ÐỨC PHẬT VÀ CHÂN LÝ CUỘC SỐNG
Biên soạn: Ðại sư Ấn Thuận.
Việt dịch: Thích Quảng Mẫn.
--- o0o ---
CHƯƠNG
V
SINH
HOẠT CỦA PHẬT GIÁO
CHẾT VÌ NÓNG GIẬN
Ðức Phật
kể rằng: Trong ao nước nọ có một con rùa đen rất nóng tính. Lúc trời hạn
hán, nước ao khô cạn nên nó muốn chuyển đến một nơi khác. Hai chú chim
nhạn là bạn thân lâu nay của nó liền đem đến một nhành cây rồi bảo rùa
ngậm vào giữa, còn mỗi chú chim ngậm vào mỗi đầu nhành cây. Trước lúc lên
đường, hai bạn ấy cẩn thận dặn bạn rùa đứng nói chuyện rồi vỗ cánh bay lên
cao.
Những
đứa trẻ bên đường thấy chuyện này rất kỳ lạ và khôi hài nên chúng vỗ tay
chế giễu. Nghe tiếng cười, rùa liền giận dỗi chửi mắng lại. Ðâu hay rằng
miệng vừa mở thì thân đã lìa nhành cây rơi trúng đá chết tươi. Chim nhạn
thấy bạn chết vô duyên nên đau lòng than rằng:
- Ôi!
Cứ luôn giận dữ như thế thì có lợi gì đâu!
NGHE KINH
Hôm nọ,
tại một giảng đường lớn có một vị Tỳ-kheo đang ngồi giảng kinh cho đại
chúng. Bên dưới, ai nấy im lặng lắng nghe, hội trường im phăng phắc. Ðức
Phật từ bên ngoài đi đến giảng đường. Vừa thấy đại chúng đang nghe pháp,
Ngài liền dừng chân lại và đứng đợi ở ngoài cửa. Khi mọi người nghe pháp
xong, Ngài mới bước vào để khỏi gây xao động cho hội chúng.
Khi tụng
kinh, nghe giảng, chúng ta nên chú tâm và yên lặng, không nên nói chuyện
ồn ào.
CHÚ CHIM
CÔNG HAM CHƠI
Ðức Phật kể: Có một con chim công mẹ đi
kiếm ăn. Lúc đi, nó dặn con giữ nhà và đừng đi chơi lung tung. Ở nhà, chim
con không nghe lời mẹ dặn, nó lén lút trốn khỏi nhà rồi đi tìm lũ bạn chơi
đùa. Dọc đường, nó hết ăn trái cây lại tìm đến bờ suối uống nước. Thấy đám
cỏ, nó liền xòe cánh nhảy múa.
Kết quả,
chim con bị thợ săn dùng lưới giăng bắt. Lúc đó, nó mới biết mình quá khờ
dại lầm lỗi và khóc òa lên. Nhưng khóc để làm gì, ai bảo không chịu nghe
lời mẹ!
NÓI CHUYỆN PHIẾM
Thầy
Di-đa thích bàn luận việc tốt xấu của người khác nên ai cũng xa lánh thầy.
Hễ thấy thầy đi đến đâu thì mọi người bỏ đi nơi khác hoặc ra dấu cho thầy
đi. Chẳng một ai muốn tiếp chuyện với thầy cả. Di-đa lẻ loi và cảm thấy
rất buồn.
Nhân
chuyện xảy ra không mấy tốt đẹp với thầy Di-đa, đức Phật dạy đại chúng:
- Nói
chuyện không hay của người khác là một hành vi không tốt, chẳng những gây
tổn thương cho mọi người mà còn tự chuốc lấy sầu muộn về mình. Như thế
không dại dột lắm sao?!
CÚNG ÐÈN DẦU
Có
một bà lão nghèo khổ nọ đến nghe đức Phật giảng pháp. Bà muốn tự mình cúng
một cây đèn dầu cho đức Phật và chúng Tăng nhưng do không có tiền để mua
nên bà lão đã cắt tóc của mình đổi lấy chút dầu. Cuối cùng, bà ấy cũng có
một cây đèn thắp sáng trong giảng đường.
Sau khi
đức Phật giảng pháp xong, mọi người đều ra về, thầy A-nan lần lượt đi tắt
các ngọn đèn. Nhưng đến một cây đèn nọ, thầy tắt mãi mà nó cứ sáng như
thường. Thầy A-nan cảm thấy rất kỳ lạ.
Thấy
A-nan lúng túng, đức Phật đi đến bảo rằng:
- Ðây là
ngọn đèn của một bà lão nghèo cúng dường. Tín tâm bà ấy rất kiên cố, tấm
lòng của bà thật đáng khen ngợi, thầy cứ để ngọn đèn sáng như vậy đi!
Nhờ
thành tâm, ngọn đèn của bà lão tuy nhỏ, ít dầu nhưng thắp sáng liên tục
trong mấy ngày liền. Lời rằng: “Hễ thành tâm cúng dường, không kể là ít
hay nhiều cũng đều đem đến công đức rất lớn”.
CHÂN THÀNH BỐ THÍ
Trong
thành Vương-xá có một cô bé tám tuổi tên là Diệu Tuệ. Cô bé thông minh, dễ
thương, đáng yêu và đáng kính nể, những người quen biết cô bé thường nói
với nhau như vậy. Ngày nọ, Diệu Tuệ đến gặp đức Phật và có nêu ra mười câu
hỏi, trong đó có một câu cô bé nhờ đức Phật chỉ cho mình biết phải làm thế
nào mới được giàu sang.
Ðức Phật
dạy Diệu Tuệ: “Nếu con làm được bốn việc sau thì sẽ được giàu sang.
1. Bố
thí đúng lúc: Thấy mọi người cần thứ gì thì giúp đỡ thứ ấy. Như phân phát
áo ấm trong mùa đông, cấp thuốc cho người đang bệnh, hỗ trợ đồ ăn thức
uống cho người nghèo khổ đói khát v.v...
2.
Không tỏ ra khinh rẻ: Nên có thái độ thành khẩn trong lúc bố thí, tránh
kiêu ngạo, thô lỗ, nhỏ mọn và đừng để người nhận cảm thấy mặc cảm.
3. Giúp đỡ trong vui vẻ: Khi có lòng
giúp đỡ mọi người tức là mình đã bằng lòng và đồng tình với việc làm đó.
Chúng ta cần biểu hiện tinh thần vui vẻ, tránh làm tổn thương đến lòng tự
trọng của họ.
4. Không mong đền đáp: Bố thí với động
cơ chơn chánh, luôn thành tâm giúp mọi người vượt qua tình cảnh khó khăn,
giảm bớt sự đau khổ và không mong họ cảm ơn hay đền đáp.
- Giúp đỡ người khác một cách chân
thành, dầu nhiều hay ít cũng đều đưa đến phước báo giàu sang. Như gieo một
hạt đậu xuống mảnh đất tốt, trước mắt tuy chẳng thấy gì nhưng qua một thời
gian, nó sẽ nảy mầm lớn lên, trổ hoa và kết quả cho ra nhiều hạt đậu; bố
thí được giàu sang cũng giống như vậy.
Diệu Tuệ nghe đức Phật dạy xong, vui vẻ
chấp tay tán thán và một lòng nguyện làm theo những điều dạy bảo của đức
Phật.
THÍ DỤ NẮM LÁ
Vào độ
thu, dưới các tán cây trong rừng, những chiếc lá vàng bắt đầu rơi đều trên
mặt đất. Các thầy Tỳ-kheo ba bốn người quây quần nói chuyện bên các gốc
cây. Quý thầy vui vẻ mãn nguyện cho rằng kiến thức mà mình theo học với
đức Phật bấy lâu nhiều vô kể và phong phú lắm. Nghe mọi người bàn tán như
vậy, đức Phật liền đến giải thích. Ngài đến bên một gốc cây bốc một nắm lá
rồi chỉ rừng cây hỏi rằng:
- Các
thầy thử nói xem số lá cây trong tay Như lai nhiều hay số lá cây trong
rừng nhiều?
Các thầy
đồng trả lời:
- Bạch
đức Thế tôn! Ðương nhiên lá trong rừng nhiều hơn số là Người nắm trong
tay.
- Ðúng
thế! Giáo pháp mà Ta đã giảng dạy cũng ít như nắm lá trong bàn tay. Nhưng,
những điều mà Ta chưa nói với các thầy còn nhiều lắm, nhiều như lá cây
trong rừng. Quý thầy nên nỗ lực tu tập học hỏi, đừng nên lấy chút ít hiểu
biết cho rằng đã đủ.
LÒNG KIÊN ÐỊNH
Châu-lợi-bàn-đà-già là một vị Tỳ-kheo có trí nhớ rất kém, và điều tội
nghiệp là thầy chẳng nhớ được một câu kinh câu kệ nào. Mọi người tuy
thương thầy nhưng không cách gì để có thể khiến thầy nhớ được.
Ðức Phật
thương thầy trí nhớ kém nên đích thân đến hướng dẫn cho thầy học. Ngài
giao cho Châu-lợi-bàn-đà-già một cây chổi, một cái hốt rác rồi bảo thầy
vừa quét vừa đọc: “Quét sạch rác bẩn”. Ðức Phật hy vọng với lối phối hợp
việc học đúng như công việc thực tế mà thầy đang làm sẽ dễ học hơn, dễ gây
ấn tượng sâu đậm trong trí nhớ của thầy hơn.
Nghe lời
Phật dạy, Châu-lợi-bàn-đà-già hết lòng học tập, thầy vừa quét rác vừa đọc:
“Quét sạch rác bẩn”. Thấy thầy kiên trì lẩm nhẩm một cách khó nhọc, đại
chúng ai cũng cảm động. Cứ hễ gặp Châu Lợi ở đâu thì mọi người liền giúp
thầy đọc: ”Quét sạch rác bẩn, quét sạch rác bẩn...”.
Sau một
thời gian dài kiên trì, thầy bắt đầu nhớ được và biết rõ ý nghĩa của câu
nói ấy. Thầy hiểu rằng, rác bẩn là những thứ không dùng được nữa và cần
phải vứt bỏ. Lòng tham lam, sân hận, ngu si, kiêu ngạo cũng vậy, nó là
những thứ “rác rưởi độc hại”, phải quét sạch thì cuộc sống mới hạnh phúc
lâu dài. Lúc ấy, tâm trí thầy bỗng nhiên bừng sáng, thầy cấp tốc đến chỗ
đức Phật cảm tạ sự chỉ dạy của Ngài.
Tinh
thần kiên trì học hỏi của Châu-lợi-bàn-đà-già thật đáng nể và đáng để
chúng ta ghi nhớ trong lòng.
ÐẦU XÀ ÐUÔI RẮN
Có mẩu
chuyện vui như vầy: Có một con rắn. Hôm nọ không biết vì nguyên cớ gì, đầu
rắn bỗng cãi nhau dữ dội với cái đuôi của nó.
Trước
tiên đầu rắn bảo:
- Này
đuôi! Tao có hai mắt nhìn đường, tao có miệng để ăn no nên quyền thủ lãnh
và dẫn đầu phải thuộc về tao.
Cái đuôi
cự nự lại:
- Không
phải thế! Mỗi lúc bò về phía trước anh đều dựa vào tôi, nếu tôi không hợp
tác thì đố anh trườn lên được.
Nói
xong, đuôi rắn quấn chặt vào gốc cây suốt ba ngày liền. Thấy đuôi quá
cương quyết, đầu rắn bỗng đâm hoảng và đành nhượng bộ cho cái đuôi. Ðắc
thắng, đuôi ngạo nghễ trườn về phía trước, nhưng do thiếu kinh nghiệm dẫn
đầu và cái đầu cũng làm ngơ không giúp nên bò đâu được một đoạn thì cả hai
rớt ngay xuống hầm lửa chết không kịp ngáp.
Ðức Phật
kể mẩu chuyện trên để nhắc nhở mọi người rằng: cãi vã, giận hờn nhau chẳng
bao giờ đưa đến một kết quả tốt đẹp.
Có một
vị Tỳ-kheo nọ bị bệnh nặng, nằm tịnh dưỡng một mình trong gian phòng lạnh
lẽo. Mới đầu mọi người đến thăm rất nhiều nhưng sau đó thì đến thưa dần,
thầy Tỳ-kheo cảm thấy rất buồn.
Một hôm,
đức Phật đến thăm bệnh. Ngài giúp thầy Tỳ-kheo mở tung các cánh cửa
cho không khí và ánh sáng lọt vào, đồng thời xếp gọn chăn gối, thu gom sửa
sang những vật dụng ngổn ngang
trong phòng. Ngài lại lo cơm cháo và lau rửa thân thể
cho thầy ấy. Sau cùng, Ngài hướng dẫn thầy cách thức dưỡng bệnh
thế nào cho tốt. Ðược đức Phật ân cần chăm sóc, thầy Tỳ-kheo cảm thấy được
an ủi rất nhiều và nhân đó bệnh của thầy cũng được thuyên giảm.
Ðức Phật
dạy chúng Tăng:
- Người
bị bệnh thường rất đau đớn buồn tủi nên rất cần cảm thông, giúp đỡ. Chúng
ta phải vỗ về an ủi và chăm sóc cho người bệnh.
Một lần
nọ, đức Phật và A-nan-đà đi vào thành hóa duyên. Trên đường đi, lúc hai
thầy trò đến gian hàng bán cá thì đức Phật đi chậm lại. Thấy trên sạp bày
bán rất nhiều cá và có để một ít lá cỏ tranh buộc cá ở bênh cạnh, nên Ngài ghé chân vào.
Trước tiên đức Phật bảo thầy A-nan-đà đến nắm mớ cỏ tranh rồi bảo thầy
ngửi xem nó có mùi gì. Thầy ngửi thì thấy có mùi hôi tanh rất khó chịu.
Khi
thầy trò đi ngang một cửa tiệm bán hương liệu, đức Phật lại ghé vào. Ðức
Phật bảo thầy A-nan-đà sờ các mảnh giấy gói hương liệu, rồi nói thầy ngửi
tay một lần nữa. A-nan-đà chỉ ngửi qua thôi đã thấy có mùi thơm thơm dễ
chịu.
Ðức Phật
dạy:
- Kết
bạn cũng giống như chạm vào vật có mùi thơm và vật có mùi hôi khó chịu.
Gần gũi bạn hiền, thầy sẽ được học hỏi và tiếp thu những điều hay lẽ phải
từ họ; đời sống thầy sẽ thăng hoa và thơm lừng những đức tính tốt đẹp như
mùi hương giữ lại trên tay. Làm bạn với kẻ xấu, thầy sẽ bị nhiễm bởi những
thói hư tật xấu từ họ và chuốc lấy các hậu quả tồi tệ.
Chúng ta
cần gần gũi những người bạn siêng năng, tính tình hiền hậu, trung thành
với bè bạn và tránh xa lũ bạn lười biếng, tham lam, tránh xa những kẻ có
tính nết hung bạo.
Tôn giả
A-na-luật là một vị tu tập rất tinh tấn. Thầy chuyên tâm đọc tụng lời Phật
dạy có khi suốt đêm không ngủ nghỉ. Bởi lao lực lâu ngày như vậy nên đôi
mắt của thầy bị mù hẳn. Tuy rất buồn nhưng thầy không bao giờ ủ rũ, mà
ngược lại càng chuyên cần tu tập hơn trước.
Một hôm,
khi biết chiếc áo bị rách một mảnh, thầy liền lấy kim chỉ vá lại. Làm được
một lúc thì kim bị tuột mối chỉ, do thầy không thấy đường nên cứ lúng ta
lúng túng mãi. Ðức Phật biết A-na-luật gặp khó khăn bèn đến giúp thầy ấy
xâu chỉ.
A-na-luật rụt rè hỏi:
- Xin
hỏi huynh nào đang xâu chỉ giúp đệ vậy?
- Ta
đây! Như lai đang khâu giúp thầy.
Ðức
Phật vừa trả lời vừa vá lại chỗ rách trên áo. Thầy A-na-luật đã bật khóc
trong niềm tôn kính, cảm động.
Ðức Phật
dạy đại chúng:
- Cảm
thông và tận tình giúp đỡ người khác là trách nhiệm mà chúng ta không nên
chối từ.
Ðức Phật
luôn lấy những hành động của bản thân để làm những lời dạy sống động cho
mọi người. Biết đức Thế tôn giúp thầy A-na-luật, mọi người vô cùng cảm
động. Từ đó, đại chúng giúp đỡ, sách tấn lẫn nhau và hết lòng vì mọi
người.
NGƯỜI PHỤ NỮ THANH KHIẾT
Ở nước
Xá-vệ có một người phụ nữ chuyên làm công tác vệ sinh quét dọn trên các
đường phố mỗi ngày. Bởi áo quần của cô lấm bẩn nên người trong thành đều
xa lánh cô, hễ thấy cô là họ vội bịt mũi đi nhanh qua.
Ðức Phật
bảo cô đến nghe pháp và khuyến khích cô tinh tấn làm việc. Biết được tin
này, dân chúng trong thành dường như không tán thành cho lắm nên vội đến
trách đức Phật rằng:
- Bạch
Thế tôn! Ngài thường nói với chúng con những lời thanh tịnh, dạy mọi người
hãy làm việc trong sạch. Cớ sao nay Ngài lại nói chuyện với người phụ nữ
thấp hèn như thế? Chẳng lẽ Ngài không thật sự cảm thấy việc này đáng ghét
đó sao!
Ðức Phật
nghiêm nghị nhìn mọi người một lượt rồi đáp:
- Người
phụ nữ kia giữ gìn cho thành phố sạch đẹp, đó là sự cống hiến rất lớn đối
với xã hội. Hơn nữa, cô ấy cũng rất khiêm nhường, siêng năng làm công việc
cô đảm trách. Vậy tại sao mọi người lại khinh miệt cô ấy?
Lúc đó,
cô lao công tắm gội sạch sẽ, thay đổi y phục và nét mặt rạng rỡ đi ra diện
kiến mọi người.
Ðức Thế
tôn nói tiếp:
- Quý vị
bề ngoài tuy sạch sẽ nhưng trong lòng lại xấu xa, kiêu ngạo. Nên biết
rằng, cái dơ bẩn bên ngoài của cô ấy thì dễ rửa sạch, cái dơ bẩn trong
lòng quý vị mới là khó cải đổi.
Dân
chúng trong thành biết mình đã sai nên từ đó không dám chê bai người khác
nữa.
A-na-luật, Bạt-đề, Xá-tỳ-đa là ba anh em họ có tình cảm với nhau rất thân
thiết. Sau khi xuất gia, ba người lại tu học một chỗ và cùng giao ước sinh
hoạt theo phương pháp của đức Phật. Ðại khái, ra ngoài thôn xóm khất thực
xong, người nào về trước thì lấy nước, dùng cơm và thu dọn những thức ăn
còn dư. Sau đó rửa chân tay, sửa sang tọa cụ rồi ngồi ngay thẳng nhiếp tâm
niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Những người về sau cũng y như vậy mà làm,
nhưng mọi việc đều phải làm trong yên lặng, tránh gây xao động người
khác.
Khoảng
năm ngày thì mở một cuộc họp, mọi người báo cáo những tâm đắc trong việc
tu học của mình, trao đổi mọi chuyện và giải quyết các khó khăn vướng mắc.
Có lợi thì chia đều, phân công và hợp tác làm việc, sống một đời sống yên
lặng, hòa hợp, thanh tịnh.
Ðức Phật
đến thăm ba thầy và khen rằng:
- Các
thầy ở với nhau trong hòa hợp, trên dưới một lòng, thật đẹp biết bao!
Về sau,
đức Thế tôn thường dạy những thầy ưa tranh chấp hãy bắt chước theo nếp
sống hòa khí của ba huynh đệ thầy A-na-luật.
Lúc trời
còn bình minh, đức Thế tôn đi vào thành. Giữa đường, Ngài gặp một người
đàn ông đang hướng về phương đông, phương nam, phương tây, phương bắc,
phương trên, phương dưới mà lễ lạy.
Ðức
Phật hỏi nguyên nhân vì sao thì anh ta đáp:
- Tôi
tên Thiện Sanh, mỗi ngày hướng về sáu phương lễ lạy là tập quán của gia
tộc truyền lại. Tôi được hay rằng làm như thế sẽ được hạnh phúc.
Ðức Phật
ôn tồn bảo:
- Phật
giáo cũng có sáu cách lạy:
1. Hiếu
thuận cha mẹ: Làm con phải biết hiếu dưỡng, vâng lời, khiến bố mẹ vui lòng
và được an ủi.
2. Kính
trọng sư trưởng: Làm học trò thì nên kính trọng thầy cô, nghe theo lời chỉ
dạy của các thầy cô.
3. Vợ:
Là một trợ thủ đắc lực, giữa vợ chồng nên có sự tôn trọng, thương kính lẫn
nhau.
4. Bạn
bè: Ðối đãi với bạn bè cần có sự thành thật, giúp đỡ lẫn nhau.
5. Chúng
Tăng: Nên cung kính, cúng dường các thầy.
6. Người
hầu: Nên rộng lượng đối với những người giúp việc, đừng nên để họ quá lao
lực nhọc nhằn.
- Sáu
nhóm người ở trên đều rất gần gũi với cuộc sống của chúng ta. Biết cách cư
xử với người chung quanh cho hợp tình hợp nghĩa thì gia đình có hạnh phúc,
cuộc sống được mỹ mãn yên vui. Chỉ lạy sáu phương thôi thì có tác dụng gì
đâu nào!?
Thiện
Sanh nghe Phật dạy xong rất vui vẻ, từ đó quy y đức Phật.
Phía Bắc
thành Xá-vệ có một ngôi làng nhỏ ở cạnh ngay bờ sông, đó là nơi đức Phật
có chủ ý đến hóa đạo. Oai nghi của Ngài khiến dân chúng trong thôn kính
trọng nhưng họ không tin Phật pháp.
Sau đó,
khi đức Thế tôn rời thành Xá-vệ, Xá-lợi-phất muốn tới chỗ đức Phật nên vội
vã đi đến nhưng Phật Ðã qua bên kia sông. Dưới sông, dòng nước vẫn chảy
rất xiết. Thấy bóng đức Phật, trong lòng Xá-lợi-phất tràn trề niềm tin và
lội ngay qua sông. Ở giữa dòng, nước rất sâu và chảy mạnh nhưng
Xá-lợi-phất không nao núng, vẫn mạnh dạn bước tới và sóng dữ đã không lay
chuyển nổi. Cuối cùng Xá-lợi-phất qua được bờ bên kia.
Xá-lợi-phất bước đến trước đức Phật, Ngài hiền từ nhìn thầy với ánh mắt
tán thán, khích lệ và bảo :
- Thầy
là một người trí tuệ, có tín tâm, tinh tấn. Thầy có thể học Phật, thành
Phật và cứu độ tất cả mọi loài.
Xá-lợi-phất chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà lòng ngập tràn niềm
hạnh phúc. Dân chúng trong thôn nghe đức Phật dạy và thấy hành vi kỳ lạ
của Xá-lợi-phất nên phát khởi niềm tin đối với Phật pháp.
Tôn giả
Phú-lâu-na rất nhiệt tâm truyền bá Phật giáo và thầy biện luận cũng vô
cùng tài tình. Mỗi khi bàn luận với mọi người, thầy thường khiến cho họ
hoan hỉ và thán phục. Do vậy mà thầy nổi tiếng là “thuyết pháp đệ nhất”.
Mặc dầu nước Thâu-lô-na là
một nơi không có văn hóa nhưng thầy Phú-lâu-na vẫn xin đức Thế tôn cho
phép mình đến đó giảng đạo.
Ðức Phật
dạy:
-
Phú-lâu-na! Như lai rất taùn thán chí nguyện của thầy nhưng dân chúng nơi
đó thô lỗ, không dễ cảm hóa đâu. Họ sẽ nhục mạ thầy đó!
- Họ
chửi mắng con, con có thể nhận chịu được. Con cảm thấy họ vẫn còn lương
tâm vì họ không đánh con.
- Còn
giả như họ đánh ông, lấy đá ném ông?
- Con
sẵng sàng tha thứ cho họ. Con lại cảm thấy họ cũng còn rất tốt bởi họ chỉ
đánh con mà chưa giết chết con!
- Giả
như họ giết thầy?
- Con sẽ
hy sinh vì pháp, chết không có gì phải hối tiếc.
Ðức Phật
khen ngợi thầy ấy rằng:
-
Phú-lâu-na! Tinh thần tu tập, truyền bá giáo pháp và sự nhẫn chịu của ông
thật đáng làm mẫu mực cho tất cả tín đồ Phật giáo.
Tôn giả
Phú-lâu-na hoằng pháp ở nước Thâu-lô-na rất thành công và khiến vô số
người quy y Phật pháp.
NGHIÊM CẤM THẦN THÔNG
Tôn giả
Mục-kiền-liên là một trong mười đệ tử lớn của đức Phật. Thầy nổi tiếng là
bậc có thần thông đệ nhất. Những việc mà người thường không thể thấy được,
nghe được và không làm được thì thầy lại thấy được, nghe được và làm được.
Ðức Phật không bao giờ tán thành việc thi triển thần thông của thầy, bởi
vì sự kỳ diệu của thần thông chẳng có chút liên hệ gì đến sự nghiệp giải
thoát sanh tử.
Tôn giả
Mục-kiền-liên luôn hết lòng bảo vệ Phật giáo, sớt chia khổ cực cùng đại
chúng nên rất được mọi người yêu quý. Ðạo hạnh cao vời của thầy đã đưa đến
sự đố kỵ của hàng ngoại đạo và bọn họ đã rắp tâm hại ngài. Một hôm, thầy
đang thiền định dưới triền núi, các ngoại đạo nhân dịp ấy lăn một tảng đá
to từ dốc núi xuống làm đè nát thân thể của thầy. Việc này khiến mọi người
vô cùng đau xót.
Ðức Thế
tôn dạy đại chúng:
- Không
nên ỷ lại nơi thần thông vì nghiệp báo nặng hơn tất cả. Thầy Mục-kiền-liên
là một ví dụ cho điều này.
Chỉ có
việc cần mẫn gìn giữ Phật pháp, học tập Bát chánh đạo, cầu giải thoát khỏi
nghiệp báo mới là phương pháp tối thắng nhất. Phật giáo không bao giờ dựa
dẫm vào chú thuật, đoán số mệnh, lên đồng, xem bói, đốt đồ vàng mã v.v...
vì đây là bùa mê thuốc lú làm nhiễu loạn lòng người. Ðệ tử Phật không nên
làm những việc này.
SÁM HỐI
Vua
A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà vì nghe theo lời gièm pha của kẻ xấu nên đem cha
ruột của mình bỏ vào ngục tối rồi lên ngôi vua. Vua cha bị bệnh nặng và
băng hà ngay trong ngục. Vua A-xà-thế biết mình đã phạm vào một lầm lỗi
tày trời, do đó cảm thấy vô cùng đau buồn hối hận đến nỗi sinh bệnh.
Vua
A-xà-thế bị lương tâm giày vò cắn rứt, tâm hồn không giây phút nào thanh
thản. Nên cuối cùng, vua quyết định đến diện kiến đức Phật và cầu Ngài chỉ
phương pháp để sửa mình.
Ðức Thế
tôn ân cần dạy:
- Nguồn
gốc của tội lỗi là do các tâm lý tham dục, tàn bạo, tà kiến, kiêu ngạo
v.v... ảnh hưởng và dẫn đến hành vi sai trái. Ðại vương vì muốn làm vua,
lòng tham dục hừng hẩy nên mới làm ra chuyện lú lẫn mất hẳn lý trí như
vậy. Ðại vương phải sám hối!
A-xà-thế
hỏi lại:
- Sám
hối có nghĩa là gì?
- Sám
hối là nhận rõ những chuyện lầm lỗi đã qua, lập tức nói ra tội lỗi rồi sửa
đổi và không làm chuyện sai trái nữa. Làm được như vậy, tương lai sẽ có
cuộc sống tươi sáng và hạnh phúc.
Sau khi
nghe Phật dạy, vua A-xà-thế tự nói ra lỗi lầm của mình, lập thệ nguyện sửa
đổi, làm thiện, quy y Tam bảo và làm một tín đồ thuần thành của Phật giáo.
PHỤC
THIỆN
Vua
Chiên Ðàn tánh tình hung bạo, ưa chiến tranh và thường thống lĩnh quân đội
đi chinh phạt các nước xa xôi. Về sau, vua tôn thờ Phật giáo, nhận rõ các
điều sai trái trước kia của mình, nên đối với các hành vi tàn bạo ở quá
khứ, vua hết mực chân thành sám hối. Kể từ đó, vua bỏ ác làm thiện, chấm
dứt chuyện chiến tranh, giao hảo trở lại với các nước lân cận. Ở trong
nước, vua thi hành chính trị nhân từ, xiển bá Phật pháp. Nhưng các vị quan
vẫn hoài nghi: “Lỗi lầm đã gây rồi, bây giờ sửa đổi thì có tác dụng gì
đâu?”
Vua
Chiên Ðàn vì muốn giải thích mối nghi hoặc cho quần thần nên nghĩ ra một
cách như vầy. Vua sai người đem đến một chảo đựng đầy nước nóng, cho thêm
lửa dưới chảo để nước sôi liên tục rồi bỏ vào đấy một chiếc nhẫn và bảo
mọi người thọc tay vào lấy. Mọi người chẳng ai dám thử.
Vua chậm
rải nói:
- Trước
đây ta rất hung ác, cực đoan và tàn bạo cho nên tâm hồn không bao giờ được
thanh tịnh. Giống như nước trong chảo càng lúc càng nóng nên không thể thò
tay vào lấy chiếc nhẫn.
Vua
Chiên Ðàn rút hết củi, đổ nhiều nước lạnh vào chảo và đưa tay lấy chiếc
nhẫn ra. Vua nói tiếp:
- Bây
giờ ta không làm ác nữa, cải tà quy chánh, chuộc lại những tội lỗi quá
khứ. Do đó tội lỗi được tiêu trừ, tâm tánh thanh khiết, thanh tịnh. Như
dưới chảo thôi đốt lửa, lại thêm nước lạnh vào thì có thể lấy được chiếc
nhẫn ở trong chảo.
Chư quần
thần đều tỉnh ngộ, đồng thanh ca ngợi vua Chiên Ðàn. Mọi người từ đấy đều
sám hối, sửa lỗi và làm một người tốt.
LA-HẦU-LA
Thuở
nhỏ, La-hầu-la sống trong hoàng cung đã quen với lối sống kiêu ngạo phóng
túng nên rất thích trêu đùa người khác. Vả lại, chú hay ưa nói dối nên mọi
người đều xa lánh. Một hôm, đức Phật đến thăm. La-hầu-la cảm thấy rất vui.
Chú lấy nước rửa chân cho đức Phật. Sau khi rửa chân xong, đức Phật nói
với chú rằng:
- Nước
trong chậu có thể uống và súc miệng được không La-hầu-la?
- Dạ
không, đây là chậu nước rửa chân, nó đã bị bẩn nên không thể sử dụng được.
- Ðúng
vậy La-hầu-la! Chú cũng chẳng khác gì chậu nước này. Thân tuy là dòng dõi
vua chúa nhưng chú bỏ sự phú quý của trần tục để xuất gia học đạo, việc đó
vốn rất quý báu. Song, chú không chịu học theo điều thiện, lại chẳng tu
tập đàng hoàng. Chú giống như chiếc chậu nước này vậy, không có công dụng
gì hết!
La-hầu-la vô cùng xấu hổ, chú cúi đầu xuống và đem nước đi đổ.
Ðức Phật
hỏi:
-Bây giờ
trong chậu không còn gì hết, có thể đựng đồ ăn được không, La-hầu-la?
-Bạch
Thế tôn! Không được ạ, nó đã đựng nước bẩn, còn dính đồ bẩn nên không thể.
- Ðúng
thế, chú cũng vậy. Tuy là một người xuất gia tu hành nhưng lại có tiếng
tăm không tốt, chẳng khác gì chiếc chậu dơ không thể đựng đồ ăn.
Ðức Thế
tôn đưa ngón chân hất tung chiếc chậu, nó lăn tròn trên đất. Một lúc sau
cái chậu dừng lại, đức Phật hỏi tiếp:
- Nếu
cái chậu này bị hư, chú có tiếc không, La-hầu-la?
- Cái
chậu này thô sơ không có giá trị lắm nên không đáng tiếc.
- Ðúng,
chú cũng như thế! Thân là đệ tử Phật nhưng không giữ giới luật, miệng nói
năng thô lỗ, không thành thật trong lời nói. Với hành vi như vậy, chú sẽ
không được đại chúng giúp đỡ, không được bậc có trí thương tiếc. Tiền đồ
của chú đau khổ vô cùng.
Nghe lời
dạy của đức Phật, La-hầu-la vô cùng ray rứt. Dòng nước mắt ăn năn lăn đều
trên má, chú quỳ xuống hết lòng xin sám hối. Từ đấy về sau, chú sửa đổi
lỗi lầm, làm một người thành thật, đứng đắn, khiêm nhường. Mọi người đều
kính trọng và yêu thương chú.
GIỚI LUẬT
Lúc sắp
nhập niết-bàn, đức Thế tôn tha thiết dặn dò:
- Sau
khi ta nhập diệt, các thầy hãy lấy giới luật làm thầy.
Nói một
cách ngắn gọn, giới là quy tắc. Mục đích của giới là ngăn chặn điều ác,
khuyến khích điều thiện. Ðoàn thể hoặc tổ chưùc nào cũng có quy tắc, điều
lệ để mọi người cùng tuân thủ. Ví dụ: trường học có nội quy của trường
học, xã hội có pháp luật, gia đình có gia giáo v.v... Những quy tắc thông
dụng nhất trong Phật giáo chính là năm giới, mười điều thiện, Bát chánh
đạo v.v...Những giới luật này là quy tắc mà đức Phật chế định cho hàng đệ
tử, nên nó cần được tuân thủ, hành trì và trọn đời không được xao nhãng.
Nếu phạm giới, liền phải phát lồ sám hối sửa đổi, không nên che giấu để về
sau tâm được yên ổn và có dũng khí làm thiện, cũng như tạo năng lực tích
cực để tiến bộ bản thân.
Nếu phạm
giới mà sợ mọi người biết rồi cố ý cất giấu trong lòng, làm như vậy tội
lỗi sẽ tăng thêm, và chỉ làm cho nó ngày càng mạnh mẽ, xấu xa hơn. Giới
luật là kim chỉ nam của cuộc sống, nó hướng dẫn con người đi vào con đường
đúng đắn. Người giữ giới thì hành vi đoan chánh, ý tưởng thanh khiết, được
người người kính trọng, và là một người công dân tốt của xã hội.
BỐN PHƯƠNG PHÁP NHIẾP HÓA
Trong
việc đối nhân xử thế, người học Phật dùng bốn phương pháp để dẫn dắt chúng
sanh khiến họ được an lạc. Ðây chính là bốn phương pháp nhiếp hóa. Bốn
phương pháp này bao gồm: bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
1. Bố
thí: Có ba loại: Tài thí, pháp thí và vô úy thí. Bố thí tiền của, thuốc
men để cứu tế người nghèo khổ bệnh tật gọi là tài thí. Ðem Phật pháp hoặc
thiện pháp giáo hóa chúng sanh, khiến họ bỏ ác làm lành chính là pháp thí.
Dùng năng lực khiến mọi người thoát khỏi lo lắng, sợ hãi gọi là vô úy thí.
2. Ái
ngữ: Nét mặt hòa nhã với mọi người, nói lời dễ nghe, lời nói có thiện ý
khiến người vui vẻ và được ích lợi. Ái ngữ lại có bốn thứ:
a.
Nói lời an ủi: Lúc mọi người gặp nguy nan buồn khổ, dùng lời nói thích
đáng để khuyến khích họ bớt buồn khổ.
b.
Nói lời chúc mừng: Thấy mọi người có chuyện may mắn vui mừng thì nên tùy
hỷ ca ngợi và chúc phúc.
c. Nói
lời hữu ích: Ðem Phật pháp khuyến khích mọi người, khiến họ bỏ ác làm
lành.
d. Nói
chân thật: Không nói lời hư dối mới đạt đến mục đích của ái ngữ.
3. Lợi
hành: Người học Phật luôn luôn khuyến khích mọi người tu tập lục độ, lợi
ích cho hữu tình và khiến chúng sanh được an lạc. Lúc làm lợi ích cho tất
cả chúng sanh, dầu có gặp phải sự trái ngang đau khổ cũng không oán thán
trời đất, không thối chí và tâm không chán nản.
4. Ðồng
sự: Lúc người tu thực hành ái ngữ, lợi hành, bố thí thì chính bản thân
phải thực hành để làm mẫu mực cho người khác. Như vậy mới có thể thúc đẩy
tâm lý hướng về điều thiện cho chúng sanh. Cho nên, trong kinh thường có
ví dụ như vầy: Bồ-tát vì cứu độ chúng sinh nên tự mình thị hiện hoàn cảnh
giống như chúng sanh, sống cuộc sống đồng như chúng sanh, cùng đau khổ với
họ, hạnh phúc với họ rồi sau mới giáo hóa, hun đúc cho họ. Ðây là những ví
dụ của đồng sự.
Bốn
phương pháp nhiếp hóa là thái độ xử thế không thể thiếu đối với người học
Phật.
BẬC TU HÀNH NHẪN NHỤC
Thuở xưa
có ông vua nọ dẫn theo rất nhiều cung phi mỹ nữ vào rừng săn bắn. Nhà vua
mãi mê đuổi theo một con thỏ hoang còn các cung nữ phải đứng đợi dưới rừng
cây. Bất chợt thấy một vị tu hành đang ngồi trầm mặc, các cung nữ liền đến
tham vấn hỏi đạo. Khi nhà vua trở về thấy thế liền nổi giận trách mắng các
cung nữ và vị tu sĩ kia. Vị tu sĩ khoan thai trả lời vua rằng:
- Bần
đạo chỉ hướng dẫn mọi người học nhẫn nhục chớ chẳng có ý gì khác.
- Ha!
Ha! Ngươi tự cho mình là người nhẫn nhục sao? Ta phải thử xem ngươi tu
nhẫn nhục đến mức nào mới được!
Nói
xong, ông ta tuốt gươm chặt đứt cánh tay vị tu sĩ.
- Bây
giờ chắc chắn ngươi phải căm phẫn rồi!
Vị tu sĩ
tuy rất đau đớn nhưng vẫn khoan thai nhìn vua đáp rằng:
-Bần đạo
không giận hờn đâu, ôm lòng thù hận chỉ đưa đến oan oan tương báo. Sau khi
thành đạo, người đầu tiên tôi hóa độ chính là ngài, đến đó nghiệp duyên sẽ
chấm dứt.
Nhẫn
nhịn và tha thứ, nét mặt của vị tu sĩ chẳng biểu lộ chút gì thay đổi. Nhà
vua rất cảm động và quỳ xuống đất hết lòng sám hối.
Vị tu sĩ
kia lấy tinh thần đức độ để báo oán, hoàn thành trọn vẹn hạnh tu nhẫn
nhục. Trong vô lượng kiếp tu hành của vị ấy, đây là hành động huy hoàng
nhất. Về sau, nhờ tích lũy công đức mà con đường tu tập được viên mãn, đó
chính là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Thiện-la-ni-tân rất sùng tín thần thánh. Hễ gặp việc khó khăn là anh đi tế
thần khấn Phật. Nhưng, lần này qua mười mấy ngày rồi mà lòng thành của anh
vẫn không mãn nguyện, không được hạnh phúc. Gần đây, anh ta lại có chuyện
buồn phiền, thân thể thường sanh bệnh. Thiện-la-ni-tân nghe nói đức Phật
thuyết pháp rất hay và có thể hóa giải những khúc mắc cho mọi người, nên
liền đi yết kiến đức Phật, cầu Ngài chỉ cho mình cách thức như thế nào để
được mạnh khỏe. Ðức Phật từ tốn bảo:
- Thiện-la-ni-tân! Ông thấy những người
nông phu kia chăng? Mùa xuân họ cần cù gieo giống, cày xới, mùa thu lại
thu hoạch. Nếu họ không gieo giống, không cày bừa mà hằng ngày chỉ cầu
nguyện, làm như thế họ sẽ thu hoạch được vụ mùa không?
Anh liền
đáp:
- Không có chuyện đó! Nếu các người
nông phu không gieo mầm, không cày cấy thì dù cho cầu khấn gì đi nữa, họ
cũng chẳng thu hoạch được gì trên mảnh đất hoang vu ấy.
- Ðúng thế, này Thiện-la-ni-tân! Cũng
vậy, cầu khấn thần linh không thể nào hết khổ đau. Chỉ có tự lo lắng cho
bản thân, chú ý chuyện ăn uống, vận động cơ thể, nghỉ ngơi, điều tiết cơ
thể và tâm sinh lý cho hợp lý thì tự nhiên sẽ được mạnh khỏe giống như
mảnh ruộng được cày cấy, dần dần tươi tốt.
Thiện-la-ni-tân nghe đức Phật dạy,
trong lòng như bừng sáng và tinh thần cảm thấy rất phấn chấn. Anh liền quy
y đức Phật, làm một tín đồ Phật giáo thuần thành.
Trong thành nọ có một đôi vợ chồng già yếu mù cả
hai mắt. Họ vô cùng nghèo khổ, quần áo rách tươm, không có chỗ an
thân và thường co ro ở tạm nơi cổng nhà
người khác, hoàn cảnh thật đáng thương.
Ðôi vợ chồng mù có một cậu con trai lên bảy rất
có hiếu. Ban ngày cậu ra ngoài xin ăn, được món cơm rau gì ngon đều đem
dâng lên cho cha mẹ dùng. Ðợi cha mẹ ăn no xong, cậu mới ăn những đồ dư
còn sót lại, và ngày nào cũng vậy. Cậu bé lại là người thành thật, cần cù
nên những người ở gần đó đều thương yêu giúp đỡ. Do vậy, tuy hai vợ chồng
mù rất nghèo khổ nhưng có đứa con hiếu thuận, họ cũng phần nào cảm thấy
được an ủi.
Một hôm, Tôn giả A-nan gặp chú bé ấy. Thầy rất
ngưỡng mộ và thán phục việc làm của cậu nên về kể lại cho đại chúng nghe.
Ðức Thế tôn đang giảng pháp, nhân cơ hội này cũng nói với đại chúng:
- Ðệ tử Như lai đối với cha mẹ phải có từ tâm
hiếu thuận khiến song thân được hạnh phúc, an ủi. Cậu bé này hiện đời tuy
nghèo khó nhưng tương lai sẽ được quả báo tốt.
Ðức Thế tôn nói tiếp:
- Ta nhớ lại ở các kiếp xưa kia, đời nào kiếp
nào ta cũng hiếu thuận cung kính với cha mẹ. Do đây mà ta chiêu cảm phước
báo vĩ đại, làm trời Ðế Thích, làm bậc Thánh cho đến thành Phật. Sự tích
lũy các công đức này đều do nơi sự hiếu thuận. Các thầy nên nhớ rằng: hiếu
thuận chính là đức tính cao đẹp để làm một con người vĩ đại.
LUÂN HỒI
Ðức Phật
dạy chúng ta rằng: “Mạng sống luân hồi bất tận, chúng sanh mãi sống sống
chết chết kéo dài không dứt, giống như bánh xe chuyển động xoay tròn cho
nên gọi là luân hồi”.
Lúc luân
hồi, do nơi thiện nghiệp mà được sanh lên cõi trời, do vừa có thiện nghiệp
vừa có ác nghiệp nên sanh vào nhân gian, do ác nghiệp nên sanh vào địa
ngục ngạ quỷ hoặc súc sanh. Luân hồi và nhân sinh có một mối quan hệ rất
lớn. Xét về tánh của mỗi con người mà nói thì trí tuệ hay ngu si, hiền
lương hay hư hỏng đều do tập khí truyền lại từ đời trước. Còn về mặt hoàn
cảnh thì phú quý, bần tiện, được mất, sống thọ, chết yểu, đều do hành vi
đời trước ảnh hưởng đến quả báo đời này.
Ðời quá
khứ gây nhân thiện hoặc nhân ác đều đưa đến quả báo, nhưng quả báo phải
đợi duyên hỗ trợ mới sanh được. Ðời này nỗ lực, trung thành, dũng cảm,
siêng năng, giản dị, nhân từ, rộng lượng, nhẫn nhịn .v.v..., những đức
tính tốt này chính là duyên hỗ trợ cho nhân thiện. Nếu chúng ta vận dụng
được thiện duyên, thời có thể khiến cho nghiệp thiện đời trước biểu hiện
và dĩ nhiên là đưa đến hạnh phúc tiến bộ. Cũng như vậy, do khắc phục các
hành vi không tốt như sự nóng nảy, tham dục, tà kiến, kiêu ngạo v.v...
cũng có thể làm cho các ác báo đời trước không có điều kiện được phát
khởi. Vậy tức là có thể hưởng trọn một kiếp sống mỹ mãn. Chúng ta tin
tưởng đạo lý Nhân duyên quán của Phật giáo, xây dựng một thái độ đúng đắn
về nhân sinh, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cao thượng, bỏ ác làm lành, một
mặt để trả nghiệp cũ, một mặt triển vọng vào tương lai. Ðược vậy thì cuộc
sống nhất định sẽ được cải thiện và tiến bộ. Như thế thì chắc chắn chúng
ta sẽ không còn phải lo sợ về kiếp sống luân hồi dài lâu và đau khổ kia
nữa.
Ðức Phật
không bao giờ nói lời hư dối, vậy chúng ta hãy luôn tin tưởng Ngài.
HAI ÐOẠN TRÍCH
TRONG KINH TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG
Bài 10: BỐ THÍ
Ðức Phật
dạy: “Thấy người khác làm việc bố thí mà vui vẻ giúp họ thì được phước báo
rất lớn”. Có vị sa môn hỏi Phật rằng:
- Thưa
Thế tôn! Phước này hết chăng?
Ðức Phật
Ðáp:
- Ví như
ngọn lửa của một cây đuốc, dầu có trăm ngàn người đem đuốc đến mồi lửa kia
để về nấu ăn và thắp sáng thì lửa của cây đuốc vẫn như cũ. Phước kia cũng
vậy.
Có vị sa
môn nọ ban đêm tụng kinh Di giáo của đức Phật Ca-diếp. Tiếng tụng nghe bi
ai như hối hận và thối chí. Ðức Phật hỏi thầy sa môn:
- Xưa
kia ở nhà thầy từng làm nghề gì?
Ðáp
rằng:
- Con
thích gảy đàn cầm.
- Vậy
nếu dây đàn bị chùn thì thế nào?
- Thưa,
không kêu.
- Dây
đàn quá căng thì sao?
- Dạ,
tiếng kêu chát và ngắn.
- Còn
không quá căng và không quá chùn thì sao?
- Tiếng
đàn sẽ ngân dài.
Ðức Phật
dạy:
- Sa môn
học đạo cũng như vậy, nếu giữ tâm chừng mực thì có thể đắc đạo. Ðối với sự
tu tập nếu quá gấp gáp thì thân sẽ mỏi mệt. Thân nếu mỏi mệt thời ý sẽ
sanh phiền não. Ý nếu sanh phiền não tức sẽ thối chí. Nếu thân đã thối chí
thì tội sẽ lớn mạnh. Chỉ có thanh tịnh an lạc thì đạo mới không mất.
Vào thời
nhà Ðường, hoàng đế rất sùng tín Phật giáo. Vua chiêu mộ hàng loạt các bậc
họa sư đến đẽo đục các vách núi ở Ðôn Hoàng, kiến thiết các động đá, nhào
nặn nên các bức bích họa Phật giáo và tượng Phật để truyền bá Phật giáo.
Có họa
sư nọ, nguyên là một tín đồ Phật giáo thuần thành, phát nguyện điêu khắc
một trăm vị đại Bồ-tát với các tư thế khác nhau. Nơi động đá ông ấy làm
việc có một ô cửa, ánh sáng và không khí theo lối ấy để vào trong động.
Ðến buổi chiều, khi hoàng hôn buông xuống, ông phải thắp đèn mới có thể
thấy rõ mọi vật. Làm việc suốt hơn mười năm, ông không khi nào rời khỏi
động nên quên hết bầu trời ở ngoài. Ông chỉ chú tâm cần mẫn đến việc mô
phỏng và sáng tạo.
Một hôm,
ông đếm thử các bức tượng đã hoàn thành thì thấy được chín mươi chín bức
rồi, chỉ còn một vị nữa thôi thì có thể hoàn thành tâm nguyện. Thế là ông
miệt mài cố hình dung ra một vị Bồ-tát có vẻ mặt nghiêm nghị, nhưng dù cố
thế nào cũng nghĩ không ra dung mạo mới. Nhiều ngày sau, một tối nọ, ông
nằm mộng thấy một vị Bồ-tát thân sắc vàng óng ánh nói với ông rằng:
- Không
nên phí sức như vậy, đã đủ một trăm tượng rồi, ông họa sư ạ!
Họa sư
tỉnh dậy, cẩn thận đếm lại một lần nữa nhưng
vẫn chỉ được chín mươi chín bức tượng.
Ông cảm thấy rất buồn nên quyết định ra ngoài tìm các tập tranh về
vẽ. Ngoài biên cương cảnh vật lạnh lẽo hoang vu, sa mạc chạy tít tận chân
trời, chẳng một dấu chân người, chỉ may có đâu đôi ba vị tu khổ hạnh trên
các chóp núi. Ông tìm đến một vị tăng và nhờ vị ấy chỉ giáo cho mình.
Vị tăng
ấy nói:
- Anh
không cần tìm kiếm gì cho mệt, giấc mộng của anh thật linh dị, đúng là đủ
một trăm vị rồi đó!
Họa sư
giật bắn mình, cho rằng vị Tăng đã đùa mình. Nhưng vị ấy vỗ vai ông họa
sư, trang trọng nói tiếp:
- Anh
rời quê hương, ngàn dặm xa xôi đến đây hiến mình cho Phật pháo, sự cống
hiến và tinh thần vĩ đại này chính là hành vi của Bồ-tát, chín mươi chín
vị cộng thêm anh chẳng phải đủ một trăm vị đó sao?
Vị họa
sư quá khiêm tốn và không dám nghĩ như vậy nên vội vàng cáo từ vị Tăng. Về
sau, hoàng đế biết được chuyện này bèn hạ chiếu khen thưởng. Ở một đoạn
trong thánh chỉ, vua ra lệnh cho điêu khắc dung mạo của vị họa sư để lưu
lại kỷ niệm. Cuối cùng, vị họa sư kia cũng hoàn thành ước nguyện vĩ đại là
điêu khắc một trăm vị Bồ-tát.
Một hôm,
đức Phật ở Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên đón tiếp sự thăm viếng của trời Phạm
thiên. Phạm thiên hướng về đức Thế tôn đảnh lễ và nêu ra mấy câu hỏi. Dưới
đÂy là cuộc đối thoại giữa đức Phật và Phạm thiên.
Phạm
Thiên hỏi:
- Thưa
Thế tôn! Loại kiếm nào sắc nhất, thứ thuốc nào độc nhất, ngọn lửa nào dữ
nhất và đêm tối nào dài nhất?
- Miệng
mắng chửi người khác là thứ kiếm sắc bén nhất, lòng tham là liều thuốc độc
nhất, ngọn lửa hung dữ nhất là phiền não, và ngu si là đêm dài tối tăm
nhất.
- Vậy,
ai được lợi ích lớn nhất, ai bị tổn thất nhiều nhất, ai là kẻ nham hiểm
nhất? Thưa Thế tôn!
- Người
bố thí được lợi ích lớn nhất. Biết ơn mà không báo ơn là người tổn thất
nhiều nhất. Người ôm lòng độc ác, mưu mô không kể chi là kẻ nham hiểm
nhất.
- Ðiều
gì có sức lôi cuốn nhất, cái gì khiến người ta xa lánh nhất, điều gì phá
tình hữu nghị và ai là vị lương y tài giỏi nhất?
- Làm
thiện có sức lôi cuốn nhất vì nó đưa đến hàng ngàn thứ công đức. Tội ác
khiến người ta xa lánh nhất vì đưa con người chìm sâu vào hố thẳm luân
hồi. Ðố kị và tư lợi phá vỡ tình hữu nghị. Như lai là vị lương y tài giỏi
nhất.
Vị trời
Phạm thiên cảm thấy rất mãn nguyện, chắp tay tán thán trí tuệ viên mãn của
đức Thế tôn đã khéo phá tan mối nghi hoặc cho mọi người.
Trời
Phạm thiên hỏi tiếp:
- Thưa
Thế tôn! Cái gì tối thắng nhất, làm thế nào mới có thể đạt được nó?
Ðức Phật
đáp:
- Phước
đức và trí tuệ là cái tối thắng nhất. Tu cả phước đức lẫn trí tuệ thì có
thể ra khỏi luân hồi, vượt hẳn ba cõi, tự lợi lợi tha. Dũng mãnh tinh tấn
thì có thể tu phước và tu tuệ.
Phạm
Thiên nghe đức Phật dạy xong tâm trí được khai sáng liền đảnh lễ đức Phật
và cáo lui.
HỌC PHẬT
Khi chưa
thành đạo, đức Phật cũng chỉ là người bình thường như mỗi chúng ta, cũng
có phiền não, có tội lỗi. Từ khi lập chí học Phật, Ngài đời đời kiếp kiếp
tu hành Bồ-tát đạo. Ở phương diện tự lợi, Ngài giữ giới luật, cải thiện
các hành vi tội lỗi của đời trước, trở thành một người tốt đẹp, thuần
khiết. Ở phương diện lợi tha, Ngài yêu thương mọi người như yêu thương
chính mình, lòng nhân từ trải đến muôn vật, vĩnh viễn làm lợi ích cho
chúng sanh.
Từ hành
vi tự lợi lợi tha này, đức Phật Ðã tích lũy vô lượng công đức, từ đó cảm
đến vô lượng phước báo. Do vậy, Ngài có đầy đủ đại từ bi, đại trí tuệ, đại
năng lực. Trong tất cả cõi trời cõi người, không một ai có thể sánh kịp
với Ngài.
Ðức Phật
biết mỗi chúng ta đều có thể thành tựu như Ngài. Ngài đến nhân gian chính
là nói cho mọi người biết về kinh nghiệm của mình, khiến cho tất cả mọi
người có được niềm tin, sự động viên, niềm hy vọng và chỗ nương tựa.
Ở nhân
gian dù có đau thương, phiền não nhưng không nên vì thế mà thất vọng ủ rũ.
Chỉ cần tôn kính hành trì Phật pháp, bỏ ác làm lành, tin tưởng nơi đức
Phật, học tập theo đức Phật thì loài người sẽ có được sự thay đổi thần kỳ,
dần dần đạt đến cảnh giới và thành công như đức Phật.
PHẬT PHÁP THỰC TIỄN
Một kẻ
lữ hành bị lạc trong sa mạc rộng lớn. Ở đó, khí hậu vô cùng khô nóng, ánh
mặt trời như thiêu như đốt. Anh ta không có nước uống, không có thức ăn,
chung quanh lại chẳng có bóng dáng con người. Anh bước đi trong sự tàn tạ
cô độc và sắp ngã quỵ.
Ðột
nhiên có một người đi thẳng về phía anh. Vị ấy có vẻ mặt tươi vui và vóc
dáng rất sung mãn tự tại. Anh ta liền đến hỏi vị ấy làm như thế nào mà có
thể thoát được sự bức bách của cái nóng và cái khát, đến nơi nào thì có
thể tìm được nguồn nước và bóng cây.
Vị ấy
bảo anh rằng:
- Từ đây
về phía đông có hai con đường, một đường đi về phía trái, một đường về
phía phải. Ði theo con đường phía phải, nỗ lực tiến về phía trước thì tự
nhiên sẽ gặp được nguồn nước ngon ngọt và bóng cây mát.
Nghe vị
ấy nói anh ta rất tin nhưng vì đã quen với tính biếng nhác nên không chịu
đi về phía trước. Kết quả là anh ta chết khát trong sa mạc.
Người
sung mãn thì dụ cho đức Phật, còn kẻ bị đói khát thì dụ cho chúng sanh.
Anh ta tuy có lòng tin nhưng lại không chịu hành động nên kết quả chỉ có
thất bại. Năm giới, mười điều thiện, Bát chánh đạo v.v... là đạo lý đức
Phật chỉ cho chúng ta tu hành. Ngài chú trọng thực tiễn, không đề cao nơi
việc nói suông, nên chúng ta phải cố gắng thực hành bằng sức dũng mãnh
tinh tiến thì mới không phụ đạo lý của đức Phật.
ÐỨA CON CỦA PHÚ ÔNG
Trong
kinh Pháp Hoa, đức Phật từng thí dụ như vầy: có một phú ông nọ bị lạc mất
đứa con trai khi nó còn rất bé nên ngày đêm vô cùng nhớ mong. Có một hôm,
phú ông nhìn thấy một kẻ ăn mày và nhận ra đó là đứa con bị thất lạc của
mình, bèn kêu nó đến để nhận cha con. Nhưng đứa trẻ ấy đã lưu lạc lâu năm,
quen bị người ta khinh rẻ, nhục mạ nên nó hiểu lầm là phú ông lừa nó đến
rồi bắt cho quan trị tội, do đó vội bỏ chạy.
Phú ông
nghĩ ra một diệu kế là cho người tìm anh ta về làm việc để nó yên tâm với
hoàn cảnh mới. Phú ông thường ngồi bên cửa sổ theo dõi công việc rồi dần
thăng chức cho nó. Khi đứa con gánh vác được công việc, ông cảm thấy thời
cơ đã chín muồi nên triệu tập bạn bè họ hàng rồi nói ra bí mật bấy lâu.
Ðứa con biết được thân phận của mình mới dám nhận lại cha.
Trong
thí dụ này, đứa con là chúng sanh, còn phú ông chính là đức Phật. Chúng
sanh mãi quay cuồng trong sanh tử luân hồi, sớm quên mất bản tánh thành
Phật của mình, chỉ toàn gây nên nghiệp duyên. Ðức Thế tôn biết trước, giác
ngộ trước, bảo rằng chúng sanh cũng có thể thành Phật như Ngài. Ngài lấy
bản thân làm mẫu mực, dùng các phương pháp khéo léo hướng dẫn chúng sanh
chấm dứt việc ác, làm việc lành rồi hướng thượng, gắng sức cho đến khi
thành Phật. Chúng ta nên ghi nhận và tu học theo lời giáo huấn của đức
Phật, không nên phụ hoài công lao của Ngài mới đúng lẽ.
THIỆN TÀI ÐỒNG TỬ
Ven theo
vịnh Băng-gan có một đô thị rất giàu có. Một phú ông trong thành phố này
có duy nhất một đứa con trai tên là Thiện Tài. Cậu bé rất thông minh lanh
lợiï. Thiện Tài từ bé đã thích nghiên cứu học thuật và thường ưu tư về vấn
đề luân hồi sanh tử. Một hôm Bồ-tát Văn Thù đến truyền bá Phật giáo, Thiện
Tài cũng đến nghe Ngài giảng về đạo lý. Vào khoảng giữa đêm, khi ánh trăng
tỏa sáng, Thiện Tài đồng tử đến thăm Bồ-tát Văn Thù và hỏi Ngài về ý nghĩa
cuộc sống. Bồ-tát động viên Thiện Tài nên khiêm tốn học tập, lấy tinh thần
dõng mãnh của Bồ-tát phục vụ chúng sanh để hoàn thành sự nghiệp và chí
nguyện cao cả.
Ðể thực
hiện chí nguyện học Phật, Thiện Tài đồng tử bắt đầu đi khắp nơi cầu học.
Cậu theo học rất nhiều người, gồm năm mươi ba vị, trong đó có Tỳ-kheo, học
giả, mỹ thuật gia, cư sĩ, chính trị gia, thanh thiếu niên và những người
thuộc các giai cấp. Cậu học điều hay của người khác, sửa đổi khuyết điểm
của mình.
Về sau,
khi đến cầu học với Bồ-tát Di Lặc, trong chánh định, Thiện Tài quán thấy
Bồ-tát trải qua các kiếp tu hành như: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định và trí tuệ, nên hết lòng sám hối, phát thệ nguyện rộng
lớn, tinh tấn cầu đạo. Tinh thần khiêm tốn học đạo của Thiện Tài đồng tử
chính là tấm gương cho mỗi chúng ta noi theo.
TRÌNH TỰ HỌC PHẬT
Người
học Phật, đối với Phật pháp, cần phải trải qua bốn giai đoạn: Tín, giải,
hành và chứng.
- Tín:
Ðối với Phật pháp, người học Phật trước tiên cần có tín tâm, như trong
kinh thường nói: “Phật pháp rộng lớn như biển cả, có niềm tin mới có thể
vào”. Có tín tâm, người học Phật mới có thể đạt được lợi ích chân thật, và
khiến chúng ta dũng cảm đương đầu với ma chướng, thoát khỏi sanh tử khổ
não.
- Giải:
Ngoài kính tín Phật pháp, đối với nghĩa lý trong Phật pháp, chúng ta nên
có nhận thức rõ ràng, tìm hiểu đầy đủ, được như vậy thì niềm tin càng vững
chắc.
- Hành:
Ðối với Phật pháp, sau khi hiểu rõ và có niềm tin kiên cố, lại phải tự
mình thực hành, giữ gìn năm giới, mười điều thiện, Bát chánh đạo v.v...
phải luôn luôn tu tập, thực hành mới mong được ích lợi.
- Chứng:
Người học Phật có niềm tin, sự hiểu biết và thực hành rồi thì nhất định sẽ
gặt hái kết quả, chứng minh rằng sự nỗ lực không phải uổng phí. Bản thân
chúng ta tự nhiên thể nghiệm được cảnh giới giác ngộ, đạt được công đức
lớn và giải thoát lớn.
BA CHÚNG ÐỆ TỬ CỦA PHẬT
Người
học Phật, lý tưởng và chí nguyện không ai giống ai cho nên sự thành tựu
cũng chẳng người nào giống người nào. Nói một cách tóm lược thì có ba
loại: một là sanh vào cõi trời cõi người, hai là làm A-la-hán, và ba là
làm Bồ-tát.
1.
Sanh vào cõi trời cõi người: Hạng người học Phật này bỏ ác làm lành, tích
nhóm phước đức, hy vọng kiếp sau sẽ được yên vui. Ví dụ như: dung mạo, thọ
mạng, hoàn cảnh gia đình và sức khỏe v.v... đều được trội hẳn hơn so với
đời này. Nhưng sự mong ước này vẫn chưa triệt để vì sự vui sướng của cõi
trời và cõi người đều ngắn ngủi, vẫn phải bị sanh tử luân hồi, lưu chuyển
trong ba cõi, chịu khổ não vô cùng.
2.
A-la-hán: Những vị học Phật này biết rằng ba cõi hoàn toàn không yên ổn,
giống như nhà lửa, cũng như một ngọn lửa lớn cơ thể thiêu rụi hết mọi thứ
cho nên sanh tâm nhàm chán. Vì chán bỏ sinh tử nên cầu mau chóng thoát
khỏi sanh tử. Những vị ấy nỗ lực chấm dứt tất cả sự vay trả của túc
nghiệp, tu tập Phật pháp, chỉ hoàn thiện cho chính bản thân, cuối cùng
vượt ra ngoài vòng sanh tử, được gọi là A-la-hán. Ðây là quả vị của tiểu
thừa.
3.
Bồ-tát: Những vị học Phật này phát tâm rộng lớn, không muốn chỉ hoàn thiện
cho chính mình, riêng mình giải thoát mà phát nguyện cứu mình, cứu người,
tự lợi lợi tha, hy vọng chúng sanh đều được giải thoát. Việc làm này rất
khó, phải có đại trí tuệ, đại từ bi, đại nguyện lực, đại công đức mới có
thể thực hiện được. Bồ-tát phát tâm, thực hành, đời đời kiếp kiếp không nề
hà mệt nhọc, không thối tâm, mãi mãi giữ vững lý tưởng cầu Phật đạo và độ
sanh. Ðây là một giá trị sống rất cao quý của những người đại thừa. Vì
vậy, người học Phật nên lập chí làm Bồ-tát.
CHÚNG SANH VÀ THẾ GIỚI
Phật
giáo gọi những sinh vật có tri giác, có sinh mạng, bao quát nhân loại, cầm
thú, côn trùng v.v... là chúng sanh. Nơi chúng sanh ở có ba chốn: Dục
giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Chúng sanh trong cõi Dục có năm loại, còn
gọi là ngũ thú: trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
- Trời:
Chúng sanh làm lành được sanh lên cõi trời, gọi là Trời. Ðây cũng chính là
thiên đường mà ngoại đạo sùng bái. Chúng sanh cõi này có sự hưởng thụ
khoái lạc, nhưng sau khi hưởng thụ xong cũng phải chết và chịu luân hồi
trở lại.
- Người:
Nhân gian là thế giới vật chất, chúng sanh hiền thiện hoặc tội ác đều có
thể sanh vào, nên gọi là Người.
- Ðịa
ngục: Là nơi chúng sanh gây tội rất nặng sanh vào. Chúng sanh ở đây luôn
chịu sự bức bách của thống khổ - khổ báo hết rồi mới có thể chuyển sanh
sang cõi khác.
- Ngạ
quỷ: Là nơi chúng sanh tham dục sanh vào.
- Súc
sanh: Chính là nơi chúng sanh ngu độn sanh vào.
Năm
tình huống trên đây chính là tướng của chúng sanh trong Dục giới. Còn Sắc
giới và Vô sắc giới là nơi cư ngụ của chúng sanh hiền thiện, có phước và
định lực. Ðức Phật dùng trí tuệ quán sát tướng trạng của ba cõi và nói cho
chúng ta biết rằng: luân hồi năm nẻo là một hiện tượng tự nhiên, làm lành
thì sanh thiên, làm ác thì đọa địa ngục. Chúng sanh từ cõi trời cho đến
địa ngục tuy khổ đau, hạnh phúc không giống nhau nhưng lại giống nhau là
còn bị chết và luân hồi. Trong khoảng thời gian vô tận không gian vô hạn,
chúng sanh cứ diễn đi diễn lại vở diễn buồn-vui-ly-hợp. Nghiệp báo của mỗi
cá nhân cũng theo sự tích tập mà trở thành gánh nặng khổ não. Cho nên, đức
Phật - bậc trí tuệ từ bi - dạy chúng ta phải phát Bồ-đề tâm, học Bát chánh
đạo, giải thoát luân hồi, vượt khỏi ba cõi mới là phương pháp triệt để.
TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN
Người
học Phật cần phải có bốn chí nguyện vĩ đại, đó chính là Tứ hoằng thệ
nguyện:
“Chúng sanh vô biên
thề nguyện độ
Phiền
não vô tận thề nguyện đoạn
Pháp môn
vô lượng thề nguyện học
Phật đạo
vô thượng thề nguyện thành”.
Trong
thế giới có vô biên chúng sanh, họ mãi bị sanh tử trôi lăn trong sáu nẻo
vô cùng đáng thương, cho nên cần phải phát nguyện cứu độ họ. Phiền não của
chúng ta rất nhiều, ví dụ như : tham lam, sân hận, ngu si, kiêu ngạo
.v.v...Các thói quen xấu này hay làm xáo trộn tâm trí chúng ta, khiến
chúng ta có các hành vi và kết quả không tốt nên chúng ta phải phát nguyện
loại trừ nó.
Thế
gian có nhiều thứ học vấn tri thức kỹ thuật cho nên chúng ta phải có bản
lĩnh, có tài năng thì mới mong có thể cứu đời, làm lợi ích cho mọi người.
Phật đạo thì vô cùng cao tột, vô cùng triệt để. Thành Phật thì mới có thể
thoát khỏi sinh tử, phổ độ mọi loài, vì vậy chúng ta phải phát nguyện
thành Phật. Tứ hoằng thệ nguyện là chí nguyện mà người học Phật nên có, hy
vọng mọi người sẽ phát nguyện và thực hành.
BÁT CHÁNH ÐẠO
Ðức Phật
thường diễn giảng Bát chánh đạo cho hàng đệ tử của Người. Bát chánh đạo
chính là tám việc hợp lý và chánh đáng.
1. Thấy
biết đúng đắn: Ðối với những sự việc trên cõi đời này, chúng ta cần có một
cách nhìn cho đúng đắn và chân thực như làm thiện thì được quả thiện, làm
ác thì mắc quả báo ác.
2. Suy
nghĩ đúng đắn: Chúng ta nên có tư tưởng trong sáng, không suy nghĩ những
chuyện xằng bậy, như không có ý nghĩ trộm cắp, không nghĩ đến việc sát
sanh, không rắp tâm làm tổn thương người khác.
3. Nói
lời chân thật: Không nói lời hư dối, không mắng chửi nguyền rủa kẻ khác,
không xúi dục mọi người làm chuyện sai trái.
4. Việc
làm chân chính: Giữ gìn trật tự, không làm ác, không sát sanh, không trộm
cắp v.v...
5. Nếp
sống chân chính: Làm các việc có lợi cho xã hội và chọn nghề nghiệp chính
đáng.
6. Nỗ
lực chân chính: Nỗ lực làm việc thiện, tránh những việc sai trái, tội lỗi.
7. Nhớ
nghĩ chân chính: Thường nghĩ nhớ đức Phật và ghi nhớ lời dạy của Ngài.
8.
Chuyên chú chơn chánh: Nghĩa là tập trung tinh thần (đúng với chánh pháp).
Bát
chánh đạo là giới luật trọng yếu của người học Phật. Người hành trì Bát
chánh đạo tâm hồn sẽ thanh khiết, hành vi đoan chánh và có một tương lai
tươi sáng, hạnh phúc.
--- o0o ---
Mục Lục
|
Chương I
|
Chương II
Chương III|
Chương IV
|
Chương V
|
Chương VI
--- o0o ---
Mục Lục Pháp Tạng- 20
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-04-2004