ÐỨC PHẬT VÀ CHÂN LÝ CUỘC SỐNG
Biên soạn: Ðại sư Ấn Thuận.
Việt dịch: Thích Quảng Mẫn.
--- o0o ---
CHƯƠNG VI
GIẢI
THÍCH DANH TỪ PHẬT GIÁO
PHẬT
Phật Ðà
là tiếng dịch âm từ phương ngôn của Ấn Ðộ, nghĩa là bậc thánh nhân đã giác
ngộ. Giác ngộ có ba nghĩa chính: một là tự mình giác ngộ, hai là khiến
người khác giác ngộ và ba là cả mình cùng người đều trọn vẹn giác ngộ.
Người giác ngộ đã thoát khỏi những tâm lý xấu xa ở quá khứ như lòng tham
lam, giận hờn, ngu si, kiêu ngạo, thấy biết lệch lạc v.v... nên không còn
luân hồi trở lại nữa. Bậc giác ngộ là người mà tự thân có thể đem những
phương pháp, những chân lý mình đã chứng nghiệm được, lấy đó hướng dẫn mọi
người, khiến họ nhận thức và thấu rõ đúng như thực về cuộc đời cũng như
Phật giáo, rồi từ học tập mà thấy được chân lý.
Trí tuệ,
năng lực, công đức và đạo nghiệp của bậc giác ngộ đạt đến sự trọn vẹn, mỹ
mãn mà không một chúng sanh nào của cõi trời cõi người có thể sánh kịp.
Nhưng trí tuệ, năng lực công đức và đạo nghiệp của tất cả chư Phật đều
tương đồng nhau. Các Ngài cũng từ những người bình thường như mỗi chúng
ta. Song nhờ sự nỗ lực tu tập nên các Ngài dần dần rũ bỏ những hành vi,
thói quen tội lỗi mà thành tựu sự giác ngộ. Ðời quá khứ có vô lượng chư
Phật, kiếp vị lai cũng có vô lượng chư Phật. Ðức Phật Dược Sư Lưu Ly, đức
Phật A Di Ðà, đức Phật Thích Ca Mâu Ni v.v... là một minh chứng cho điều
đó. Ðức Thế tôn dạy rằng: “Ai ai cũng có thể thành Phật”; quả thật đây là
lời minh chứng mạnh mẽ nhất. Chúng ta tin tưởng lời dạy của Người, tu học
theo đức hạnh của Người thì nhất định chúng ta sẽ đạt đến sự thành công
như Người. Vậy chúng ta hãy cùng nhau học Phật!
BỒ-TÁT
Bồ-tát
là tiếng dịch âm từ ngôn từ của Ấn Ðộ, nghĩa là người có đạo tâm vĩ đại,
giữ gìn năm giới, mười điều thiện, Bát chánh đạo. Hễ là người bảo vệ Phật
pháp, người đem hạnh phúc cho mọi loài, thậm chí người lập nguyện trang
nghiêm đều gọi là Bồ-tát. Bồ-tát được chia làm mười giai đoạn, từ sơ địa,
nhị địa, tam địa cho đến thập địa. Việc này căn cứ vào sự chứng đắc, thành
quả tu tập và sự cống hiến của vị Bồ-tát đối với nhân loại và xã hội. Ðến
địa vị thập địa rồi thì phước đức, trí tuệ của Bồ-tát gần như tròn đầy và
tiến đến giai đoạn thành Phật.
Kinh
dạy: “Bồ-tát nên cầu học pháp ngũ minh”. Ngũ minh bao gồm y học, văn học,
kiến trúc và nghệ thuật học, Phật học, luận lý học. Người thực hành theo
ngũ minh thì thể lực và trí lực của họ đều cống hiến cho xã hội. Xã hội
tiến bộ, phồn vinh cũng hoàn toàn nhờ tài năng của những vị này. Xưa nay
có vô số người học Phật thì đó là Bồ-tát vậy. Cũng như Bồ-tát Quan Thế Âm
v.v... và các bậc cao Tăng đại đức của những thời đại trước, những vị ấy
quan tâm giúp đỡ chúng sanh chẳng khác gì người mẹ hiền che chở cho con
trẻ. Tinh thần nhiệt tâm giúp đỡ cũng như sự cống hiến của các vị ấy rất
được mọi người tín nhiệm. Người ta thường hiểu lầm các hình tượng được tạc
bằng gỗ hoặc bằng đất v.v... mới là Bồ-tát. Ðiều này thật sai lầm. Vì
Bồ-tát mà Phật giáo nói đến chính là những nhân sĩ cứu giúp chúng sanh và
phục vụ cho lợi ích của xã hội. Chúng ta phải nhận thức rõ ràng như vậy
mới đúng.
CHÍ NGUYỆN BỒ-TÁT
Nguyện
làm vị lương y cho những ai đang chịu các bệnh khổ, nguyện chỉ rõ con
đường chánh cho những người lầm đường lạc lối, nguyện làm ngọn đèn sáng
cho những ai đang đi trong đêm tối, nguyện cho những kẻ bần cùng khốn khổ
thấy được Phục tạng. Bồ-tát bình đẳng lợi ích chúng sanh như vậy, khiến
chư Phật hoan hỉ. Tại vì sao? Vì nếu Bồ-tát có thể tùy thuận chúng sanh,
tức là tùy thuận cúng dường chư Phật. Nếu tôn trọng và thừa sự chúng sanh
tức là tôn trọng và thừa sự chư Phật. Nếu khiến chúng sinh sanh tâm hoan
hỉ cũng chính là khiến tất cả chư Phật hoan hỉ. Vì sao? Vì chư Phật Như
lai lấy tâm đại bi rộng lớn làm thể, do chúng sanh mà khởi tâm đại bi, do
tâm đại bi mà sanh tâm Bồ-đề, do tâm Bồ-đề mà thành Chánh giác.
Như
trong sa mạc đồng hoang có cây đại thọ vương, nếu gốc rễ hút được nước thì
cành laù hoa trái thảy đều sum suê. Như trong cái mênh mông hiu quạnh của
sanh tử, Bồ-đề thọ vương cũng lại như vậy. Tất cả chúng sanh là gốc rễ của
cây, chư Phật Bồ-tát là hoa trái của cây, lấy nước đại bi nhiêu ích chúng
sanh thì có thể thành tựu hoa trái trí tuệ của chư Phật. Tại vì sao? Vì
Bồ-tát lấy nước đại bi nhiêu ích chúng sanh thì có thể thành tựu Chánh
đẳng chánh giác. Cho nên đạo Bồ-đề ở ngay chúng sanh, nếu không có chúng
sanh, tất cả Bồ-tát trọn không thể thành Vô thượng chánh giác.
Này
thiện nam tử! Ðối với ý nghĩa này, các ông nên hiểu như vầy: đem tâm bình
đẳng đối với chúng sanh thì có thể thành tựu viên mãn tâm đại bi. Lấy tâm
đại bi tùy thuận chúng sanh thì có thể thành tựu việc cúng dường Như lai.
Nếu Bồ-tát tùy thuận chúng sanh như vậy, thì cõi hư không có thể cùng tận,
chúng sanh có thể cùng tận, nhưng sự tùy thuận này không cùng tận, niệm
niệm nối tiếp, không gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp sẽ không bao giờ mỏi
mệt.
NHÂN THIÊN THỪA
“Thừa” ý
nghĩa chỉ cho cỗ xe vận chuyển đồ vật đến mục đích. Chúng sanh muốn sinh
vào cõi trời hoặc cõi người thì phải đi trên cỗ xe trời người, đó là điều
tất yếu. Vậy, thế nào là cỗ xe của trời và người? Phương pháp để sanh lên
cõi trời cõi người được gọi là “Nhân thiên thừa”.
Cách
thức để sanh vào loài người đó là năm giới: không sát sanh, không trộm
cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Thực hành mười điều
thiện là phương pháp để sanh lên cõi trời. Mười điều thiện bao gồm tất cả
hành vi của thân, lời nói và ý nghĩ. Tất cả đều phù hợp đạo lý, đúng pháp
luật, vừa có lợi cho bản thân lại hữu ích cho nhân quần xã hội. Nghĩa là:
không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, ba điều này thuộc về phẩm
chất đạo đức trong sạch của thân; không nói dối, không nói lời hung ác,
không nói đôi chiều, không nói thêu dệt thuộc về sự ngay thẳng trong lời
nói; không tham lam, không sân hận, không si mê thuộc về sự trong sáng của
ý nghĩ. Người thực hành trọn vẹn năm giới, mười điều thiện, hiện tại nhất
định được hạnh phúc, mọi người kính yêu, đời sau sẽ hưởng được nhiều phước
báo rất lớn. Mạng người thật ngắn ngủi, chúng ta cần tích tụ chút ít việc
làm tốt để tạo bước khởi đầu thành công cho những kiếp sống sau này.
ÐẠI THỪA VÀ TIỂU THỪA
Phật
giáo có hai phái: Tiểu thừa và đại thừa. “Thừa” bao gồm nghĩa chuyên chở.
Vậy đại thừa thì dung lượng chở nhiều, tiểu thừa thì dung lượng chở ít.
Có hạng
người học Phật cho rằng: ba cõi như một ngôi nhà lửa đáng sợ, luân hồi tợ
kẻ oan gia đáng chán. Do vậy, họ luôn sớm muốn được giải thoát, khẩn thiết
học lý Tứ đế, giữ giới nghiêm ngặt và một chút cũng không xao lãng. Những
người này mặc dù đắc quả A-la-hán nhưng không có ý cứu giúp người khác mà
chỉ muốn kéo dài thời gian giải thoát cho chính mình. Ðến lúc chấm dứt
mạng sống, họ nhập vào cảnh giới Vô dư niết-bàn, không trở lại nhân gian
nữa. Hạng người này vì nghiêng về giải thoát cho tự thân nên gọi là tiểu
thừa. Một hạng người học Phật khác cũng cho rằng: ba cõi và luân hồi là
đáng sợ, cũng mong cầu giải thoát và thực hành sáu pháp ba la mật, tinh
tấn tu hành. Song, họ luôn chia sẻ với mọi người và mang trong mình tinh
thần từ bi rộng lớn, muốn mình và mọi người cùng được giải thoát, giác
ngộ. Ðể thực hiện lý tưởng cao quý trang nghiêm này, họ luôn rộng kết các
thiện duyên để làm công tác xã hội và phục vụ mọi người. Nói chung, phạm
vi của sự cống hiến ấy cũng tùy theo năng lực của họ rồi phát tâm lớn dần
cho đến cõi trời, cõi người và địa ngục. Tùy duyên thị hiện mà không ngại
mệt nhọc gian khổ, mãi mãi làm lợi ích cho chúng sanh chớ không mong trụ
vào Niết-bàn hay chứng đắc đạo quả. Bồ-tát Ðịa Tạng, Bồ-tát Quán Thế Âm là
những thí dụ điển hình cho việc làm cao quý ấy.
Giữa hai
hạng người tiểu thừa và đại thừa thì sự phát tâm, việc làm và lý tưởng của
đại thừa ưu việt hơn. Ðại thừa xứng đáng để chúng ta ca ngợi và học hỏi.
Ðại thừa rất thịnh hành ở khu vực Trung Hoa, đó là một diễm phúc lớn lao
cho Phật giáo nước này. Mong mọi người hãy phát tâm tu học theo lý tưởng
đại thừa.
LỤC ÐỘ
Chúng
ta qua sông, muốn từ bờ này qua bờ bên kia thì nhất định phải đi ngang cây
cầu hoặc đi thuyền bè. Cũng vậy, người học đạo muốn từ bờ sanh tử khổ đau
bên này vượt thoát sang bờ Niết-bàn an lạc bên kia thì tất yếu cần có
phương pháp tu tập giống như công năng của chiếc cầu và con thuyền. Phương
pháp này có sáu: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí
tuệ. Bây giờ xin giải thích các phương pháp trên như sau:
1. Bố
thí: Gồm tài thí, pháp thí và vô úy thí.
a.
Tài thí: Tùy khả năng kinh tế của bản thân mà đem của cải giúp đỡ cho
những kẻ nghèo khó.
b.
Pháp thí: Tùy theo trình độ nhận thức đúng đắn của mình rồi theo đó hướng
dẫn mọi người kính trọng Phật pháp.
c. Vô
úy thí: Tùy theo oai đức của mình, cứu giúp người khác thoát khỏi sự nguy
hiểm và sợ hãi.
2. Trì
giới: Giới có nghĩa là quy tắc. Tuân theo giới luật sẽ khiến tất cả hành
vi trở nên đúng đắn. Cả ý nghĩ, hành động và lời nói đều được thanh tịnh
hóa, không còn phạm lỗi lầm nữa. Giới có nhiều loại, hễ là những việc
thích hợp chuẩn mực đạo đức thì nên làm theo. Bát chánh đạo, năm giới,
mười điều thiện chính là những khuôn phép mà chúng ta nên hành trì.
3. Nhẫn
nhục: Tức là nhẫn chịu sự đau khổ trong những nghịch cảnh như: hạn hán,
giông bão, động đất, nóng lạnh... của hoàn cảnh; sự ngheøo khổ, bệnh tật,
đói khát... của đời người; lòng tham lam, sân hận, oán hờn... của tâm lý.
4. Tinh
tấn: Người học Phật kể từ khi phát tâm Bồ-đề rộng lớn cho đến lúc thành
Phật, quả thực thời gian rất dài và trách nhiệm rất nặng nề. Cho nên phải
có một tinh thần không sợ sệt, dũng mãnh và tinh tấn; phải nỗ lực chuyển
hóa tâm lý và các hành vi tà hạnh như tham lam, sân hận, ngu si; tu tập
các phẩm hạnh tốt đẹp như bố thí, trì giới, nhẫn nhục v.v... phải có một
tinh thần không biết mệt mỏi mới diệt trừ được tập quán bất thiện nhiều
đời và tích lũy vô lượng công đức để bước dần lên quả vị Bồ-tát, Phật.
5. Thiền
định: Thường ngày thân tâm chúng ta quen với lối sống loạn động và ý chí
lại bạc nhược. Nếu muốn tiến đến sự nghiệp vĩ đại, thành Phật thành Thánh
thì quả thực rất khó thành tựu. Tu tập thiền định khiến tư tưởng đi vào
khuôn phép thánh thiện, tinh thần an định, sau nữa là thanh lọc dục niệm
và tất cả vọng tưởng. Người thực tập thiền định nhuần nhuyễn thì sức
chuyên chú rất mạnh, ý chí vững vàng và không dễ bị hoàn cảnh cám dỗ, lại
thêm thân thể được nhẹ nhàng, an lạc và tự tại. Niệm Phật là một phương
pháp thiền định, miệng niệm danh hiệu Phật, tâm quán tưởng tướng hảo trang
nghiêm của Phật thì tự nhiên sức chú ý được tập trung. Cho nên, niệm Phật
cũng là một phương pháp tốt để tu tập thiền định. Chúng ta đừng bao giờ
cười cợt cho rằng niệm Phật là việc làm mê tín.
6. Trí
tuệ: Chúng ta học Phật, một mặt cần tiếp thu học vấn, tri thức, kỹ năng
của thế gian, rồi tùy khả năng trợ giúp chúng sanh khiến họ được lợi ích.
Mặt khác, nghiên cứu Phật pháp, học rộng, thông hiểu, tư duy, cầu chứng để
đạt được đại trí tuệ.
Tu hạnh
bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ thì có thể
khiến chúng ta thành Bồ-tát, thành Phật. Nó giống như chiếc cầu và con
thuyền nên được gọi là Lục độ.
TỨ ÐẾ
Giáo
lý căn bản của Phật giáo chính là pháp Tứ đế. Tứ đế tức là bốn chân lý:
khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. Khổ đế và tập đế là đạo lý giải thích
thế gian; diệt đế và đạo đế là đạo lý nghiên cứu xuất ly thế gian.
- Khổ
đế: Khổ đế có nghĩa là khổ não, bất an. Ngay trong thân thể và tinh thần
của chúng sanh luôn có sự tồn tại của khổ não và bất an. Có thứ khổ não
vốn có và có từ lúc sanh, có thứ khổ não sanh ra từ cuộc sống, từ tuổi già
sức yếu, từ bệnh tật và từ cái chết. Ở phương diện con người mà nói thì có
khổ não thương yêu mà biệt ly, khổ não mong cầu nhưng không được, khổ não
oán đối ghen ghét và khổ của ngũ ấm xí thạnh. Ðức Phật dùng trí tuệ quán
sát các hiện tượng của thế gian và đưa ra kết luận rằng thế gian là một bể
khổ.
- Tập
đế: Tập đế có nghĩa là chiêu tập. Nguồn gốc của khổ não chính là do ảnh
hưởng từ các tâm lý xấu, ví dụ như: tham lam, sân hận, ngu muội, kieâu
mạn, nghi hoặc, tà kiến v.v... Nó ảnh hưởng đến lời nói, việc làm, dần dà
trở thành thói quen, hình thành một lực lượng; mà lực lượng này còn được
gọi là tập lực, tức là lực lượng được tích lũy từ thói quen và cũng chính
là sự chiêu tập của khổ não.
- Diệt
đế: Chúng sanh đã biết sanh tử là khổ, lại biết nguồn gốc của sự khổ, muốn
trừ bỏ nó cần phải diệt khổ não. Diệt trừ khổ não, thoát khỏi sanh tử, ra
ngoài vòng luân hồi, đạt đến cảnh giới thanh tịnh vĩnh hằng an lạc, đó gọi
là chân lý của diệt đế.
- Ðạo
đế: Là phương pháp diệt trừ khổ não, hướng dẫn chúng sanh đến cảnh giới
thanh tịnh vĩnh hằng, an lạc. Lời huấn thị thiết thực vô cùng trọng tâm,
vô cùng chính xác mà đức Thế tôn đã để lại cho chúng ta chính là Bát chánh
đạo.
Chúng ta
hiểu rõ Tứ đế, thực hành đạo đế thì thân tâm sẽ đạt được sự an lạc.
TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
Chúng ta
phát tâm làm những việc tự lợi lợi tha thì phải có đầy đủ tâm từ bi hỷ xả
lượng vô biên đối với chúng sanh. Có tâm vô lượng như vậy mới có thể thực
hiện tất cả hành vi hiền thiện. Tứ vô lượng tâm bao gồm: tâm từ vô lượng,
tâm bi vô lượng, tâm hỷ vô lượng và tâm xả vô lượng.
Vô
lượng có nghĩa là không thể hạn lượng. Chúng sanh vô lượng cho nên đối
tượng làm ích lợi người khác cũng phải vô lượng. Chư Phật, chư Bồ-tát tạo
vô lượng công đức, độ vô lượng chúng sanh, cho nên có tâm nguyện vĩ đại:
“Chúng sanh độ hết, mới chứng Bồ-đề; địa ngục chưa trống, thề không thành
Phật”. Dưới đây xin lần lượt giải thích các tâm vô lượng như sau:
- Tâm từ
vô lượng: Từ là nhân ái, có nhân ái thì một mặt khiến người vui vẻ, không
khởi một ý nghĩ não hại người khác; mặt khác, lòng dạ hiền từ, không khởi
tâm giận hờn, tự nhiên, hòa nhã, rộng lượng, hài hòa.
- Tâm bi
vô lượng: Tâm bi có nghĩa là tâm thông cảm, thương xót sự khổ đau của
người khác, dứt trừ khổ não cho người. Luôn luôn nhớ nghĩ đến tâm từ bi,
vĩnh viễn không thối chuyển tâm ấy, mãi mãi không xao lãng việc giúp đỡ
mọi người, gọi là tâm bi vô lượng.
- Tâm hỷ
vô lượng: Hỷ là hoan hỷ, thấy người làm việc thiện thì không ngăn cản,
hoặc họ có chuyện vui mừng thì cũng không nên có sự đố kỵ, mà trong lòng
nên vui vẻ hướng đến họ chúc mừng, giúp họ thành công. Thường thường làm
như vậy, mãi mãi làm như vậy thì gọi là tâm hỷ vô lượng.
- Tâm xả
vô lượng: Xả là bình đẳng, nghĩa là đối với tất cả chuyện oan gia nghịch
cảnh, việc không như ý, trong tâm vẫn an tịnh, không có một chút oán hờn.
Ðối với mọi cảnh thuận duyên cũng không ái luyến. Tình cảm và lý trí được
giữ thăng bằng, không vì ngoại cảnh mê hoặc mà dao động, con người sẽ được
đứng đắn, hòa bình. Ðây gọi là tâm xả vô lượng.
Tứ vô
lượng tâm là những pháp rất trọng yếu để thực hành hạnh Bồ-tát.
BÀN LUẬN VỀ NIỆM PHẬT
Trong
tâm chúng ta tồn tại các ý niệm tham lam, sân hận, vọng tưởng v.v... nó
khuấy động tâm trí chúng ta, dẫn đến các hành vi tội ác, trở ngại sự tiến
bộ và khiến con người khổ não. Cho nên, chúng ta cần phải có một lý tưởng
cao thượng trong sáng để làm mục tiêu cho cuộc sống. Như vậy, chúng ta
niệm Phật là tốt nhất.
Mỗi
ngày, trong một khoảng thời gian cố định hoặc sáng hoặc tối, chuyên tâm
nhất ý tịnh lự một lúc để các tư tưởng phiền loạn lắng dịu xuống rồi xưng
niệm danh hiệu chư Phật, như: Thích Ca Mâu Ni Phật, A Di Ðà Phật v.v...
Nói chung, mặc niệm và tụng ra tiếng đều được, lễ bái thì càng tốt hơn.
Niệm là
chúng ta tưởng nhớ đến phước đức, trí tuệ, sự nghiệp, hành vi của đức
Phật, đặc biệt là lời giáo huấn của Ngài. Nếu như ngày nào cũng niệm, giờ
nào cũng niệm, thì tánh tình sẽ được hun đúc, dần dần đổi thay và ảnh
hưởng đến các tư tưởng trong sáng, hành vi đúng đắn; noi theo tấm gương
sáng của đức Phật và cuối cùng đạt được điều mà đức Phật Ðã nói:
Không làm các việc ác,
Chỉ làm các việc lành,
Giữ tâm ý thanh tịnh,
Ðó là lời chư Phật dạy.
Dũng
mãnh tinh tấn, sống một đời sống trong sạch và hiền thiện, như vậy chẳng
phải là một đời sống tốt đẹp đó sao!
LÀM THIỆN
Ðức Phật
dạy mọi người làm các việc thiện. Vậy chữ “thiện” mà Ngài muốn nói có
nghĩa là tất cả những gì có thể khích lệ con người tiến bộ, có thể đưa đến
hạnh phúc và lợi ích cho tha nhân. Thiện gồm mười một loại:
1. Tín
tâm: Có niềm tin sâu sắc đối với đạo lý làm thiện được phước, làm ác gặt
hái điều không tốt.
2. Bất
bhóng dật: Tuân thủ tập quán đạo đức, vun bồi hành vi hiền thiện và mãi
mãi giữ gìn các việc này.
3. Khinh
an: Khiến thân tâm khỏe mạnh, nhẹ nhàng.
4. Xả:
Chánh trực, bình đẳng, thân tâm không có tình huống hôn trầm.
5. Tàm:
Cảm thấy xấu hổ khi mình có những hành vi sai trái, do đó mà không làm ác
nữa.
6. Quý:
Ðối với những hành vi sai trái mà mình đã làm, cảm thấy xấu xa khi có tội
với người khác, do đó chấm dứt không làm ác nữa.
7. Vô
tham: Không ái luyến và chạy theo hoàn cảnh khoái lạc.
8. Vô
sân: Không giận hờn, phẫn nộ khi gặp nghịch cảnh.
9. Vô
si: Có nhận thức rõ ràng xác thực đối với mọi việc.
10. Bất
hại: Nhân từ thương yêu động vật, có lòng trắc ẩn và cảm thông.
11. Cần:
Vâng theo lời giáo huấn đạo đức, siêng năng học tập, dõng mãnh tinh tấn.
Người
thường giữ gìn các hành vi thiện tâm thì tâm hồn thanh khiết, hành vi cao
thượng, đời sống hạnh phúc an vui.
BÁO ÂN
Làm
người thì phải biết ơn và đền ơn. Ngoài công ơn của cha mẹ thầy cô, còn có
hai ơn nữa mà chúng ta không được quên mất và cần phải báo đáp, đó là ơn
của Phật vàø ơn của chúng sanh.
1. Ơn
Phật: Ðức Thế tôn xuất hiện ở nhân gian đem chân lý “cuộc đời là khổ,
chúng sanh có thể thành Phật” nói với mọi người, độ người thoát khỏi đường
mê, thành chánh giác. Ân đức này cần phải báo đáp.
2. Ơn
chúng sanh: Ðức Phật dạy rằng chúng sanh từ rất nhiều kiếp sống đã kết
duyên qua lại với nhau, hoặc làm cha mẹ, hoặc làm thân thuộc, hoặc làm
thầy bạn, quan hệ rất mật thiết. Ðời đời kiếp kiếp trong quá khứ, mọi
người đã có ơn với ta. Ðồng thời, các vấn đề nhu yếu đời này như y phục
lương thực, nơi ở, phương tiện đi lại v.v... đều nhờ mọi người và xã hội
duy trì cung cấp. Ví dụ: người nông dân trồng ngũ cốc, người công nhân làm
công nghệ, thương nhân thì buôn bán, thầy thuốc thì khám bệnh, cảnh sát
thì duy trì trật tự an ninh, nhân viên bưu điện thì truyền đạt tin tức,
thầy giáo thì dạy dỗ v.v... Mọi người giúp đỡ lẫn nhau, nương tựa lẫn
nhau, cống hiến hết năng lực của mình, tiếp nhận mọi nhu cầu thiết yếu,
thúc đẩy xã hội tiến bộ và phồn vinh. Mọi người thật sự đều có ơn huệ đối
với ta.
Ðức Phật
Ðã dạy: “Tương thử thân tâm phụng trần sát, thị tắc danh vi báo Phật ân”
(Ðem thân tâm này để phụng sự cho xã hội và chúng sanh, đó là báo đáp công
ơn của Phật). “Trần Sát” là xã hội và chúng sanh, chúng ta làm những việc
có ích cho xã hội, thì cũng có nghĩa là báo đáp ân Phật.
Bây giờ,
chúng ta còn nhỏ, nên cần phải bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức tốt và cần
nỗ lực học hỏi. Ðến khi sự nghiệp học vấn và nhân cách được trưởng thành
thì chính lúc ấy là thời điểm để chúng ta báo đáp ơn Phật và ơn chúng
sanh.
TỪ BI
Ðức Phật
dạy chúng ta rằng: Trong vô số kiếp sống, chúng sanh từng làm quyến thuộc,
bạn bè thân thích cho nhau, cùng nhau diễn hết những chuyện vui buồn hợp
tan, mối quan hệ thực sự mật thiết. Cho nên, chúng sanh cần phải thương
yêu, giúp đỡ và đối xử nhau như người một nhà.
Ðức Phật
từng bảo: “Từ bi là nền tảng căn bản để thành Phật”. Từ có nghĩa là tăng
thêm niềm vui cho người, khiến họ vui vẻ, đầy đủ. Bi có nghĩa là nhổ sạch
sự bất hạnh của người, khiến họ an lạc, hạnh phúc. Nhưng lòng từ bi cần
phải được bồi dưỡng, trong lòng phải có sự trắc ẩn và nhân từ. Tín đồ Phật
giáo thực hành tín ngưỡng của mình mà có các hành vi phóng sanh, ăn chay
đó là căn cứ vào lý do này mà phát triển.
Chúng ta
cũng có thể học tập từ bi. Ví dụ: người khác có chuyện bất hạnh, ta chia
xẻ, giúp đỡ; mọi người có chuyện mừng vui, ta tùy hỷ chúc phúc. Hoặc
thương yêu và bảo vệ loài vật nhỏ bé, các loài côn trùng đáng yêu, xinh
xắn. Ta cũng không nên làm thương tổn hoặc giam cầm chúng. Như vậy, giữ
việc này một cách thường xuyên, tích chứa các việc nhân từ nhỏ biến thành
lòng nhân từ lớn, mới có được sự nghiệp và hoằng nguyện độ khắp chúng
sanh.
PHIỀN NÃO
Nhà Phật
gọi những chuyện ưu phiền, não loạn về thân và tâm là phiền não. Phiền não
có hai loại lớn: loại thứ nhất là căn bản phiền não, loại thứ hai là tùy
phiền não. Căn bản phiền não có sáu loại: tham, sân, si, mạn, nghi và ác
kiến.
1. Tham:
Ðối với vật chất thì muốn chiếm hữu và quá theo đuổi. Ðối với tình cảm thì
luyến ái không xả bỏ. Hoặc là ham tiếc những vật của mình nên không chịu
bố thí (ban bố cho ai).
2. Sân:
Là giận hờn thịnh nộ. Ðối với việc không bằng lòng thì không thể nhẫn
nhịn, đùng đùng nổi giận, nóng nảy, thô tháo và trút cơn thịnh nộ lên
người khác, hoặc chửi bới, đánh đập v.v...
3. Si:
Ngu si mê muội, không hiểu rõ chân lý, không xác định được thiện ác, không
phân biệt được trắng đen, không biết rõ phải trái, trong tâm chỉ có dục
vọng và căm hờn, vì đó mà đưa đến các hành vi tội ác.
4. Mạn:
Là kiêu mạn, thờ ơ, xem thường người khác, cho rằng mình là tất cả, ưu
việt hơn mọi người, không chịu khiêm tốn học tập.
5. Nghi:
Là hoài nghi, là người do dự không dứt khoát, không có năng lực phán đoán.
Ðối với Phật pháp và vấn đề thiện ác thì do dự không nhất quyết, kết quả
là bỏ con đường chánh mà không chịu theo.
6. Ác
kiến: Là người có ác kiến, kiến giải lệch lạc, không tin nhân quả, không
tin Phật pháp, không kiêng dè điều gì cho nên mới làm tất cả mọi điều xấu
xa.
Các loại
căn bản phiền não này chiếm cứ trong tâm, và theo đó sản sinh ra rất nhiều
phiền não nhỏ hơn, cho nên gọi các phiền não nhỏ là tùy phiền não. Ví dụ
các tâm lý xấu như: không xấu hổ, căm hờn, che dấu, đố kỵ, nịnh hót, kiêu
ngạo, lười biếng, phóng túng, tán loạn, bỏn xẻn .v.v... Cái tâm lý ấy có
lúc chỉ đơn độc nhiễu loạn tâm trí, có khi mấy loại cùng lúc xuất hiện,
khiến con người tâm thần không yên ổn, đau buồn và thống khổ.
Tư tưởng
có thể thao túng hành vi, tư tưởng tốt sinh ra hành vi tốt, tư tưởng xấu
ác sinh ra hành vi sai trái. Cho nên, đức Phật dạy mọi người chú ý hễ tâm
ý được mạnh khỏe thì các phiền não sẽ không thể phát sanh.
Tư tưởng
không lúc nào dừng nghỉ, nếu phiền não đã được ngăn chặn thì tư tưởng thấm
nhuần pháp thiện sẽ xuất hiện thay thế pháp ác. Cho nên, suy niệm về
Phật-Pháp-Tăng, nghĩ về bố thí, rộng lượng, nhẫn nhịn, trì giới, tinh tấn
.v.v... chính là phẩm chất đạo đức cao đẹp trong đời sống người học Phật.
Lúc nào cũng nhớ nghĩ, thường thường nhớ nghĩ như vậy thì ý thức sẽ được ý
nghĩ thiện hun đúc, lâu dần ý nghĩ ác tự nhiên bị tiêu diệt.
Phiền
não dần dần trừ sạch, ác nghiệp cũng theo đó giảm đi. Ðời sống quang minh
chánh đại, sẽ bước trên con đường đúng đắn. Nếu phiền não được đoạn trừ
một cách triệt để thời sẽ đạt đến giai đoạn giải thoát luân hồi, vượt ra
ngoài ba cõi.
TRÍCH KINH
THẬP THIỆN NGHIỆP ÐẠO VÀ KINH NHÂN QUẢ
Này Long vương! Ông nên biết Bồ-tát có một pháp có thể đoạn trừ tất cả khổ
não trong các đường ác. Ðó là ngày đêm nhớ nghĩ tư duy, quán sát thiện
pháp, khiến các thiện pháp mỗi niệm mỗi niệm được tăng trưởng, không để
cho bất kỳ pháp bất thiện nào xen lẫn, pháp ấy có thể khiến các ác pháp
vĩnh viễn chấm dứt, thiện pháp được tràn đầy, thường được gần gũi chư
Phật, chư Bồ-tát và các Thánh chúng.
Nói rằng
thiện pháp, nghĩa là thân của các hàng trời, người, Thanh văn Bồ-đề, Ðộc
giác Bồ-đề, Vô thượng Bồ-đề, đều nương vào pháp này, lấy nó làm căn bản để
được thành tựu cho nên gọi là thiện pháp. Pháp này chính là Thập thiện
nghiệp đạo. Vậy mười điều đó là gì? Ðó là vĩnh viễn xa lìa sát sanh, trộm
cắp, tà dâm, nói dối, nói đôi chiều, nói ác, nói thêu dệt, tham lam, sân
hận và tà kiến.
Này Long
vương! Thí như tất cả thành ấp xóm làng đều dựa vào trái đất mà được đứng
vững, tất cả cây thuốc cỏ cây vườn rừng cũng nhờ vào đất mà lớn lên. Mười
điều thiện này cũng như vậy, tất cả hàng trời người nương vào nó mà được
thành lập, tất cả hàng Thanh văn, Ðộc giác Bồ-đề, các hạnh Bồ-tát, tất cả
Phật pháp, đều nương vào mảnh đất Thập thiện này mà được thành tựu.
Nếu có
người nghèo khổ nào, không có tiền của nhưng vẫn có thể bố thí. Lúc người
khác bố thí liền sanh lòng tùy hỷ thì phước báo của họ không khác gì phước
báo của người bố thí kia. Ðó là một việc rất dễ làm, ai mà không làm được!
(Kinh
Nhân Quả).
LỜI TÂM TÌNH CÙNG CÁC BẠN
Các bạn
trẻ thân mến!
Học Phật
là lấy đức Phật làm tấm gương sáng noi theo, tiếp thu lời dạy của đức
Phật, thực hành con đường của đức Phật, học tập sự nghiệp hành vi và tư
tưởng của Ngài. Nếu được như vậy, tương lai các bạn sẽ cùng hướng về con
đường như Ngài và đạt đến cảnh giới thành Phật như Ngài. Vô số lời dạy của
đức Phật Ðà để lại khuôn thước cao quý cho hậu thế. Hệ thống giáo lý của
Phật giáo rất hoàn chỉnh, tỉ mỉ và thật tuyệt vời. Tín ngưỡng Phật giáo
khích lệ con người cố gắng vươn lên, chừa bỏ lỗi xưa làm điều lành mới,
hướng con người từ chỗ thô tục vượt lên địa vị thánh thiện, ý nghĩa như
thế thật cao cả.
Ðiều
kiện quan trọng nhất để làm một người hoàn thiện đó là lòng nhân ái. Lòng
nhân ái ở đây không chỉ đối với người thân bạn bè của mình mà còn bao trùm
cả nhân loại, thậm chí đến các loài động vật. Ðức Phật dạy: “Chúng sanh
sinh từ trứng, từ thai, từ chỗ ẩm thấp, từ hóa sanh, Ta đều nguyện dẫn dắt
vào Niết-bàn rồi mới diệt độ”. Ðây quả thực là lòng từ bi vô bờ bến. Ngài
cũng từng nói: “Nếu Ta không vào địa ngục thì ai vào đây?”. Vâng, Ngài vào
địa ngục để động viên, an ủi và cứu giúp những kẻ lầm đường lạc lối.
Tuổi trẻ
là nền móng căn bản nhất của loài người. Chúng ta học cách quan tâm giúp
đỡ, yêu thương mọi người thì điều lành, lòng nhân từ dần được trưởng thành
và phát triển rộng lớn. Mà như vậy thì lo gì bức tường ngăn cách, sự lạnh
lùng giữa nhân loại không được xóa bỏ, niềm hạnh phúc, tình yêu thương
giữa con người không được thiết lập! Tất nhiên muốn giúp đỡ mọi người thì
chúng ta cần có đủ khả năng. Tuổi trẻ còn là thời điểm lý tưởng để chúng
ta học hành. Trường học, gia đình, xã hội đều là môi trường để chúng ta
học hỏi. Chúng ta hướng đời mình theo như những gì đức Phật Ðà dạy, có mục
tiêu đúng đắn, ôm ấp bầu nhiệt huyết, dõng mãnh, tinh tấn thì cuộc đời
chúng ta tất yếu sẽ hữu ích cho xã hội.
Những
người trí thức thời nay thường có sự hiểu nhầm về Phật giáo. Họ bảo Phật,
thần gì đâu mà không rõ ràng, nào là khấn vái quỷ thần, tổ tiên, đốt đồ
vàng mã v.v... Ôi thôi! toàn là chuyện của người thế tục. Nếu quả có người
nào cho những việc trên là của Phật giáo thì chúng ta nên khéo trình bày
cho họ biết về cuộc đời và lời dạy của đức Phật để họ không hiểu sai về
Phật giáo nữa, cũng như khiến họ phát khởi niềm tin, sự kính ngưỡng đối
với đức Phật. Thiết nghĩ, đây là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi chúng
ta!
Các bạn
còn rất trẻ, đó là một cơ hội rất tốt để tìm hiểu và nghiên cứu nhiều hơn
nữa về Phật giáo. Các bạn tin lời Phật dạy, thực hành lời Phật trong cuộc
sống hàng ngày thì quyết chắc chân trời hạnh phúc đang chờ đón bạn ở hiện
tại và mai sau.
--- o0o ---
Mục Lục
|
Chương I
|
Chương II
Chương III|
Chương IV
|
Chương V
|
Chương VI
--- o0o ---
Mục Lục Pháp Tạng- 20
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-04-2004