ÐỨC PHẬT VÀ CHÂN LÝ CUỘC SỐNG
Biên soạn: Ðại sư Ấn Thuận.
Việt dịch: Thích Quảng Mẫn.
--- o0o ---
CHƯƠNG IV
TÌM
HIỂU CHƯ PHẬT VÀ BỒ-TÁT
ÐỆ TỬ PHẬT
Sau khi
đức Phật nhập diệt, các vị đệ tử tiếp tục nối gót Ngài gánh vác trọng
trách truyền bá Phật pháp đúng như lời Người đã dặn dò. Phật giáo do đó
mới liên tục truyền thừa cho đến ngày nay. Nhưng việc làm và chí nguyện vĩ
đại này không của riêng ai, trách nhiệm thuộc về những ai tự nhận mình là
đệ tử Phật.
Ðệ tử
đức Phật có hai chúng: xuất gia và tại gia. Trong chúng xuất gia, nam giới
gọi là Tỳ-kheo, nữ giới gọi là Tỳ-kheo ni. Các vị ấy tha thiết cầu đạo,
khước từ sự hưởng thụ sung sướng của thế tục và khép mình trong đời sống
an tịnh đạm bạc, ngày ngày cẩn trọng giữ gìn giới luật. Quý thầy quý sư cô
còn có chí hướng thanh cao, lý tưởng vĩ đại, nhủ lòng phải giải thoát sanh
tử, chứng được quả Phật để cứu tất cả mọi loài và làm bậc mô phạm cho
chúng sanh.
Ðệ tử
tại gia của đức Phật gọi là cư sĩ. Nam gọi là Ưu-bà-tắc, nữ gọi là
Ưu-bà-di. Họ đều là những người có niềm tin sâu sắc đối với lời dạy của
đức Phật, nguyện bỏ ác làm lành, chọn nghề nghiệp có ích cho đời
và làm những việc lợi mình lợi người.
Các hàng
đệ tử xuất gia và tại gia của đức Phật đều có trách nhiệm hoằng dương Phật
pháp, làm lợi ích cho chúng sanh.
PHẬT PHÁP
Trong
hành trình giáo hóa suốt bốn mươi chín năm, đức Phật Ðã giảng thuyết hơn
ba trăm hội với nhiều nội dung rất phong phú. Theo như chân lý mà đức Thế
tôn đã thể nghiệm thì mạng sống luân chuyển liên tục chứ không hạn cuộc
trong một thời kỳ nhất định. Ðã là sự sống thì không sao tránh khỏi tạo
nghiệp, sự sống hiện hữu thì nghiệp báo cũng đồng thời hiện hữu, trong đó
có cả nghiệp thiện lẫn nghiệp ác. Nghiệp quá khứ đưa đến quả hiện tại,
nghiệp hiện tại đưa đến quả tương lai. Nó hỗ tương làm nhân quả cho nhau,
tạo nên một dòng tiếp nối vô cùng vô tận của bể nghiệp mênh mông và ngút
ngàn kiếp sống.
Dù cho
cuộc đời có nhiều nỗi thống khổ nhưng đức Phật vẫn tuyệt đối không dạy mọi
người phải yếm thế, và cũng chẳng chủ trương bi quan. Bởi đức Phật xét
thấy trong vòng luân chuyển không cùng ấy vẫn tiềm tàng khả năng giải
thoát, tất nhiên khổ não cũng sẽ có hồi chấm dứt. Cho nên, Ngài dạy chúng
sanh hãy đối mặt với hiện thực khổ đau để tìm ra nguyên nhân đưa đến đau
khổ, và chọn lựa phương cách loại bỏ chúng thì biết được cảnh giới sau khi
thoát khổ. Nếu làm được vậy, đời sống tương lai sẽ xán lạn toàn mỹ và
chẳng phải là chuyện ngoài tầm tay.
Phương
pháp giải thoát khổ đau tuy nhiều nhưng có thể tóm gọn như sau:
“Không làm các việc ác,
Hãy làm các việc lành,
Giữ tâm ý trong sạch,
Ðó là lời Phật dạy”.
Ngoài
điều này ra chúng ta cũng cần phải:
- Giữ năm giới: Không sát sanh, không
trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
- Làm
mười điều thiện: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói
dối, không nói lời ác độc, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời hoa mỹ,
không tham lam, không sân hận, không si mê.
- Thực
hành Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh tư
duy, chánh mạng, chánh ngữ, chánh niệm, chánh định.
- Hành
trì sáu ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và
trí tuệ.
Thực
hành theo lời dạy của đức Phật thì cho dù ở nơi nào, thời điểm nào, đời
sống của chúng ta cũng được tươi sáng và an lạc, đời này đến kiếp khác sẽ
dần trút bỏ gánh nặng phiền não. Khi đạt đến đời sống hoàn toàn thanh
khiết, công đức phước tuệ đầy đủ, chúng ta sẽ tùy tâm đến nơi này hoặc nơi
khác để làm những việc lợi ích hơn, trang nghiêm hơn.
QUY Y TAM BẢO
Trong
Phật giáo, đức Phật, giáo pháp Ngài nói ra và chúng Tăng được gọi là Tam
bảo. Quy y có nghĩa là quay về và nương tựa. Những người mới bắt đầu học
Phật, niềm tin chưa vững chắc và khả năng còn hạn chế thì việc quy y Tam
bảo chính là để được che chở hướng dẫn đi vào con đường chánh và được
thành tựu đạo nghiệp. Ðó là công dụng và ý nghĩa của chữ quy y.
- Quy y
Phật: Ngoài việc quy y đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta vẫn có thể quy y
với những đức Phật khác như đức Phật A Di Ðà, đức Phật Dược Sư Lưu Ly
v.v... bởi sự nghiệp, công đức, nhân cách... của chư Phật đều đồng nhau và
cùng là những bậc mô phạm cho muôn loài.
- Quy y
Pháp: Pháp là phương pháp hướng dẫn chúng ta tu tập, dạy ta làm người, là
đạo lý về vũ trụ nhân sinh mà đức Thế tôn đã nói, là những chế định giới
luật để hàng đệ tử Phật nương tựa hành trì như: năm giới, mười điều
thiện, Bát chánh đạo v.v...
- Quy y
Tăng: Tăng chúng là những người hết lòng học đạo, là thế hệ tiếp nối chí
nguyện truyền bá giáo pháp của chư Phật, chư Bồ-tát. Trách nhiệm và chí
khí cao cả của quý Ngài thật đáng để cho chúng ta kính ngưỡng.
Hoàn
cảnh xã hội rất phức tạp, người thiện có, người ác có. Trong cuộc sống hỗn
độn như vậy nếu không có một tín ngưỡng đúng đắn thì rất dễ bị ảnh hưởng
bởi những điều không tốt, và dễ lầm bước vào con đường tội lỗi. Quy y Tam
bảo là lý tưởng cao thượng, là mục tiêu đúng đắn, nên tín ngưỡng Tam bảo
thì tiền đồ chúng ta sẽ sáng lạn và hạnh phúc. Do đó, chúng ta phải sớm
xác định tín ngưỡng, quy y Tam bảo vì đó là những khuôn thước tuyệt vời
cho chúng ta hoàn thiện bản thân.
PHẬT A DI ÐÀ
Phật A
Di Ðà có nghĩa là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang. Ngài và đức Phật Thích Ca
Mâu Ni đều là đạo sư của ba cõi, là cha lành của bốn loài, là bậc thầy cao
cả của trời người. Lúc đương còn tu hạnh Bồ-tát, Ngài có phát thệ nguyện
rộng lớn, nguyện kiến tạo một cõi nước thanh tịnh an lạc cho tất cả chúng
sanh. Theo sự ghi chép trong kinh, cõi tịnh độ ấy rất đẹp đẽ thanh tịnh,
được trang nghiêm bởi muôn vàn châu báu. Nhân dân cõi ấy đều là những vị
lương thiện ngay thẳng, thân thể không còn bị khổ lụy bởi sanh già bệnh
chết, tâm tánh sạch hết các phiền não như: tham lam, sân hận, kiến chấp
sai lầm và kiêu mạn.
Chúng
sanh cõi Tịnh độ ngày ngày được nghe đức Phật A Di Ðà nói pháp, được gần
gũi với các vị bằng hữu thánh thiện. Một khi sanh về đây thì tu tập cho
đến lúc thành tựu rồi mới trở lại nhân gian cứu giúp mọi loài; nhưng phải
là những người thiện mới có thể sanh về nơi đây. Trong kinh Quán Vô Lượng
Thọ có nói rằng:
1.Phải là những người quy y Tam bảo.
2.Người phát tâm Bồ-đề.
3.Người hiếu thảo với cha mẹ.
4.Người tu tập mười điều thiện.
Hằng
ngày niệm danh hiệu đức Phật A Di Ðà, tưởng nhớ đến các hạnh nguyện vĩ đại
trang nghiêm, học theo hạnh nguyện của Ngài, làm điều ích lợi cho chúng
sanh thì tự nhiên những người ấy thân tâm được an lạc và sẽ được Phật A Di
Ðà hộ niệm sanh về tịnh độ. Ðức Phật A Di Ðà với những hạnh nguyện, cõi
nước, nhân dân ... chính là những điều mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giới
thiệu với các đệ tử của Người. Về sau, những lời ấy được biên chép thành
một tập sách có tên là kinh A Di Ðà.
KINH A DI ÐÀ
Vì sao
đức Phật ấy có danh hiệu là A Di Ðà? Này Xá-lợi-phất! Ðức Phật ấy có hào
quang rực rỡ chiếu khắp mười phương thế giới mà không bị chướng ngại cho
nên gọi là A Di Ðà. Vả lại, này Xá-lợi-phất! Thọ mạng của đức Phật và nhân
dân cõi tịnh độ thì vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp
cho nên gọi là A Di Ðà.
Này
Xá-lợi-phất! Ðức Phật A Di Ðà có vô lượng vô biên chúng đệ tử Thanh văn,
đều là những vị A-la-hán, chẳng thể tính toán biết được số ấy, và chúng
Bồ-tát lại cũng như vậy. Xá-lợi-phất! Cõi nước đức Phật ấy thành tựu công
đức trang nghiêm như vậy. Này Xá-lợi-phất! Chúng sanh sanh về cõi nước cực
lạc đều là những bậc A-bệ-bạt-trí,
trong đó Nhất sanh bổ xứ
số nhiều vô kể, chẳng phải tính đếm có thể biết được. Chỉ có thể nói rằng
số ấy vô lượng vô biên A-tăng-kỳ.
Xá-lợi-phất! Chúng sanh nghe được lời này nên phát nguyện sanh về nước ấy.
Bởi vì sao? Vì được trú ngụ cùng với các bậc thánh. Xá-lợi-phất! Không thể
chỉ chút ít nhân duyên thiện căn phước đức mà có thể sinh về nước ấy.
Xá-lợi-phất! Nếu có người nam hoặc người nữ nào nghe được danh hiệu Phật
A Di Ðà rồi hết lòng niệm danh hiệu Phật ấy, hoặc là một ngày, hai ngày,
ba ngày... cho đến bảy ngày mà nhất tâm bất loạn thì khi lâm chung người
đó sẽ được đức Phật A Di Ðà và các thánh chúng hiện đến trước người ấy. Do
đó, khi lâm chung, tâm người ấy không điên đảo, liền được sanh về cõi cực
lạc của đức Phật A Di Ðà. Xá-lợi-phất! Ta thấy việc ấy rất ích lợi cho nên
mới nói ra. Nếu có người nào nghe lời Ta nói, hãy nên phát tâm sanh về
nước ấy.
ÐỨC PHẬT DƯỢC SƯ VÀ
BỒ-TÁT DI LẶC
Trong các đức Phật có một vị mang danh hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như
lai. Cõi nước của đức Phật này rất thanh tịnh trang nghiêm, chúng sanh ở
đó đã sạch hết các phiền não và xã hội không còn chuyện xấu ác. Lúc đang
còn tu hạnh Bồ-tát, Ngài từng lập thệ nguyện rộng lớn khiến chúng sanh cầu
gì được nấy, trong đó có một lời nguyện như vầy: “Nếu người nào mắc bệnh
mà không có thuốc men, không gặp được thầy thuốc, chỉ cần xưng niệm danh
hiệu Phật Dược Sư thì thân tâm kẻ ấy liền được an lạc và mạnh khỏe lại như
cũ”. Bởi đức Phật này có lời nguyện rất vĩ đại là nguyện tiêu trừ tai nạn,
tăng thêm tuổi thọ cho mọi người nên người đời thường xưng tụng Ngài là
Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật.
Bồ-tát
Di Lặc là vị Phật kế tiếp đức Phật Thích Ca Mâu Ni và sẽ sanh xuống thế
giới chúng ta. Theo lời kinh ghi lại thì Bồ-tát Di Lặc giáng sinh từ cung
trời Ðâu Suất. Lúc đó, thế giới này rất lý tưởng: đẹp đẽ, hòa bình, yên
ổn, nhân dân vui vẻ, thuận hòa, giữ gìn phép tắc đạo đức xã hội, cùng sống
trong đời sống hạnh phúc tiến bộ.
Bồ-tát
Di Lặc đem Phật pháp ban bố khắp nơi, khuyên mọi người giữ năm giới, mười
điều thiện, thực hành Bát chánh đạo.... Dân chúng lúc ấy đều rất tin tưởng
thực hành theo lời dạy của Ngài nên đời sống hiện thời rất an lạc và đời
sau sanh lại nhân gian hoặc sanh lên cõi trời. Ngoài ra cũng có một số vị
phát tâm Bồ-đề, tích cực tu tập hành thiện, làm những việc lợi người lợi
mình, thành Phật chứng thánh. Bức tượng mà ta thường thấy đặt trước chùa
chính là Bồ-tát Di Lặc. Nay chúng ta kết duyên với Ngài là vì muốn gieo
xuống hạt giống làm Phật trong tương lai, và muốn tạo duyên lành để được
Ngài độ thoát.
VĂN THÙ VÀ PHỔ HIỀN
Bồ-tát
Văn Thù là một vị Bồ-tát phát chí nguyện đại thừa, là bậc có trí tuệ đệ
nhất và rất có tài trong việc hóa độ chúng sanh. Ðặc biệt, Ngài có tài
biện luận nên giáo lý mà Bồ-tát giảng giải luôn có khả năng hướng dẫn con
người đến chỗ chí thiện. Số người đạt đến sự giác ngộ do chính Ngài dìu
dắt nhiều vô kể.
Trong
lúc nói kinh Hoa Nghiêm, đức Phật có khen ngợi rằng: “Bồ-tát Văn Thù luôn
là mẹ vô lượng chư Phật, là bậc thầy của vô số Bồ-tát, là vị giáo hóa
thành tựu cho rất nhiều chúng sanh”. Bồ-tát Văn Thù vì thương tưởng đến
tất cả chúng sanh nên phát nguyện vĩ đại như vầy:
- Nếu
chúng sanh cần phải hiện thân người giàu có, kẻ bần cùng, người đức hạnh,
kẻ gây nhiều tội ác, thậm chí phải hiện thân người đồng nghiệp mới có thể
giáo hóa được họ thì tôi xin nguyện làm các thân ấy. Rồi dần đem giáo lý
hướng dẫn, cảm hóa khiến họ được hạnh phúc ngay kiếp sống hiện tại và đời
sau cũng được giải thoát.
Ngài
hướng dẫn và thanh tịnh hóa đời sống cho tất cả mọi người, luôn luôn phát
nguyện, luôn luôn làm những việc có ích cho mọi loài nên Bồ-tát thành tựu
công đức rất tối thượng. Bồ-tát Văn Thù thường cỡi con sư tử có bộ lông
màu xanh, đây tượng trưng cho sự dũng mãnh không sợ sệt và chí nguyện
không bao giờ thối thất của Ngài. Bồ-tát là tấm gương sáng cho tất cả
chúng ta noi theo.
Bồ-tát
Phổ Hiền cũng là một vị Bồ-tát phát chí nguyện đại thừa và có vô lượng vô
biên công đức. Ngài lập nguyện rằng: “Cõi hư không có thể cùng tận, chúng
sanh có thể cùng tận nhưng thệ nguyện của Tôi sẽ không bao giờ cùng tận.
Cho dù gặp nhiều khó khăn đau khổ, Tôi cũng xin nguyện không bao giờ nản
chí”. Ngài thường dạy mọi người:
- Nếu muốn
thành tựu trí tuệ vĩ đại như chư Phật thì cần phải đem tâm từ bi rộng lớn
làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, giúp đỡ mọi người đi trên con đường
hoàn toàn vắng bóng tội ác và đau khổ.
Bồ-tát
có mười hạnh nguyện rất vĩ đại: Một là lễ kính chư Phật, hai là xưng tán
Như lai, ba là rộng tu cúng dường, bốn là sám hối nghiệp chướng, năm là
tùy hỷ công đức, sáu là thỉnh chuyển pháp luân, bảy là thỉnh Phật trụ thế,
tám là thường theo Phật học, chín là hằng thuận chúng sanh, mười là hồi
hướng cho khắp cả. Ngài thường ngồi trên con voi trắng tượng trưng cho
Bồ-tát có tinh thần vững chãi, kiên nghị, sức mạnh vĩ đại và có đủ sự kham
nhẫn gánh vác tất cả những việc khó khăn.
Bồ-tát
Văn Thù và Bồ-tát Phổ Hiền là những vị tiêu biểu cho Phật giáo đại thừa.
Vì vậy, chúng ta nên hết lòng tán dương và học theo hạnh nguyện của các
Ngài.
BỒ-TÁT QUÁN THẾ ÂM
Năm nọ,
thành Hàng Châu bị bệnh ôn dịch hoành hành, vụ mùa lại mất trắng nên dân
chúng lâm vào cảnh đói kém bệnh tật thật đáng thương. Một ngày nọ, có một
thiếu nữ nhan sắc kiều diễm ngồi trước mũi một chiếc thuyền lớn đang cặp
bến vào bờ hồ trong thành. Vì những người đang lâm nạn, cô gái ấy có lời
thỉnh cầu rằng: “Hễ ai bỏ tiền mua cô thì cô sẽ về nhà hầu hạ cho kẻ ấy và
xin đem số tiền này giúp đỡ dân chúng trong thành”.
Trên bờ
hồ mọi người tranh nhau mua và chẳng ai chịu nhường ai. Cuối cùng, họ
quyết định dùng phương pháp ném tiền, hễ ai ném tiền trúng cô gái thì
người đó được quyền rước nàng về nhà. Lúc ấy, tiền đồng tiền vàng tiền bạc
được ném tới tấp, tiền rơi đầy ắp cả mũi thuyền, khoang thuyền nhưng chẳng
có đồng nào ném trúng nàng. Mọi người đều thất vọng và không muốn ném nữa.
Cô gái ngồi trên thuyền mỉm cười hướng về những người trên hồ chắp tay cám
ơn rồi đem tất cả số tiền giúp người nghèo.
Tin này
nhanh chóng làm chấn động khắp thành Hàng Châu. Những người giàu có hết
sức cảm động trước sự nghĩa hiệp của nàng nên hăng hái bố thí. Lúc đó,
người nghèo được lương thực, kẻ bần cùng thì được tiền của, người bệnh thì
có thuốc chữa, mọi người được no đủ và rất hạnh phúc.
Nhưng
bỗng nhiên chiếc thuyền của cô gái bừng lên ánh sáng muôn màu bao trùm
khắp một vùng. Một vị Bồ-tát dung mạo trang nghiêm đang chắp tay với nụ
cười hiền từ. Mọi người thấy vậy rất đỗi ngạc nhiên. Ngài bảo: “Ta chính
là Bồ-tát Quán Thế Âm, ta hiện đến đây để thức tỉnh và khơi dậy lòng nhân
từ của mọi người. Thông cảm, thương mến và giúp đỡ mọi người là tính cách
cao quý, là trách nhiệm thiêng liêng, là thiên chức mà nhân loại không thể
chối từ. Hôm nay, các người đã thể hiện những nghĩa cử thật đáng khen
ngợi, nhất định các người sẽ được hạnh phúc”. Dân chúng nghe Bồ-tát dạy,
vừa cảm động vừa sung sướng, không ai bảo ai tự động chấp tay đồng niệm
nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát.
Câu
chuyện này được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc và làm cho niềm tín ngưỡng
của mọi người đối với Bồ-tát ngày càng sâu sắc hơn. Bồ-tát Quán Thế Âm rất
có duyên với dân chúng Trung Quốc. Ngài để lại rất nhiều sự tích kỳ lạ và
nghiễm nhiên chúng trở thành một tín ngưỡng sâu đậm trong dân gian. Ngài
thường hiện thân nữ vì tánh cách của nữ giới nhu hòa dịu dàng, điều này
tượng trưng cho lòng nhân từ của Bồ-tát đối với chúng sanh như mẹ hiền
thương con.
Người
đời gọi danh hiệu của Ngài là Bồ-tát Quán Thế Âm cũng bởi có nguyên nhân
và lai lịch của nó. Ngài có chí nguyện vĩ đại, năng lực thù thắng. Hễ
người nào niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm thì dầu cho lâm vào hoàn cảnh
nào, thậm chí gặp các nạn như lửa lớn, bão dữ, tử hình, binh đao, giặc
cướp, bệnh tật v.v... Ngài đều từ bi đến cứu thoát, khiến người đang lâm
nạn thoát khỏi thống khổ được an vui hạnh phúc. Vì luôn luôn lắng nghe
tiếng đau khổ của chúng sanh ở thế gian nên Ngài có danh hiệu là Quán Thế
Âm. Từ vô số kiếp về trước, Bồ-tát Quán Thế Âm đã thành Phật nhưng do lòng
từ bi bao la nên Ngài không trụ vào Niết-bàn mà luôn hiện thân thuyết pháp
cứu độ mọi loài. Thậm chí, để phù hợp với hoàn cảnh và mong ước của mỗi
chúng sanh, Ngài còn hiện thân Phật, thân Bồ-tát, Ðế thích, trưởng giả,
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, thân nam, thân nữ, trẻ em v.v... để gần gũi cuộc sống
mọi người rồi sau đó dần cảm hóa giác ngộ họ.
Mỗi khi
tinh thần chúng ta bất an, phiền muộn, sợ hãi, giận dỗi; cuộc sống chúng
ta khó khăn, đói khổ, bệnh tật, thất vọng, thì những lúc đó chúng ta nên
thành kính niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm. Sự cảm ứng qua lại của tinh
thần sẽ giúp ta loại bỏ những phiền muộn, tinh thần được hài hòa thanh
tịnh và tạo ra một sức mạnh tinh thần khiến ta dễ dàng vượt qua mọi khó
khăn gian khổ.
BỒ-TÁT ÐỊA TẠNG
Bồ-tát
Ðịa Tạng là học giả Phật giáo đại thừa.
Sự tích về Ngài rất nhiều nhưng ghi cặn kẽ nhất là bản kinh Ðịa Tạng
Bồ-tát bổn nguyện. Trong vô lượng kiếp về trước, một kiếp nọ, Ngài là một
người con gái hiếu thuận dòng dõi Bà-la-môn. Sau khi thân mẫu qua đời, cô
thành khẩn niệm Phật cầu xin cứu vớt vong hồn mẹ mình. Ðức Phật dạy cô bố
thí rồi đem công đức ấy hồi hướng, nguyện cầu cho mẹ thoát khỏi nẻo ác. Từ
đó, cô gắng tích luỹ công đưùc niệm Phật và làm bố thí. Việc này đã đưa
đến cho cô vô số thiện báo.
Một
kiếp khác, Ngài làm một vị quốc vương. Vua này cùng học Phật với quốc
vương láng giềng và có lập thệ nguyện như vầy: nguyện độ hết tất cả chúng
sanh, và đợi sau khi tất cả chúng sanh chứng đắc đạo quả, Ngài mới thành
Phật. Bồ-tát tích luỹ vô số hạnh lành và đức tính cao đẹp như hiếu thuận,
cảm thông, hăng hái, hiếu học, trung thành, tha thứ v.v... Ðời đời kiếp
kiếp, Ngài luôn tự mình làm thiện, khuyên người làm thiện nên phước báo
của Ngài vô cùng vĩ đại. Bồ-tát Ðịa Tạng thương xót trời người với một ý
chí vững bền, không một phút xao lãng hay mệt mỏi. Bồ-tát cứ phát nguyện,
phát nguyện mãi:
“Chúng sanh độ hết,
Mới chứng Bồ-đề,
Ðịa ngục chưa trống,
Thề không thành Phật”.
Ngài
mong người người thoát khổ sanh tử, chứng được Bồ-đề. Ðể thực hiện lý
tưởng cao quý thiêng liêng này, Bồ-tát Ðịa Tạng đã không quản nhọc nhằn,
hoặc lên trời hoặc xuống địa ngục, vào ra trong năm nẻo độ khắp tất cả
chúng sanh từ vô số kiếp cho đến hôm nay và mãi mãi.
Tinh
thần cứu nhân độ thế của Bồ-tát chính là tinh thần “trước độ người sau mới
độ mình”. Ðại thừa Phật giáo lấy hạnh nguyện từ bi độ chúng sanh làm lý
tưởng. Phật giáo đồ xem việc phát tâm, lập đại thệ nguyện và cứu giúp mọi
loài là trách nhiệm của mình; nghĩa là cho dù gặp muôn vàn khó khăn trải
qua bao nhiêu kiếp sống cũng không từ nan. Các vị này nguyện hiến thân làm
chiếc cầu để chúng sanh vượt đến bờ an lành, nguyện làm cây đại thọ tỏa
bóng mát cho muôn loài, làm ánh mặt trời cho đời sưởi ấm và làm chiếc bè
đưa người qua sông mê. Nói chung, hễ việc nào khiến chúng sanh an vui, xã
hội tiến bộ, nhân loại hạnh phúc thì các Ngài đều vui vẻ làm, bất kể đó là
việc khó khăn đến mức nào.
Chúng ta
nên noi theo tấm gương hy sinh của Bồ-tát Ðịa Tạng, học theo hạnh nguyện
của Ngài và làm những sự nghiệp cao cả như Bồ-tát.
PHẬT GIÁO DU NHẬP TRUNG QUỐC
Vào đời
Ðông Hán, năm Vĩnh Bình thứ bảy tức công nguyên năm sáu mươi bốn, vua Hán
Minh Ðế mộng thấy một vị dung mạo trang nghiêm, phong thái cao quý, toàn
thân sắc vàng lấp lánh ánh sáng chói lòa, vụt bay qua lại trước cung điện.
Tỉnh giấc, vua lập tức gọi quần thần đến bàn bạc điềm mộng, mọi người cho
rằng: “Người có thân sắc vàng trong mộng chính là vị Phật Ðà đản sinh ở Ấn
Ðộ. Rằng oai đức và sự giáo hóa của Ngài là một tấm gương sáng cho trời
người. Nay đức vua có điềm mộng lành như vậy thì nhất định giáo pháp của
đức Phật Thích Ca sẽ truyền đến Trung Hoa”.
Vua Hán
Minh Ðế hết sức vui mừng liền sai Thái Am, Tần Ảnh cùng một số người đến
Tây Vực thỉnh Tam bảo. Năm Vĩnh Bình thứ mười, tức công nguyên năm sáu
mươi bảy, lúc đang đi giữa đường thì phái đoàn gặp hai vị Tỳ-kheo Nhiếp Ma
Ðằng và Trúc Pháp Lan. Hai Ngài đang dắt theo con ngựa trắng cùng một số
kinh sách và tượng Phật, khẩn trương đi đến Trung Quốc.
Yết kiến
Hán Minh Ðế xong, ngài Nhiếp Ma Ðằng và Trúc Pháp Lan đã giảng thêm cho
vua nghe về giáo lý Phật Ðà. Sau đó, vua Hán Minh Ðế lập một ngôi tịnh xá
vừa tiện để thờ Phật, quảng bá giáo pháp, vừa làm nơi nghỉ ngơi cho chư
Tăng. Tịnh xá này lấy tên là chùa Bạch Mã. Ðây là ngôi chùa Phật giáo đầu
tiên ở Trung Quốc và kinh Tứ thập nhị chương cũng là bản kinh xưa nhất.
Kể từ
khi triều đình nhà Hán cung phụng Phật giáo, các vị tăng đến Trung Quốc
ngày càng nhiều. Sau này, nhờ sự nỗ lực truyền bá của các ngài nên tín đồ
Phật giáo ngày càng đông dần, phạm vi truyền bá ngày một rộng lớn và trở
thành tín ngưỡng in đậm trong nhân gian.
PHÁP SƯ HUYỀN TRANG (PHẦN I)
Pháp sư Huyền Trang là
người Trung Quốc sống vào triều đại nhà Ðường. Ngài họ Trần tên Huy, thông
minh chăm học. Do ngưỡng mộ đức Phật, năm mười hai tuổi, Ngài tự động xuất
gia làm tăng sĩ.
Phật
giáo thời đó mới du nhập từ Ấn Ðộ nên kinh điển chưa đầy đủ và ý nghĩa
phiên dịch không rõ ràng lắm. Do đó, Ngài luôn ước ao có dịp đến du học ở
Ấn Ðộ – nơi phát xuất Phật giáo – để sưu tầm những bản kinh nguyên gốc,
tìm tòi nghĩa chân thật của lời Phật dạy. Từ ý nguyện này, Ngài dốc hết
tâm sức học ngôn ngữ Tây Vực, ngôn ngữ các nước tại Ấn Ðộ, sau đó lên
đường rời khỏi Trung Quốc.
Lúc Ngài
đi qua nước Cao Xương, vua Khúc Văn Thái muốn thỉnh Ngài làm quốc sư nhưng
Ngài kiên quyết chối từ và tiếp tục đi Tây Vực. Pháp sư Huyền Trang lại
tiếp tục một mình qua Tây Vực. Ngài phải đi qua vùng sa mạc rộng lớn, ban
ngày thì ánh mặt trời nóng bỏng cát bay rát mặt, đêm xuống thì từng đóm
lửa ma trơi chờn vờn trước mặt cùng những tiếng gió rít ghê rợn như ai
than khóc. Nhưng Ngài vẫn đi, cứ đi mà “kẻ dẫn đường” chỉ vỏn vẹn là những
đống xương tàn, những bãi phân ngựa. Có khi nước uống và cỏ khô bị cạn
kiệt, mấy lần cả người lẫn ngựa gần như đối diện với cái chết, nhưng Ngài
vẫn bền lòng chịu kham khổ, chẳng màng chuyện sống chết, mạo hiểm tiến về
phía trước. Bằng sự tin tưởng sâu chắc, một lòng niệm danh hiệu Bồ-tát
Quán Thế Âm, pháp sư Huyền Trang đã thoát khỏi vùng sa mạc.
Khi vượt
ngang rặng núi Thông Lãnh đầy băng tuyết với những dốc núi gập ghềnh trơn
trượt, Ngài lại bất chấp mọi nguy hiểm dùng móc sắc vin theo các vách núi
dựng đứng, đương đầu với cái chết kề cận mới vượt hết dãy núi này. Trải
bao khó nhọc, vượt bao gian nguy, pháp sư Huyền Trang mới đến được nước
Ma-kiệt-đà ở Ấn Ðộ. Sau một thời gian, Ngài đến nhập học ngay tại trung
tâm văn hóa đồ sộ của Phật học viện Na Lan Ðà. Tại đây, pháp sư được gần
gũi học hỏi với luận sư Giới Hiền, và có nhiều điều kiện để nghiên cứu
kinh điển. Ngài vừa học vừa đi các nơi giảng dạy, học thức uyên bác của
pháp sư vang lừng khắp Ấn Ðộ.
Trong
đại hội luận biện rầm rộ ở thành Khúc Nữ, mọi người đến tham dự rất đông,
nào là vua chúa, các tín đồ Phật giáo, các tôn giáo bạn cùng những nhà trí
thức đương thời, nhưng khi pháp sư Huyền Trang đem giáo lý đại thừa luận
giải cho thính chúng thì chẳng ai dám đứng lên biện luận với Ngài.
Vua Giới
Nhật rất trọng vọng tài năng của Ngài. Ðể tỏ lòng ngưỡng mộ, vua đã thỉnh
Ngài ngồi trên một con voi trắng được trang hoàng rực rỡ, rồi cho người
dẫn voi đi khắp thành thị trong ba ngày. Ðến đâu, Ngài cũng đều được dân
chúng chen chúc nhau chiêm ngưỡng dung nhan, đây quả là một niềm vinh dự
lớn lao cho pháp sư Huyền Trang. Pháp sư Huyền Trang lưu tại Ấn Ðộ khoảng
ba mươi năm, sau đó trở lại Trung Quốc.
PHẬT HỌC VIỆN NA-LAN-ÐÀ
Phật học
viện Na-lan-đà nằm trong vương quốc Ma-kiệt-đà thuộc lãnh thổ Ấn Ðộ thời
trước. Viện được khởi công xây dựng từ thế kỷ thứ năm. Trải qua nhiều đợt
tu bổ xây dựng của tám triều đại đế vương, Na-lan-đà trở thành một Phật
học viện Phật giáo tráng lệ nhất, đồ sộ nhất ở Ấn Ðộ.
Trên một
diện tích rộng lớn, thông thoáng và tịch mịch, viện Na-lan-đà hiện lên với
những công trình đồ sộ nguy nga. Chỉ riêng nhà giảng đường mà đã hơn một
trăm gian, ngoài ra còn có điện Phật, phòng kinh, tịnh thất v.v..., và ký
túc xá thì không sao đếm xuể. Tất cả được bố trí tầng tầng lớp lớp, ăn
thông nhau trên khắp chu vi của Phật học viện.
Tại học
viện thường có hơn một vạn người trú ngụ. Nói chung, mọi chi dụng đều do
vua chúa và hoàng tộc hỗ trợ. Phật học viện Na-lan-đà luôn có một bầu
không khí nghiên cứu rất rầm rộ với một phạm vi rất rộng. Ngoài lãnh vực
Phật giáo, tại Na-lan-đà còn có các ngành học của nhiều tôn giáo bạn, các
trường phái học thuật, kỹ nghệ học v.v...
Mỗi
ngày, các giảng đường đều có thuyết giảng. Thính chúng đến nghe rất đông
đảo, gồm tín đồ Phật giáo, tín đồ các tôn giáo bạn và những nhà học giả
đương thời từ các nơi đến. Tuy kẻ tôn giáo này, người tư tưởng nọ, vị tín
ngưỡng kia nhưng khi cùng nhau quy tụ về Phật học viện Na-lan-đà thì bức
màn ngăn cách giữa họ không còn nữa. Họ cùng nhau nghiên cứu, cùng nhau
tìm hiểu, chia sẻ với nhau trong niềm trân trọng tôn kính.
Không
khí nghiên cứu ở học viện Na-lan-đà đã biểu hiện đầy đủ tinh thần bao dung
rộng mở của Phật giáo. Ðây là một thái độ rất đáng tôn quý, rất đáng ca
ngợi. Nó là một hành trang cần thiết cho mỗi chúng ta giữa một xã hội đang
khát khao tìm kiếm tri thức như hiện nay. Có được tinh thần này, chúng ta
sẽ dễ hoàn thành hoài bão cao đẹp của mình và đủ khả năng để đi vào biển
học bao la của học vấn. Nó cũng giúp bức tường ngăn cách giữa con người
sụp đổ, để người ta hiểu nhau và thông cảm nhau hơn.
PHÁP SƯ HUYỀN TRANG (PHẦN II)
Sau khi
pháp sư Huyền Trang về đến Trung Quốc, tại thành Trường An mở đại hội
nghinh đón Ngài rất long trọng. Nhân buổi lễ này, ngài Huyền Trang cho
trưng bày ngay trong thành những pho kinh sách, tượng Phật và các đặc sản
từ Ấn Ðộ đem về để dân chúng dễ dàng đến lễ bái chiêm ngưỡng. Vua Ðường
Thái Tông quá hâm mộ và quý trọng hoïc thức uyên thâm của Ngài nên rất
nhiều lần khuyên Ngài hoàn tục ra làm quan nhưng Ngài đều từ chối.
Triều
đình nhà Ðường hết lòng khuyến khích cùng hỗ trợ mọi mặt giúp pháp sư
thành lập một ban phiên dịch có quy mô rộng lớn nhằm chuyển ngữ những kinh
sách từ ngôn ngữ Ấn Ðộ sang ngôn ngữ Trung Quốc. Ðồng thời, tuyển chọn các
cao Tăng có học thức uyên bác về Phật giáo đến Trường An để giúp pháp sư.
Pháp sư
Huyền Trang luôn lấy tinh thần cần mẫn, chịu cực chịu khổ để làm công việc
phiên dịch rất khó khăn này. Cả ngày lẫn đêm, Ngài không bao giờ để lãng
phí một chút thì giờ nào. Ngài thường mải mê làm việc đến khuya mới đi
nghỉ, nhưng vừa mờ sáng thì đã thức dậy.
Ngoài
việc phiên dịch, Ngài còn trả lời cho những người đến thỉnh giáo. Ðêm đến,
pháp sư lại lên giảng đường dạy Tăng chúng. Trước khi ngủ, Ngài dành dụm
chút thời giờ tụng kinh, niệm Phật, lễ sám, không để cho thân tâm buông
lung biếng nhác.
Pháp sư
Huyền Trang phiên dịch được bảy mươi ba bộ kinh gồm hơn một ngàn ba trăm
cuốn. Các bộ nổi tiếng tiêu biểu như: kinh Ðại bát nhã, kinh Giải thâm
mật, luận Du già sư địa v.v..., lại còn trước tác bộ luận Thành duy thức.
Ngài phiên dịch cẩn thận, trung thành với nguyên văn và sự sáng tỏ của ngữ
nghĩa. Ðây là sự công hiến “vô tiền khoáng hậu” trong nền dịch thuật của
Trung Quốc. Vì quá lao lực trong công việc, năm sáu mươi tám tuổi, Ngài
nhuốm bệnh nặng rồi viên tịch.
Suốt một
đời người, trên đường học vấn, pháp sư luôn tìm kiếm sự thật, lòng tràn
ngập tình thương yêu mọi loài và hy sinh lợi ích cá nhân đúng như vai trò
của một nhà truyền giáo. Dù gặp khó khăn gì, Ngài cũng hiên ngang vượt
qua, sẵn sàng dâng hiến thân mình cho lý tưởng và giáo lý giải thoát giác
ngộ. Tinh thần cao thượng, ý chí vững chắc, việc làm dũng cảm và tấm lòng
tha thiết của Ngài chẳng khác gì sự hiện thân thuyết pháp của một vị
Bồ-tát. Ngài xứng đáng là tấm gương sáng cho tất cả tín đồ Phật giáo.
Chúng ta cần noi theo những việc làm cao cả của Ngài, để rồi cố gắng hơn
nữa trong việc học hỏi và nghiên cứu giáo lý giải thoát của Phật Ðà.
LỤC TỔ HUỆ NĂNG
Phật
giáo Trung Quốc được truyền đến từ Ấn Ðộ. Trải qua bao đời hết tâm xiển
dương Phật pháp của các bậc cao Tăng thạc đức, Phật giáo Trung Quốc đã
thật sự lớn mạnh, trong đó Thiền tông là nổi bật nhất. Thiền tông đã kết
hợp một cách tài tình giữa triết học Phật giáo với văn hóa Trung Hoa, và
trở thành một bộ phận của nền văn hóa nước này. Người có công lao lớn nhất
trong việc này không ai khác ngoài Lục Tổ Huệ Năng.
Lục Tổ
người Quảng Ðông, chuyên nghề kiếm củi sống qua ngày. Một hôm, nhân lúc
đem củi đến bán cho một quán trọ, Ngài nghe một người khách đang tụng
kinh. Vừa nghe qua, Ngài liền lãnh hội và có sở ngộ, và cảm thấy vô cùng
hân hoan. Liền sau đó, người khách trọ ấy đã giúp đỡ và giới thiệu Ngài
đến học đạo với Ngũ Tổ.
Sau khi yết kiến Ngũ Tổ,
Ngài được Tổ giao cho công việc giã gạo ở nhà bếp. Ngài làm việc rất chăm
chỉ. Hôm nọ, Tổ Hoằng Nhẫn bảo các đệ tử mỗi người viết một bài kệ theo
những điều mà họ tâm đắc nhất trong công việc học đạo, rồi dâng lên để Tổ
chọn một vị xuất sắc nhất làm người kế nghiệp.
Thượng tọa Thần Tú viết lên vách hành
lang bài kệ ngữ: “Thân như cây Bồ-đề, tâm tợ đài gương sáng, luôn luôn
phải lau chùi, chớ để nó dính
bụi”, ý của Thượng tọa là:
Người học đạo cần luôn luôn chú ý thanh lọc thân tâm, không làm các
hành vi sai trái, cũng đừng để tâm dấy lên các phiền não tham, sân, si.
Ngài Huệ
Năng cũng có một bài kệ, nhưng do không biết chữ nên nhờ người viết hộ,
bài kệ đó như sau: “Bồ-đề vốn không cây, chẳng phải đài gương sáng, xưa
nay không một vật, chỗ nào dính được bụi”. Bài kệ này lưu xuất từ tâm thức
của Ngài và trực tiếp nói lên cảnh giới chứng ngộ mà Ngài đạt được. Khi
chứng ngộ, tất cả đều thanh tịnh, ngôn ngữ tư tưởng đều vắng lặng. Lúc ấy,
cái ta chủ tể và đối tượng khách trần cũng không còn, những phiền não
tham, sân, si nơi tâm thức cũng không tồn tại.
Khả năng
chứng ngộ của ngài Huệ Năng thật thâm diệu. Quả vậy, Ngũ Tổ đánh giá Ngài
rất cao. Tổ cho rằng sở ngộ ấy cao hơn thượng tọa Thần Tú một bậc. Sau đó,
theo truyền thống tiếp nối từ xưa của chư Tổ, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trao y bát
và lập Ngài làm vị Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa. Người đời sau
thường xưng tụng Ngài là Lục Tổ. Về sau, Lục Tổ sáng lập chùa Nam Hoa tại
Tào Khê tỉnh Quảng Ðông. Thiền tông cũng lớn mạnh từ đó.
A-tăng-kỳ kiếp: Là
thời gian lâu dài đến nỗi ta không thể tính đếm được.
A-bệ-bạt-trí: A là
bất, bệ-bạt-trí là thoái chuyển, nghĩa là những vị Bồ-tát trải qua sự
tu hành của một đại a-tăng-kỳ kiếp thì đến địa vị không thoái chuyển
này.
Nhất sanh bổ xứ: Là
quả vị Bồ-tát ngay dưới quả vị Phật.
--- o0o ---
Mục Lục
|
Chương I
|
Chương II
Chương III|
Chương IV
|
Chương V
|
Chương VI
--- o0o ---
Mục Lục Pháp Tạng- 20
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-04-2004