KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NIỀM TIN PHẬT GIÁO
Biên Soạn:
Pháp Sư Quảng Tịnh
Việt dịch: Thích Ðạo Cơ
--- o0o ---
Chương
I
PHẬT
GIÁO LÀ GÌ ?
Phật
giáo là một tôn giáo lớn có lịch sử rất lâu đời. Tại Trung Quốc, Phật
giáo vốn là một tôn giáo từ ngoài truyền đến (truyền từ Ấn Ðộ). Nhưng bắt
đầu từ đời Hán Minh Ðế (58 –76TL), Phật giáo mới chính thức truyền vào
Trung Quốc, đến nay đã gần 2000 năm lịch sử. Tư tưởng Phật giáo cùng với
văn hóa Trung Quốc đã hòa hợp nhau như nước với sữa, truyền thừa đến nay
trở thành một tư tưởng trọng yếu, cùng song hành với Nho học và Ðạo giáo.
Cũng như Nho học và Ðạo học, tư tưởng Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đối
với đời sống tinh thần người dân Trung Quốc. Nhưng nếu hỏi Phật giáo là gì
thì mọi người quả thật khó trả lời cho rõ ràng và chính xác. Sau đây sẽ
thuyết minh về điểm này.
Chánh đề
I. Ðịnh nghĩa Phật giáo
Phật, nói
đầy đủ là Phật Ðà, tiếng Phạn là Buddha dịch là “Bậc Giác ngộ” hoặc “Bậc
Trí tuệ”.
Giác có hai
nghĩa: Giác sát, tức là thấy rõ phiền
não mà không bị phiền não
nhiễu loạn làm khốn khổ; và giác ngộ tức là thấu rõ chân lý các pháp một
cách rõ ràng .
Phật là bậc
đã tự giác ngộ lại có thể giúp người khác giác ngộ, đạt đến giác hạnh viên
mãn. Tự giác là khác với cái không tự giác của phàm phu. Giác tha là khác
với hàng Thanh văn, Duyên giác; hai thừa này tuy có thể tự giác mà không
có khả năng giác tha. Còn giác hạnh viên mãn là khác với Bồ-tát; Bồ-tát có
năng lực tự giác và giác tha nhưng giác hạnh viên mãn vẫn chưa đạt được.
Chúng sanh
nào đoạn tất cả phiền não, đầy đủ phước đức trí tuệ thì gọi là Phật. Bất
cứ ai có thể đạt đến tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn đều được gọi là
Phật.
Giáo có 3
nghĩa:
1- Giáo lý:
dạy người hiểu rõ chân lý.
2- Pháp
giáo: phương pháp giáo dục.
3- Trí giáo
dạy người phát sanh trí tuệ .
Phật giáo
là giáo lý của Phật Ðà, dạy cho người làm thế nào được trí tuệ để có thể
thấy rõ chân lý vũ trụ mà đạt đến giác hạnh viên mãn.
II. Duyên khởi của Phật giáo
Ðứng ở bản
thể mà nói thì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Phật tánh là bản tánh
sáng suốt của chúng sanh; nên mê là chúng sanh mà ngộ là Phật.Vì thế,
chúng ta và Phật vốn cùng một bản thể. Do đó có chúng sanh thì có Phật, mà
chúng sanh có từ vô thỉ đến giờ, nên giáo pháp Phật cũng có từ vô thỉ.
Ðứng ở quan
điểm lịch sử nhân loại (tức laø giới hạn ở thế giới này) mà nói thì Phật
giáo xuất hiện từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước, nay (1986 TL) là Phật
lịch 2530. Ðây là lấy năm đức Phật nhập Niết-bàn làm năm đầu. Ðức Phật
hưởng thọ ở đời tám mươi năm, do đó đến nay khoảng thời gian đản sanh đã
có hai ngàn sáu trăm mười năm.
III. Giáo chủ của Phật giáo
Giáo chủ
của Phật giáo là đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đản sanh trên hai ngàn năm trăm
năm trước tại thành Ca-tỳ-la Vệ ở nước Ấn Ðộ. Khi sanh ra, Ngài là vị thái
tử tên Tất-đạt-đa (kiết tường thành tựu như ý). Phụ thân là vua Tịnh-phạn;
mẫu thân là Ma-da phu nhân; Thích Ca là họ của Ngài. Thái tử lúc nhỏ thông
minh phi thường, đến năm mười chín tuổi cảm nhận lý vô thường:
sanh, lão, bệnh, tử của kiếp người mà xa lìa cuộc sống vinh hoa phú quý
của cung vua, xuất gia tìm cầu chân lý nhân sinh vũ trụ và con đường giải
thoát. Trải qua năm năm tìm đạo, sáu năm khổ hạnh, sau cùng Ngài ngồi tham
thiền dưới cây Bồ-đề mà giác ngộ thành Phật. Lúc này, Ngài ba mươi tuổi.
Sau khi thành đạo, Ngài đến lưu vực sông Hằng, thuyết pháp trọn được bốn
mươi chín năm. Ðến lúc tám mươi tuổi, Ngài nhập Niết-bàn.
GIÁO LÝ PHẬT GIÁO
IV. Giáo lý
của đức Phật phân làm hai loại lớn
1.Tam tạng
của Phật giáo:
Giáo lý của
Phật giáo bao hàm Kinh, Luật, Luận .
- Kinh,
tiếng Phạn là Tu-đa-la, dịch là khế kinh; có 2 nghĩa: khế lý và khế cơ.
Khế lý là
phù hợp với chân lý. Hễ là người đạt đến trí tuệ tối cao đều hiểu rõ chân
lý của vũ trụ. Vả lại, do pháp tương đồng nên Phật đạo đồng nhau. Khế cơ
là khế hợp với căn cơ của người nghe. Cho nên, trong Phật giáo tuy có tám
vạn bốn ngàn pháp môn, mỗi hướng khác nhau nhưng đều đồng về một đích. Lại
nữa, tạng Kinh phân nhỏ ra làm mười hai bộ.
- Luật,
tiếng Phạn là Ưu-ba-la-xoa hay Tỳ-ni đều dịch là Luật, tức là giới luật
của Phật giáo, là phép tắc của đức Phật răn dạy hàng đệ tử rèn luyện thân
tâm ngăn chặn hành vi ác.
- Luận,
tiếng Phạn là A-tỳ-đạt-ma dịch là Luận, là những gì luận bàn đúng chánh
pháp của hàng đệ tử Phật về lời dạy của Ngài hoặc những trước tác để giải
thích kinh điển, khiến cho đời sau hiểu rõ chính xác Phật pháp.
Kinh thuộc
định học; Luật thuộc giới học; Luận thuộc tuệ học; hợp cả ba lại thành Tam
vô lậu học có khả năng phá trừ căn bản phiền não: tham, sân , si.
Kinh, Luật,
Luận gọi là “Tam tạng”, phạm vi bao quát từ thành, trụ, hoại,
không của thế giới tự nhiên, đến hiện tượng sinh, lão, bệnh, tử của kiếp
sống nhân loại; từ pháp tiểu thừa tự độï cho mình đến pháp đại thừa rộng
độ chúng sanh; từ hình hình, sắc sắc của thế giới khách quan, đến vọng
niệm vô minh ở trong tâm linh của chúng ta. Về thời gian thì thông suốt ba
đời quá khứ, hiện tại, vị lai; về không gian thì tận cùng mười phương thế
giới.
Phật giáo
vì căn cơ nguyện vọng của chúng sanh không đồng mà phân ra có đại thừa,
tiểu thừa. Chỗ khác biệt giữa đại thừa và tiểu thừa là căn cứ nơi
tâm lượng lớn hay nhỏ mà phân ra. Hàng tiểu thừa vì vội cầu giải thoát nên
cho là đủ, còn bậc đại thừa thì không trụ ở Niết-bàn mà độ khắp chúng
sanh. (Thừa tức là xe có thể đưa chúng sanh từ trần lao phiền não đến cảnh
giới an lạc thanh tịnh, từ biển khổ luân hồi đến cảnh giới giải thoát
Niết-bàn. Ðại thừa như cỗ xe lớn, một lúc có thể chở nhiều người. Tiểu
thừa như cỗ xe nhỏ, một lần chỉ có thể chở một hoặc hai người mà thôi).
2. Tam pháp ấn – tiêu chuẩn ấn giám giáo lý:
Tam pháp ấn
là giáo lý căn bản nhất của Phật giáo. Nó dùng để ấn chứng tất cả học
thuyết, giáo pháp đúng hay không đúng chánh pháp. Nhờ hiểu biết thâm sâu
về Tam pháp ấn chúng ta mới có thể ngộ nhập giáo lý Duyên khởi thậm thâm
mà đức Thích tôn đã thuyết giảng. Chúng ta dùng Tam pháp ấn để phân biệt
ấn chứng tất cả học thuyết của thế gian (bao hàm những kinh điển không rõ
lai lịch và những trước tác của hàng đệ tử) có khế hợp với lời dạy của
Phật Ðà không? Nếu trái với Tam pháp ấn này, thì không phải là kinh điển
của Phật giáo. Ngược lại, nếu hợp với
Tam pháp ấn này, dù không phải chính đức Phật nói cũng có thể xem
là Phật pháp cứu cánh .
Tam pháp
ấn: pháp ấn thứ nhất là các hành vô thường; pháp ấn thứ hai là các pháp vô
ngã; pháp ấn thứ ba là Niết-bàn tịch tịnh.
- Các hành
vô thường: “Hành” là biến chuyển tạo tác của ý tứ. Từ quan điểm của Phật
giáo, (chúng ta) thấy tất cả sự vật trong vũ trụ (bao quát: tâm lý, sinh
lý, vật lý) đều là do tạo tác mà thành, do các thứ điều kiện, nhân tố
(nhân duyên) kết hợp mà thành, cũng do các thứ điều kiện biến hóa mà thay
đổi chuyển biến. Do đó, trên bề mặt tương tục của thời gian, chúng ta
thấy trong tất cả sự vật đều có sự biến hóa trong từng sát na, chẳng phải
thường hằng bất biến. Cho nên gọi là “các hành vô thường”.
- Các pháp vô ngã: là từ trên bề mặt của không gian, nhìn thấy tất
cả sự vật (các pháp) đều làm điều kiện nương tựa lẫn nhau mà tồn tại. Kia,
đây tác động qua lại lẫn nhau mà không có chủ thể
thực tại bất biến. Cho nên nói là “các pháp vô ngã”.
Ngã, ý nói
“chủ thể độc lập, thật tại, thường trụ bất biến”. “Các pháp vô ngã” là nói
từ bên ngoài của thế gian đến bên trong của thân tâm không có một cá thể
thường trụ, độc lập, tự chủ...
- Niết-bàn
tịch tịnh: Mọi người không thể từ trong pháp nhân duyên sâu xa mà thấy
suốt chân lý và thật tướng của vũ trụ. Do đó, ở trong vô thường mà chấp
thường, ở trong vô ngã mà chấp có ngã,
khởi các vọng tưởng, tính toán, phân biệt, “mê lầm” mà tạo “nghiệp” chiêu
cảm quả “khổ” nên trôi lăn mãi trong sanh tử luân hồi. Nếu có thể
quan sát vô thường, vô ngã, xa lìa tất cả hý luận vọng tưởng, chấp trước,
mà thấu suốt thật tướng vạn pháp của vũ trụ, không vì vóc dáng ốm gầy,
không vì sự vật biến đổi mà tự tại thanh tịnh, cuối cùng hướng đến giải
thoát, thì được gọi là “Niết-bàn”. Cảnh giới Niết-bàn hoàn toàn không có
bất kỳ một phiền não nào khuấy nhiễu, làm bất an, nên gọi là “Niết-bàn
tịch tịnh”.
V. Năm thừa của Phật giáo
Phật giáo
chiếu theo phước đức, trí tuệ cao thấp mà chia thành năm cấp bậc: Nhân
thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa.
1. Nhân
thừa: Do thực hành năm giới mà được sanh lại cõi người.
2. Thiên
thừa: Do thực hành mười điều thiện mà được sanh lên cõi trời.
3. Thanh
văn thừa: Do nghe và tu hành theo bốn thánh đế
mà chứng đắc quả A-la-hán.
4. Duyên
giác thừa: Do quán mười hai nhân duyên
mà chứng đắc quả Bích-chi Phật.
5. Bồ-tát
thừa: Là thực hành Lục độ,
phước tuệ viên mãn mà chứng đắc quả vị Phật vô thượng.
Phật giáo
tu hành theo ba môn vô lậu học: giới, định, tuệ để đoạn trừ các phiền não
tham, sân, si mà được giải thoát rốt
ráo. Cho nên, từ quả vị A-la-hán trở lên thì được tự tại thoát
khỏi sự ràng buộc của ba cõi. Còn phương pháp tu hành của các tôn giáo
khác đều không viên mãn, cho nên kết quả chỉ có thể được sanh lên cõi
trời, người, rồi cũng quanh quẩn trong sáu nẻo luân hồi mà thôi.
VI. Lịch sử
truyền bá của Phật giáo
Phật giáo phát triển ở Ấn Ðộ, phân làm ba giai đoạn:
1. Thời đại Phật giáo nguyên thủy: Ước tính từ thời đại đức Phật đến
trước công nguyên ba trăm năm.
2. Thời đại Phật giáo bộ phái: Ước tính khoảng
trước công nguyên ba trăm năm đến đầu
công nguyên.
3. Thời đại Phật giáo đại thừa: Ước tính khoảng năm đầu công nguyên đến
năm một ngàn hai trăm.
Ba giai
đoạn phát triển này trước sau được một ngàn bảy trăm năm.
Sau khi đức
Phật Thích Ca nhập Niết-bàn, các đệ tử của Ngài kế tiếp truyền bá giáo
pháp Phật Ðà đến các nơi. Truyền về hướng nam Ấn Ðộ đến Tích Lan mở rộng
sang Miến Ðiện, Thái Lan, Cao Miên, Lào,Việt Nam, Mã Lai, Tây Á..., đây
gọi là “Phật giáo Nam truyền”; truyền về hướng bắc đến Trung Quốc, Tây
Tạng, Mông Cổ, Việt Nam, Nhật Bản...., đây gọi là “Phật giáo Bắc
truyền”. Ngày nay, Phật giáo đã phổ biến ở Châu Á và các nơi trên
thế giới.
VII. Phật giáo tại Trung Quốc
Phật giáo
truyền vào Trung Quốc. Căn cứ Hoàng minh tập, quyển một thì vào đời Ðông
Hán, vua Minh Ðế nằm mộng thấy một thần nhân, thân có hào quang, bay ở
trước điện. Hôm sau, vua hỏi quần thần đó là vị thần nào thì lúc ấy, có
một vị học vấn thông đạt quả quyết rằng: “thần nghe nói bên Thiên Trúc có
một vị tu hành đắc đạo được mọi người tôn xưng là Phật. Ngài có khả năng
bay trong hư không, thân có hào quang. Người trong giấc mộng của hoàng
thượng có lẽ chính là vị Phật ấy. Vào năm thứ mười niên hiệu Vĩnh Bình (67
TL), vua Minh Ðế phái ông Thái AÂm đến Ấn Ðộ tìm hỏi và thỉnh hai ngài
Ca-diếp-ma-đằng và Trúc Pháp Lan ở nước Ðại Nguyệt Thị, dùng ngựa trắng
chở tượng Phật và kinh điển về Trung Quốc.
Lịch sử ghi
chép đây là sự mở đầu cho Phật giáo truyền vào Trung Quốc. Gần hai ngàn
năm trở lại đây, Phật giáo đã trở thành tôn giáo tín ngưỡng chủ yếu của
Trung Quốc (nhà nhà niệm Phật Di Ðà, người người niệm Phật Quan AÂm), được
ghi chép chân thật, rõ ràng, chính xác. Phật giáo Thiền tông Trung Quốc
bắt đầu từ đời Lương Võ Ðế do tổ sư Ðạt-ma truyền sang.
VIII. Lợi ích của sự tín ngưỡng, thực hành theo Phật giáo
1. Phụng
trì
Lợi ích của
sự phụng trì năm giới, mười điều thiện. Theo Phật pháp, từ khi chúng ta tu
hành đến lúc chứng quả đều dựa trên luật nhân quả. Năm giới và mười điều
thiện của Phật giáo dùng để thúc liễm
thân tâm, khiến cho chúng ta có cuộc sống hiện tại chân chánh, tâm
hồn được an lạc, không tạo nhân ác nghiệp khiến đời sau đọa vào ba đường
ác. Bên cạnh đó, năm giới, mười điều thiện còn có thể gián tiếp tịnh hóa
nhân tâm xã hội .
2. Phụng
hành
Lợi ích của
sự thực hành tinh thần từ bi bình đẳng: Phật giáo chủ trương “vô duyên đại
từ, đồng thể đại bi”,
tức là không những quan tâm đến người thân của mình mà còn phải thương yêu
những người không quen biết. “Theo tinh thần cũng là phàm phu ngu muội thì
tất cả hữu tình trong vũ trụ đều có cùng một bản thể với ta, vui buồn có
liên quan với nhau”. Hơn nữa, tinh thần bình đẳng của Phật giáo bao trùm
tất cả nhân loại và tất cả động vật hữu tình .
Ðiều ấy cho
chúng ta biết phàm là “hữu tình” đều có Phật tánh, đều có khả năng thành
Phật. Ðồng thời, chúng ta bồi dưỡng nhân cách độc lập, tự tôn, tự tin mình
tạo thành một xã hội có sự hài hòa tôn trọng lẫn nhau, tin tưởng lẫn nhau.
3. Phật
giáo có vô lượng pháp môn
Như các
phương pháp: tu tập thiền tọa, tụng kinh, trì chú, niệm Phật, lạy Phật
..., trong quá trình tu tập các phương pháp này, nó có khả năng giúp chúng
ta dần dần thể nghiệm được đạo lý mà đức Phật khai thị, tiến đến thành
Phật.
4. Mục tiêu
cuối cùng của người tin Phật
Mục tiêu
cuối cùng của người tin Phật là đạt đến bốn đức Niết-bàn: Thường, lạc,
ngã, tịnh.
- Thường:
Chơn thường, tịch tịnh, xa lìa các sinh diệt.
- Lạc: Viên
mãn, không khiếm khuyết, xa lìa các phiền não.
- Ngã:
Ðược tự tại, xa lìa các trói buộc.
- Tịnh:
Thanh tịnh vô vi, xa lìa các cấu nhiễm, tự độ, độ tha, công đức
viên mãn.
Người nào
có thể đạt đến cảnh giới này chính là thành Phật vậy. Tất cả nỗi thống khổ
của thế gian đều tương phản với bốn đức này. Sinh diệt bất định tương phản
với thường; phiền não bất an tương phản với lạc; trói buộc lớp lớp tương
phản với ngã; cấu nhiễm bất tịnh tương phản với tịnh. Ðạt được bốn đức này
thì vĩnh viễn xa lìa biển khổ. Thành Phật không thể một bước mà thành, nên
tuần tự mà tiến, nhất định sẽ đạt đến mục tiêu.
Kết Luận
Từ trong
truyện ký của Phật Ðà, chúng ta có thể biết đức Phật là một bậc mô phạm
cao quý nhất của chúng ta. Ngài đã tu hành trải qua vô lượng kiếp, mãi đến
đời sau cùng mới thấu triệt được chân lý vũ trụ. Tuy nhiên, kính ngưỡng
nhân cách vĩ đại của Ngài và sự viên mãn của Phật pháp mà chúng ta không
chịu nỗ lực tu học thì vĩnh viễn không đạt đến mục đích. Cho nên, muốn trở
thành một Phật tử chân chánh thì chúng ta cần phải học tập theo giáo pháp
Phật Ðà, học theo điều đức Phật học, hành theo pháp Phật Ðã hành, cứ tuần
tự tiến tới trên con đường mà đức Phật Ðã chỉ dạy, thì đời này đời sau
chắc chắn đạt được nhiều lợi ích.
Ðã công
nhận giáo pháp của Phật Ðà là nơi nương tựa trọn đời thì chúng ta nên quy
y Tam bảo, tín ngưỡng Phật giáo (tín). Về sau cần phải nỗ lực nghiên cứu
Phật pháp, hiểu rõ giáo lý Phật giáo (giải). Sau khi hiểu rõ giáo lý của
Phật giáo, lại cần phải nỗ lực đi vào thực tiễn tu hành (hành). Cứ như
vậy mà tinh tấn thực hành không giải đãi thì cuối cùng chắc chắn sẽ chứng
đắc tất cả đạo lý mà đức Phật Ðã nói (chứng). Trong đó, giải và hành cần
phải được coi trọng. Ngoài ra, đệ tử Phật cần lập bốn hoằng thệ nguyện :
Chúng sanh vô biên thề nguyện độ ,
Phiền não vô tận thề nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thề nguyện học ,
Phật Ðạo vô thượng thề nguyện thành .
Ðể nhắc nhở
mình không những tự độ cho bản thân (tự giác), mà còn phải độ khắp chúng
sanh (giác tha), tiếp đến làm những việc đưa chúng sanh đến cảnh giới viên
mãn tột bậc. Ðược như vậy thì mới gọi là Phật tử chân chánh có năng lực .
Phiền não: Gồm sáu thứ
căn bản phiền não và hai mươi thứ tùy phiền não. Sáu thứ căn bản phiền
não :
1- Tham: Tham ái, ngũ dục .
2- Sân: Sân nhuế, vô nhẫn.
3- Si: Ngu si,vô minh.
4- Mạn: Kiêu mạn, tự đại.
5- Nghi: Hồ nghi, ngờ vực.
6- Bất chánh kiến: Là sự biết
không đúng bao gồm thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới
cấm thủ kiến. Thân kiến: Chấp trước thân căn (sắc uẩn) trong năm uẩn;
biên kiến: bám chắc hai kiến thường và đoạn; tà kiến: Bài bác cho là
không có nhân quả, phá hoại các việc lành; kiến thủ kiến: chấp chặt
thành kiến, chẳng phải quả cho là quả; giới cấm thủ kiến: Chấp chặt
giới bất chánh, chẳng phải nhân cho là nhân. Hai mươi thứ tùy phiền
não:
1- Phẫn: Sự bất bình trong tâm
.
2- Hận : Sự oán hận trong tâm
.
3- Phú: Sự che dấu tội lỗi
của mình .
4- Não : Sự nổi cấu với người
.
5- Tật : Sự ganh ghét người
khác .
6-
Xan : Khí lượng hẹp hòi, không buông xả được của cải tài vật.
7- Cuống : Dối trá, gạt gẩm
người khác.
8- Siểm : Ý quanh co (nịnh hót
) người khác .
9- Hại : Làm người khác tổn
thương.
10- Kiêu : Kiêu ngạo, tự đại.
11- Vô tàm : Không tự phản
tỉnh, không thẹn với chính mình.
12- Vô Quý : Có lỗi, người khác
chỉ trách, không biết xấu hổ với họ.
13- Trạo cử: Tâm tư dao động
14- Hôn trầm: Tâm tư mơ hồ.
15- Bất tín: Không tin thiện
pháp .
16- Giải đãi : Biếng nhác,
không giữ tâm tinh tấn .
17-
Phóng dật: Làm theo tánh vọng.
18- Thất niệm: Quên mất chánh
niệm .
19- Tán loạn: Tâm không chuyên
nhất .
Mười hai bộ Kinh:
Một đời thuyết giáo của đức Thế
Tôn có thể phân chia làm mười hai loại gọi là mười hai bộ Kinh cũng
gọi là mười hai phần giáo .
1- Trường hàng: Ngài dùng tản
văn nói thẳng diệu nghĩa, không hạn định số lượng chữ, câu. Vì chữ,
câu nhiều nên gọi là Trường hàng.
2- Trùng tụng: Ðầu tiên tuyên
thuyết, tiếp đến kệ tụng tóm lại ở sau, có trùng tuyên lại nghĩa nên
gọi là Trùng tụng .
3- Cô khởi: Không nương vào
Trường hàng, mà dùng thẳng câu kệ như là kinh Pháp cú. Vì không nương
vào tản văn nên gọi là Cô khởi.
4- Thí dụ: Giáo lý rất thâm áo
nên dùng thí dụ để thuyết minh .
5- Nhân duyên: Tường thuật nhân
duyên thấy Phật nghe pháp hoặc nhân duyên Phật thuyết pháp giáo hóa.
6- Vô vấn tự thuyết: Như kinh A
Di Ðà không có người hỏi mà Phật tự thuyết .
7- Bổn sanh: Là kinh văn Phật
nói nhân duyên đời trước của mình.
8- Bổn sự: Là kinh văn Phật nói
nhân duyên đời trước của các đệ tử.
9- Vị tằng hữu: Kinh ghi lại
đức Phật hiện các thứ thần lực không thể nghĩ bàn.
10- Phương quảng: Thuyết chân
lý rộng lớn, đúng đắn.
11- Luận nghị: Là kinh văn lý
luận, hỏi đáp về giáo lý.
12- Ký biệt hoặc thọ ký: Là
kinh văn ghi lại lời đức Phật thọ ký cho hàng thanh văn hoặc Bồ-tát
thành Phật.
Tứ đế:
1-Khổ đế: Chân lý nói rõ đời
người có nhiều nỗi khổ. Ðời người có ba khổ, tám khổ, vô lượng các
điều khổ; khổ là chân tướng hiện thực của vũ trụ.
2-Tập đế: Tập nghĩa là tập
khởi, là chơn lý nói rõ vì sao nhân sinh thống khổ. Sở dĩ nhân sinh
thống khổ là do phàm phu tự mình ngu si vô minh khởi lên các thứ phiền
não tham dục, sân hận... mà tạo các thứ nghiệp bất thiện, nên kết quả
phải chịu các thứ khổ đau.
3-Diệt đế: Cảnh giới tịch diệt
dứt bặt phiền não tham, sân, si...Và nói rõ cảnh giới Niết-bàn mới là
lối đi về cuối cùng lý tưởng nhất của con người. Vì Niết-bàn là cảnh
giới thường trụ, an vui, tịch tĩnh.
4-Ðạo đế: Chân lý nói rõ con
nguời tu tập theo con đường như thế nào, mới có thể chứng đắc chân lý
Niết-bàn. Ðạo có nhiều hướng, chủ yếu chỉ cho sự tu tập Bát chánh đạo.
Bốn thánh đế này bao trùm hai lớp nhân quả thế gian và xuất thế gian.
“Tập” là nhân; “khổ ” là quả, đây là nhân quả của cõi mê. “Ðạo” là
nhân; “Diệt” là quả, đây là nhân quả của cõi ngộ.
A-la-hán: Là tên gọi
quả vị cao nhất trong Thanh văn thừa. Gồm ba nghĩa:
1- Sát tặc: Diệt hết giặc phiền não.
2- Vô sanh: Ra khỏi sanh tử không còn thọ thân sau.
3- Ứng cúng: Xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của trời, người.
Mười hai nhân duyên.
Còn gọi là mười hai hữu chi
hoặc mười hai duyên khởi, là nói rõ quá trình lưu chuyển sanh tử của
hữu tình . Mười hai nhân duyên là vô minh (các phiền não là tham, sân,
si nguồn gốc của sanh tử ); Hành (tạo tác các nghiệp); Thức (nghiệp
thức đầu thai); Danh sắc (chỉ có thai hình, còn sáu căn chưa đầy đủ);
Lục nhập (thai nhi trưởng thành hình người có đầy đủ 6 căn: mắt,
tai...); Xúc (ra khỏi thai tiếp xúc với ngoại cảnh); Thọ (tiếp xúc
ngoại cảnh, sanh khởi cảm thọ khổ, vui); Ái (gặp cảnh, sanh ái dục);
Thủ (nắm giữ điều mình muốn); Hữu (thành nghiệp nhân có thể chiêu cảm
quả báo đời sau); Sanh (thọ lại thân ngũ uẩn đời sau); Lão tử (thân
vị lai dần dần già mà chết).
Lục độ: Sáu pháp môn
có thể vượt qua bờ sanh tử khổ não này, đạt đến bờ Niết-bàn an lạc
kia: là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.
Bố thí cảm hóa xan tham.
Trì giới cảm hóa phá giới.
Nhẫn nhục cảm hóa sân nhuế.
Tinh tấn cảm hóa giải đãi.
Thiền định cảm hóa tán loạn.
Trí tuệ cảm hóa ngu si.
Vô duyên đại từ, đồng
thể đại bi: Phật pháp không nói “ái” mà nói là đại từ , đại bi. Thế
nào là vô duyên đại từ? Vô duyên nghĩa là đại từ. Vô duyên nghĩa là
không có quan hệ, duyên phận thân tình bao gồm tất cả mọi người, kể cả
người thù địch. Phật pháp không những độ người có đức tin hữu duyên mà
còn độ những người thù địch không duyên.Vì thế, trong tam tạng kinh
điển bao la như sương khói trên biển mà tìm nữa chữ cừu địch hoặc hận
thù thì cũng không bao giờ có thể thấy được.
- Thế nào là đại bi? Ðồng thể
là đại bi. Ðồng thể nghĩa là vạn vật và ta đều có Phật tánh, đều do
nhân duyên sanh ra, không hai không khác, cho nên gọi là đồng thể.
Tinh thần của Phật pháp không sát hại tất cả chúng sanh, đó là do quán
niệm đồng thể này vậy.
--- o0o ---
Mục Lục
|
Chương I
|
Chương II
|
Chương
III
Chương
IV
|
Chương V
|
Chương VI
|
Chương VII
Chương
VIII
|
Chương IX
|
Chương X
--- o0o ---
Trình bày: Linh Thoại
Cập nhật: 01-04-2004