KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NIỀM TIN PHẬT GIÁO
Biên Soạn:
Pháp Sư Quảng Tịnh
Việt dịch: Thích Ðạo Cơ
--- o0o ---
Chương III
GIÁO
CHỦ PHẬT GIÁO
LỊCH
SỬ ÐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI.
(Từ thành đạo đến nhập
Niết-bàn )
Dẫn Nhập
Chương trước đã cho ta biết đức Phật vì đại
nguyện mà xuất gia tu đạo giác ngộ nên mọi người tôn xưng Ngài là Phật Ðà.
Thái tử vừa mới thành Phật quả, câu nói đầu
tiên của Ngài: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ trí tuệ,
đức tướng của Như lai; nhưng do vì vọng tưởng chấp trước nên không thể
chứng đắc được”. Trong kinh Pháp hoa có nêu mục đích của đức Phật ra đời
là: “Chỉ bày cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến của Phật”. Do đó, sau khi
thành đạo, Ngài không nhập Niết-bàn mà đi khắp mọi nơi để hóa độ chúng
sanh.
Chánh Ðề
I.
Ðức Phật chuyển pháp luân
Ðức Phật tuần tự giáo hóa ở các nơi:
1.
Thuyết pháp taïi vườn Lộc Uyển (vườn Nai)
Sau khi đức Phật thành đạo, Ngài muốn đem
chân lý chỉ dạy người đời, nhưng lại sợ người đời trí tuệ thấp kém, khó
tin nhận. Ngài nghĩ đến hai vị thầy trước kia của mình là tiên nhân
A-la-lam và Uất-đầu-lam-phất có trí tuệ cao, nhất định tiếp nhận được giáo
pháp; nhưng hai vị thầy này đều đã qua đời. Vì vậy, Ngài đi đến vườn Lộc
Uyển (Mrigadava) trong thành Ba-la-nại (Varanasi) để gặp năm người đồng tu
với Ngài trước kia. Năm anh em ông Kiều-trần-như vừa trông thấy đức Phật
từ xa đi lại, họ bèn ước định với nhau là không tiếp đón. Nhưng, khi đức
Phật đến gần họ, oai đức trang nghiêm của Ngài khiến họ không thể tự chủ,
đều tự động đứng dậy nghinh tiếp. Sau đó, đức Phật khai thị cho họ: “Hai
cực đoan khổ hạnh và hưởng thụ dục lạc không có ích trên đường tu, xả bỏ
hai cực đoạn này mới là trung đạo”. Ngài lại giảng rộng nội dung của pháp
Tứ đế,
Bát chánh đạo.
Năm người nghe chánh pháp như người vừa tỉnh mộng, hoan hỷ tin nhận, trở
thành những vị đệ tử xuất gia đầu tiên của Phật.
2. Ðệ tử tại gia đầu tiên
Lúc
đức Phật ở vườn Lộc Uyển, có một thanh niên trẻ tuổi, con nhà giàu tên là
Da-xá, nhàm chán cuộc sống giàu sang mà bỏ nhà ra đi, gặp được đức Phật.
Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, anh cầu xin đức Phật cho phép mình được
xuất gia. Cha của Da-xá đi kiếm con, tìm đến chỗ đức Phật, nghe đức Phật
thuyết pháp cũng hoan hỷ phụng hành, trở thành vị đệ tử tại gia thứ ba
(hai vị đệ tử tại gia lúc đức Phật mới thành đạo là hai thương gia
Ðế-lê-phú-bà và Bạt-lệ-ca cúng dường và thọ giới quy y)
3.
Ngài Ca-diếp – giáo chủ đạo thờ lửa
Trên
đường đức Phật đến nước Ma-kiệt-đà, khi đi đến núi Dà-gia, Ngài đã nhiếp
phục được vị giáo chủ nổi tiếng của ngoại đạo thờ lửa tên là
Ưu-lâu-tần-loa-ca-diếp
và năm trăm đệ tử của ông. Ca-diếp có hai người em: một là Na-đề Ca-diếp
với ba trăm người đệ tử; một người nữa là Ca-da Ca-diếp với hai trăm người
đệ tử. Tất cả đều xuất gia, quy y theo đức Phật.
4.
Tinh xá Trúc Lâm
Ðức Phật dẫn hơn một ngàn đệ tử hướng
đến thành Vương-xá – thủ đô nước
Ma-kiệt-đà (Rajagrha). Vua Tần-bà-sa-la nghe thái tử Tất-đạt-đa
ngày xưa đã thành đạo lòng mừng khôn tả, bèn cùng với quần thần đến thăm
hỏi. Ðức Phật thuyết giảng chánh pháp cho vua nghe. Vua cùng quần thần
sanh lòng cung kính tin nhận. Vua Tần-bà-sa-la liền thỉnh đức Phật vào
cung để cúng dường và ra lệnh xây một tòa tinh xá qui mô rộng lớn trong
vườn trúc Ca-lan-đà ở phía bắc ngoại thành để cúng dường đức Phật và giáo
đoàn có chỗ an trú tu tập. Ðây là tinh xá Trúc lâm cũng là đạo tràng màø
người đời vì đức Phật mà thành lập; có rất nhiều bộ kinh được đức Phật
thuyết giảng nơi đây.
Ở tinh xá Trúc Lâm một thời gian, đức Phật
lại thâu nhận Xá-lợi-phất (Saripatra) và Mục-kiền-liên (Maudgalgayan)
xuất gia làm đệ tử .Về sau, hai vị này có công rất lớn trong việc giúp
đức Phật hoằng dương chánh pháp, và được liệt vào trong hàng mười đại đệ
tử của đức Phật.
5. Ðức Phật veà quê cũ
Lộ trình từ tinh xá Trúc Lâm ở thành Vương-xá đến nước Ca-tỳ-la-vệ đi
ngựa nhanh nhất phải mất ba ngày mới tới. Ðã hơn mười năm xa quê
hương và gia đình, hiện tại trên đường hoằng hóa đã thành lập bốn nơi
hoằng pháp, nên đức Phật muốn trở về quê hương để thăm viếng dòng tộc và
sẽ thuyết giảng chánh pháp cho họ. Vừa lúc, vua Tịnh-phạn sai đại thần
Ưu-đà-di đến tìm đức Phật. Ngài dẫn đoàn đệ tử trên đường trở về quê
hương, dừng chân nghỉ trong rừng cây Câu-ni-đà ngoại thành Ca-tỳ-la-vệ, và
sau đó ôm bát vào thành khất thực. Nghe tin thái tử trở về, vua Tịnh-phạn
giật mình, liền vội vàng ra khỏi cung đón. Nhà vua thấy oai nghi của đức
Phật trang nghiêm thanh tịnh; ban đầu thâm tình còn sâu nặng muốn đức Phật
thừa kế ngôi vị quân vương. Nhưng tâm của đức Phật như dòng nước lắng yên,
Ngài cung kính tuyên bày diệu pháp cứu cánh. Vua Tịnh-phạn biết đức Phật
đã tu thành chánh quả, được các nước sùng tín, lòng cảm thấy an ủi vô hạn.
Ðức Phật ở lại cố hương ba tháng. Các huynh đệ trong vương tộc như: A-nan,
A-na-luật, Bạt-đề cho đến A-nan-đà - em cùng cha khác mẹ với Ngài, đều
cùng nhau xuống tóc xuất gia, nhập vào giáo đoàn của đức Phật; thậm chí
La-hầu-la tuổi còn nhỏ cũng được xuất gia, trở thành vị Sa-di đầu tiên.
6. Tinh xá Kỳ viên:
Trong nước Xá-vệ (Shravasti) (nằm hướng
chánh bắc Ấn Ðộ, phía tây bắc nước Ma-kiệt-đà) có một trưởng giả tên là
Tu-đạt-đa giàu có nhất thiên hạ, hàng ngày bố thí khắp nơi, giúp đỡ người
nghèo khổ cô độc. Người đương thời tôn trọng, gọi ông là trưởng giả
Cấp-cô-độc (Cấp, nghĩa là cung cấp cứu trợ). Trưởng giả Cấp-cô-độc nhân
việc đi đến thành Vương xá, được bạn là trưởng giả Hộ-di-thủ-la giới thiệu
về oai đức của đức Phật. Tu-đạt-đa nghe xong vui mừng vô cùng, yêu cầu bạn
dẫn mình đến tinh xá Trúc Lâm để gặp đức Phật. Ðức Phật vì ông thuyết
pháp. Tu-đạt-đa được nghe những điều chưa từng nghe, lòng vui mừng hớn hở.
Ông mong mỏi dân chúng Xá-vệ cũng được đức Phật giáo hóa. Nên sau khi về
nước, ông quyết định xây một đạo tràng với quy mô rộng lớn, rồi thỉnh đức
Phật về đó để giáo hóa. Ðây chính là tinh xá Kỳ viên.
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc của nước Xá-vệ cũng quy y với đức Phật.
7. Vua Tịnh-phạn băng hà
Sau khi rời nước Ca-tỳ-la-vệ, đức Phật lại
tiếp tục đi giáo hóa khắp nơi. Có một hôm vào mùa an cư, tại núi Linh thứu
ở ngoài thành Vương-xá, đức Phật Ðang trong thiền định, biết vua Tịnh-phạn
bệnh rất nặng. Ngài bảo các đệ tử mau chóng trở về thành Ca-tỳ-la-vệ. Sau
đó, đức Phật thuyết giảng về đạo lý vô thường, khổ, không, vô ngã...
cho vua Tịnh-phạn nghe. Vua Tịnh-phạn nghe xong, an nhiên qua đời.
Khi đưa linh cữu của vua đi, đức Phật cũng tham gia khiêng linh cữu. Nhân
dân thấy bậc vĩ đại như đức Phật mà cũng khiêng đưa linh cữu vua cha, ai
nấy đều cảm động rơi lệ, lớp lớp quỳ bên đường lễ bái.
8. Tỳ-kheo ni đầu tiên
Sau khi vua
Tịnh-phạn băng hà, em họ của ngài là Ma-ha-na-ma kế thừa vương vị, thống
trị nước Ca-tỳ-la-vệ. Di mẫu của đức Phật là Ma-ha-ba-xà-ba-đề
do vua Tịnh-phạn qua đời nên không muốn ở lại trong cung, liền dẫn
Da-du-đà-la và một số cung nữ theo đức Phật xuất gia thành những Tỳ-kheo
ni đầu tiên .
II. Phương tiện giáo hóa
của đức Phật
Khi hoằng pháp độ sanh, đức Phật thường gặp
sự đố kỵ, cản trở quấy nhiễu như: Có lần khi đức Phật Ðang thuyết pháp, có
một nữ ngoại đạo giả làm người phụ nữ có mang đến nhục mạ. Lại có một lần
khác, một tên ngu si vô lại giết người, để gom đủ một trăm ngón tay (vì
theo tà đạo cho rằng làm như vậy mới có thể chứng đạo) đã đuổi theo cố
giết đức Phật. Ðức Phật từng bị em họ là Ðề-bà-đạt-đa điều khiển voi say
giẫm đạp và lăn đá lớn từ trên núi cao xuống ám hại Ngài. Tuy thế, nhưng
với trí tuệ và oai đức của mình, Ngài đã thoát khỏi. Không kể là người
thân, kẻ thù, người trí, người ngu, người nghèo, người giàu, Ngài đều dùng
các phương tiện để nhiếp phục, khiến họ bỏ ác làm thiện, hướng đến giải
thoát.
Ðức Phật tùy người, tùy hoàn cảnh khác nhau
mà dùng phương pháp khác nhau để giáo hóa đệ tử. Trong hàng đệ tửû vì căn
cơ mỗi người khác nhau nên đức Phật
thường ứng dụng các pháp phương tiện để hóa độ họ. Ví dụ như Nan-đà
thân tuy xuất gia nhưng tâm còn tình cảm luyến ái, đức Phật dùng thần
thông đưa Nan-đà đi dạo thiên đàng và địa ngục để so sánh hai cảnh khổ vui
mà chọn lựa. Ðối với A-nan-đà học rộng nghe nhiều nhưng vì mắc nạn thiếu
nữ Ma-đăng-già, đức Phật dùng nghĩa lý thâm sâu của kinh Lăng nghiêm để
giáo hóa, dẫn dắt A-nan-đà thấy rõ cảnh huyễn mà chuyên tâm tu đạo. Tóm
lại, đức Phật thường dùng các phương tiện tùy duyên giáo hóa, khai ngộ cho
tất cả chúng sanh quy y Phật pháp chứ không dùng một đường lối nhất định
nào.
III. Tinh thần bình đẳng
của đức Phật
Ðương
thời, xã hội Ấn Ðộ được chia làm bốn giai cấp: Bà-la-môn (người làm việc
tế lễ), Sát-đế-lợi (vua chúa, võ sĩ), Phệ-xá (bình dân), Thủ-đà-la (tiện
dân, nô lệ ).
Giai cấp phân chia rất nghiêm ngặt, kỳ thị
rất quyết liệt. Ðương thời cho rằng Bà-la-môn hóa sanh từ trong miệng Phạm
thiên nên rất tôn quý. Tôn giáo phải do Bà-la-môn nắm giữ. Chủ trương tế
tự vạn năng, Bà-la-môn là trên hết. Thủ đà la sinh tánh thấp hèn, đời đời
kiếp kiếp đều là Thủ đà la không bao giờ được giải thoát. Họ cho rằng thân
thể tiện dân luôn luôn ô uế, cho nên không được tiếp xúc thân thể với
người giàu có, thậm chí cho rằng nếu họ mà đạp lên bóng của người giàu là
phạm tội đại bất kính.
Ðức Phật vốn mang tinh thần bình đẳng với
tất cả chúng sanh, đối với tất cả các giai cấp, căn cơ... đều thương như
nhau. Không những thuyết pháp cho hàng quốc vương quyền quý mà Ngài còn
thuyết pháp cho những người nghèo hèn bình dân. Không chỉ độ cho hàng
Bà-la-môn tế tự như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, hàng Sát-đế-lợi quý tộc
như A-nan-đà, A-nan, Kiều-trần-như ... xuất gia, mà Ngài cũng độ cho những
hạng người thấp hèn như thầy Ưu-ba-ly – thợ hớt tóc hoàng gia Ca-tỳ-la-vệ,
Nan-đề – người dân thấp hèn gánh phân... xuất gia. Chủ trương bốn tộc xuất
gia đồng là họ Thích, đức Phật không những muốn đệ tử tại gia tôn quý như
vua Ba-tư-nặc... phải lễ kính Ca-diếp, Mục-kiền-liên... mà còn phải lễ
kính Ưu-ba-ly, Nan-đềø. Trong Tăng đoàn, Nan-đà xuất gia với thân phận
vương tử cũng phải lễ kính Ưu-ba-ly và Nan-đề vì họ xuất gia trước. Ðức
Phật không những tiếp nhận sự cúng dường của hàng giàu có như trưởng giả
Cấp-cô-độc mà còn tiếp nhận sự cúng dường của người thợ thiết nghèo
Thuần-đà. Ðức Phật không chỉ thuyết pháp cho tu sĩ Ðại Ca-diếp hành hạnh
đầu đà mà còn dẫn dắt cho vương tử Nan-đà tham luyến vợ đẹp. Ðức Phật
không chỉ thuyết pháp cho hàng thanh
niên, học sinh mà còn thuyết giảng cho người già tám mươi tuổi. Ðức Phật
không chỉ thuyết pháp cho hoàng hậu mà còn thuyết pháp cho cả dâm
nữ Liên Hoa Sắc....
IV. Năm thời thuyết
pháp của đức Phật
Trong
bốn mươi chín năm thuyết pháp, những pháp Ngài đã thuyết về sau các hàng
đệ tử kết tập thành ba tạng: Kinh – Luật – Luận. Sang Trung Quốc, đại sư
Trí Giả thuộc tông Thiên Thai nghiên cứu cho rằng: kinh điển đức Phật nói
trước sau y cứ vào nghĩa mà phân chia, những loại tương đồng xếp lại thành
một thời, nên có tên là Ngũ thời thuyết giáo.
Ðức Phật giác ngộ từ năm ba mươi tuổi, cho
đến nay, chưa bao giờ Ngài ngừng công việc hoằng dương chánh pháp. Ngài
miệt mài bình đẳng giáo hóa mọi người. Trải qua bốn mươi chín năm, đến lúc
được tám mươi tuổi, Ngài bảo các đệ tử: “Trong bốn mươi chín năm qua,
những giáo pháp cần nói, ta đã nói xong; việc cần làm ta cũng đã làm xong.
Ta không còn giữ một bí mật nào nữa. Tất cả các kinh, ta đã nói hết rồi!”.
Một lần tại núi Tỳ-xá-ly (Vasaly), trên đường từ thành Vương-xá đến thành
Xá-vệ, cảm thấy thân thể bất an, đức Phật hướng về đại chúng nói: “Sau ba
tháng nữa, ta sẽ nhập Niết-bàn”. Các đệ tử thấy như trời đất tối tăm, buồn
rầu, sợ hãi vô cùng. Ðức Phật an ủi đại chúng chớ có buồn rầu, than khóc
và khai thị : “Ái ân vô thường, có hợp phải có tan, thân này không phải
của mình, mạng này không tồn tại được lâu dài”. Mặc dù biết được thời gian
nhập Niết-bàn đã đến nhưng đức Phật vẫn tiếp tục hoằng pháp. Ngài đi đến
vườn Xà-đầu ở Ba-bà – một thị trấn nhỏ. Tại đây, Ngài đã thọ nhận món
chiên đàn nhĩ (một loại nấm hương) do người thợ thiết Thuần-đà (Cunda)
cúng. Sau khi ăn xong liền sanh bệnh mà Ngài vẫn đi đến thành
Câu-thi-ca-la (ở phía đông nước Ca-tỳ-la-vệ thuộc phía bắc Ấn Ðộ...). Sau
khi đến Câu-thi-ca-la, đức Phật trú nghỉ ở dưới gốc hai cây Bà-la. Ngài
hướng về đại chúng tuyên nói lời di giáo sau cùng với nội dung:
1. Tôn giả Ca-diếp sẽ kế thừa y bát.
2. Các đệ tử từ đây về sau hãy lấy giới
luật làm thầy.
3. Khi mở đầu các lời kinh nên nói; “Tôi
nghe như vầy”.
4. Xá-lợi của Ngài phân chia ra ba phần:
một phần cho Long cung, một phần cho Thiên cung, và phần còn lại chia đều
cho tám vị vua nước Ấn Ðộ.
Ðại
chúng kính cẩn nghe dạy. Nghĩ đến đèn trí tuệ sắp tắt, mặt trời từ bi sắp
lặn, trong chúng có người sụt sùi khóc, có người thần sắc nghiêm nghị, có
người buồn rầu không nói. Ngay khi ấy, có một ngoại đạo tên là
Tu-bạt-đà-la đến xin quy y, và trở thành vị đệ tử cuối cùng của đức Phật.
Trong khung cảnh trăng sáng trên cao, đêm
mát như dòng sông, đức Phật an nhiên vào Niết-bàn, hoàn thành xong một đời
hóa duyên. Lúc này nhằm ngày mười lăm tháng hai (Âm lịch).
Từ truyện ký của đức Phật, chúng ta hiểu
được thân thế, tư tưởng hành vi của Ngài, biết rõ Ngài là trời trong các
vị trời; là bậc thánh trong các vị thánh. Ngài thật xứng đáng để chúng ta
tôn kính và học tập. Là người đệ tử Phật, chúng ta cần phải ghi nhớ cẩn
thận lời dạy cuối cùng của Ngài. Hiểu rõ và thực hành song đôi theo tinh
thần: trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, tinh tấn tu trì thì mới
có thể báo đáp được ân đức của Phật trong muôn một.
Lời
góp
Sau
khi đức Phật nhập Niết-bàn chín mươi ngày (15-5), năm trăm vị đệ tử thường
theo đức Phật, nhóm tập trong đại thạch thất trên núi Kỳ Xà Quật ở ngoại
thành Vương Xá, suy tôn Tôn giả Ðại Ca-diếp làm chủ trì, Tôn giả A-nan –
đa văn đệ nhất tụng tạng Kinh, Tôn giả Ưu-ba-ly – trì giới đệ nhất tụng
tạng Luật. Sau khi thông qua sự đồng ý của đại chúng, xác định đây chính
là lời dạy của đức Phật thì tất cả cùng tuân theo đọc tụng. Ðây là lần
kiết tập Phật điển thứ nhất. Sắc thân thị hiện của đức Phật tuy đã nhập
diệt nhưng phong cách và giáo pháp của Ngài sẽ vĩnh viễn là ánh sáng chói
lọi ở thế giới Ta-bà này, là thuyền từ trên biển khổ che chở cứu vớt chúng
sanh.
Bát chánh đạo: Còn gọi
là Bát Thánh đạo, tức là tám chi đạo pháp của bậc Thánh:
1-Chánh kiến: Thấy
biết chân chánh.
2-Chánh tư duy: Suy
nghĩ chân chính.
3-Chánh ngữ: Lời nói
chân chánh.
4-Chánh nghiệp: Hành
vi chân chánh.
5-Chánh mạng: Nghề
nghiệp chân chánh.
6-Chánh tinh tấn: Là
nỗ lực tinh tấn đúng pháp.
7-Chánh niệm: Là nhớ
nghĩ chân chánh.
8-
Chánh định: Là thiền định chân chánh.
Quá trình huynh đệ
Ca-diếp quy y đức Phật: Vào giai đoạn đức Phật tu khổ hạnh, Ngài từng
nghe nói ở một nơi nọ có một vị tu hành có phong cách rất vĩ đại tên
là Ca-diếp. Ca-diếp cùng hai em lãnh đạo một ngàn đệ tử, tín ngưỡng
Thần lửa. Do sự học vấn của mình mà họ được quốc vương, đại thần đương
thời tôn trọng.
Ðức Phật đến địa
phương nơi họ tu hành. Trời đã về chiều, Ngài xin ở trọ một đêm.
Ca-diếp muốn thử đức Phật đã đắc đạo hay chưa nên chọn sẵn cho đức
Phật ở trong gian phòng có con độc long. Sáng ngày hôm sau, khi nhìn
thấy đức Phật từ trong phòng đi ra một cách an nhiên, Ca-diếp kinh
hãi, trố mắt ngơ ngác. Ngay chiều hôm ấy, họ đã cử hành một buổi lễ
lớn. Ca-diếp vì đố kỵ thần lực kỳ lạ của đức Phật, sợ đức Phật đến hội
sẽ hơn mình, nên tính toán giữ chân đức Phật lại, do đó mà không đến
chỗ Phật. Suốt buổi hội chỉ đạo chúc mừng mà vẫn chưa thấy đức Phật
xuất hiện, Ca-diếp trong lòng mừng thầm. Sáng hôm sau, Ca-diếp thấy
đức Phật liền hỏi thăm: “Ðêm qua Ngài đi đâu?”. Ðức Phật trả lời một
cách từ hòa: “Ý ông không muốn nên Ta không đến trong hội khánh chúc.
Ca-diếp giật mình, trong lòng nghĩ: “Ðây là người gì mà sao có thể
hiểu thông suốt được những suy nghĩ trong lòng ta?” Ðức Phật nói tiếp:
“Người tu hành không nên có tâm ganh ghét, cũng không nên nghĩ cách
hại người!”. Ca-diếp vô cùng xấu hổ. Biết đức Phật là người giác ngộ
chân chánh nên ông liền thống lãnh hai em cùng các đệ tử đến lễ bái
đức Phật. Ðức Phật khai đạo cho họ và mượn lửa của giáo phái thần lửa
làm đề tài, để chỉ bày ba thứ lửa độc của con người: “Trong lòng con
người có ba thứ lửa độc, hàng ngày thiêu đốt chúng ta, đó là: lửa
tham, lửa sân và lửa si”. Nếu nương chánh pháp tu hành, trừ diệt ba
thứ lửa này thì con người sẽ không còn phiền não khổ đau.
Sau khi nghe đức Phật
thuyết pháp, Ca-diếp và các đệ tử của ông, lòng rất vui mừng, bèn ném
bỏ dụng cụ thờ lửa, rồi toàn thể đều cầu xin xuất gia với Phật.
Một hôm, Xá-lợi-phất trên đường đi, gặp tỳ kheo Mã Thắng (A-thuyết-thị)
đệ tử của Phật. Tỳ kheo Mã Thắng có hình dung đoan chánh, cử chỉ mẫu
mực, ai trông thấy cũng tỏ lòng cung kính. Xá-lợi-phất bị hấp dẫn
trước oai nghi của tỳ kheo Mã Thắng. Ông ta nghĩ:. “ Vị sa môn trẻ
tuổi này tướng mạo xuất chúng, chắc hẳn là bậc có đạo hạnh”. Bèn đến
hỏi thăm:
“Ngài học đạo với ai?
Giáo pháp đó như thế nào?” Tỳ kheo Mã Thắng trả lời: “Tôi ở tinh xá
Trúc lâm, xuất gia theo đức Phật. Ngài là người xuất thân từ dòng họ
Thích Ca. Ðức Phật thường dạy đạo lý ‘các pháp do duyên sanh, các pháp
do duyên diệt’”. Xá-lợi-phất nghe xong như có sở ngộ, liền lễ tạ rồi
từ biệt đi. Sau đó thì về chỗ ở, Mục-kiền-liên thấy dung mạo
Xá-lợi-phất vui vẻ hơn ngày thường, bèn hỏi nguyên do. Xá-lợi-phất kể
việc gặp tỳ kheo Mã Thắng. Xá-lợi-phất truyền đạt giáo lý của đức Phật
cho Mục-kiền-liên nghe. Nghe xong, Mục-kiền-liên tâm khai mắt sáng.
Hai vị đều cho rằng bậc minh sư chân chánh đã xuất hiện, liền cùng
nhau dẫn hai trăm đệ tử đến tịnh xá Trúc lâm để ra mắt đức Phật, cầu
xin xuất gia.
Mười đại đệ tử của
Phật:
1. Xá-lợi-phất - trí tuệ đệ nhất.
2. Mục-kiền-liên - thần thông đệ nhất.
3. La-hầu-la - mật hạnh đệ nhất.
4. Phú-lâu-na - thuyết pháp đệ nhất.
5. Ca-chiên-diên - nghị luận đệ nhất.
6. Tu-bồ-đề - giải không đệ nhất.
7. A-na-luật - thiên nhãn đệ nhất.
8. Ðại Ca-diếp - đầu đà đệ nhất.
9. Ưu-ba-ly - trì giới đệ nhất.
10. A -nan-đà - đa văn đệ nhất.
Tu-đạt-đa sau khi về
nước, đi khắp nơi tìm kiếm địa điểm thích hợp để xây tịnh xá cho đức
Phật. Ông thấy một tòa viên lâm ở phía nam thủ đô thành Xá-vệ. Tòa
viên lâm này của thái tử Kỳ-đà. Tu-đạt-đa đến thỉnh cầu thái tử nhường
lại. Thái tử chưa từng biết đức Phật cho nên có ý làm khó dễ, nói:
“Nếu ông có thể đem vàng trải kín khắp đất khu vườn này thì ta sẽ để
cho!”. Không ngờ Tu-đạt-đa có tiền của thật đáng nể, nguyện lực khó ai
sánh bằng, nên sau khi về nhà, ông cho vận chuyển số vàng trong kho
báu ra, rồi sai người trải kín khắp khu vườn. Thái tử thấy ông ta
trịnh trọng làm việc đó lấy làm cảm động, trong lòng suy nghĩ, đức
Phật hẳn là một vị Thánh hiếm có ở đời mới khiến cho Tu-đạt-đa dốc hết
sức cúng dường, liền sanh tâm tùy hỷ. Thái tử nói với Tu-đạt-đa: “Nơi
gốc cây, vàng không trải đến được. Thôi thì đất vườn do ông cúng, còn
cây cối thuộc về tôi. Tôi nguyện dâng cúng và cùng ông xây dựng tinh
xá”. Do nhân duyên này nên sau khi tinh xá lạc thành, đức Phật đặt tên
là “Kỳ Thọ Cấp-cô-độc viên” gọi tắt là tinh xá Kỳ viên, lấy giai thoại
này làm kỷ niệm.
Ngũ thời thuyết giáo:
1. Thời thứ nhất Hoa
nghiêm:
Lúc mới đắc đạo không
lâu, đức Phật đã giảng kinh Hoa nghiêm tại cội Bồ-đề. Từ nguồn tâm
biển giác, Ngài nói rõ đặc tính cao thâm tinh túy của Phật pháp (là
pháp giới duyên khởi thậm thâm của Bồ-tát).
2. Thời thứ hai
A-hàm:
Ðức Phật thuyết kinh
A-hàm, nói rõ lý nhân duyên nghiệp cảm, chỉ bày pháp Tứ đế, Thập nhị
nhân duyên,... là giáo lý cơ bản của Phật giáo.
3. Thời thứ ba Phương
đẳng:
Ðức Phật thuyết kinh
Phương đẳng, đả phá biên chấp, chê trách tiểu thừa, tán thán Ðại thừa,
khen ngợi viên giáo. Ngài nói rõ lý của pháp Ðại thừa, hướng dẫn tự
lợi lợi tha, khiến hạng người nhị thừa ( Thanh Văn, Duyên Giác ) quay
về Ðại thừa.
4. Thời thứ tư
Bát-nhã:
Ðức Phật thuyết kinh
Bát-nhã, nói rõ lý như thật không tướng của các pháp trong vũ trụ,
khai thị tinh thần Bồ-tát Ðại thừa tích cực lợi tha.
5. Thời thứ năm Pháp
hoa và Niết-bàn:
Sau cùng, đức Phật
thuyết hai kinh Pháp hoa và Niết-bàn, đưa giáo pháp Tam thừa ( Thanh
văn, Duyên giác, Bồ-tát) về Nhất thừa là Phật thừa.
--- o0o ---
Mục Lục
|
Chương I
|
Chương II
|
Chương
III
Chương
IV
|
Chương V
|
Chương VI
|
Chương VII
Chương
VIII
|
Chương IX
|
Chương X
--- o0o ---
Trình bày: Linh Thoại
Cập nhật: 01-04-2004