KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NIỀM TIN PHẬT GIÁO
Biên Soạn:
Pháp Sư Quảng Tịnh
Việt dịch: Thích Ðạo Cơ
--- o0o ---
Chương X
BÁT QUAN TRAI GIỚI
Dẫn Nhập
Việc học Phật cứ theo
tuần tự dần tiến, mới học thì bắt đầu từ tam quy y ngũ giới. Nếu như có
thể như pháp phụng hành thì mới không rơi vào ba đường ác (địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh), không mất thân người. Nhưng, mục đích cuối cùng của Phật
pháp là dạy cho con người liễu thoát sanh tử, mà năm giới chỉ là pháp dạy
cho cõi trời, cõi người. Hàng đệ tử Phật muốn tiến cầu giải thoát thì phải
xuất gia thực hành pháp xuất thế gian. Người tin Phật, học Phật ở đời rất
nhiều, mặc dù có ảnh hưởng đời sống của người xuất gia, nhưng do có sự
khác nhau về nhân duyên bởi các nhân tố như: nghề nghiệp, gia đình, xã hội
... mà không cách gì để đạt đến mục đích. Bởi thế, đức Phật từ bi khai thị
pháp môn phương tiện này, khiến cho hàng tín đồ trong một ngày một đêm có
thể thực tập đời sống xuất gia, gieo căn lành xuất thế, khai mở cửa ngõ
giải thoát .
Chánh Ðề
I. Ðịnh nghĩa
Bát quan là chặn đứng tám điều ác, không
khởi các lỗi lầm. Trai là quá ngọ không ăn. Tám điều đó là:
1.
Không sát sanh.
2.
Không trộm cắp.
3.
Không dâm dục.
4.
Không nói dối.
5.
Không uống rượu.
6.
Không mang vòng hoa thơm, không thoa
ướp dầu thơm.
7.
Không ca múa và cố ý đến xem nghe.
8.
Không ngồi, nằm giường cao rộng lớn.
9.
Không ăn phi thời.
II. Nội dung
1. Không sát sanh: Trên từ chư Phật, Thánh
nhân, sư tăng, cha mẹ, dưới đến các loài côn trùng nhỏ, hễ có sinh mạng
thì không được giết, bảo người khác giết, thấy giết mà khởi lòng vui vẻ .
2. Không trộm cắp: Vàng bạc, vật quý cho
đến một cây kim, một sợi chỉ cũng không được lấy, không được không cho mà
lấy .
3. Không dâm dục: Trong
một ngày một đêm phải xa lìa tất cả trai gái thế gian cũng như vợ hay
chồng của mình .
4. Không nói dối: Nói
láo, nói thêu dệt, nói hai chiều, nói lời ác độc, hễ là nói những lời mà
giữa tâm và miệng khác nhau đều là vọng ngữ. Tuy nhiên, vì lòng từ bi cứu
giúp, dùng cách thức khéo léo mà nói thì không phạm .
5. Không uống rượu: Tất
cả những thứ làm thành từ ngũ cốc, hoa quả, có khả năng làm người say, đều
không được uống .
6. Không mang vòng hoa
thơm, không thoa ướp dầu thơm: Không được lấy hoa xâu thành vòng, dùng các
hương thơm xông hay đeo trang sức lên thân, và tất cả hoa đẹp kết lên y
phục .
7. Không ca múa, xem
nghe: Không tự luyện bài hát, điệu múa, hý kịch ...; khi người khác biểu
diễn, cũng không được cố ý đến xem nghe .
8. Không ngồi nằm giường
cao rộng: Không ngồi nằm nơi giường ghế sang trọng .
9. Không ăn phi thời: Quá
nửa ngày không được ăn những đồ vật như ngũ cốc, hoa quả...
Tám điều trước là giới,
không phải trai; điều thứ chín là trai giới. Hợp tám loại giới và trai thứ
chín lại gọi là Bát quan trai giới. Ðây là dựa theo ý của “Thành thật
luận” và “ Trí độ luận” mà nói .
Trong Bát quan trai giới,
năm điều giới trước giống với Ngũ giới,
mặc dùø ở Ngũ giới là không tà dâm còn ở Bát quan trai giới là không dâm
dục. Vì lẽ, căn bản của sanh tử luân hồi, dâm dục là đệ nhất. Ðiều thứ
sáu: Không mang vòng hoa thơm, không thoa ướp dầu thơm. Mang vòng hoa thơm
tức là trước đây, những mỹ nhân Ấn Ðộ tự làm đẹp mình, thường lấy hoa thơm
kết thành mũ hoa, hoặc lấy vàng bạc, vật quý, khảm thành mang trên đầu
hoặc trên thân. Ðến ngày nay, đó là những thứ của người nữ như: dây
chuyền, bông tai, trâm cài tóc, nhẫn ... cho đến những vật trang sức của
người nam. “Dầu thơm thoa thân” cũng là tập tục của người Ấn Ðộ, do vì Ấn
Ðộ là xứ nhiệt đới, cho nên họ phải thoa dầu để giữ độ ẩm cho da; người có
tiền thì dùng những thứ dầu thơm hảo hạng. Những thứ đó nay là: nước thơm,
phấn thơm, kem thơm ...Người nữ là những người thích làm đẹp; bản thân
thích đẹp là thiên tánh của họ, nên trong sinh hoạt hàng ngày, hầu như họ
không thể bỏ qua, không dùng đến những mỹ phẩm này. Nhưng, vào ngày trai
giới thì nên đình chỉ sử dụng. Ðiều thứ bảy: Không ca múa, xem nghe. Ca vũ
là bao gồm: ca múa, biểu diễn, hát xướng. Ðây là những loại hình giải trí
trong đời sống hàng ngày của người dân. Từ xưa đến nay, nó bị xem thường,
cho là thứ mua vui của cuộc sống. Hàng Phật tử tại gia nếu vì xã giao mà
thường tham gia xem hình thức văn nghệ thì cũng nên lựa chọn thích hợp
những loại hình thức có ý nghĩa giáo dục hoặc có giá trị văn hóa. Nhưng,
thọ Bát quan trai là một ngày một đêm học tập đời sống xuất gia, chuyên
tâm chánh niệm cho nên không thể hành xử theo quan điểm của thế tục. Nếu
thuần túy vì để cúng dường chư Phật, tán dương công đức Tam bảo như: Phật
hóa điện ảnh, ca nhạc, kịch vui ... thì có thể cho phép được. Ðiều thứ
tám: không ngồi nằm giường cao rộng lớn. Ở Tây vức, giường hàm ý chỉ vật
dụng để ngủ hoặc để ngồi. Ngẫu Ích đại sư người đời nhà Minh (chú giải
phần chủ yếu mười giới oai nghi) có nói: “Giường chân cao 1m6, khi ngồi
chân phải chạm đất, quá lượng này thì gọi là cao; khi nằm chỉ cần để cho
thân thể xoay trở vừa phải, quá điều này tức là rộng. Ðã cao và rộng thì
gọi là lớn”. Ở đây muốn nói là không nên dùng đồ nằm quá sang trọng. Ðiều
thứ chín: Không ăn phi thời: sau khi quá ngọ, ngoài uống nước ra không
được ăn bất cứ thứ gì, cứ thế đến sáng mai thì được phép. Nếu ăn uống đúng
giờ giấc thì tọa thiền mới dễ đạt được hiệu quả. Không ăn quá ngọ một ngày
một đêm rất dễ thực hiện, giả như bụng đói không thể chịu được thì có thể
phương tiện cho dùng đường hoặc uống nước quả. Nhưng, lúc dùng phải sanh
tâm xấu hổ.
Tóm lại, đời sống
đạm bạc mới có thể đề cao lãnh vực tinh thần, cũng có thể dũng mãnh tinh
tấn trên con đường đạo nghiệp. Cho nên, tự bản thân phải khắc phục những
xúc cảm của các giác quan để cầu phạm hạnh thanh tịnh.
III. Vì sao phải thọ bát quan trai giới?
Ðó là vì để gieo trồng
thiện căn xuất thế. Trọng điểm của Bát quan trai giới là ở chỗ giới trừ
dâm dục và tiết chế ăn uống. Năm điều trước của Bát quan trai giới, trừ
giới thứ ba là “không dâm dục” ra, còn những giới khác đều giống Ngũ giới.
Ở đây trọng điểm là giới dâm. Ðiều thứ sáu không mang vòng hoa, không thoa
ướp dầu thơm; điều thứ bảy: không ca múa, xem nghe; điều thứ tám: không
ngồi nằm giường cao rộng lớn..., mục đích gián tiếp cũng là giới dâm. Theo
quan điểm Phật giáo, dâm dục là căn bản của sanh tử, mà ăn uống là điều
kiện tăng trưởng nhất của nó (tăng thượng duyên). Ðó là nguyên nhân căn
bản của chúng sanh mãi mãi là chúng sanh mà không thể nào thoát khỏi luân
hồi sanh tử. Nó cũng là bản năng cùng hiện hữu với ta khi ta sanh ra. Nếu
có thể vượt qua hai dục niệm này thì sẽ giải thoát ra khỏi ba cõi. Phi
tưởng phi phi tưởng thiên là tầng trời cao nhất ở cõi vô sắc, tuy không
còn ý nghĩa về dâm dục nhưng vẫn chưa lìa khỏi thức thực; cho nên, vẫn
chưa ra khỏi sanh tử. Hiện tại để vượt qua sanh tử nên phải giữ giới dâm,
vì muốn ức chế dâm dục nên phải trì trai giới .
IV. Ðiều kiện thọ giới
Căn cứ trong quyển thứ
nhất (của Tát bà đa tỳ bà sa) có nói: “Phàm loài đắc được giới
Ba-la-đề-mộc-xoa (Bát quan trai giới cũng là Ba-la-đề-mộc-xoa ), theo năm
đường mà xét thì chỉ có nhân đạo”. Lại nói: “Một là nam, hai là nữ, ba là
huỳnh môn (yểm nhân) và bốn là nhị căn; trong bốn hạng người này, chỉ có
nam và nữ là có thể đắc giới”. Bởi thế nên biết rằng trong loài người chỉ
có nam nữ sinh lý bình thường mới có thể đắc giới. Vả lại nói: “Trong hàng
nam nữ này, nếu ai giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm thân Phật ra máu,
phá hòa hợp Tăng (từ đây trở lên gọi là ngũ nghịch) làm ô nhiễm Tỳ-kheo
ni, tặc trú (người phi pháp mà ở trong Tăng chúng), việc tế nhân (người vì
mưu sống chẳng phải vì Phật pháp mà xuất gia), mất thiện căn, thì những
người này như vậy hoàn toàn không thể đắc giới”. Cho nên, biết rằng những
người phạm ngũ nghịch, phá tịnh giới đều không thể đắc giới.
Lại nói: “Ðức Phật không
giới hạn một ngày một đêm. Nếu có năng lực thọ, một ngày một đêm qua rồi
thì tiếp tục thọ tiếp. Như vậy, tùy theo khả năng thọ nhiều hay ít, không
tính số ngày .
V. Thanh tịnh trai
giới
Ở phần cuối trong Ngũ
giới tướng tiên yếu, Ngẫu Ích đại sư có nói về thanh tịnh trai giới như
sau: “Phàm ngày trai giới, không được đánh đập chúng sanh, thân khẩu không
được làm những việc như mất oai nghi; không được khởi các phiền não như
tham dục, sân nhuế ..., lại nên tu lục niệm.
Nếu ai phạm bốn điều cấm trên, tuy không phá trai nhưng trai giới không
thanh tịnh” .
Trì Bát quan trai giới
tuy chỉ có chín điều, nhưng thọ trì cho thanh tịnh thì không phải là việc
dễ. Nếu ai không cẩn thận trong việc ăn uống thì không đạt được lợi ích
như mong muốn. Giống như có người cho rằng ngày mai muốn thọ Bát quan trai
giới thì hôm nay tha hồ phóng túng. Hoặc hôm nay thọ giới thanh tịnh mà
tâm mơ tưởng đến sự tự do thoải mái ngày mai. Thật sai lầm hết sức! Thế
nên, trước khi thọ trai giới, phải sám hối, cầu mong thân tâm thanh tịnh
và bảo cho người khác biết: “Tôi muốn thọ Bát quan trai giới”.
Thọ trì Bát quan trai
giới phải qua một ngày một đêm, đã thọ rồi thì không nên bỏ. Nhưng nếu gặp
nghịch duyên hoặc vì phiền não hay quá đói không nhịn được, chỉ cần trình
bày cho người hiểu việc biết nói chuyện nói rõ mọi việc, là đã có thể xả
giới. Không thể giữ thì nên xả; không thể giữ mà lại phạm giới, về sau
muốn thọ thì trước tiên phải sám hối sau đó mới được thọ.
VI. Công đức
Công đức trì giới, căn cứ
vào quyển năm (của kinh Ưu-bà-tắc) có nói: “Nếu ai có thể thanh tịnh thọ
trì Bát quan trai giới thì sẽ được vô lượng phước báu, cho đến đạt được
niềm vui vô thượng”.
Kết Luận
Ðức Phật trụ ở đời nguyên
vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Do căn tánh chúng sanh bất đồng nên giáo
pháp trình bày có khác. Nhưng nhìn chung vẫn không ra ngoài Tam vô lậu
học: giới-định-tuệ. Giới học là căn bản. Dựa vào cấp bậc của giới có thể
phân làm bảy chúng đệ tử. Chúng xuất gia bao gồm: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni,
Thưùc-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di ni. Chúng tại gia bao gồm: Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di (thiện nam, tín nữ thọ năm giới). Tuy nhiên, mục đích học Phật là
cầu giải thoát sanh tử ra khỏi ba cõi, nên đức Phật đặc biệt vì hàng đệ tử
tại gia mà đặt ra Bát quan trai giới này. Hàng đệ tử tại gia không nên cho
thọ năm giới là đủ mà nên cảm nhận ân đức của Phật, vận dụng cơ hội đến tự
viện hoặc ở nhà thọ trì Bát quan trai giới, để mong sớm giải thoát.
Lục niệm.
1. Niệm Phật:
Niệm Phật đầy đủ mười hiệu, có đại từ,
đại bi, đại quang minh, thần thông vô lượng, có khả năng bạt trừ cứu
giúp khổ não của chúng sanh. Ta cũng muốn như đức Phật vậy.
2. Niệm Pháp:
Niệm Tam tạng, mười hai bộ kinh mà đức
Phật đã thuyết, có đại công đức làm đại diệu dược cho chúng sanh. Ta
muốn chứng đắc pháp mầu ấy mà ban bố cho mọi loài .
3. Niệm Tăng:
Là niệm đệ tử của Như lai đã đắc được
pháp vô lậu, đầy đủ giới-định-tuệ, có thể làm ruộng phước lành cho thế
gian. Ta muốn tu tập hạnh của Tăng .
4. Niệm giới:
Niệm hạnh giới có oai lực lớn, có khả
năng phá trừ pháp bất thiện của chúng sanh. Ta muốn tinh tấn hộ trì
những giới ấy.
5. Niệm bố thí:
Niệm hạnh bố thí có công đức rất lớn,
có khả năng trừ bỏ trọng bệnh keo kiệt, tham lam của chúng sanh. Ta
muốn dùng thiện thí nhiếp thủ chúng sanh.
6. Niệm thiên:
Niệm thiên là niệm 6 cõi trời dục giới
cho đến các cõi trời ở sắc giới và vô sắc giới. Nơi đó, những niềm vui
có được một cách tự nhiên đều do ngày xưa tu các căn lành của giới
thí. Ta cũng muốn đầy đủ công đức như vậy, sinh vào các cõi trời đó
(hoặc có người hỏi đệ tử Phật phải niệm Tam bảo, sao lại niệm thiên?
Vì sanh thiên chính là thiện nghiệp của mình. Hoặc có người hỏi: sanh
thiên là pháp của phàm phu, vì sao phải niệm? Vì đây là người đã biết
con đường đến Niết-bàn còn xa nên không chịu đi; vì vậy, niệm sanh
thiên là để khiến cho tâm của họ hướng tới mong cầu Niết-bàn).
--- o0o ---
Mục Lục
|
Chương I
|
Chương II
|
Chương
III
Chương
IV
|
Chương V
|
Chương VI
|
Chương VII
Chương
VIII
|
Chương IX
|
Chương X
--- o0o ---
Trình bày: Linh Thoại
Cập nhật: 01-04-2004