ÐỨC PHẬT VÀ CHÂN LÝ CUỘC SỐNG
Biên soạn: Ðại sư Ấn Thuận.
Việt dịch: Thích Quảng Mẫn.
--- o0o ---
CHƯƠNG III
SỰ
TRUYỀN BÁ GIÁO PHÁP
TAM BẢO
HÌNH THÀNH
Sau khi thành đạo, đức
Thích Tôn biết ai cũng có khả năng giác ngộ nên với lòng từ bi vô hạn và
nguyện lực mạnh mẽ, Ngài quyết định đi giáo hóa chúng sanh. Ðầu tiên, Ngài
đến gặp năm vị quan trước kia đã cùng tu học với Ngài hiện đang ở vườn Lộc
Dã gần đó. Ðức tướng của đức Phật thanh tịnh trang nghiêm, nên vừa thấy
Ngài, họ liền khởi lòng cung kính. Năm vị ấy mời đức Phật ngồi xuống rồi
cùng nhau đảnh lễ và xin Phật giảng nói đạo lý. Ðức Phật khuyên họ bỏ ác
làm lành. Năm người rất đỗi vui mừng. Tất cả đều xin theo Phật xuất gia
làm tăng sĩ và cùng với Ngài đi khắp nơi truyền bá giáo pháp.
Phật bảo là Phật Ðà - người chỉ cho
chúng ta các phương pháp bỏ ác làm lành, cứu độ nhân thế. Nhân
cách, việc làm và sự nghiệp của Ngài là tấm gương sáng cho tất cả chúng ta
noi theo. Pháp bảo là những lời dạy của đức Phật. Tăng bảo là đoàn thể đệ
tử của đức Phật - là những người truyền bá giáo pháp của đức Phật. Tín
ngưỡng Tam bảo, thân tâm chúng ta sẽ mạnh khỏe, hạnh phúc. Ðức Phật, giáo
Pháp và chúng Tăng là ba ngôi báu của thế gian bấy giờ đã đầy đủ nên Tam
bảo chính thức được hình thành.
VƯỜN LỘC
DÃ
Tương truyền vào thời xa
xưa, ở chỗ nọ có một khu rừng cỏ hoa tươi tốt là nơi trú ngụ của bầy nai.
Một ngày kia có vị quốc vương thống lĩnh quan quân đi săn. Một con nai mẹ
bị trúng tên, nó đau đớn mang mũi tên bỏ chạy. Quốc vương giục ngựa đuổi
theo nhưng nai mẹ đã nhanh chân nhảy trốn vào các khóm cỏ nên vua không
tài nào thấy được. Sau một hồi tìm kiếm, vua thấy nai mẹ đang lấy thân che
cho nai con bú sữa. Khi cho con bú no xong, nai mẹ bắt đầu vật lộn với cơn
đau không dứt, nó lồng lộn trên đất đến kiệt sức và chết. Trước lúc nhắm
mắt nó chỉ biết nhìn lại con thơ trong hàng lệ tuôn trào. Chứng kiến cảnh
ấy, vua ân hận đến bế nai con vào lòng và thề nuôi nó khôn lớn. Vua bẻ gãy
cung tên và không bao giờ đi săn nữa. Từ đó, khu rừng được lấy tên là vườn
Lộc Dã (vườn nai).
DA-XÁ
Da-xá là con của một gia đình trưởng
giả giàu có. Vào một đêm nọ tự nhiên cảm thấy chán ngán đời sống thế tục,
anh ta bỏ nhà đi đến bờ sông thì thấy đức Phật đang ngồi tĩnh tọa bên kia
bờ. Dưới ánh trăng vằng vặc, dung mạo của Phật như hiền từ cao quý hơn
khiến Da-xá vô cùng ngưỡng mộ. Anh ta muốn đến ngay bên Ngài nhưng lại
không dám vượt sông. Thấy Da-xá chần chừ, đức Phật liền khích lệ: “Người
có lòng tin thì nhất định sẽ thành công!”. Lúc ấy, Da-xá tràn đầy niềm
tin, liền lội qua sông đến trước Phật. Ðức Thế tôn ôn tồn giảng giải đạo
lý Phật Ðà. Da-xá thấy lời dạy của Ngài hợp với chí nguyện của mình nên
xin xuất gia. Cha của Da-xá là Thiện Giác cũng bắt đầu phát tâm học Phật,
ông trở thành người đệ tử tại gia đầu tiên của Phật.
BỐN GIAI CẤP
Ðức Phật
đi giảng pháp khắp nơi không chỉ để độ mọi người mà còn nhằm xóa bỏ những
phong tục tập quán bất công của xã hội. Ðại khái vào thời kỳ ấy, Ấn Ðộ
chia thành bốn giai cấp như sau:
- Tế sư
là tầng lớp thống trị cao nhất vừa có quyền hành lại rất cao ngạo. Bọn họ
tự cho mình là sứ giả của thiên thần có thể truyền trao thông điệp giữa
loài người và thần thánh.
- Tầng
lớp quý tộc là vua chúa và quần thần. Tuy họ là những người có thế lực về
chính trị và quân sự nhưng địa vị thì không bằng giai cấp tế sư.
- Công
thương nghiệp là tầng lớp bình dân. Họ thường là những người buôn bán hoặc
là những người công nhân.
- Tầng
lớp nô lệ là hạng người bi thảm nhất. Họ không được tự do và luôn sống
trong sự nghèo cùng thấp hèn.
Một xã
hội mà tổ chức không hợp lý bình đẳng thì xã hội ấy cũng chỉ là một cộng
đồng hỗn loạn. Do lẽ đó nên ai cũng
mong mỏi có một vị thánh nhân xuất hiện để giúp họ thoát khỏi cảnh
lầm than của cuộc sống. Quả đúng như mong ước. Sau đó, người con đáng kính
của vua Tịnh-phạn đã chào đời và sau này chính là đức Phật Thích Ca Mâu
Ni. Ngài luôn chủ trương nhân loại đều bình đẳng, việc này vô hình trung
xóa đi cái thành kiến cố hữu của sự phân chia bốn giai cấp. Từ ấy nhân dân
trở về nếp sống bình đẳng hợp lý.
ÐỜI
SỐNG BÌNH ÐẲNG
Ngài
Ưu-ba-ly nguyên là một nô tỳ có thân phận thấp hèn và từng làm thợ cắt tóc
cho hoàng tộc. Một ngày nọ, để chuẩn bị cho việc xuất gia theo Phật, vương
tử Bà-sa và A-na-luật đã đến nhờ Ưu-ba-ly cắt tóc. Tuy Ưu-ba-ly rất ngưỡng
mộ đức Phật nhưng nghĩ mình là nô tỳ thì làm sao có may mắn sống đời sống
cao quý như đức Phật. Nghĩ đến đây, Ưu-ba-ly cố nén nỗi buồn nhưng hai
hàng lệ vẫn trào ra. Biết được tâm sự này, đức Phật liền cho Ưu-ba-ly gia
nhập Tăng đoàn, trở thành đệ tử Phật. Hai vị vương tử đến sau nên Phật dặn
họ đến đảnh lễ Ưu-ba-ly và gọi ngài là tôn giả.
Ðức Phật
dạy đại chúng: “Tất cả nước các sông đổ vào biển đều cùng một vị mặn, bốn
chủng tánh xuất gia đều cùng là họ Thích”. Từ đó, ngài Ưu-ba-ly không còn
là người nô tỳ thấp hèn như ngày nào nữa, Ngài hòa mình với mọi người,
sống nếp sống bình đẳng và thanh tịnh.
SỰ THỜ CÚNG CỦA BÀ-LA-MÔN
Hôm nọ, nhân lúc đi ngang
qua một đền thờ Bà-la-môn, đức Phật thấy bên trong đèn đuốc rực rỡ và
không khí thật huyên náo. Trên bệ cao, bức tượng thần Ðại Phạm Thiên Vương
được an trí rất trang nghiêm. Ở phía dưới, các giáo đồ khiêng đến các mâm
tế vật như: gà, heo, vịt v.v... Họ dâng cúng rất thành tâm.
Ðức Phật
đến bên họ, hỏi:
- Vì sao
các vị lại đem sinh linh làm vật tế lễ?
- Vì
dùng loài vật để tế có thể khiến cho thiên thần ban phúc đến mọi người.
Như được giàu sang phú quý, vụ mùa bội thu, nhân dân an lạc, sau khi chết
lại có thể sanh lên cõi trời.
- Không
đúng! Dùng sinh linh tế thần là một hành động dã man. Giết loài vật đổ máu
cũng chỉ khiến cho tội lỗi càng thêm chồng chất, mà việc làm đã tội lỗi
thì sao có thể đem đến phước báo và ích lợi được!
Các giáo đồ Bà-la-môn nghe Phật nói vậy
cảm thấy rất hổ thẹn nhưng họ vẫn thắc mắc:
- Vậy
cần làm như thế nào mới cầu được phước lành?
- Chỉ có
thực hành các việc thiện, thanh lọc thân tâm mới là cội nguồn của phước
đức.
Các tín
đồ Bà-la-môn nghe xong đều rất lấy làm kính phục. Họ vội quỳ xuống đất ăn
năn sám hối và từ đó không dùng loài vật để tế nữa.
TRỪ MÊ TÍN
Vào thời
đức Phật, sử dụng súc vật tế lễ cầu thần linh ban phước là chuyện bình
thường của xã hội Ấn Ðộ thời bấy giờ. Việc làm này không chỉ riêng tín đồ
Bà-la-môn mà hầu như các vua chúa cũng sùng tín rất mãnh liệt.
Ở
một vương quốc nọ, nhân lúc mẫu hậu bệnh đã lâu mà không thuyên giảm, vị
quốc vương nước này đã sai người chuẩn bị giết một trăm con vật, bao gồm
trâu, ngựa, heo, dê để làm vật hiến tế cầu mẫu hậu sớm bình phục sức khỏe.
Ðức Phật thương xót sự mù quáng ấy nên đến gặp và giảng đạo lý cho vua
nghe. Ngài ôn tồn bảo:
- Tất cả
mọi sự mọi vật trên đời đều có nhân quả phép tắc. Như người trồng ngũ cốc
thì được ngũ cốc, bố thí thì được giàu có, nhân từ thì sống lâu, chăm học
thì trí tuệ xán lạn, ưa giết hại sinh vật thì sẽ gặp điều không lành.
Vua nghe
Phật dạy rất có lý bèn thành khẩn hỏi thêm:

- Vậy
phải chữa trị cho người bệnh bằng cách nào?
- Hễ có
bệnh thì mời thầy thuốc đến khám và lấy thuốc uống ấy mới là đúng cách.
Vua lấy
làm hối hận và không giết các loài vật ấy nữa, đồng thời mời thầy thuốc
đến chữa trị cho mẫu hậu. Không lâu sau, bệnh của mẹ vua lành hẳn.
LỜI KỆ PHẬT THƯỜNG DẠY
Ngài
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên nguyên là giáo đồ của Bà-la-môn. Hôm nọ trong
lúc đứng bên đường, hai người nhìn thấy một vị Tỳ-kheo đi rất từ tốn khoan
thai, toát ra một phong thái thật cao quý. Xá-lợi-phất vô cùng ngưỡng mộ
bèn đi nhanh đến trước vị ấy thưa chuyện. Xá-lợi-phất hỏi:
- Thưa
tôn giả! Dáng vẻ của ngài quả là người có công phu tu tập. Xin hỏi bậc
thầy cao cả của ngài là vị nào?
- Tôn sư
của tôi là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Người thường dạy huynh đệ chúng tôi
bài kệ như vầy: “Nếu pháp do nhân duyên sinh thì pháp cũng do nhân duyên
diệt. Ðó là nhân duyên sinh diệt mà chư Phật đã nói”. Nghĩa là tất cả sự
vật đều do nhân và duyên kết hợp mà sanh, và cũng do nhân duyên ly tán mà
tiêu hoại. Nếu chúng ta có nhân thiện lại có thêm duyên thích hợp thì tất
nhiên sẽ được kết quả tốt.
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên nghe xong
cảm thấy lời ấy rất xác thực với đạo lý nên rất đỗi vui mừng, dẫn
các đồ đệ theo đức Phật xuất gia tu học. Về sau, hai người trở thành những
vị đệ tử lớn của đức Phật.
Ưu-lâu-lần-la Ca-diếp là vị lãnh tụ giáo phái thờ lửa. Vị này có khoảng
hơn một ngàn đồ đệ, tất cả đều tôn thờ thần lửa. Họ hy vọng sau khi chết
sẽ được sanh lên thiên đường thụ hưởng khoái lạc.
Ðể giáo
hóa Ca-diếp, đức Phật Ðã đến thăm viếng ông ta. Ngay trong đêm ấy, đức
Phật nghỉ lại trong hang động của một con rồng độc nhưng sáng dậy đức Phật
vẫn bình an ra khỏi động. Ca-diếp rất lấy làm kinh ngạc. Nhưng phải trải
qua nhiều lần cảm hóa của đức Phật,
ông mới dần dần quy phục.
Một hôm,
nhân lúc chủ trì cho một cuộc tế lễ lớn, Ca-diếp rất lo sự có mặt của đức
Phật. Ông ta sợ mọi người thấy đức Phật sẽ quy hướng theo Ngài và giảm bớt
thế lực của mình. Ðức Phật biết được ý nghĩ ấy nên chủ động lánh mặt suốt
ngày hôm đó. Khi cuộc tế lễ xong xuôi và mọi người đã giải tán, đức Phật
đến bên ông ta ân cần bảo: “ Bái lạy thần lửa không phải là việc làm đúng
với chân lý. Vã lại, sự tự lợi đố kỵ của ông cũng là điều mà người học đạo
không nên có”. Ca-diếp nghe lời dạy của đức Phật, tựa hồ như đi dưới ánh
nắng chói chang mà gặp được bóng mát. Tinh thần Ca-diếp bỗng trở nên phấn
chấn nhẹ nhỏm. Ôâng lập tức sám hối và quy y theo Phật. Tất cả đồ đệ
Ca-diếp cũng quy hướng với Phật và theo Phật đi truyền bá Phật pháp.
THẤT
CHỦNG PHÁP
Ðức
Phật đến thành Ba-liên Phất được dân chúng đón tiếp rất nồng hậu. Họ khẩn
cầu Ngài thuyết pháp. Ðức Phật chấp nhận và nhân đó triệu tập các Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo ni và các nam nữ tín đồ đến mà dạy rằng:
- Bây
giờ, Như lai sẽ nói thất chủng pháp (bảy pháp), mọi người hãy lắng nghe và
ghi nhớ cho kỹ:
1.
Thường nên nói lời chính đáng và hợp lý.
2. Không
nên biếng nhác, không nên giết hại mọi loài.
3. Nên
tôn trọng luật pháp, không nên làm những điều trái pháp luật.
4. Nên
tôn trọng các thầy Tỳ-kheo và các bậc tôn túc.
5. Niềm
tin vững vàng, hiếu kính người trên.
6. Không
nên kết giao với kẻ ác.
7. Nên
siêng năng học hỏi, tận tụy giữ gìn và truyền bá phật pháp đến mọi người.
Lời nói và
thái độ của đức Phật rất điềm đạm ân cần khiến chúng hội vô cùng cảm động.
Mọi người nguyện ghi lòng tạc dạ và hết lòng làm theo lời dạy của Ngài.
Khi đức Phật rời thành Ba-liên-phất, vị quan chấp chính đã cho đổi tên
thành sang tên Kiều-đáp-ma và con sông Ngài đi qua là sông Kiều-đáp-ma để
kỷ niệm sự hoằng hóa của đức Phật.
NƯỚC VIỆT KỲ
Ở nước
Việt Kỳ, đức Phật sớm biết mình sắp vào Niết-bàn nên vội triệu tập các đệ
tử, Ngài dặn dò mọi người cố gắng học đạo, tôn trọng và giữ gìn giới luật.
Trong một khoảng đất rộng rãi, các tín đồ dùng một tấm vải lớn che tạm để
thay thế cho ngôi giảng đường và thỉnh Phật khai thị. Ðức Phật dạy: “Trước
hết nên quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng, như vậy mới xứng đáng là
tín đồ chân chính của Phật giáo”. Sau khi quy y Tam bảo việc tiếp theo là
giữ gìn năm giới:
1. Không
sát sanh.
2. Không
trộm cắp.
3. Không
tà dâm .
4. Không
nói dối .
5. Không
uống rượu.
Ðức Phật
giải thích năm giới, nói rõ thêm về các công đức mà người giữ giới sẽ thâu
hái được:
- Thứ
nhất: Mọi thứ mình mong cầu sẽ được như ý.
- Thứ
hai: Của cải ngày thêm sung túc.
- Thứ
ba: Ðược người tôn trọng kính phục.
- Thứ
tư: Có tiếng tăm tốt.
- Thứ
năm: Sau khi chết được sanh vào cõi trời và cõi người.
Người
giữ năm giới nếu gieo trồng thêm nhiều hạt giống phước đức, gắng công niệm
Phật thì việc tu học càng dễ dàng và sẽ tiến đến Niết-bàn. Ðức Phật lại
nói đạo lý nhân thiện quả thiện, nhân ác quả ác nhằm gây thêm niềm tin và
sự tinh tấn cho mọi người. Sau khi nghe Phật dạy xong, ai nấy đều vui vẻ
trở về.
Ý
NGHĨA BỐ THÍ
Ðức Phật
đi giáo hóa khắp nơi, thâu nhận hàng trăm đệ tử nhưng cả Phật lẫn đồ đệ
vẫn không có chỗ nghỉ ngơi cố định. Ban ngày thì học đạo dưới gốc cây, bên
sườn núi, tối đến, hoặc ngủ nơi bức tường đổ nát hoặc nghỉ bên những căn
nhà xác xơ.
Vua
Tần-bà-sa-la vừa là một vị quốc vương nhân từ vừa là người rất sùng tín
Phật giáo. Vì sớm muốn đức Phật và Tăng chúng có chỗ trú chân yên ổn nên
vua đã cho chọn một lâm viên thanh tịnh, kiến tạo ngôi tinh xá đồ sộ cúng
dường Phật.
Trong
phong cảnh u huyền tịch mịch, tinh xá luôn có hơn một ngàn vị đến tu tập
nghe Phật giảng kinh, và nó đã trở thành một thắng địa lý tưởng cho việc
tu học. Tại đây tre mọc rất nhiều nên mới lấy
tên cho tinh xá là Trúc Lâm.
Ðức Phật dạy đại
chúng: “Bố thí là một đức tính tốt, phạm vi của nó rất rộng: lấy tiền của
giúp đỡ kẻ khác đó là bố thí, đem đạo lý Phật Ðà hướng dẫn mọi người làm
thiện ấy là bố thí, hướng dẫn người khác đạt được sự bình an cũng chính là
bố thí. Người bố thí có rất nhiều phước báo vì chính họ đã đem đến niềm an
vui, sự sung túc cho những kẻ đang thiếu thốn. Tất nhiên, họ cũng hưởng
được sự giàu sang và hạnh phúc”.
KỲ
THỌ CẤP-CÔ-ÐỘC VIÊN
Có một
vị phú ông nhân từ thường hay giúp đỡ cho những kẻ bần cùng cô đơn nên
được mọi người xưng tụng là trưởng giả Cấp-cô-độc. Ông chính là người muốn
phát tâm xây một khu nhà đồ sộ cúng dường Phật và Tăng chúng.
Trưởng giả chọn khu hoa
viên của thái tử Kỳ-đà để xây nhưng thái tử không chịu bán lại. Không còn
cách nào khác, trưởng giả bèn y theo lời của thái tử, cho người đem rất
nhiều vàng đã được dát thành từng miếng cho trải lên khắp mặt đất, nguyện
lấy giá trị của số vàng được trải mua lại mảnh vườn này. Thái tử Kỳ-đà vô
cùng cảm kích trước tấm lòng ấy và chấp nhận nhường hoa viên cho trưởng
giả; đồng thời đem tất cả số cây mà ông Cấp-cô-độc chưa mua được, góp phần
vào việc cúng dường vĩ đại này. Thế là tòa nhà đồ sộ đẹp đẽ được dựng lên,
lấy tên là Kỳ Thọ Cấp-cô-độc Viên để kỷ niệm sự cúng dường của hai nhà hảo
tâm ấy.
BÁN NGHÈO
Thầy
Ca-chiên-diên là một trong những đại đệ tử của đức Phật và là nhà diễn
thuyết tài ba nhất. Hễ ai được nghe thầy giảng Phật pháp cũng nhận thấy
rất dễ hiểu. Một hôm, nhân lúc đi qua mé sông, thầy thấy một phụ nữ đang
ngồi khóc trên bờ đá. Cô ấy bảo mình rất nghèo, nay lâm vào cảnh cùng
đường chỉ muốn chết đi cho yên thân. Thầy như hiểu rõ sự tình, liền nói:
- Giờ
tôi sẽ chỉ cho cô một cách thoát nghèo nhé! Cô hãy bán cái nghèo đi.
- Bán
nghèo? Ai bằng lòng mua cái nghèo của tôi đây?
- Hãy
bán cho tôi! Bố thí có nghĩa là bán nghèo đó. Chỉ cần cô rộng lòng bố thí
thì có thể bán cái nghèo mà mua sự giàu sang.
Người
phụ nữ nói mình nghèo rớt mồng tơi thì lấy gì mà bố thí nhưng thầy
Ca-chiên-diên lại bảo:
- Bố thí
đâu nhất thiết phải có tiền. Hễ có lòng tốt giúp người thì bất luận là bố
thí tiền của, vật dụng hay chỉ là một lời nói an ủi cũng đều thuộc phạm vi
bố thí rồi. Nếu bố thí một cách chân thành thì nhất định sẽ được giàu sang
và hạnh phúc. Nào! Cô hãy bố thí cho tôi một ít nước đi!
Nhưng
chợt nhớ cô ta không có vật gì để đựng, thầy liền cho mượn ngay cái bát
của mình. Người phụ nữ ấy múc đầy một bát nước, thành tâm dâng lên cho
thầy rồi vui vẻ trở về.
ÐỨC
PHẬT VUN XỚI RUỘNG TÂM
Vào độ thu khi lúa chín rộ, những cánh đồng bát ngát như một tấm thảm vàng
hoe. Nông dân đây đó tụ tập chúc mừng nhau một vụ mùa thắng lợi, và trời
đất cũng hòa nhịp trong bầu không khí tràn ngập niềm hạnh phúc ấy. Khi đức
Phật đến nông trang nọ, rất nhiều người cung kính cúng dường Ngài, riêng
có một anh nông phu vốn tính tình cố chấp là cáu gắt với Ngài. Anh ta giận
dữ nói:
- Hằng
ngày chúng tôi phải vất vả cày bới vun trồng gian khổ lắm mới có thu hoạch
như ngày hôm nay. Sao Ngài không bắt chước làm như chúng tôi?
- Này
trưởng giả! Như lai cũng có cày cấy trồng trọt đấy chứ! Anh là nông phu
phải không? Trâu, hạt giống và ruộng đất của anh đâu rồi nào? Như lai cũng
có các thứ ấy, đất tâm của chúng sanh chính là thửa ruộng, Bát chánh đạo
là hạt giống và tinh tấn chính là trâu cày.
Ngài giải thích thêm:
- Như
lai gieo vào lòng mọi người hạt giống Bát chánh đạo rồi hết lòng vun xới,
giẫy cỏ tâm cho họ khiến ai nấy đều được nhổ sạch gốc cỏ phiền não, đạt
được hạnh phúc chân thật.
Người
nông phu kia nghe xong thấu hiểu hết mọi lẽ và lập tức sám hối đức Phật,
đồng thời hết lòng cung kính dâng lên Ngài thứ cơm sữa thượng hạng nhất.
Anh ta thành kính thưa:
- Kính
đức Thế tôn! Xin Người từ bi thâu nhận cho con món cúng dường nhỏ mọn này.
Ngài đã vun xới mảnh đất tâm và gieo trồng cho con hạt giống hiền thiện,
con tin sẽ gặt hái được hạnh phúc.
MỤC-KIỀN-LIÊN
Mẹ Tôn giả Mục-kiền-liên
là một người hung ác và tàn nhẫn. Bà không bao giờ biết chia sẻ với nỗi
khó khăn của mọi người xung quanh. Sau khi chết, bà bị đọa vào địa ngục,
chịu mọi thống khổ. Mục-kiền-liên đi xuất gia và chứng được thần thông
quảng đại. Với thần lực ấy, thầy thấy mẹ mình đang chịu khổ trong đường
ngạ quỷ, ngày ngày chẳng ăn uống gì được vì cổ họng quá bé. Lòng đau như
cắt, thầy liền dùng thần thông đem cơm đến cho mẹ ăn nhưng cơm vừa đưa đến
miệng đã hóa thành than lửa nên mẹ thầy chẳng thể nào nuốt được. Thầy đến
cầu Phật cứu me. Ðức Phật dạy thầy lấy của cải vật dụng của thân mẫu đem
đi cúng dường chúng Tăng và bố thí cho người nghèo khổ. Rồi nương vào năng
lực chú nguyện hồi hướng của mọi người, nguyện cầu vong hồn bà sớm thoát
khỏi cảnh khổ. Thầy Mục-kiền-liên y theo lời Phật, làm các việc bố thí
cúng dường và mẹ của ngài lập tức thoát khỏi cảnh khổ, sanh về cõi trời. Hôm đó đúng
vào ngày mười lăm tháng bảy tức là ngày tổ chức hội Vu Lan.
Ðức Phật luôn đi đây đó
truyền bá giáo pháp nên tín đồ quy hướng rất đông. Nhiều người xuất gia
theo Ngài và dần dần trở thành một đoàn thể lớn. Tăng chúng luôn sống với
nhau trong bầu không khí thân mật, vừa học Phật pháp vừa đem Phật pháp
giáo hóa mọi người và hết lòng cống hiến cho đại chúng.
Quý thầy
đều có tư tưởng đúng đắn, việc làm hướng thượng và nhân cách rất hoàn mỹ.
Bất kỳ ai, hễ có dịp tiếp xúc với các thầy thì đều nhận được nhiều sự
hướng dẫn quý báu. Mọi người tín nhiệm, tôn kính và học hỏi với các thầy
cũng là vì lý do ấy. Tổ chức Tăng già ngày một lớn mạnh và người đời
thường xưng tụng tập thể quý thầy với cái tên rất đẹp đó là “Ðoàn thể hòa
hợp”.
SINH HOẠT TĂNG ÐOÀN
Sau khi
thái tử Tất-đạt-đa đi biền biệt, ở vương cung, vua Tịnh-phạn ngày đêm khắc
khoải nhớ thương con. Nay bỗng nghe thái tử đã giác ngộ
(thành Phật), vua liền sai Ưu-đà-di đi
thỉnh đức Phật trở về hoàng cung. Ưu-đà-di đến chỗ Phật đang hành
đạo và đi thăm hết một lượt, anh đặc
biệt thấy Tăng đoàn sống rất hòa hợp và hoàn toàn sinh hoạt trong
sáu phép hòa kính:
1. Tư
tưởng hòa đồng.
2. Cùng
giữ một giới luật.
3. Lợi
ích cùng chia đều.
4. Tâm ý
cùng thống nhất.
5. Luôn
nói với nhau lời êm dịu.
6. Mọi
người cùng ở với nhau trong không khí vui vẻ.
Thái độ
của quý thầy rất trang trọng và tâm tánh lại hiền lương. Mọi người giúp đỡ
khuyến khích lẫn nhau, cùng theo một chí hướng, cùng đến một đích giải
thoát, sát cánh bên nhau học hỏi đạo lý và phương pháp giải thoát luân hồi
sanh tử. Trong Tăng đoàn hoàn toàn “vắng bóng” sự tham dục, sân hận và đấu
tranh của thế tục. Tất cả luôn tràn ngập một không khí thanh tịnh trang
nghiêm.
Sau khi
tham quan, Ưu-đà-di cảm thấy rất hâm mộ lối sống của Tăng đoàn. Trong lòng
anh chớm nở ý nguyện xuất gia học Phật để được sống theo đời sống ấy, nên
khi đưa tin đức Phật sẽ trở về hoàng cung cho nhà vua xong, Ưu-đà-di liền
xuất gia.
ÐỨC
PHẬT VỀ CỐ HƯƠNG
Ðức Phật xa cách quê hương đã tròn sáu năm nên Ngài quyết định về thăm
nhà một chuyến. Dân chúng trong thành Ca-tỳ-la-vệ biết thái tử kính
yêu của họ nay là bậc giác ngộ sắp trở về hoàng cung, nên lũ lượt chen
chúc đứng hai bên đường nghinh đón.
Ðức
Phật dẫn theo hơn một trăm đệ tử từ tốn tiến vào thành. Nét mặt an tịnh
hiền hòa và bước chân khoan thai của Ngài đã làm rung động tất cả dân
chúng. Ðức Phật hướng về mọi người thân mật chào hỏi, giảng giải những
giáo lý đơn giản. Ngài dạy họ nên xa lánh điều ác, hướng đến điều thiện.
Lúc ấy, vua Tịnh-phạn cũng vừa đến. Thấy con mình tiếp xúc quá thân mật
với quần chúng, vua cảm thấy rất kinh ngạc nhưng đức Phật thưa với vua cha
rằng:
- Ðại
vương! Nay Tất-đạt-đã thành Phật, là cha lành của bốn loài. Lẽ tất nhiên,
Tất-đạt phải có trách nhiệm cứu độ chúng sanh.
Lời nói
thân thiết và bình đẳng của đức Phật khiến dân chúng rất hoan nghênh. Ngay
lúc ấy, tâm linh của Tịnh-phạn bừng sáng, phiền não bao nhiêu năm phút
chốc được rũ sạch. Lòng vua lâng lâng niềm hạnh phúc và chắp tay tán thán
đức Phật. Ðức Phật trở về hoàng cung thuyết pháp đã làm khơi dậy rất nhiều
lòng tín ngưỡng đối với Phật giáo ở quan quân; đặc biệt nhất là việc xuất
gia của các vương tử Nan-đà, A-na-luật, A-nan v.v...
VUA
TỊNH-PHẠN BĂNG HÀ
Kể từ
ngày gặp đức Phật, vua Tịnh-phạn bắt đầu hết lòng tôn sùng Phật giáo và
càng để tâm xây dựng quốc gia, hết lòng thương yêu chăm lo cho đời sống
nhân dân. Nhưng tuổi đã cao, thân thể đến hồi suy yếu nên không lâu sau
ngày gặp Phật, nhà vua bắt đầu trở bệnh. Trên giường bệnh, vua luôn tưởng
nhớ đến đức Phật và mong gặp được Ngài. Nhưng, quần thần bảo đức Phật đang
bận thuyết pháp ở một nơi rất xa sợ không kịp về thăm vua được.
Mặc
dù quãng đường từ chỗ hoằng hóa đến hoàng cung rất xa nhưng khi biết phụ
vương lâm bệnh, đức Phật liền cấp tốc trở về. Hằng ngày, Ngài tự mình vừa
lo thuốc thang, cơm cháo vừa giảng Phật pháp để khích lệ vua cha, nên vua
cảm thấy rất an lạc. Ðến khi phụ vương băng hà, Ngài lại đứng ra đôn đốc
việc tang lễ và cùng với các vị vương tử rước linh cữu vua cha đi an táng,
làm tròn bổn phận của một người con. Câu chuyện đức Phật đưa tang vua cha
lan đi khắp nơi, ai ai cũng noi theo Ngài hiếu kính cha mẹ, tôn kính sư
trưởng. Phong tục này đã dần dần phổ biến trong dân gian.
THẬP THIỆN
Mẫu hậu
Ma-da lìa đời rất sớm. Sau khi mất, bà sanh lên cõi trời hưởng phước báo.
Cuộc sống trên cõi thiên rất ưu việt và an nhàn thoải mái. Ðây là nơi thác
sanh của những người có thiện căn phước báo đời trước. Nhưng nhân dân cõi
trời này vẫn bị chết và luân hồi sanh tử.
Sau khi
thành Phật, đức Phật Ðà lên cõi trời này giảng Phật pháp cho mẫu hậu và
thiên chúng nghe. Ðức Thế tôn dạy họ làm mười điều thiện:
1. Không
sát sanh: Không giết hại sinh mạng.
2. Không
trộm cắp: Không cướp đoạt, lén lấy tài sản của người khác.
3. Không
tà dâm: Không nên quá đam mê sắc dục.
4. Không
nói dối: Không nói lời hư dối.
5. Không
nói hai lưỡi: Không nói lời ly gián.
6. Không
nói thô ác: Không nhục mạ người khác.
7. Không
nói thêu dệt: Không nói lời ủy mỵ say đắm lòng người.
8. Không
tham lam: Nên có hành vi liêm chính, không tham tài sản không phải của
mình.
9. Không
sân hận: không giận hờn thịnh nộ kẻ khác.
10.
Không tà kiến: Nên có sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn.
Ai thực
hành theo mười điều thiện trên, người ấy sẽ sanh lên cõi trời hưởng phước
lạc.
KHỞI NGUỒN TƯỢNG PHẬT
Ðức Phật
đến cõi trời Ðao Lợi thuyết pháp cho mẫu hậu đã nhiều ngày mà chẳng thấy
Người trở về, ở nhà ai cũng nhớ Phật và thường bàn luận về âm thanh dung
mạo của Ngài. Tất cả đều ước mong sớm gặp lại Phật.
Vì quá nhớ bóng dáng đức
Phật nên vua Ưu Ðiền cho mời một nhà điêu khắc trước đây từng chiêm ngưỡng
dung nhan đức Phật và có ấn tượng sâu sắc về Ngài. Rồi vua cho lấy gỗ
chiên đàn tốt nhất, nhờ anh ta dốc hết tâm sức điêu khắc hình tượng đức Thế tôn. Sau khi hoàn thành, tượng Phật được tôn trí ngay
trong hoàng cung. Hằng ngày, vua lạy tượng Phật, tư duy những lời dạy của
Ngài và xem như mình đang diễm phúc gần bên đức Phật. Ba tháng rồi
cũng trôi qua, đức Thế tôn trở lại hạ giới, thấy bức tượng Ngài liền khen
rằng: “Thật là quý báu! Sau khi Ta vào Niết-bàn, tín đồ có thể cúng dường
Phật tượng để tưởng nhớ Như lai”.
Trên
đây là khởi nguồn của tượng Phật. Cúng dường tượng Phật là để tưởng nhớ
đến đức Phật, lễ bái tượng Phật là biểu thị sự kính trọng, hoàn toàn không
có yếu tố mê tín nào ở đây. Mỗi khi chiêm ngưỡng tượng Phật, chúng ta nên
suy tưởng và ghi nhớ lời dạy của Ngài để đem những lời dạy đó áp dụng vào
cuộc sống hằng ngày, đó là ý nghĩa cúng dường tượng Phật đúng đắn nhất.
CA-TỲ-LA-VỆ BỊ DIỆT VONG
Ðược tin
vua Tỳ-lưu-ly thống lĩnh đại quân chuẩn bị đánh nước Ca-tỳ-la-vệ, các vị
đệ tử đến thỉnh cầu đức Phật đi hòa giải. Ngài đến ngồi dưới một cây khô
bên con đường thông lưu của thành Ca-tỳ-la-vệ. Vua Tỳ-lưu-ly đang tiến
quân thì gặp đức Phật, vua kính trọng đến chào Ngài và thưa rằng:
- Vì nguyên do gì mà Ngài
lại ngồi dưới gốc cây này?
- Có
được sự che chở của thân tộc là điều hạnh phúc nhất. Nay Ta sắp mất thân
quyến, bơ vơ một mình như cây khô không còn chút lá, đó là lý do Ta ngồi ở
đây.
Vua hiểu
được ý Phật, vì tôn kính Ngài nên hạ lệnh rút quân trở về nước. Song, đã
là nghiệp báo thì khó mà trốn tránh. Cũng vì nhân dân nước Ca-tỳ-la-vệ quá
kiêu ngạo phách lối nên phải chuốc lấy tai họa của chiến tranh. Hậu quả
sau cùng mà họ phải nhận là vương thành Ca-tỳ-la-vệ bị diệt vong.
MA-HA-NAM
Vua
Tỳ-lưu-ly tiến đánh nước Ca-tỳ-la-vệ. Với tính khí tàn bạo, ông ta hạ lệnh
vây thành và cho thẳng tay tàn sát nhân dân. Dân chúng đỡ người già dắt
trẻ em, kêu khóc kinh hoảng cùng nhau trốn ra ngoài thành. Họ xô lấn giẫm
đạp lên nhau hết sức thê thảm.
Vua Ma-ha-nam đang
nhiếp chánh nước Ca-tỳ-la-vệ lúc bấy giờ vì không nỡ thấy cảnh đổ máu của
thường dân vô tội nên đến xin vua Tỳ-lưu-ly cho dân chúng một con đường
sống. Vua Ma-ha-nam xin lấy khoảng thời gian kể từ khi mình lặn xuống đáy
nước cho đến lúc trồi lên, làm mức thời gian để mọi người chạy khỏi thành.
Vua Tỳ-lưu-ly nhận thấy khoảng thời gian ấy rất ngắn và chắc người trốn
chạy cũng chẳng là bao nên đồng ý tạm ngưng giết hại. Qua một lúc lâu, dân
chúng chạy thoát rất nhiều nhưng vẫn chưa thấy vua Ma-ha-nam ngoi lên mặt
nước. Vua Tỳ-lưu-ly thấy lạ bèn sai người lặn xuống tìm thì phát hiện ông
ta đã cột tóc vào rễ cây dưới nước tự sát. Vua làm như vậy để cơ thể khỏi
trồi lên, nhất là kéo dài thời gian để dân chúng chạy thoát nhiều hơn.
Chứng kiến cảnh ấy vua Tỳ-lưu-ly vô cùng cảm động và tức tốc cho ngưng
ngay việc giết hại. Việc xả thân cứu người của vua Ma-ha-nam là một biểu
hiện đáng để hàng Phật tử chúng ta noi theo.
NHỮNG VẤN ÐỀ SAU KHI ÐỨC PHẬT NHẬP NIẾT-BÀN
Lúc
bấy giờ, đức Phật tròn tám mươi tuổi, thuyết pháp được bốn mươi chín năm.
Trên từ vua chúa quý tộc, dưới đến lính tráng, thương nhân, kỹ nữ, người
đánh cá, kẻ phạm tội v.v... nói chung, người thuộc tầng lớp nào cũng được
Ngài từ bi giáo hóa tất cả. Ðức Phật vào thành Câu-thi-na, đến giữa hai
cây Sa-la mắc võng nghỉ ngơi và trả lời bốn câu hỏi của A-nan như sau:

1. Sau
khi Như lai vào Niết-bàn các thầy nên giữ gìn quy củ và nên lấy giới luật
làm thầy.
2. Sau
khi Như lai vào Niết-bàn, quý thầy nên nương bốn niệm trú mà sinh hoạt.
3. Sau
khi Như lai vào Niết-bàn, các thầy nên giữ thái độ nhẫn nhục, đừng tranh
cãi đối với sự cố tình quấy phá của kẻ xấu.
4. Sau
khi Như lai vào Niết-bàn, ở đầu mỗi kinh nên đề câu “Tôi nghe như vầy” để
biểu thị cho lời Như lai nói.
Ðức Phật dặn dò thêm: “Mạng sống vô thường, có sanh ắt có tử, có tụ hội ắt có ly tán. Ðây là quy luật
tự nhiên, và do vậy Như lai cũng sắp vào Niết-bàn”. Sau khi báo cho quý
thầy biết Ngài sắp nhập diệt, đức Phật vẫn ân cần giáo huấn đại chúng và
thâu nhận người đệ tử cuối cùng là ông ngoại đạo Tu-bạt-đà-la.
Tin đức
Như lai sắp nhập Niết-bàn được truyền đi khắp nơi, các vị đệ tử liền đến
khẩn cầu Người huấn thị cho đại chúng lần sau cùng. Ðức Phật chấp thuận và
dạy rằng:
- Sau
khi Như lai vào Niết-bàn, các thầy nên tôn trọng giữ gìn giới luật. Người
giữ giới luật cũng giống như kẻ nghèo gặp được của báu, như đi trong đêm
tối mà gặp ánh sáng. Các người nên khép mình trong đời sống tri túc và
biết tiết chế dục vọng.
- Trung
thực là điều căn bản để làm người, nhẫn nhục là phương thuốc hay cho đời.
Các thầy không nên tham lam chất chứa tiền của, không nên xem quẻ bói
tướng cũng đừng đem lời phù chú ủy mỵ mê hoặc mọi người.
- Việc
học quý ở chỗ bền bỉ. Như một dòng suối nhỏ nếu chảy hoài cũng có thể
xuyên thủng vách đá và những chóp núi
để đổ vào biển cả.
- Quý
thầy hãy thay thế Như lai nhận lãnh sứ mệnh hoằng hóa chúng sanh!
Vào giữa đêm ngày mười lăm tháng hai,
đức Phật an nhiên nhập Niết-bàn. Tuy nhục thể đã mất nhưng hình ảnh của
Ngài vẫn luôn còn mãi. Ðức Phật là bậc đạo sư của ba cõi, là cha lành của
bốn loài, là bậc thầy cao cả của trời người. Việc làm và những lời giáo
huấn của Người là khuôn phép cho nhân loại. Do đó, chúng ta nên thực hành
và truyền bá giáo pháp của Ngài.
NIẾT-BÀN
Lúc
chứng đạo dưới cội Bồ-đề, đức Thích tôn có thốt lên rằng: “Thật kỳ lạ!
Trong mỗi chúng sanh đều có sẵn Phật tánh”. Lời nói này là một sự bảo
chứng hùng hồn. Nghĩa là ai ai cũng có thể thành Phật, miễn sao mọi người
hết lòng lập chí làm thiện, cải đổi hoàn toàn những ý nghĩ những việc làm
từ các kiếp trước, bao gồm cả thiện lẫn ác, nhiễm ô lẫn thanh tịnh. Lúc ấy
nghiệp báo cũng không còn, an nhiên tự tại ngoài vòng luân hồi sanh tử
không bờ mé của ba cõi, vĩnh viễn ở trong cảnh giới vắng lặng tự tại, đây
gọi là cảnh giới Niết-bàn. Nói đơn giản thì Niết-bàn có hai:
1. Vô dư
Niết-bàn: Người tu tập Phật pháp, khi trải qua một thời kỳ tu luyện thiện
đạo lâu dài sẽ rũ sạch tất cả phiền não tội lỗi từ nhiều đời, tâm tánh
thanh tịnh, hoàn toàn không còn một mầm mống nào để có thể tái hiện lại
vòng sanh tử luân hồi. Khi xả báo thân, tác dụng của nhục thể và tâm linh
đều chấm dứt, vĩnh viễn không còn đầu thai hay sống chết trở lại. Sinh
mạng mãi mãi trú ngụ trong trạng thái vắng lặng đó gọi là chứng Vô dư
Niết-bàn hay chứng A-la-hán. Ðây là kết quả của những vị tu theo tiểu
thừa.
2.
Bất trụ Niết-bàn: Là người tu tập Phật pháp, phát tâm Bồ-đề rộng
lớn, lập chí nguyện cao cả, rằng không chỉ giải thoát cho bản thân mà còn
cứu giúp mọi loài. Nguyện không thành quả Phật nếu không hoàn thành chí
nguyện này. Từ đời này đến kiếp khác, các vị ấy hết lòng cống hiến cho xã
hội và nhân loại. Ðời đời kiếp kiếp tích tụ vô số công đức, tinh tấn học
tập Bát chánh đạo, tu tâm dưỡng tánh, vừa dứt sạch tất cả phiền não vừa
tích tụ công đức. Hành giả bền bỉ thực hành chí nguyện này trong suốt
chiều dài không hạn định của thời gian, đó gọi là Bất trụ Niết-bàn. Bất
trụ Niết-bàn là cảnh giới của chư Phật, là lý tưởng tối cao của đại thừa
Phật giáo.
TRÍCH LỜI KINH DI GIÁO
Hỡi
các thầy Tỳ-kheo! Nếu muốn thoát khỏi các khổ não, quý thầy nên suy niệm
về sự biết đủ. Biết đủ là nơi trú ẩn yên ổn, giàu sang và an lạc nhất.
Người biết đủ tuy nằm trên đất vẫn thấy an lạc; người không biết đủ thì dù
ở thiên đường cũng vẫn cảm thấy không vừa ý. Người không biết đủ tuy giàu
mà nghèo, người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Người không biết đủ thì luôn bị
năm thứ dục lạc lôi kéo khiến người biết đủ phải xót thương. Ðó gọi là sự
biết đủ.
Nếu
các thầy nỗ lực tinh tấn thì không có việc gì là khó, cho nên các thầy hãy
cố gắng. Giống như dòng nước tuy nhỏ nhưng chảy mãi cũng xuyên qua đá. Nếu
tu hành mà lòng dạ biếng nhác trễ nãi thì chẳng khác nào lấy dây kéo lửa
chưa nóng đã thôi, dầu muốn được lửa, lửa ấy cũng khó mà được. Ðây gọi là
sự tinh tấn.
KẾT TẬP KINH ÐIỂN
Giáo lý đức Thế tôn giảng
nói hoàn toàn được các vị đệ tử dùng
trí nhớ ghi lại, đọc tụng cho
thuần thục và truyền trao cho nhau, tuyệt nhiên không có sự biên chép
bằng một thứ văn tự nào. Sau khi đức Phật nhập diệt được hơn bốn tháng,
ngài Ðại Ca-diếp sợ thánh giáo sẽ bị mai một nên đã mở đại hội kiết tập
kinh điển. Ý nghĩa của việc kết tập là tập hợp các vị thánh tăng để tụng
đọc lại những lời dạy của đức Phật. Mọi người sẽ cùng nhau nghiên cứu thẩm
định từng khoản một, sau khi thông qua những việc này xong, điều khoản
trên sẽ được thống nhất giữa các đệ tử đức Phật.
Lúc ấy,
đại hội được tổ chức tại thành Vương-xá nước Ma-kiệt-đà. Tất cả mọi sự chi
dùng như ăn uống và những đồ cần thiết cho đại hội đều do vua nước này
cúng dường. Nghi thức đợt kết tập lần đầu tiên này rất long trọng với sự
tham dự của năm trăm vị A-la-hán.
Ðầu tiên
là kết tập giới luật. Ngài đại Ca-diếp làm chủ tọa nêu lên câu hỏi, ngài
Ưu-ba-ly trả lời. Ví dụ như nói rõ nguyên nhân, thời gian, địa điểm đức
Phật chế định giới luật và Ngài nói điều ấy với ai v.v... tất cả đều được
trả lời một cách rành mạch rõ ràng. Sau đó, mọi người cùng nhau đọc lại
một lần toàn bộ phần giới luật và xác quyết đó là lời Phật chế. Phần thứ
hai là kết tập kinh văn do ngài A-nan trả lời, cách thức cũng giống như
phần giới luật. Nội dung của cuộc kết tập công bố xong, tất cả đệ tử Phật đều
tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Ðây là đợt kết tập lần thứ nhất, về sau còn
có ba đợt kết tập nữa. Tạng Kinh, Luật, Luận của Phật giáo là những
pho sách đồ sộ và hoàn thiện nhất.
--- o0o ---
Mục Lục
|
Chương I
|
Chương II
Chương III|
Chương IV
|
Chương V
|
Chương VI
--- o0o ---
Mục Lục Pháp Tạng- 20
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-04-2004