui sướng quá vậy? Hãy xuống đây giúp tôi đem cá
bán, rồi tôi sẽ cho ít con cá.
- Này bạn, hôm nay gia đình
tôi có làm phước bố thí đến một vị Ðại Ðức, tôi vui sướng đi tìm rau
về nấu canh, may quá, có được cá lại càng tốt.
Mahāduggata hăng hái đem cá
bán, hôm ấy dân chúng trong thành mua cá làm đồ ăn để làm phước bố thí
cúng dường đến chư Ðại Ðức Tăng, nên phần cá bán không còn con nào cả.
Cậu nóng lòng muốn về nhà cho kịp làm phước bố thí, bèn hỏi người chủ
thuyền:
- Này bạn, phần cá của tôi
đâu?
- Bạn đừng lo, tôi còn một
phần cá đặc biệt cất dưới ghe, để tôi lấy cho bạn.
Người chủ đem cho
Mahāduggata 4 con cá hồi (Rohitamaccha). Cậu vội vàng đem về
nhà.
Canh chót đêm ấy, Ðức Thế
Tôn nhập đại bi định, khi xả định quán xét chúng sinh nào có duyên
lành nên tế độ; Ðức Phật nhìn thấy Mahāduggata là người có đức tin
trong sạch, nhận lãnh một vị Ðại Ðức để làm phước bố thí, nhưng người
cận sự nam quên ghi vào danh sách, đến khi Mahāduggata gặp người cận
sự nam xin nhận lãnh vị Ðại Ðức thỉnh về nhà, thì không còn một vị Ðại
Ðức nào cả. Vậy chính Như Lai sẽ tế độ Mahāduggata mà thôi.
Vua trời Sakka cảm thấy chỗ
ngồi phát nóng, quán xét thấy rõ hôm nay Mahāduggata sẽ làm phước bố
thí cúng dường Ðức Phật, nên hiện xuống giúp đỡ y để tạo phước thiện.
Vua trời Sakka biến hóa thành một người đầu bếp tài giỏi đến xin giúp
việc cho Mahāduggata không lấy tiền công, chỉ bỏ công làm phước thiện
mà thôi. Mahāduggata đồng ý chấp thuận, xin mời vào nhà lo giúp việc
nấu ăn, vua trời Sakka nấu cơm, các món ăn đều bỏ đồ gia vị cõi trời,
hương trời, đức vua Sakka bảo rằng:
- Này bạn, công việc nấu
nướng để tôi lo, bạn đi thỉnh vị Ðại Ðức về nhà cho kịp giờ.
Mahāduggata đi đến tìm
người cận sự nam xin thỉnh một vị Ðại Ðức, mà ông đã động viên khuyến
khích. Khi đến gặp ông, hởi ôi! Ông đã quên, nên không còn một vị Ðại
Ðức nào cả, y thất vọng buồn tủi ôm mặt khóc; mọi người nhìn thấy y
đáng thương và trách người cận sự nam ấy, người cận sự nam ấy an ủi y
và hướng dẫn y rằng: còn Ðức Phật ở trong cốc chưa mở cửa. Ðức vua,
các quan, phú hộ đang trông chờ Ðức Phật mở cửa để thỉnh bát của Ngài.
Chư Phật thường tế độ những người nghèo khó, vậy nhà ngươi hãy vào xin
Ðức Phật tế độ.
Nghe nói vậy, đôi mắt của
Mahāduggata sáng lên, niềm hy vọng phát sanh, y dũng cảm đến trước cửa
cốc, đảnh lễ, đầu va chạm vào cửa, bạch rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn,
trong thành này người nghèo khó hơn con không có, kính xin Ngài có
lòng đại bi tế độ con, bạch Ngài.
Ðức Phật mở cửa trao bình
bát trên tay y. Y được bình bát của Ðức Phật mừng hơn được ngai vàng
của Ðức Chuyển luân thánh vương. Ðức vua, các quan, phú hộ xin lại
bình bát trên tay y hứa sẽ ban cho y nhiều tiền của, nhưng y không
màng đến.
Y kính thỉnh Ðức Phật về
đến nhà, Ðức vua trời Sakka hóa thành người đầu bếp đã làm xong vật
thực ngon lành, trải chỗ ngồi cao quý, thỉnh Ðức Phật vào nhà.
Khi Ðức Phật bước vào, thì
căn nhà cao hẳn lên, nên Ngài không phải cúi khom người xuống, Ngài
ngự trên chỗ ngồi đã trải sẵn. Còn Ðức vua trời là người đầu bếp đã
làm xong những món vật thực, liền bảo Mahāduggata đem những món vật
thực dâng cúng đến Ðức Phật. Mùi thơm của các món vật thực toả khắp cả
kinh thành Bārāṇasī. Trong khi đó, Ðức vua cùng các quan, phú hộ đi
theo sau Ðức Phật đến nhà của Mahāduggata để biết xem y làm phước bố
thí cúng dường Ðức Phật bằng những món vật thực gì, khi đến nơi ngửi
được mùi thơm của những món vật thực, mà trong đời chưa từng ngửi bao
giờ. Ðức vua trời Sakka đảnh lễ Ðức Phật.
Ðộ vật thực xong, Ðức Phật
thuyết pháp tế độ gia đình Mahāduggata, rồi Ngài ngự trở về chùa,
Mahāduggata ôm bát theo sau tiễn đưa Ðức Phật.
Ðức vua trời Sakka hoan hỉ
phước thiện bố thí xong, cũng trở về cung Tam thập tam thiên.
Khi Mahāduggata trở về đứng
trước cửa, nhìn thấy từ hư không mưa rơi 7 thứ báu vật xuống đầy nhà,
người vợ dắt tay đứa con ra khỏi nhà, trong nhà đầy cả 7 thứ báu vật
không còn chỗ nào trống.
Y nghĩ rằng: "đó là quả
báu của phước thiện bố thí của chúng ta ngày hôm nay". Mahāduggata
liền đến hầu Ðức vua tâu rằng:
- Tâu Ðức vua, nhà của tiện
dân đầy cả thất báu, xin bệ hạ đem 1.000 chiếc xe đến nhà tiện dân chở
tất cả thất báu ấy về cung điện.
Ðức vua truyền quân lính
trong triều đình đem 1.000 chiếc xe chở tất cả 7 thứ báu vật đem về
chất thành đống trước sân rồng. Ðức vua truyền hỏi:
- Trong thành này, người
nào có của cải nhiều như thế này không?
Tất cả
- Tâu Hoàng thượng, không một người nào có nhiều của báu như
thế cả. đều tâu.
Do đó, Ðức vua tấn phong
Mahāduggata địa vị đại phú hộ, rồi truyền rằng: tất cả của cải này là
quả báu phước thiện bố thí của nhà ngươi, vậy nhà ngươi hãy nhận lấy.
Ðức vua cấp đất đai, xây
cất những căn nhà lớn, cấp nhiều gia nhân. Khi xây cất nhà xong, phú
hộ Mahāduggata thỉnh Ðức Phật cùng chư Ðại Ðức Tăng làm phước đại bố
thí suốt 7 ngày và từ đó về sau y thường bố thí, giữ giới, tạo mọi
thiện pháp cho đến hết tuổi thọ, do năng lực mọi phước thiện ấy cho
quả tái sanh lên cõi trời dục giới hưởng mọi sự an lạc.
Ðến thời kỳ Ðức Phật Gotama
xuất hiện trên thế gian, hậu thân của Mahāduggata, do năng lực phước
thiện ấy cho quả tái sanh vào lòng con gái của gia đình phú hộ, là
người hộ độ Ngài Ðại Ðức Sāriputta, khi sanh ra đời đặt tên là
"Paṇṇita".
Lớn lên 7 tuổi, cậu bé
Paṇṇita xin mẹ cha cho phép xuất gia trở thành Sa di Paṇṇita với Ngài
Ðại Ðức Sāriputta là thầy tế độ.
Cha mẹ của Ngài đến chùa
làm phước thiện bố thí vật thực đặc biệt có món cá hồi
(Rohitamaccha) đến Ðức Phật cùng chư Ðại Ðức Tăng, suốt 7 ngày.
Qua đến ngày thứ 8, Sa di Paṇṇita tiến hành thiền tuệ chứng ngộ chân
lý Tứ thánh đế, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo – Nhập Lưu Thánh Quả
cho đến A-ra-hán Thánh Ðạo – A-ra-hán Thánh Quả cùng với Tứ tuệ phân
tích, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, hoàn thành xong phận sự của Sa
môn.
Ngài Ðại Ðức Sāriputta đi
khất thực độ xong, còn đem một phần vật thực, trong đó có món cá hồi
về cho Sa di Paṇṇita, theo nguyện vọng của Sa di, người đệ tử có sắc
thân bé nhỏ, song tâm là bậc Thánh A-ra-hán cao thượng.
Làm phước bố thí đến Ðức
Phật với đức tin trong sạch, hoan hỉ trong phước thiện, quả báu của
phước thiện bố thí ấy không chỉ ngay trong kiếp hiện tại giàu sang phú
quý, những kiếp vị lai đầy đủ của cải thế gian, mà còn kiếp chót cũng
có đầy đủ 9 pháp siêu tam giới đó là: 4 Thánh Ðạo – 4 Thánh Quả và
Niết Bàn nữa.
được
tóm lược như sau:
Ðức Bồ Tát sắp hết tuổi thọ
tại cung Tam thập tam thiên, Ðức vua trời Sakka khuyến khích tái sanh
đầu thai vào lòng chánh cung hoàng hậu Sīlavatī của Ðức vua
Okkākarājā.
Chấp thuận theo lời khuyên
của Ðức vua Sakka, Ðức Bồ Tát sau khi từ giã (chết) cõi trời, do thiện
nghiệp cho quả tái sanh vào lòng chánh cung hoàng hậu Sīlavatī, đúng
10 tháng chào đời có thân hình xấu xí đáng ghê sợ, được đặt tên
Kusakumāra: thái tử Kusa.
Ðức Bồ Tát trưởng thành có
trí tuệ siêu việt, có đầy đủ tài nghệ xuất chúng do bẩm tính tự nhiên,
không hề theo học một vị thầy nào cả. Ðức Bồ Tát có một người em trai
là hoàng tử Jayampati.
Khi Ðức Bồ Tát lên 16 tuổi,
vua cha có ý định muốn truyền ngôi báu cho Ðức Bồ Tát, vì nhận thấy
Ngài có đầy đủ tài xuất chúng, không một ai sánh kịp, có oai lực phi
thường, đặc biệt có giọng nói như sư tử chúa rống, làm cho mọi kẻ thù
kinh hồn bạt vía.
Ðức vua Okkāka cùng chánh
cung hoàng hậu Sīlavatī bàn tính tìm một công chúa của một Ðức vua nào
trong cõi Nam thiện bộ châu, đem về tấn phong ngôi chánh cung hoàng
hậu. Hoàng hậu Sīlavatī truyền người hầu đến hỏi ý kiến Ðức Bồ Tát.
Ðức Bồ Tát suy nghĩ rằng:
ta có thân hình xấu xí đáng ghê sợ như thế này, còn công chúa có sắc
đẹp, khi nàng nhìn thấy ta sẽ khinh ghét bỏ đi. Như vậy, chỉ làm cho
ta xấu hổ mà thôi, không ích lợi gì. Ðiều tốt hơn, ta sống trong cung
điện này lo phụng dưỡng phụ vương và mẫu hậu, đến khi hai Người băng
hà, ta sẽ xuất gia trở thành đạo sĩ sống trong rừng núi tu hành.
Nghĩ như vậy, nên Ðức Bồ
Tát trả lời cho người hầu biết rằng:
- Ta không muốn làm vua,
không muốn vợ con, ta muốn lo phụng dưỡng phụ vương và mẫu hậu của ta,
cho đến khi hai Người băng hà; lúc ấy ta sẽ xuất gia trở thành đạo sĩ
sống trong rừng núi.
Người hầu về tâu với hoàng
hậu, hoàng hậu tâu lên Ðức vua; Ðức vua không chấp thuận, truyền cho
người đến báo cho thái tử biết ý định của Ðức vua là "thái tử phải
lên ngôi, phải có chánh cung hoàng hậu". Ðức Bồ Tát 2 – 3 lần vẫn
từ chối không chấp nhận. Về sau Ðức Bồ Tát suy xét về phận làm con, từ
chối lời khẩn khoản của cha mẹ nhiều lần là điều không nên, vậy ta nên
tìm cách khác vậy.
Ðức Bồ Tát, tự mình đúc một
pho tượng một cô gái bằng vàng xinh đẹp tuyệt vời, cho mặc y phục,
trang hoàng những đồ nữ trang quý giá, mang giầy dép... giống hệt như
cô gái thật xinh đẹp tuyệt vời (không ai ngờ rằng đó là pho tượng).
Ðức Bồ Tát cho người đem
đến trình mẫu hậu, cùng với lời tâu rằng: "Công chúa nào thật xinh
đẹp tuyệt vời như pho tượng này, thì con mới chịu làm lễ kết hôn với
công chúa ấy".
Hoàng hậu truyền gọi các
quan rồi phán rằng:
- Thái tử của ta là bậc đại
phước, do Ðức vua trời Sakka ban cho, thái tử chỉ muốn kết hôn cùng
với công chúa xinh đẹp như pho tượng này. Vậy, các ngươi hãy đem pho
tượng này so sánh cùng khắp cõi Nam thiện bộ châu, nếu gặp công chúa
của Ðức vua nào có thân hình xinh đẹp như pho tượng này, thì xin dâng
pho tượng này đến Ðức vua ấy rồi tâu rằng: "Ðức vua Okkāka muốn kết
tình thông gia với Ðại Vương, sẽ làm lễ thành hôn thái tử với công
chúa của Ðức vua ... Xin hẹn ngày làm lễ, rồi các ngươi cấp tốc trở về
tâu lại cho ta rõ".
Các quan tuân lệnh Hoàng
hậu, đặt pho tượng trên xe, đưa đi đến các nước lân bang, đặt nơi kinh
thành và có nhiều người qua lại, còn các quan ẩn nấp một nơi để lắng
nghe lời phê bình về pho tượng.
Người ta nhìn qua pho tượng
đều trầm trồ khen ngợi rằng:
- Cô gái này xinh đẹp tuyệt
vời, có khác gì thiên nữ, ở xứ ta không có công chúa nào xinh đẹp như
cô gái này; cô gái này ở xứ nào đến mà đứng ở đây?
Ðược lắng nghe như vậy, các
quan biết xứ này không có công chúa nào xinh đẹp như pho tượng, nên
chở pho tượng sang xứ khác. Cuối cùng đến xứ Madda của Ðức vua Madda
trị vì ở kinh thành Sāgala; đem pho tượng đến kinh thành Sāgala, đặt ở
bến sông có nhiều người qua lại để lấy nước.
Ðức vua Madda có 8 công
chúa, công chúa lớn nhất tên Pabhāvatī bởi cô có sắc đẹp tuyệt trần,
có ánh sáng hào quang toả ra từ sắc thân, như một thứ ánh sáng mát dịu
của mặt trời, cả đêm lẫn ngày. Trong căn phòng của công chúa, ban đêm
không cần dùng đèn cũng có thể nhìn thấy mọi vật như ban ngày. Công
chúa có một người nữ hầu thân tín tên Khujjā (nữ còng lưng).
Bà hầu Khujjā sai bảo 8 nữ
tỳ đi lấy nước ở bến sông đem về cho công chúa Pabhāvatī dùng. Các nữ
tỳ nhìn từ xa thấy pho tượng, tưởng là công chúa Pabhāvatī đứng nơi
đó, nên lại gần lễ phép thưa công chúa, chẳng nghe nói năng gì, nhìn
kỹ mới biết không phải là công chúa chủ của mình, đấy chỉ là pho tượng
bằng vàng, các nữ tỳ cảm thấy mắc cở vì bị hớ, liền chê trách rằng:
- Pho tượng này có giá trị
gì đâu, so với công chúa chủ của chúng ta!
Lắng nghe rõ lời phê bình
của các nữ tỳ, các quan tìm đến hỏi:
- Này quý cô, quý cô nói
công chúa của quý cô xinh đẹp hơn pho tượng này phải không?
- Thưa phải! Pho tượng này
so với công chúa của chúng tôi có đáng giá gì đâu! – Một nữ tỳ trưởng
nhóm trả lời.
- Công chúa của quý cô có
quý danh gọi là gì?
- Công chúa có quý danh gọi
là Pabhāvatī, công chúa lớn của đức vua Madda. – Thưa ông.
Các quan vô cùng hoan hỉ,
cám ơn các cô, rồi đem pho tượng đặt lên xe đi thẳng đến cửa cung điện
của đức vua Madda, nhờ người lính gác cửa vào tâu lên Ðức vua rằng:
- Có sứ giả của đức vua
Okkāka ở kinh thành Kusavatī xứ Malla đang đứng chờ ngoài ngọ môn, xin
được vào yết kiến Hoàng thượng.
Ðức vua truyền lệnh mời các
quan sứ giả vào triều bệ kiến.
- Muôn tâu Ðại vương, Hoàng
thượng của kẻ hạ thần là đức vua Okkāka kính lời vấn an Ðại vương,
kính chúc Ðại vương vạn tuế.
Ðức vua cám ơn rồi truyền
hỏi rằng:
- Các ngươi đến đây, chắc
còn có quốc sự gì quan trọng, hãy tâu trình cho Trẫm rõ.
- Muôn tâu Ðại vương! Hoàng
thượng của kẻ hạ thần có một thái tử tên Kusakumāra, có giọng nói hùng
dũng như tiếng sư tử chúa rống, Hoàng thượng của chúng thần muốn
truyền ngôi báu cho thái tử, kén chọn công chúa tấn phong lên ngôi
chánh cung hoàng hậu. Người truyền lệnh kẻ hạ thần đến yết kiến Ðại
vương, xin Ðại vương ban công chúa Pabhāvatī kết hôn cùng thái tử
Kusakumāra. Khi thái tử lên ngôi, sẽ tấn phong công chúa Pabhāvatī lên
ngôi chánh cung hoàng hậu.
Các quan sứ giả dâng pho
tượng vàng lên Ðức vua Madda, Ðức vua rất hoan hỉ tiếp nhận pho tượng
và nghĩ rằng: "công chúa của ta được kết hôn với thái tử một nước
lớn, thì thật là vinh hạnh cho xứ sở của ta".
Các quan sứ giả xin phép
trở về nước, để trình tâu lên đức vua Okkāka được rõ, và sẽ chọn ngày
ngự đến đón rước công chúa Pabhāvatī.
Ðức vua Madda phán rằng:
Tốt lắm! Rồi truyền lệnh tiễn đưa các quan trở về nước.
Khi các quan về đến kinh
thành Kusavatī, vào yết kiến Ðức vua cùng Hoàng hậu tâu trình việc tìm
được công chúa Pabhāvatī xinh đẹp tuyệt trần rồi cùng chọn ngày đón
rước công chúa Pabhāvatī, Ðức vua Okkāka, hoàng hậu Sīlavatī cùng các
quan quân một đoàn hộ giá đông đảo rời khỏi kinh thành Kusavatī ngự
đến xứ Madda. Ðức vua Madda làm lễ đón rước đức vua Okkāka, hoàng hậu
Sīlavatī cùng đoàn hộ giá ngự vào kinh thành Sāgala, tổ chức buổi lễ
rất long trọng tại cung điện đức vua Madda.
Trải qua 2 – 3 ngày hoàng
hậu Sīlavatī rất thông minh, có trí tuệ sáng suốt, muốn nhìn mặt công
chúa Pabhāvatī, nên tâu với Ðức vua Madda rằng:
- Thưa Ðức vua, chúng tôi
xin phép nhìn mặt nàng dâu có được hay không?
- Ðược lắm. – Ðức vua Madda
đáp lời rồi truyền gọi công chúa Pabhāvatī đến yết kiến đức vua Okkāka
và hoàng hậu Sīlavatī.
Công chúa Pabhāvatī trang
điểm những đồ trang sức quý giá tăng thêm vẻ đẹp tuyệt trần như thiên
nữ cùng nhóm nữ tỳ đông đảo tuỳ tùng theo sau đến bệ kiến Ðức vua cùng
Hoàng hậu.
Hoàng hậu nhìn thấy công
chúa Pabhāvatī nghĩ rằng: công chúa đẹp tuyệt trần như thiên nữ, có
ánh sáng hào quang mát dịu, còn thái tử có thân hình xấu xí, đáng ghê
sợ, nếu công chúa nhìn thấy thái tử, thì không thể nào sống chung với
nhau được, chắc chắn sợ hãi ghét bỏ đi. Ta nên tìm cách giúp Thái tử.
Hoàng hậu thưa với đức vua
Madda rằng:
- Thưa Ðại vương, công chúa
Pabhāvatī thật xứng đáng với thái tử của chúng tôi. Trong dòng vua của
chúng tôi có một truyền thống, không biết công chúa có thể hành theo
truyền thống ấy được hay không?
- Truyền thống thế nào, tâu
Hoàng hậu? – Ðức vua Madda thưa.
- Thưa Ðại vương, ban ngày
hoàng hậu không được phép diện kiến Ðức vua, chỉ gặp nhau trong căn
phòng lúc ban đêm. Cho đến khi nào hoàng hậu thụ thai. Khi ấy, hoàng
hậu diện kiến Ðức vua lúc ban ngày. Nếu công chúa Pabhāvatī hành theo
truyền thống ấy được, chúng tôi đón rước công chúa.
Ðức vua Madda truyền hỏi
công chúa:
- Này con, con có thể hành
theo truyền thống ấy được không?
- Tâu phụ vương, con có
thể. – Công chúa tâu.
Sau đó, đức vua Okkāka làm
lễ dâng nhiều của cải quý giá đến đức vua Madda, rước công chúa
Pabhāvatī trở về kinh thành Kusavatī.
Phần đức vua Madda làm lễ
tiễn đưa công chúa Pabhāvatī với đoàn tuỳ tùng đông đảo.
Ðức vua Okkāka về đến kinh
thành Kusavatī, truyền chiếu chỉ trang hoàng toàn kinh thành, cung
điện làm lễ mừng ngày lễ đăng quang thái tử lên ngôi báu trị vì đất
nước, tấn phong công chúa Pabhāvatī lên ngôi chánh cung hoàng hậu.
Ðức vua truyền lệnh phóng
thích tất cả tù nhân, truyền chiếu chỉ đến các nước lân bang rằng:
"Từ nay, đức vua Kusa trị vì toàn thể đất nước Malla rộng lớn này, các
nước trong cõi Nam thiện bộ châu, Ðức vua nào có công chúa, xin dâng
công chúa đến đức vua Kusa để gây tình thân thiện; và gởi các hoàng tử
đến cầu thân để được Ðức vua bảo hộ".
Ðức vua Kusa trị vì đất
nước rộng lớn, có oai lực phi thường, đặc biệt có giọng nói như tiếng
rống của sư tử chúa, khiến cho các nước lân bang đều khâm phục. Cho
nên trong nước được an lành thịnh vượng.
Hoàng hậu Pabhāvatī không
diện kiến đức vua Kusa ban ngày, và đức vua Kusa cũng không nhìn thấy
rõ mặt hoàng hậu Pabhāvatī; Ðức vua và hoàng hậu chỉ gần gũi nhau lúc
ban đêm; bình thường ban đêm hoàng hậu Pabhāvatī ở một mình, thân hình
toả ra ánh sáng hào quang mát dịu như ban ngày, nhưng khi nào Ðức vua
Bồ Tát đến gần hoàng hậu, do oai lực của Ðức Bồ Tát thì ánh sáng hào
quang kia biến mất, chỉ có bóng tối ban đêm, cho nên, Ðức vua và hoàng
hậu không thể nhìn thấy mặt nhau được.
Ðức vua muốn nhìn thấy mặt
hoàng hậu Pabhāvatī ban ngày, nên đến nhờ mẫu hậu của Ngài giúp đỡ. Bà
ngăn cấm rằng:
- Hoàng nhi hãy chờ đợi một
thời gian nữa, cho đến khi nào có được một hoàng tử.
Ðức vua Bồ Tát nóng lòng
muốn nhìn xem mặt hoàng hậu, đến cầu xin khẩn khoản mẫu hậu của Ngài,
nhiều lần, bà cũng phải chìu theo, bà dạy rằng:
- Hoàng nhi đến chuồng voi,
đóng vai người nài voi, mẫu hậu sẽ dẫn nàng đến chuồng voi xem voi của
Ðức vua.
Mẫu hậu của Ngài dẫn hoàng
hậu Pabhāvatī đến xem voi trong chuồng voi, Ðức Bồ Tát đứng nơi đó
nhìn thấy hoàng hậu xinh đẹp tuyệt trần, cảm hứng quá lấy phân voi ném
đằng sau hoàng hậu Pabhāvatī, làm cho hoàng hậu tức giận truyền rằng:
- Ta sẽ trình tâu Ðức vua,
truyền lệnh chặt tay của ngươi!
Bà Hoàng thái hậu năn nỉ
tha thứ tội lỗi cho người nài.
Lần sau, Ðức Bồ Tát muốn
nhìn xem mặt hoàng hậu, mẫu hậu của Ngài dẫn hoàng hậu đến chuồng
ngựa; Ngài đóng vai người giữ ngựa, nhìn thấy hoàng hậu, lại lấy phân
ngựa ném đằng sau hoàng hậu. Hoàng hậu tức giận, bà Hoàng thái hậu lại
năn nỉ tha tội cho người giữ ngựa.
Một hôm, hoàng hậu
Pabhāvatī muốn nhìn xem mặt Ðức vua, bà mẫu hậu không thể từ chối nên
bảo nàng rằng:
- Ngày mai, Ðức vua sẽ đi
dạo quanh kinh thành, con hãy đứng ở cửa sổ nhìn xuống.
Bà hoàng thái hậu truyền
lệnh kinh thành trang hoàng đẹp đẽ, Ðức vua đi dạo, bà truyền dạy
hoàng tử Jayampati (hoàng đệ của Ðức Bồ Tát) trang phục Ðức vua
ngồi lên lưng bạch tượng, còn Ðức Bồ Tát đóng vai người nài voi ngồi
đằng sau, bạch tượng đi ngang qua lâu đài của hoàng hậu, hoàng hậu
đứng cửa sổ nhìn xuống, Ðức Bồ Tát nhìn lên lấy tay vẫy, có cử chỉ
không lịch sự, hoàng hậu thấy không hài lòng, nhưng nàng tự nghĩ: Ðức
vua thật xứng với ta.
Bà hoàng thái hậu truyền
dạy:
- Con đã nhìn thấy Ðức vua
rồi phải không?
- Tâu thái hậu, con đã nhìn
thấy rồi, con rất hài lòng, nhưng sao lại tuyển chọn người nài voi xấu
xí đáng ghê sợ, có những cử chỉ vô lễ với Ðức vua và con nữa.
Bà hoàng thái hậu khuyên
hoàng hậu nên tha tội cho người nài voi kia.
Hoàng hậu suy nghĩ: mấy
hôm trước người nài voi, người giữ ngựa, nay cũng chính y. Tại sao y
lại được hưởng đặc ân của triều đình đến như vậy? Có phải y chính là
đức vua Kusa hay không? Hoàng hậu bắt đầu hoài nghi về nhân vật
này.
Ðức Bồ Tát lại muốn nhìn
thấy tận mặt hoàng hậu, đến xin mẫu hậu của Ngài giúp đỡ. Bà hoàng
thái hậu nhận thấy hoàng hậu không vui, bà dẫn đi dạo thượng uyển, đến
hồ sen nước trong, hoa sen nở rộ, Ðức Bồ Tát ngâm mình dưới hồ, lấy lá
sen che mặt; hoàng hậu nhìn thấy nước hồ trong trẻo, có nhiều loại hoa
sen xinh đẹp, nàng muốn xuống hồ để tắm, cùng với các nữ tỳ. Nàng nhìn
thấy một hoa sen xinh đẹp, vớ tay định hái đoá hoa sen, tại nơi ấy Ðức
Bồ Tát ẩn mình, nổi lên nắm lấy cánh tay hoàng hậu la lớn rằng: "Ta
là đức vua Kusa!". Hoàng hậu tận mắt nhìn thấy rõ mặt mày, thân
hình xấu xí đang ghê sợ của Ðức Bồ Tát làm cho hoàng hậu chết giấc,
các nữ tỳ đem hoàng hậu cứu chữa mới tỉnh lại. Khi hoàn hồn, hoàng hậu
nhớ lại những sự kiện đã xảy ra trước kia: người nài voi ném phân
voi, người giữ ngựa ném phân ngựa, người nài voi ngồi sau bạch tượng
cũng chính là người này, đức vua Kusa, không phải ai khác.
Hoàng hậu gọi các quan lo
xe giá đưa bà trở về cố quốc ngay hôm ấy, các quan tâu Ðức vua rõ. Ðức
vua nghĩ rằng: nếu cấm hoàng hậu, nàng có thể đứng tim chết thôi, nên
đành để cho nàng trở về kinh thành Sāgala. Sau đó, ta sẽ tìm cách rước
nàng trở lại.
Ðức vua truyền lệnh chuẩn
bị xe giá sang trọng tiễn đưa Chánh cung hoàng hậu về kinh thành
Sāgala.
Do nghiệp lực nào, đức vua
Kusa có thân hình xấu xí, đáng ghê sợ?
Do nghiệp lực nào, đức vua
Kusa chỉ sủng ái một mình hoàng hậu Pabhāvatī mà không quan tâm đến
các cung phi mỹ nữ khác?
Và do nguyện lực nào, hoàng
hậu Pabhāvatī có sắc đẹp tuyệt trần, có ánh sáng hào quang toả ra từ
sắc thân của bà suốt ngày đêm, nhưng khi đức vua Kusa đến gần, ánh
sáng kia biến mất.
Do nguyện lực nào hoàng hậu
Pabhāvatī không muốn sống chung với đức vua Kusa?
Tất cả mọi quả ắt hẳn phát
sanh từ nhân. Quả có nghĩa là quả của nghiệp và nhân chính là nghiệp.
Ðức vua Kusa và hoàng hậu Pabhāvatī đều là hiện thân quả của nghiệp.
Vậy quả của nghiệp nào, nên tìm hiểu qua tích tiền kiếp cuả đức vua
Kusa và hoàng hậu Pabhāvatī được tóm lược như sau:
Trong quá khứ, một làng ở
gần cửa thành Bārāṇasī có hai gia đình:
Một gia đình có hai người
con trai: một anh cả và một người em thứ là Ðức Bồ Tát.
Một gia đình kia có một
người con gái.
Bên nhà trai xin cưới con
gái của gia đình kia về làm vợ của người con cả. Người con thứ chưa có
vợ vẫn sống chung với nhau một nhà.
Một hôm, người chị dâu làm
bánh chiên rất ngon, gia đình đông đủ, chỉ có người em chồng vắng mặt,
vì đi làm ở trong rừng; người chị dâu dành phần bánh cho người em
xong, cả gia đình cùng nhau dùng hết bánh.
Khi ấy, Ðức Phật Ðộc Giác
đi khất thực đến đứng trước cửa nhà, người chị dâu phát sanh đức tin
trong sạch, nên nghĩ rằng: "ta nên lấy phần bánh để dành cho người
em chồng, để bát cúng dường đến Ðức Phật Ðộc Giác xong, rồi ta sẽ làm
phần bánh chiên khác thay thế". Khi người chị dâu đem phần bánh
chiên dâng cúng đến Ðức Phật Ðộc Giác xong; vừa lúc đó, người em chồng
từ rừng trở về nhà hỏi phần bánh chiên của mình; người chị chồng nói
rằng:
- Chú ạ! Phần bánh chiên
của chú chị đã đem dâng cúng đến Ðức Phật Ðộc Giác rồi, chú hoan hỉ
ráng đợi chị một lát, chị sẽ làm phần bánh chiên khác cho chú ngay.
Nghe nói vậy, người em
chồng nổi giận nói rằng:
- Chị ăn phần bánh của mình
hết rồi, lại lấy phần bánh chiên của tôi đem dâng đến Ðức Phật Ðộc
Giác, tôi lấy gì ăn đây?
Người em chồng tức giận đi
đến Ðức Phật Ðộc Giác lấy lại phần bánh chiên. Thấy vậy, người chị dâu
vội vã đi về nhà cha mẹ của mình lấy bơ lỏng còn mới và trong trẻo có
màu giống như hoa mộc lan, dâng cúng đến Ðức Phật Ðộc Giác đầy bát,
thay thế phần bánh chiên kia. Bơ lỏng toả ra ánh sáng trong, nhìn
thấy, nàng vô cùng hoan hỉ, nên thành tâm phát nguyện rằng:
- Kính bạch Ngài, do năng
lực phước thiện bố thí này, kiếp sau, cầu xin cho con có được sắc thân
xinh đẹp tuyệt trần, không một ai sánh kịp, có ánh sáng hào quang toả
ra từ sắc thân suốt đêm ngày và xin đừng sống chung với hạng người ác
như chú em chồng của con.
Nghe rõ lời phát nguyện của
người chị dâu, người em chồng (Ðức Bồ Tát) vội vàng dâng cúng
để bát Ðức Phật Ðộc Giác phần bánh chiên của mình đè lên trên bơ lỏng
của người chị dâu rồi phát nguyện rằng:
- Kính bạch Ngài, do năng
lực phước thiện bố thí này, kiếp sau chị dâu của con dầu ở xa hằng
trăm do tuần, cầu xin cho con có đủ khả năng rước đem về làm vợ của
con.
Người chị dâu sau khi chết,
do năng lực phước thiện bố thí là thiện nghiệp cho quả tái sanh lên
cõi trời hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời; về sau tái sanh cõi người
là công chúa Pabhāvatī, con của đức vua Madda.
Công chúa Pabhāvatī có sắc
thân xinh đẹp tuyệt trần, có ánh hào quang toả ra từ sắc thân suốt đêm
ngày. Như vậy, được thành tựu đúng theo lời phát nguyện.
Hoàng hậu Pabhāvatī không
muốn sống chung với đức vua Kusa. Như vậy, được thành tựu đúng theo
lời phát nguyện.
Người em chồng, sau khi
chết, do năng lực phước thiện là thiện nghiệp cho quả tái sanh
lên cõi trời hưởng mọi sự an lạc, đến khi hết tuổi thọ, đức vua Sakka
thỉnh tái sanh cõi người vào lòng chánh cung hoàng hậu Sīlavatī của
Ðức vua Okkāka xứ Malla. Sau khi tái sanh, ác nghiệp nổi giận
lấy lại phần bánh chiên của mình từ trong bát của Ðức Phật Ðộc Giác,
cho quả có thân hình xấu xí đáng ghê sợ.
Thái tử Kusa lên ngôi làm
vua trị vì một nước lớn, có nhiều oai lực có giọng nói như sư tử chúa
rống, làm cho kẻ thù kinh hồn bạt vía. Ðó là do quả của thiện nghiệp.
Thái tử Kusa rước công chúa
Pabhāvatī đem về tấn phong chánh cung hoàng hậu. Như vậy, được thành
tựu đúng theo lời phát nguyện.
Lời phát nguyện của tiền
thân hoàng hậu Pabhāvatī mọi điều đã được thành tựu như ý.
Còn lời phát nguyện của Ðức
Bồ Tát thì thế nào?
Sau khi hoàng hậu Pabhāvatī
đã trở về đến kinh thành Sāgala của vua cha rồi, ngày đêm, đức vua
Kusa tâm trí luôn luôn nhớ thương đến một mình hoàng hậu không nguôi.
Mặc dầu trong cung điện có nhiều cung phi mỹ nữ mà Ðức vua không hề
quan tâm đến một người nào cả. Lòng thương nhớ hoàng hậu càng thôi
thúc, khiến cho Ðức vua đến hầu mẫu hậu của Ngài tâu rằng:
Tâu mẫu hậu, xin phép mẫu
hậu, con sẽ đi rước hoàng hậu Pabhāvatī trở lại. Vậy con xin
giao lại ngôi báu này cho mẫu hậu.
Ðức vua Bồ Tát giả dạng một
người dân thường, đem theo một cây đàn lên đường thẳng đến kinh thành
Sāgala, xin ngủ nhờ một nhà người nài voi gần cung điện của đức vua
Madda; Ðức Bồ Tát ngủ rất ngon giấc, khi thức dậy lấy cây đàn khảy một
bài, tiếng đàn réo rắt gợi lòng thương nhớ hoàng hậu Pabhāvatī. Tiếng
đàn toả ra không gian, lan vào cung điện. Hoàng hậu nghe tiếng đàn
biết rõ chắc chắn tiếng đàn của đức vua Kusa đã đến đây để rước ta trở
lại kinh thành Kusavatī, bà rất lo sợ. Chính đức vua Madda cũng tấm
tắc khen ngợi tiếng đàn hay tuyệt vời, nhưng nghe sao thống thiết quá!
Ðức Bồ Tát nghĩ rằng ở đây
không thể gặp mặt hoàng hậu Pabhāvatī được, nên tìm đến chỗ lò gốm,
nơi làm đồ dùng của Ðức vua và các công chúa, để có cơ hội làm những
món đồ dùng cho hoàng hậu Pabhāvatī. Ðức Bồ Tát đến xin làm học trò,
ông chủ lò gốm hoan hỉ nhận Ðức Bồ Tát. Tại lò gốm, Ðức Bồ Tát đã làm
nhiều món đồ gốm tráng men, kiểu mẫu đẹp tuyệt vời, xứng đáng bậc thầy
của chủ lò gốm. Có những món đồ gốm tráng men, cố ý dành cho hoàng hậu
Pabhāvatī dùng, có hình ảnh hoàng hậu Pabhāvatī, đức vua Kusa, cảnh
trong cung điện, chỉ có một mình hoàng hậu biết được mà thôi. Ông chủ
lò gốm đem vào dâng Ðức vua cùng quý công chúa, Ðức vua trầm trồ khen
ngợi những món đồ rất xinh đẹp tuyệt vời, thật vô giá. Những món đồ ấy
cũng đến tay hoàng hậu Pabhāvatī, bà nhìn thấy biết ngay, những món đồ
này do đôi bàn tay của đức vua Kusa để dành cho bà, vốn không ưa thích
Ðức vua, nên bà không dùng những món đồ ấy.
Ðức Bồ Tát nghĩ rằng ở nơi
đây ta cũng không có cơ hội gặp mặt hoàng hậu Pabhāvatī được; tìm đến
chỗ làm đồ thủ công, nơi làm đồ dùng cho Ðức vua và quý công chúa, Ðức
Bồ Tát xin làm học trò, Ngài đã làm những món đồ đan bằng lá thốt nốt
đẹp tuyệt vời có hình ảnh hoàng hậu, ở trong cung điện, chỉ có một
mình hoàng hậu biết được mà thôi. Người thợ thủ công đem những món đồ
dâng Ðức vua cùng quý công chúa, Ðức vua trầm trồ khen ngợi chưa từng
thấy những món đồ xinh đẹp như vậy. Những món đồ ấy đến tay hoàng hậu
Pabhāvatī, bà nhìn thấy biết ngay, những món đồ này do đôi bàn tay của
đức vua Kusa, bà không chịu dùng những món đồ ấy.
Ðức Bồ Tát nghĩ rằng ở đây
ta cũng không có cơ hội thấy mặt hoàng hậu Pabhāvatī, tìm đến tiệm
hàng kết hoa cho Ðức vua Madda cùng quý công chúa. Ðức Bồ Tát xin làm
học trò, Ngài đã kết những tràng hoa bằng nhiều loại hoa khác nhau,
thành hình ảnh hoàng hậu, Ðức vua v.v... chỉ có hoàng hậu biết mà
thôi. Người thợ kết hoa đem dâng Ðức vua cùng quý cô công chúa; hoàng
hậu Pabhāvatī nhìn thấy tràng hoa biết ngay, do bàn tay của đức vua
Kusa, bà không chịu nhận tràng hoa ấy.
Ðức vua Bồ Tát bỏ ngôi báu,
mẫu hậu, phụ hoàng xứ sở của mình đến kinh thành Sāgala này với ý
nguyện nhìn thấy hoàng hậu Pabhāvatī và rước hoàng hậu trở lại cung
điện. Ðức Bồ Tát suy nghĩ ở đây không thể thực hiện được ý nguyện của
mình, nên Ngài từ giã tiệm hàng kết hoa, tìm đến nhà bếp nơi làm đồ ăn
dâng Ðức vua cùng quý công chúa, để xin làm học trò phụ bếp. Người đầu
bếp cho Ðức Bồ Tát một ít xương còn dính thịt làm món ăn để dùng, Ngài
đã làm thành một món ăn thật ngon có mùi thơm toả ra khắp kinh thành
bay đến cung điện. Ðức vua ngửi thấy mùi thơm vật thực, truyền hỏi
người đầu bếp đang dâng vật thực rằng:
- Này ngươi, còn món ăn đặc
biệt nào ở nhà bếp mà ngươi chưa dâng cho Trẫm phải không?
- Tâu Hoàng thượng, không
có. – Người đầu bếp tâu.
- Ngươi để ý ngửi xem có
phải hương vị món vật thực không? – Ðức vua truyền.
Người đầu bếp để ý ngửi,
đúng là mùi thơm của món vật thực, bèn tâu rằng:
- Tâu hoàng thượng, hạ thần
có cho người học trò mới phụ bếp một ít xương còn dính thịt làm món ăn
để dùng.
- Ngươi hãy về đem món ăn
ấy cho Trẫm xem.
Người đầu bếp trở về lấy
món ăn ấy dâng lên Ðức vua, Ðức vua vừa bỏ vào đầu lưỡi, vị ngon,
hương thơm toả ra toàn thân như nếm phải món vật thực của chư thiên.
Ðức vua truyền lệnh rằng:
- Từ nay, ngươi để cho
người học trò mới làm đồ ăn dâng lên Trẫm và quý công chúa. Phần ăn
của Trẫm thì chính ngươi đem đến, còn phần ăn của quý công chúa, thì
ngươi cho người học trò mới đem phân phát.
Người đầu bếp trở về thi
hành theo ý chỉ của Ðức vua, giao việc nấu nướng những thức ăn cho Ðức
Bồ Tát, ông bảo Ðức Bồ Tát rằng:
- Ta đem phần ăn lên dâng
Ðức vua, còn ngươi đem những phần ăn dâng đến quý công chúa.
Ðức Bồ Tát nghe người đầu
bếp phân công, trong lòng vô cùng vui mừng hoan hỉ, nghĩ rằng: ý
nguyện của ta sẽ thành tựu, từ nay ta có thể nhìn thấy mặt hoàng hậu
Pabhāvatī.
Như vậy, mỗi ngày Ðức Bồ
Tát đem vật thực phân phát quý cô công chúa, với mục đích chính là
nhìn thấy chánh cung hoàng hậu Pabhāvatī.
Ðức Bồ Tát mang vật thực
lên lâu đài hoàng hậu Pabhāvatī, Ðức vua vô cùng hoan hỉ, khi nhìn
thấy rõ chánh cung hoàng hậu Pabhāvatī, còn hoàng hậu cũng nhìn thấy
rõ Ðức vua tâm không hài lòng, nghĩ rằng:"Chỉ vì ta, mà đức vua
Kusa đến đây giả dạng người làm công, người tôi tớ. Thật không xứng
đáng chút nào cả! Nếu ta làm thinh, Ðức vua tưởng lầm ta còn thương
tưởng đến Người rồi ở đây luôn để mọi ngày nhìn thấy ta. Ta nên nói
cho Ðức vua biết".
- Xin mời Ðại vương trở về
kinh thành Kusavatī càng sớm càng tốt, thần thiếp không muốn nhìn thấy
Ðại vương có thân hình xấu xí đáng ghê sợ! Ðại vương ở đây phải chịu
vất vã khổ cực ngày đêm có ích lợi gì đâu?
Nghe lời chê trách với
giọng hằn học của hoàng hậu, thay vì tức giận, Ðức vua lại hài lòng
hoan hỉ nghe được giọng nói của hoàng hậu, rồi đáp lại rằng:
- Này ái khanh Pabhāvatī,
ái khanh xinh đẹp tuyệt trần, Trẫm rất sủng ái nơi ái khanh, Trẫm
không thể trở lại kinh thành Kusavatī một mình; Trẫm đã từ bỏ kinh
thành Kusavatī, từ bỏ cả ngôi báu, từ bỏ tất cả, chỉ vì ái khanh. Trẫm
rất hài lòng ở lại đây, để hằng ngày ngắm nhìn ái khanh.
- Này ái khanh, Trẫm say mê
nơi sắc đẹp tuyệt trần của ái khanh, Trẫm chỉ cần một mình ái khanh mà
thôi, không cần đến ngôi báu ở kinh thành Kusavatī xứ Malla to lớn....
Nghe lời phán của đức vua
Kusa, hoàng hậu Pabhāvatī nghĩ rằng: Ta chê trách để làm cho Ðức
vua tức giận, trở về cố quốc. Ngược lại, Ðức vua không tức giận, lại
còn thốt lời yêu thương ràng buộc. Nếu người tự xưng danh "Ta là đức
vua Kusa" tiến đến nắm tay ta, thì còn ai dám can ngăn Ðức vua được.
Ðức vua Kusa ngự đến kinh
thành Sāgala này, chỉ có hoàng hậu Pabhāvatī và bà Khujjā người hầu
thân tín biết mà thôi, còn những người khác hoàn toàn không ai hay
biết sự có mặt của đức vua Kusa.
Hoàng hậu Pabhāvatī cảm
thấy lo sợ, nên lánh mặt, truyền dạy người hầu mỗi ngày dùng phần ăn
mà Ðức Bồ Tát dành cho bà; còn bà dùng phần ăn của người hầu.
Từ đó về sau, Ðức Bồ Tát
không nhìn thấy mặt hoàng hậu Pabhāvatī, lòng thương nhớ không nguôi,
Ðức Bồ Tát nhờ đến bà Khujjā, người hầu của hoàng hậu rằng:
- Ta nhờ ngươi cố thuyết
phục hoàng hậu gặp gỡ ta, nói chuyện vui vẻ, tươi cười thương yêu ta,
lấy đôi bàn tay mềm mại xoa nhẹ trên thân hình của ta. Nếu nhà ngươi
làm được như vậy, thì chắc chắn nhà ngươi sẽ được trọng thưởng.
Bà Khujjā nhận lời khẩn
khoản tha thiết của Ðức Bồ Tát, cố gắng thuyết phục hoàng hậu
Pabhāvatī nhưng không có kết quả. Ðức vua Bồ Tát chờ mãi, chờ mãi trải
qua 7 tháng ròng rã mà vẫn chưa nhìn thấy mặt hoàng hậu Pabhāvatī.
Ðức Bồ Tát ngồi một mình
than vãn rằng: đã trải qua 7 tháng rồi chưa về thăm mẫu hậu và phụ
vương; ở đây ngày đêm vất vả khổ cực, mà chẳng nhìn thấy mặt hoàng hậu
Pabhāvatī đâu...?
Nỗi khổ tâm của Ðức Bồ Tát
động đến vua trời Sakka, hiểu rõ nguyện vọng của Ðức Bồ Tát muốn gặp
mặt hoàng hậu Pabhāvatī và rước nàng trở về kinh thành Kusavatī, nên
Ðức vua trời Sakka tìm cách giúp đỡ để Ðức Bồ Tát được toại nguyện.
Ðức vua trời Sakka cho hoá
ra nhiều sứ giả mang chiếu chỉ của Ðức vua Madda gởi đến 7 Ðức vua ở 7
kinh thành khác nhau, cùng một lúc, với lời lẽ rằng: "Công chúa
Pabhāvatī đã li dị đức vua Kusa trở về kinh thành Sāgala rồi; nếu đại
vương muốn công chúa Pabhāvatī, xin ngự đến rước nàng".
Bảy Ðức vua từ 7 kinh thành
đều ngự cùng với đoàn tuỳ tùng hộ tống đông đảo đến kinh thành Sāgala
gặp nhau cùng một lúc, các Ðức vua gặp hỏi nhau rằng:
- Ðại vương ngự đến đây với
quốc sự gì?
Ðược biết, 7 Ðức vua ngự
đến xứ Madda có cùng một mục đích "rước công chúa Pabhāvatī về
nước". Các Ðức vua nổi giận Ðức vua Madda và truyền rằng: Ðức vua
Madda dâng một mình công chúa Pabhāvatī đến 7 Ðức vua ở 7 kinh thành,
là một việc làm có tánh khiêu khích chúng ta. Chúng ta hãy cùng nhau
bắt Ðức vua Madda trị tội.
Cho nên, mỗi Ðức vua đều
gởi chiếu chỉ với lời lẽ rằng: "Ðại vương Madda, hãy dâng công chúa
Pabhāvatī cho quả nhân hoặc chiến tranh".
Gởi chiếu chỉ xong, 7 Ðức
vua đem quân vây quanh kinh thành Sāgala. Ðức vua Madda biết như vậy,
tâm vô cùng hoảng sợ, lệnh hội họp các quan bàn việc đối phó, phải làm
thế nào? Một vị quan tâu rằng:
- Tâu bệ hạ! 7 Ðức vua ngự
đến đây, nguyên nhân do công chúa Pabhāvatī, xin bệ hạ bắt công chúa
Pabhāvatī dâng cho họ, để tránh khỏi cuộc chiến tranh xảy ra.
Nghe tâu như vậy, Ðức vua
Madda truyền rằng:
- Nếu Trẫm bắt công chúa
Pabhāvatī dâng cho một Ðức vua này, thì còn lại 6 Ðức vua kia sẽ gây
chiến tranh với ta. Như vậy, Trẫm không thể dâng công chúa cho Ðức vua
nào được.
Sự việc xảy ra như thế này,
là do công chúa Pabhāvatī bỏ đức vua Kusa là một Ðức vua có oai lực
phi thường trong cõi Nam thiện bộ châu này, mà công chúa chê đức vua
Kusa có thân hình xấu xí, đáng ghê sợ, trở về đây. Cho nên, ngày nay,
công chúa Pabhāvatī đành phải chịu hậu quả ấy. Vậy bắt công chúa
Pabhāvatī chặt làm 7 phần dâng cho 7 Ðức vua của 7 kinh thành.
Nghe tin như vậy, công chúa
vô cùng kinh hoảng sợ chết, chặt làm 7 phần, nàng vội vàng đến tìm mẫu
hậu khóc than cầu xin cứu mạng; nhưng làm sao cải lệnh của Ðức vua
được.
Mẫu hậu quở trách công chúa
Pabhāvatī rằng:
- Bởi con tự kiêu ngã mạn,
ỷ lại sắc đẹp tuyệt trần của mình, nên chê trách đức vua Kusa xấu xí
đáng ghê sợ, bỏ Ðức vua về đây, nên ngày nay con phải chịu hậu quả đau
khổ như thế này!
Nếu mà bây giờ có đức vua
Kusa oai lực phi thường, có giọng như sư tử chúa rống, làm cho 7 Ðức
vua này kinh hồn bạt vía, khiếp đảm bỏ chạy trốn thoát thân. Như vậy,
mới mong cứu mạng cho công chúa của ta thoát chết, rồi rước công chúa
trở lại kinh thành Kusavatī. Không biết đức vua Kusa bây giờ ngự ở nơi
nào?
Nghe mẫu hậu tán dương ca
tụng oai lực của đức vua Kusa, bây giờ công chúa Pabhāvatī đã đến
đường cùng rồi, không còn phải giấu giếm được nữa, nên tâu với mẫu hậu
rằng:
Tâu mẫu hậu, mẫu hậu ca
tụng đức vua Kusa có oai lực phi thường có thể thắng được 7 Ðức vua từ
7 kinh thành, chịu thua bỏ chạy, để cứu mạng cho con, khỏi cái chết
thê thảm này.
- Tâu mẫu hậu, đức vua Kusa
ấy hiện đang ngự ở trong vòng cung điện này đây.
Mẫu hậu của công chúa
Pabhāvatī truyền dạy rằng:
- Này con, vì quá sợ chết
nên tâm trí con đã điên loạn rồi phải không? Hay là con trở thành
người ngu muội mới tâu với mẫu hậu như vậy! Nếu đức vua Kusa ngự đến
đây thật, tại sao phụ vương và mẫu hậu không hề hay biết?
Công chúa Pabhāvatī nghĩ
rằng, mẫu hậu không tin theo lời của mình, và hoàn toàn không hay biết
đức vua Kusa ngự ở đây suốt 7 tháng qua, ta sẽ chỉ cho mẫu hậu nhìn
thấy Ðức vua.
Công chúa Pabhāvatī nắm tay
mẫu hậu đến đứng gần cửa sổ chỉ tay xuống dưới nhà bếp gần lâu đài của
quý công chúa tâu rằng:
- Tâu mẫu hậu, đức vua Kusa
giả dạng người đầu bếp, ăn mặc gọn gàng đang ngồi rửa nồi, chảo....
Khi ấy, Ðức Bồ Tát suy tư
rằng: hôm nay, nguyện vọng của ta chắc chắn được thành tựu, bởi vì
hoàng hậu Pabhāvatī sợ chết, chắc chắn tâu với mẫu hậu, phụ vương
biết, có mặt ta ở tại nơi đây.
Ðức Bồ Tát lo rửa tất cả
mọi chén bát cho sạch sẽ, đem cất trong tủ gọn gàng.
Còn mẫu hậu quở mắng công
chúa Pabhāvatī rằng:
- Này, ngươi có phải là đứa
con gái hư không? Hay ngươi là đứa con gái làm hại hoàng tộc phải
không? Ngươi đã sanh trong dòng dõi của Ðức vua Madda, tại sao ngươi
có thể để Ðức vua hôn phu của ngươi làm người đầy tớ?
Nghe mẫu hậu quở mắng, công
chúa Pabhāvatī tâu rằng:
- Tâu mẫu hậu! Con không
phải đứa con hư; cũng không phải đứa con làm hại hoàng tộc. Kia là đức
vua Kusa, thái tử của thái thượng hoàng Okkāka, sao mẫu hậu nghĩ rằng
người đầy tớ?
Công chúa Pabhāvatī tán
dương ca tụng oai lực của đức vua Kusa rằng:
- Tâu mẫu hậu! Ðức vua nào,
hằng ngày thường cúng dường vật thực đến 20 ngàn vị Bà la môn; Ðức vua
ấy, tên là Kusa, thái tử của thái thượng hoàng Okkāka, sao mẫu hậu
nghĩ rằng người đầy tớ.
- Tâu mẫu hậu, các quân
lính hằng ngày thường chuẩn bị đội tượng binh gồm 20 ngàn thớt voi cho
Ðức vua nào, Ðức vua ấy là đức vua Kusa, thái tử của thái thượng hoàng
Okkāka, sao mẫu hậu nghĩ rằng người đầy tớ.
- Tâu mẫu hậu, các quân
lính, hằng ngày thường chuẩn bị đội quân xa gồm 20 ngàn chiếc cho Ðức
vua nào, Ðức vua ấy tên là Kusa, thái tử của thái thượng hoàng Okkāka,
sao mẫu hậu nghĩ rằng người đầy tớ.
- Tâu mẫu hậu, các quân
lính, hằng ngày thường vắt sữa bò gồm 20 ngàn con cho Ðức vua nào, Ðức
vua ấy tên là Kusa, thái tử của thái thượng hoàng Okkāka, sao mẫu hậu
nghĩ rằng người đầy tớ....
Khi công chúa Pabhāvatī tán
dương ca tụng đức vua Kusa như vậy, với lời lẽ hùng hồn, khiến cho mẫu
hậu của nàng tin rằng, có đức vua Kusa thật, nên bà vội vã đến tâu lên
đức vua Madda, Ðức vua ngự đến lâu đài công chúa Pabhāvatī ngay tức
khắc, bèn truyền hỏi rằng:
- Này con, đức vua Kusa
đang ngự tại đây có thật hay không?
- Tâu phụ vương! Ðiều đó có
thật, đức vua Kusa đang làm phận sự người đầu bếp của phụ vương cùng
quý công chúa trải qua thời gian được 7 tháng rồi. – Công chúa
Pabhāvatī tâu.
Ðức vua Madda không thể nào
tin đó là sự thật, nên truyền hỏi nàng hầu Khujjā của công chúa.
Nàng hầu cũng tâu rõ sự
thật mọi điều như công chúa. Ðức vua quở mắng công chúa rằng:
- Này, ngươi là đứa con ngu
xuẩn, ngươi đã làm điều tồi tệ quá! Tại sao, từ lâu con không tâu với
phụ vương được rõ? Ðức vua Kusa là một Ðại vương có nhiều oai lực,
thống soái toàn cõi Nam thiện bộ châu này, như là một con voi chúa,
sao con có thể xem như loài ếch được?
Quở mắng công chúa xong,
Ðức vua vội vã ngự đến tìm Ðức Bồ Tát chấp hai tay xin tha tội rằng:
- Tâu Ðại vương, bậc vĩ
đại, xin người mở lòng thương mà tha tội kẻ bề tôi, vì không biết Ðại
vương đến nơi này, với hình thức không dễ ai biết được.
Nghe Ðức vua Madda tâu như
vậy, Ðức Bồ Tát có tâm bi không quở trách, mà chỉ nói lời an ủi để Ðức
vua yên tâm rằng:
- Này Ðại vương, người như
quả nhân chẳng giấu giếm gì, quả nhân là người đầu bếp đã được Ðại
vương trọng dụng và tin cậy.
Này Ðại vương, người không
có tội lỗi gì mà quả nhân phải tha tội.
Nghe lời truyền dạy của Ðức
Bồ Tát, Ðức vua yên tâm vội vã ngự đến lâu đài của công chúa Pabhāvatī
truyền dạy công chúa mau mau đến yết kiến đại vương Kusa rằng:
- Này đứa con khờ dại, con
hãy mau mau đến yết kiến Ðại vương, bậc đại hùng, cầu xin Người tha
tội. Nếu đại vương Kusa tha tội cho con, thì con mới mong thoát khỏi
chết. Trong đời này, chỉ có đức vua Kusa mới cứu mạng cho con được mà
thôi!
Nghe lời truyền dạy của phụ
vương, công chúa Pabhāvatī cùng với các em của nàng, nhóm nữ tỳ đông
đảo đến yết kiến Ðức Bồ Tát; Ðức Bồ Tát đứng với tư thế người đang rửa
nồi chảo, biết hoàng hậu Pabhāvatī đến yết kiến mình, nên nghĩ rằng:
hôm nay ta sẽ trừ tánh tự kiêu ngã mạn của hoàng hậu Pabhāvatī, để
cho nàng cúi đầu đảnh lễ dưới đôi bàn chân dơ bẩn của ta. Ðức Bồ
Tát giẫm đôi bàn chân dính đầy sình lầy dơ bẩn, khi hoàng hậu
Pabhāvatī đến cúi đầu đảnh lễ ôm hai bàn chân của Ðức Bồ Tát xong,
ngồi trên vũng sình lầy xin lỗi Ðức Bồ Tát rằng:
- Tâu hoàng thượng, thần
thiếp xin cúi đầu lạy dưới đôi bàn chân của hoàng thượng, thần thiếp
ghét hoàng thượng đến ngày hôm nay là ngày cuối cùng. Cầu xin hoàng
thượng tha thứ tội cho thần thiếp, xin đừng giận thần thiếp nữa, thần
thiếp thành thật thề với hoàng thượng, xin hoàng thượng nghe rõ lời
thề của thần thiếp: kể từ nay về sau thần thiếp không còn ghét hoàng
thượng nữa, một lòng thương yêu hoàng thượng. Ðây là lời tha thiết
khẩn khoản van xin của thần thiếp, nếu hoàng thượng không đoái thương
cứu mạng thần thiếp, thì ngay hôm nay, phụ vương chắc chắn sẽ phân
thây thần thiếp làm 7 phần, đem dâng cho 7 Ðức vua đang vây ở ngoài
thành.
Nghe lời khẩn khoản van xin
của hoàng hậu Pabhāvatī, Ðức Bồ Tát động lòng trắc ẩn, để cho hoàng
hậu yên tâm mà phán rằng:
- Này ái khanh, lời khẩn
khoản van xin của ái khanh, làm sao mà Trẫm không đoái thương được!
Trẫm không giận ái khanh
nữa đâu! Ái khanh, Pabhāvatī, xin đừng có sợ!
Trẫm cũng chân thành thề
với ái khanh rằng: từ nay về sau Trẫm không ghét ái khanh nữa.
Này ái khanh, Pabhāvatī,
nàng là người sủng ái nhất của đời Trẫm, Trẫm có thừa oai lực tiêu
diệt dòng vua Madda, phụ vương của ái khanh, bắt ái khanh trở về kinh
thành Kusavatī. Nhưng vì Trẫm quá sủng ái ái khanh, nên Trẫm đành kiên
trì chịu đựng, bao nhiêu nỗi khổ thân khổ tâm chờ đợi cho đến ngày hôm
nay.
Ðức Bồ Tát chăm chú nhìn
thấy rõ công chúa Pabhāvatī, chánh cung hoàng hậu của mình xinh đẹp
tuyệt trần chẳng khác nào thiên nữ, chánh cung hoàng hậu của Ðức vua
trời Sakka cõi Tam thập tam thiên, làm cho tâm ngã mạn của dòng vua
chúa phát sanh và nghĩ rằng: "Ta còn sống ở đây, những Ðức vua nào
có gan dám tranh giành chánh cung hoàng hậu của ta được".
Ðức Bồ Tát tỏ rõ một vị đại
vương có uy thế ngự đến trước sân rồng rống như sư tử chúa, vỗ mạnh
hai bàn tay mà phán rằng:
- Ta là đức vua Kusa đã đến
rồi, toàn thể dân chúng trong kinh thành hãy xem ta bắt sống 7 vị vua,
tất cả quan quân chuẩn bị ngựa xe sẵn sàng cho ta.
Ðức vua Madda truyền cho
người thợ cắt tóc cạo râu cho Ðức Bồ Tát xong; Ðức Bồ Tát tắm rửa, mặc
bộ đồ đại vương tỏ vẻ oai phong lẫm liệt ngự lên bạch tượng ngồi đằng
trước, truyền cho hoàng hậu Pabhāvatī ngồi đằng sau xông ra trận địa,
cùng các đội binh mã, quân xe hộ tống, ngự ra cửa phía Ðông, đưa mắt
nhìn thấy binh lính kẻ thù đang vây xung quanh thành, Ðức vua Bồ Tát
cất giọng xưng hô ba lần như sư tử chúa rống rằng:
- Ta là vua Kusa, ai muốn
sống, hãy mau mau khuất phục ta ngay!
Binh lính của 7 Ðức vua từ
7 kinh thành nghe giọng nói như sư tử chúa rống của đức vua Kusa đều
kinh hồn bạt vía khiếp đảm giẫm nhau mà chạy; như bầy nai nghe tiếng
rống của sư tử chúa chạy trốn thoát thân.
Ðức Bồ Tát truyền lệnh bắt
sống 7 vị vua từ 7 kinh thành trói dẫn về trình Ðức vua Madda. Nhìn
thấy Ðức vua Bồ Tát toàn thắng, Ðức vua trời Sakka vô cùng hoan hỉ
dâng lên Ðức Bồ Tát một viên ngọc Manī tên "Rocana: huy hoàng xán
lạn" nhờ oai lực của viên ngọc Manī ấy, Ðức Bồ Tát thay hình đổi
dạng có tướng hảo quang minh, thân hình trở nên tốt đẹp không kém
hoàng hậu Pabhāvatī.
Ðức vua Bồ Tát đã toàn
thắng ngồi trên bạch tượng đằng sau có hoàng hậu Pabhāvatī kéo quân
ngự vào cung điện Ðức vua Madda, dẫn theo 7 Ðức vua từ 7 kinh thành
vào yết kiến Ðức vua Madda. Ngài phán rằng:
Này Ðại vương! Ðây là 7 vị
vua của 7 kinh thành là kẻ thù của Người, bây giờ ở trong quyền hành
của Người, Người muốn giam giữ tù đày, hoặc phóng thích, hoặc xử tử
tuỳ ý của Người.
Nghe truyền như vậy, đức
vua Madda tâu rằng:
- Tâu Ðại vương, 7 vị vua
này là kẻ thù của Ðại vương, không phải kẻ thù của quả nhân.
Tâu Ðại vương! Ngài là Ðức
vua lớn bảo hộ quả nhân, cho nên chỉ có Ngài mới có quyền phóng thích,
hoặc xử tử 7 vị vua này tuỳ ý Ngài.
Ðức vua Madda tâu trình như
vậy, Ðức Bồ Tát nghĩ rằng: lợi ích gì xử tử 7 vị vua này, 7 vị vua đến
đây phải có được lợi gì khi trở về, Ðức vua Madda còn có 7 công chúa
xinh đẹp là em của công chúa Pabhāvatī, ta ban 7 công chúa này cho 7
vị vua ở 7 kinh thành thì có lợi biết dường nào! Ðức Bồ Tát phán rằng:
- Này Ðại vương, Người còn
có 7 công chúa, xin Người ban cho 7 vị vua ở 7 kinh thành; như thế 7
vị vua này sẽ trở thành những Ðức vua phò mã của Người.
Ðức vua Madda tâu rằng:
- Tâu Ðại vương, Ngài là
Ðức vua lớn bảo bộ quả nhân và công chúa của quả nhân. Vậy xin Ngài
ban 7 công chúa của quả nhân cho 7 Ðức vua theo ý muốn của Ngài.
Ðức vua Bồ Tát truyền lệnh
trang điểm 7 công chúa của Ðức vua Madda cho xinh đẹp, rồi ban cho mỗi
Ðức vua một công chúa.
Bảy Ðức vua ở 7 kinh thành
vô cùng hoan hỉ, cảm đội ơn đức vua Kusa và đức vua Madda nhạc phụ kéo
quân ngự trở về kinh thành của mình cùng với một nàng công chúa xinh
đẹp.
Ðức vua Bồ Tát ngự lại 2 –
3 hôm sau mới từ giã Ðức vua Madda ngự trở về kinh thành Kusavatī.
Trên long xa, đức vua Kusa cùng chánh cung hoàng hậu Pabhāvatī ngồi
sánh đôi, mỗi người mỗi vẻ không ai kém ai, trên đường ngự trở về kinh
thành Kusāvatī, lễ đón rước vô cùng long trọng.
Ðược tin đức vua Kusa cùng
chánh cung hoàng hậu Pabhāvatī trở về, Thái thượng hoàng và Hoàng thái
hậu truyền lệnh trang hoàng cung điện, cũng như trong kinh thành thật
lỗng lẫy làm lễ đón mừng.
Khi ấy, thái thượng hoàng
Okkāka, hoàng thái hậu Sīlavatī và hoàng đệ Jayampati của Ðức Bồ Tát
ngự ra khỏi thành đón rước, còn các hoàng gia bá quan văn võ, dân
chúng trong thành đều hân hoan đón mừng đức vua Kusa và chánh cung
hoàng hậu Pabhāvatī trở về. Ðức vua truyền lệnh cho phép tổ chức lễ
hội mừng suốt 7 ngày đêm. Kể từ đó đức vua Kusa và chánh cung hoàng
hậu Pabhāvatī sống hoà hợp nhau, trị vì đất nước Malla được an lành
thịnh vượng cho đến hết tuổi thọ.
Ðức Phật thuyết về truyện
tiền thân Kusajātaka xong, những nhân vật trong câu truyện liên quan
đến kiếp hiện tại như sau:
Thái thượng hoàng
Okkāka, kiếp hiện tại nay là Ðức vua Suddhodana.
Hoàng thái hậu Sīlavatī, kiếp hiện tại nay là hoàng hậu Mayādevī.
Hoàng đệ Jayampati, kiếp hiện tại nay là Ðại Ðức Ānanda.
Chánh cung hoàng hậu Pabhāvatī, kiếp hiện tại nay là hoàng hậu
Yasodhara.
Ðức vua Kusa, kiếp hiện tại nay là Ðức Phật Gotama của chúng ta.
Qua câu truyện tiền thân
Kusajātaka giúp hiểu rõ những điều như:
1- Về tác ý (cetanā)
tạo nghiệp.
Ðức Phật dạy: "Này chư
Tỳ khưu, Như Lai gọi tác ý là nghiệp, sau khi suy nghĩ rồi tạo nghiệp
do thân, khẩu, ý".
Tác ý thiện tâm đồng sanh
trong thiện tâm phát sanh ba thời:
Tác ý trước khi bố thí.
Tác ý đang khi bố thí.
Tác ý sau khi bố thí xong, thời gian không hạn định.
Trường hợp người chị dâu và
người em chồng (Ðức Bồ Tát) cùng làm phước thiện bố thí cúng dường đến
Ðức Phật Ðộc Giác; song tác ý hai người khác nhau, nên tạo nghiệp
khác nhau, dĩ nhiên quả của nghiệp cũng khác nhau.
Người chị dâu: tác ý
trước khi bố thí, tác ý đang khi bố thí và tác ý sau khi đã bố thí
xong đều là tác ý thiện tâm hoàn toàn trong sạch suốt cả ba thời tạo
thiện nghiệp bố thí.
Người em chồng: tác ý
thiện tâm cả ba thời tạo thiện nghiệp bố thí; song giai đoạn thời gian
trước khi bố thí, đã tạo ác nghiệp tức giận người chị dâu đã
đem phần bánh chiên của mình bố thí cúng dường đến Ðức Phật Ðộc Giác.
2- Về nghiệp và quả của
nghiệp.
Phước thiện bố thí cho quả
báu được giàu sang phú quý, có quyền cao chức trọng.
Người chị dâu: do năng
lực thiện nghiệp bố thí ấy, cho quả báu được tái sanh làm công chúa
của Ðức vua Madda ở kinh thành Sāgala, vùng Madda. Do tác ý thiện tâm
hoàn toàn trong sạch suốt cả ba thời tạo nghiệp bố thí, cho nên hưởng
được quả báu suốt cả ba thời trong cuộc đời: thời ấu niên, thời trung
niên và thời lão niên được giàu sang phú quý, quyền cao chức trọng.
Người em chồng: do năng
lực thiện nghiệp bố thí ấy, cho quả báu được tái sanh làm thái
tử của Ðức vua Okkāka ở kinh thành Kusavatī, xứ Malla. Do tác ý thiện
tâm trước khi bố thí ngắn ngủi, có phiền não làm ô nhiễm, tác ý
đang khi bố thí và sau khi bố thí xong đều trong sạch; cho nên, hưởng
quả báu trong suốt cuộc đời giàu sang phú quý, quyền cao chức trọng.
Song bị ác nghiệp tức giận trước khi bố thí cho quả sau khi tái
sanh vào thời ấu niên có thân hình xấu xí đáng ghê sợ, đến thời
trung niên và lão niên thân hình trở nên tốt đẹp, đó là do quả cả
thiện nghiệp.
3- Về lời phát nguyện và sự
thành tựu.
Lời phát nguyện là điều
mong muốn, ý nguyện riêng của mình có được thành tựu như ý hay không,
đều do năng lực phước thiện của mình đã tạo. Năng lực phước thiện mạnh
thì được thành tựu như ý, ngược lại năng lực phước thiện yếu, thì khó
thành tựu. Năng lực phước thiện mạnh cần phải hội đủ 3 điều kiện:
Vật bố thí hoàn toàn
hợp pháp.
Tác ý thiện tâm cả 3 thời hoàn toàn trong sạch.
Người thọ nhận vật bố thí phải là bậc có giới đức hoàn toàn trong
sạch; bậc ấy phải là Ðức Phật Toàn Giác, hoặc là Ðức Phật Ðộc
Giác, hoặc bậc Thánh A-ra-hán.
Nếu đủ 3 điều kiện này, mới
có năng lực phước thiện mạnh và nhiều; thì thí chủ có ý nguyện nào
cũng dễ dàng thành tựu được như ý nguyện ấy.
Người chị dâu và người em
chồng đều có đủ 3 điều kiện.
- Người chị dâu phát
nguyện: Kiếp sau, cầu xin cho con có được sắc thân xinh đẹp tuyệt
trần, không một ai sánh kịp, có ánh sáng hào quang toả ra từ sắc thân
suốt đêm ngày. Xin đừng sống chung với hạng người ác như chú em chồng
của con.
Kiếp sau, sanh làm công
chúa Pabhāvatī đó là quả báu được thành tựu đúng theo lời phát nguyện
trong tiền kiếp, trong đó có điều không muốn sống chung với đức vua
Kusa.
- Người em chồng phát
nguyện: Kiếp sau, chị dâu của con dầu ở xa hằng trăm do tuần, xin cho
con có đủ khả năng rước đem về làm vợ của con.
Kiếp sau, sanh làm thái tử
Kusa đã tìm được công chúa Pabhāvatī rước về làm chánh cung hoàng hậu.
Ðó là quả báu được thành tựu đúng theo lời phát nguyện trong tiền
kiếp.
Nhưng khi hoàng hậu
Pabhāvatī (chị dâu tiền kiếp) nhìn thấy rõ đức vua Kusa (em chồng kiếp
trước) liền có cảm ứng tự nhiên vừa ghét vừa ghê sợ Ðức vua, do bởi
năng lực lời phát nguyện trong tiền kiếp, nên hoàng hậu từ bỏ đức vua
Kusa trở về kinh thành Sāgala của phụ vương mình.
Bởi do năng lực lời phát
nguyện trong tiền kiếp, nên đức vua Kusa đeo đuổi theo hoàng hậu
Pabhāvatī. Do năng lực phước thiện và lời phát nguyện của Ðức Bồ
Tát có nhiều năng lực hơn người thường, khiến vua trời Sakka
phải giúp đỡ Ðức Bồ Tát cho được thành tựu như ý nguyện, làm thay đổi
thân hình xấu xí đáng ghê sợ trở thành thân hình tốt đẹp, đem hoàng
hậu trở lại kinh thành Kusavatī sống chung trong tình thương yêu kính
mến nhau cho đến trọn đời.
Qua lời phát nguyện của hai
người, chị dâu và em chồng có điều trái ngược nhau: kiếp sau người chị
dâu không muốn sống chung với người em chồng; ngược lại người em chồng
chỉ muốn sống chung với người chị dâu mà thôi.
Kết quả: lời phát nguyện
của Ðức Bồ Tát có năng lực hơn lời phát nguyện của hoàng hậu
Pabhāvatī, khiến hoàng hậu Pabhāvatī thay đổi thái độ tâm tính từ ghét
và kinh sợ đức vua Kusa chuyển sang không ghét, một lòng thương yêu
Ðức vua, và đức vua Kusa cũng thương yêu hoàng hậu. Cả hai người nói
lên bằng lời thề chân thật với nhau.
Ðiều đó, có thể hiểu rõ
rằng: quá khứ có ảnh hưởng đến hiện tại, song hiện tại cũng có thể làm
thay đổi, để cho tương lai theo ý của mình.