Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

 Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Học Cơ Bản


... ... .

 

 

ÐỜI SỐNG NGƯỜI CƯ SĨ

(Một người cư sĩ phải sống như thế nào?)

 

 Biên soạn:  Thích Thánh Nghiêm.

Việt dịch:  Thích Hạnh Minh.

---o0o--- 

 Mục Lục

 

Người tại gia tín ngưỡng theo Phật giáo thông thường được gọi là cư sĩ. Vậy, một người cư sĩ có khác gì với người tại gia bình thường ?

Ở Trung Quốc có rất nhiều người tín ngưỡng theo Phật giáo nhưng người hiểu lầm cũng không phải là ít. Ða số mọi người cho rằng: “Phật giáo chính là những chùa miếu thờ cúng ngẫu tượng; các tăng ni tụng kinh cho người chết và những thứ mõ, chuông, khánh v.v... là đại biểu cho Phật giáo”. Bởi thế, họ liền vội vàng nhận định Phật giáo là tiêu cực, là trốn tránh hiện thực. Nhưng kỳ thật, những thứ ấy chỉ là những pháp khí mà người xuất gia dùng làm phương tiện để giáo hóa chúng sanh mà thôi. Hơn nữa, Phật giáo cũng phải tùy thuận theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng quốc độ và quan niệm sống của con người trong mỗi thời đại mới có thể dẫn dắt mọi người đi vào con đường chân-thiện-mỹ đích thực. Ðây chính là tinh thần tùy duyên bất biến trong Phật giáo. Vì tinh thần căn bản của Phật giáo không chỉ hạn cuộc nơi người xuất gia mà thôi nên tín đồ Phật giáo phân ra làm hai chúng lớn: xuất gia và tại gia. Việc chính của người xuất gia là tu hành và truyền đạo để giữ gìn mạng mạch Phật pháp, còn như thể hiện tinh thần Bồ-tát đại thừa nhập thế và làm người ngoại hộ bảo vệ Phật pháp thì lại là việc của hàng cư sĩ tại gia.

BA LOẠI PHÁP MÔN ^

Tu học Phật pháp tuy có nhiều pháp môn nhưng nếu nói một cách tổng quát thì có thể phân làm ba loại lớn:

1. Nhân thiên đạo.

2. Giải thoát đạo.

3. Bồ-tát đạo.

Tông chỉ của sự học Phật là tìm cho được con đường giải thoát, nhưng điểm nương tựa để học Phật lại là Nhân thiên đạo, đặc biệt là Nhân đạo. Ðây chính là điểm then chốt lớn nhất giữa sanh tử và giải thoát. Vì thế, người học Phật không thể tách rời Nhân thiên đạo mà riêng cầu con đường giải thoát được.

Dù tìm được con đường giải thoát cũng không bằng thành tựu Phật quả. Người giải thoát khỏi sanh tử cũng chưa hẳn là đã thành Phật, muốn thành Phật thì nhất định cần phải chú trọng cả Nhân thiên đạo lẫn Giải thoát đạo, đây gọi là Bồ-tát đạo.

Theo tính chất trên mà nói thì Nhân thiên đạo đặt nặng nơi việc làm phước nghiệp, chẳng hạn như: bố thí, cưùu tế, phóng sanh, giữ giới không sát sanh, làm việc công ích xã hội v.v...; còn Giải thoát đạo thì đặt nặng ở việc tu trì huệ nghiệp, chẳng hạn như: trì giới, tu thiền định, lạy Phật, niệm Phật, nghe kinh, đọc kinh v.v... Ðiều quan trọng là phải phân biệt được sự luyến ái thế gian và xuất thế gian. Nếu người có tâm luyến ái thế gian, tuy tu huệ nghiệp nhưng chỉ là phước báo của cõi trời, cõi người; còn người có tâm xuất thế gian, tuy làm việc phước nghiệp nhưng cũng trở về con đường giải thoát.

Hoàn toàn không có gì nghi vấn cả, mục đích học Phật không phải ở Nhân thiên đạo mà thái độ của Phật giáo cũng không chỉ ở Giải thoát đạo. Tự cầu giải thoát, đồng thời cũng phải giúp cho tất cả chúng sanh cùng được giải thoát. Tự cầu giải thoát là huệ nghiệp, giúp người khác giải thoát là phước nghiệp, phước huệ song tu mới thật là Bồ-tát đạo. Chúng ta có thể nhận thấy tông chỉ của Phật giáo tuy là xuất thế, song phương pháp hành đạo của Phật giáo lại là nhập thế. Bởi vì, tự cầu giải thoát là cầu giải thoát những khổ não của thế gian, còn nói xuất thế, nghĩa là vượt thoát những khổ não của thế gian. Cứu độ chúng sanh là giúp chúng sanh giải thoát các khổ não của thế gian. Tuy là xuất thế nhưng không phải lánh đời. Ðồng thời, trọng tâm của sự giải thoát trong Phật giáo là tinh thần tự tại, không bị phiền não, ngũ dục ràng buộc, đó gọi là tâm giải thoát. Khi ấy, hành giả có thể rời bỏ cõi dục mà sanh lên cõi sắc và cõi vô sắc, thậm chí thoát ly khỏi ba cõi. Còn nếu không bị tập nghiệp và vô tri của vô minh ràng buộc thì đó là huệ giải thoát. Bấy giờ, hành giả liền có thể siêu thoát sanh tử, cho đến đạt thành quả vị Phật. Do đó, người đã giải thoát cố nhiên không còn bị sanh tử ràng buộc nhưng cũng không hẳn là hoàn toàn rời bỏ sanh tử. Vì để cứu độ chúng sanh nên những vị ấy vẫn còn thị hiện trong sanh tử nhưng sự sanh tử của các ngài chẳng qua là theo nguyện lực thị hiện một cách tự chủ, chứ không như sự sanh tử của hàng phàm phu thông thường, do nghiệp lực dắt dẫn. Giống như một người tự do đi đến nhà tù để diễn giảng cho những phạm nhân, tuy cũng vào trong tù, tiếp xúc với phạm nhân nhưng tâm lý cảm thọ của người ấy không giống như những phạm nhân bị pháp luật ngăn cấm, giam giữ trong tù. Cho nên, người đã giải thoát rồi, tuy sống trong sanh tử nhưng vẫn ung dung tự tại, không hề bị hệ lụy khổ đau.

 

GIẢI THOÁT ÐẠO VÀ BỒ-TÁT ÐẠO ^

Tu trì Giải thoát đạo hoàn toàn không có gì nghi vấn, đó chính là bổn ý của Phật giáo. Công phu tu trì Giải thoát đạo, cũng không có gì phải thắc mắc, đó là việc làm thích hợp với thân phận của một người xuất gia, ít ra thì sự ưu tư lo lắng của người xuất gia cũng không nhiều như người tại gia. Do đó, người xuất gia có thể chứng được bốn quả Thanh văn (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán), còn người tại gia tối đa chỉ có thể chứng đến quả thứ ba (A-na-hàm) mà thôi. Phái Bắc đạo của Phật giáo Nam truyền tuy chủ trương người tại gia cũng có thể chứng đến quả thứ tư nhưng một khi đã chứng đắc quả thứ tư thì tất nhiên vị ấy cũng sẽ xuất gia sống đời sống phạm hạnh của một sa môn.

Nói đến Bồ-tát đạo thì không có gì phải hoài nghi cả. Tinh thần Bồ-tát đạo là nền tảng của Phật giáo. Hành giả tu trì Bồ-tát đạo rất thích hợp với thân phận và hình tướng người tại gia. Vì phạm vi sinh hoạt của người tại gia so với người xuất gia rộng lớn hơn nhiều, hơn nữa, có đi sâu vào quần chúng, tiếp xúc với quần chúng mới có thể nhiếp hóa được mọi người. Do đó, Bồ-tát trong kinh Phật ngoại trừ một số rất ít, còn phần nhiều các ngài đều thị hiện tướng tại gia, thậm chí ở kiếp sống sau cùng nơi nội viện cung trời Ðâu Suất cũng với hình tướng thiên nhân chứ chẳng phải tướng xuất gia. Ðương nhiên, Bồ-tát hiện tướng tại gia hoàn toàn không có sự sai biệt về tánh nam-nữ, trong ba cõi thì trời sắc giới đã không còn việc nam nữ dâm dục, huống hồ là thánh vị Bồ-tát. Nguyên nhân phần nhiều Bồ-tát thị hiện tướng tại gia là để biểu thị người tu trì Bồ-tát đạo rất thích hợp với thân phận người tại gia.

Giải thoát đạo là đáng quí nhưng Bồ-tát đạo càng đáng quí hơn. Bởi vì, người tu trì Bồ-tát đạo ngoài việc tự cầu giải thoát, họ còn giúp đỡ người khác giải thoát nữa. Người cầu chứng Giải thoát đạo cũng chính là người thực hành Nhân thiên đạo. Theo thực chất trên mà nói, Bồ-tát tuy hiện thân tại gia nhưng so với thánh giả xuất gia càng vĩ đại hơn nhiều. Ðây cũng chính là nguyên nhân cơ bản để Phật giáo đại thừa xưa nay chê trách tâm hạnh của hàng tiểu thừa.

Song, người cư sĩ tại gia thực hiện phước nghiệp Nhân thiên đạo rất dễ dàng, chỉ cần bỏ ra tiền của, sức lực làm những việc từ thiện công ích xã hội là được. Nhưng ngoài ra còn đòi hỏi người Phật tử tại gia phải giống như hoa sen mọc trong chốn bùn nhơ mà không bị bùn nhơ làm ô nhiễm, tinh tấn tu trì Giải thoát đạo, việc ấy thật bất khả tư nghì. Nếu chỉ thực hành Nhân thiên đạo mà không tu trì Giải thoát đạo thì đó chỉ có thể là Nhân thiên đạo mà chẳng phải là Bồ-tát đạo; chỉ có thể đổi lấy phước báo cõi trời, cõi người ở kiếp sau mà thôi, chứ không thể giải thoát khỏi sanh tử, lại càng không thể làm chủ được sanh tử. Ðây cũng chính là một nhân tố rất tôn quí và siêu thắng của người xuất gia so với người tại gia.

Căn cứ theo yêu cầu này, tiến thêm một bước nữa có thể biết, cùng là người tại gia nhưng người tin Phật với người chưa tin Phật thật khác nhau một trời một vực. Người tại gia chưa tin Phật, dù người ấy là một nhà từ thiện vĩ đại nhất đi nữa thì cũng chỉ có thể gặt hái được phước báo ở nhân gian và sáu từng trời cõi dục mà thôi, khi hưởng hết phước báo rồi thì vẫn phải đọa lạc trong tam đồ: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh để thọ khổ. Còn người tại gia đã tin Phật rồi, dù không thể thực sự tu trì Giải thoát đạo nhưng đối với con đường giải thoát cũng vẫn một lòng hướng về. Vì vậy, mọi người cần phải tinh tấn tu trì Giải thoát đạo, đời này tu chưa thành thì đời sau, cho đến vô số kiếp về sau, cần phải có hy vọng ta sẽ tu thành Giải thoát đạo để đạt đến Giải thoát đạo. Người tại gia tin theo Phật tuy không thể tích cực làm việc phước nghiệp nhân thiên, nhưng ít ra cũng không đến nỗi tạo ra ác nghiệp nơi ba đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì thế, cùng là người tại gia nhưng người tin Phật tiền đồ có nhiều hy vọng và bảo đảm hơn so với người chưa tin Phật.

 

CƯ SĨ NÊN TU BỒ-TÁT ÐẠO ^

Ðến đây, chúng tôi muốn bàn đến vấn đề của người cư sĩ.

Trong quan niệm của người bình thường, đa phần cho rằng tên gọi “Cư sĩ” là danh từ riêng của Phật giáo dùng để gọi tín đồ nam, nữ tại gia nhưng kỳ thật không phải như thế.

Trong Nguyên thủy thánh điển của Phật giáo, nhất là trong Luật bộ, từ “Cư sĩ” chỉ là tên gọi thông thường của người đời, tiếng Phạn gọi là Ca-la-việt, bất luận là tin Phật hay không tin Phật, phàm là người sống tại gia thì đều gọi là cư sĩ. Ðàn ông gọi là cư sĩ, đàn bà gọi là vợ cư sĩ, là tên gọi thông thường chỉ cho người đời đã kết hôn. Còn pháp sư La Thập giải thích: “Kẻ bạch y nước ngoài giàu sang, vui sướng gọi là cư sĩ”. (Duy-ma kinh chú, quyển một). Trong luật Thập tụng, quyển sáu thì chép: “Cư sĩ là ngoại trừ vua, quan và hàng Bà-la-môn ra, còn mọi người bạch y tại gia đều gọi là cư sĩ”.

Ở Trung Quốc từ “Cư sĩ” cũng không phải do Phật giáo sử dụng đầu tiên mà ở trong Lễ ký đã có câu: “Giải gấm cư sĩ”. Từ ấy dùng để chỉ cho người trí thức làm quan, làm nghệ thuật (thơ, văn...) và bao hàm cả ý nghĩa ẩn sĩ nữa. Vì vậy, trong các sách vở xưa ở Trung Quốc thường thấy một số văn nhân nhã sĩ hay thích lấy từ cư sĩ làm tự hiệu nhưng điều đó hoàn toàn không biểu thị họ là tín đồ của Phật giáo.

Phật giáo sử dụng từ cư sĩ để gọi tín đồ tại gia đại khái bắt nguồn từ Duy-ma cư sĩ cho đến nay. Duy-ma cư sĩ xứng đáng được gọi là cư sĩ nhưng cũng nhân đây mà người đời sau khuôn rập theo, như trong Duy-ma kinh sớ, quyển một, đại sư Huệ Viễn nói: “Cư sĩ có hai loại: một là người giàu có, tích chứa nhiều của cải gọi là cư sĩ; và hai là đạo sĩ ở nhà tu tại gia cũng gọi là cư sĩ.”

Chính vì thế nên tên gọi cư sĩ dần dần cũng trở thành từ chuyên dùng của Phật giáo. Triều nhà Thanh, ông Bành Tế Thanh biên soạn một bộ truyện ký về Phật tử tại gia cũng lấy tên là “Cư sĩ truyện”. Trên thực tế, dùng từ cư sĩ để gọi người tại gia học Phật tất nhiên không có gì là không được, nhưng nếu theo quan niệm của người Trung Quốc dùng với hàm ý ẩn sĩ mà đem gán vào một cách gượng gạo cho người tại gia học Phật thì thật sự không thỏa đáng, thậm chí ý nghĩa còn tương phản nhau nữa. Bởi vì, kẻ ẩn sĩ thì chỉ lo cho riêng mình, sống tách mình ra khỏi cuộc đời. Còn người tại gia học Phật là người thực hành Bồ-tát đạo, vì cứu độ chúng sanh có thể không tiếc thân mạng, tự mình cầu giải thoát, đồng thời giúp đỡ người khác giải thoát, như vậy sao có thể dùng cùng một nghĩa với ẩn sĩ được?

Nhưng cứ dùng theo riết rồi thành quen, chúng ta cũng đành phải gọi theo phong tục vậy. Theo lý tên gọi phù hợp với thực tế của cư sĩ tại gia phải là một vị Bồ-tát đại thừa.

Tuy nhiên, muốn làm một vị Bồ-tát đích thực hoàn toàn không phải là việc đơn giản. Thái Hư đại sư từng nói: “Quan trọng nhất là người ấy phải được dự vào hàng tổ vị mới có thể giảng dạy giáo pháp đại thừa, bằng không, chỉ làm được những lợi ích ít ỏi nơi cõi trời, cõi người và gieo trồng một ít căn lành đại thừa thì chưa thể vào được đại thừa”. Nếu hành giả phá được ba cửa ải (Tam quan)1 của Thiền tông, tương ứng với địa vị sáu căn thanh tịnh thì mới vào được tổ vị, vào được tổ vị rồi, mới có thể hoằng dương Phật giáo đại thừa. Bồ-tát đạo của Phật giáo đại thừa quả thực rất khó nhưng rất tôn quí.

Nhưng chúng ta cũng không nên vì Bồ-tát đạo khó thực hành mà không tu trì. Ðương nhiên không thể vừa mới sinh ra liền có thể dự vào hàng thánh vị Bồ-tát đại thừa nhưng nếu chúng ta tiếp tục gieo trồng căn lành đại thừa thì nhất định sẽ được dự vào hàng thánh vị Bồ-tát đại thừa. Vì vậy, hàng cư sĩ tại gia không nên nhụt chí, tuy trên phương diện tìm cầu giải thoát đạo người tại gia chênh lệch một bực so với người xuất gia nhưng trên thực tiễn nơi Bồ-tát đạo thì điều kiện tốt hơn rất nhiều so với người xuất gia.

TRỌNG TÂM CỦA BỒ-TÁT ÐẠO ^

Chúng ta biết rằng, phương pháp tu tập chủ yếu của Nhân thiên đạo là năm giới, mười điều thiện (năm điều ngăn cấm việc sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu gọi là năm giới; không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói thô ác, không tham dục, không sân hận, không tà kiến gọi là thập thiện); phương pháp tu tập chủ yếu của Giải thoát đạo là ba môn học giới-định-tuệ; và phương pháp tu tập chủ yếu của Bồ-tát đạo là lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Lục độ bao hàm cả ba môn học, ba môn học lại bao hàm cả năm giới và mười điều thiện, cho nên Bồ-tát đạo mới là con đường căn bản của Phật giáo.

Nhưng trong Lục độ lại lấy bố thí làm đầu, như vậy có thể thấy rằng thực hiện Bồ-tát đạo là lấy bố thí làm trọng tâm. Vì muốn độ chúng sanh thì trước tiên cần phải an ủi chúng sanh, làm cho chúng sanh về mặt vật chất cũng như tinh thần đều được an ủi, sau đó họ mới phát sanh thiện cảm đối với bạn, tiếp nhận và tin tưởng vào sự giáo hóa của bạn.

Bố thí phân ra làm ba loại:

 1. Tài thí.

 2. Pháp thí (phương pháp lìa khổ).

 3. Vô úy thí (cho người sợ hãi, khiếp nhược sự khích lệ).

Tài thí thuộc về vật chất, pháp thí và vô úy thí thuộc về tinh thần. Việc bố thí lý tưởng là đều coi trọng cả ba loại. Nhưng, mọi người thông thường rất chật vật trong đời sống hiện tại nên cần được giúp đỡ về vật chất, xa hơn nữa là có nơi nương tựa về tinh thần. Trước tiên phải cho họ ăn no mặc ấm, rồi sau đó mới có thể bàn đến việc hướng dẫn họ theo đuổi đời sống tinh thần. Trong thời cận đại, Cơ đốc giáo thịnh hành ở Trung Quốc, nguyên nhân cũng ở chỗ này. Bất chấp giáo nghĩa của Cơ đốc giáo nông cạn thế nào miễn là có thể cung cấp lợi ích thực tế bằng vật chất cho mọi người thì cũng thành ra chân thật. Ngoài sự dụ dỗ, mê hoặc bằng manh áo miếng cơm ra, họ cũng đã xây dựng rất nhiều bệnh viện và trường học. Mọi người bình thường đâu phải ai cũng là nhà thần học hay nhà triết học mà biết nghiên cứu nội dung giáo nghĩa của họ?! Do đó, một số phần tử Cơ đốc giáo trong đám giáo sĩ truyền đạo có kẻ giả danh lấy tín giáo làm nghề nghiệp. Ða số tín đồ tin theo một cách mù quáng (nhu cầu tôn giáo đích thực của họ là an ủi nhưng vẫn chưa đạt được sự hướng dẫn đúng đắn), còn một số khác thì cho rằng: “Ông say không phải ở rượu”. Trong Phật giáo nói đến việc bố thí, cư sĩ nên dựa vào hàng tăng ni để thực hiện được triệt để hơn. Bởi vì, căn cứ theo luật chế, người xuất gia thì không có tài sản, cũng không được cất giữ tiền bạc, đã không tích trữ của cải thì đối với việc bố thí về vật chất sẽ không có cách gì làm được. Dù rằng tăng ni ngày nay không thấy có mấy ai giữ giới cất giữ tiền bạc được thanh tịnh, song ngoài tài sản công hữu của chùa ra, cũng không đến nỗi có quá nhiều của riêng. Cho nên, người xuất gia chỉ có thể đem Phật pháp bố thí và dùng tinh thần vô úy khích lệ, chứ không thể sử dụng vật chất để cứu tế. Tuy ở trong kinh Phật có dạy: “Công đức bố thí, dùng Phật pháp bố thí là thù thắng hơn cả”, nhưng như ở phần trước đã nói, điều kiện tiên quyết để dẫn dắt chúng sanh thích hợp nhất là dùng vật chất. Còn về việc giáo hóa chúng sanh lìa khổ được vui, tiến đến con đường giải thoát, đó mới là công năng của Phật pháp. Việc này công đức tuy lớn nhưng không phải là phương pháp trực tiếp giải quyết sự nghèo khó trong hiện tại. Hơn nữa, trong hàng xuất gia, những vị có khả năng dùng Phật pháp và tinh thần vô úy bố thí cũng là khá thấp. Chúng ta có thể chứng minh được điều này trong Nguyên thủy thánh điển. Ðệ tử xuất gia thời Phật tại thế thường xuyên theo hầu bên Ngài khoảng chừng một ngàn vị. Những vị ấy đa số đều là đại A-la-hán, ngoài ra phàm thánh tăng ni đương nhiên là còn có rất nhiều. Nhưng trong Tăng đoàn, những vị có khả năng giữ vai trò lãnh đạo thì không quá mười vị. Còn về phương diện hoằng hóa, những vị đạt được thành tựu xuất sắc mà được ghi chép tên hiệu rõ ràng thì tỉ số trên cũng không nhiều lắm. Tuy nhiên, sự ghi chép trong Thánh điển cũng không tránh khỏi có nhiều thiếu sót. Nhưng dù sao, ở phương diện pháp thí thì thực sự các ngài có khả năng đảm nhiệm một vai trò rất lớn, còn tăng ni đời sau đương nhiên càng không cần phải nói nữa. Bởi vì, người xuất gia thì phải lấy việc tu trì đạo giải thoát làm căn bản, làm có thừa sức thì mới có thể bàn đến việc cứu độ chúng sanh.

Còn về cư sĩ, nếu là người thực sự phát tâm tu hành Bồ-tát đạo thì cũng có thể thực hiện được triệt để cả ba pháp thí. Mình có của cải thì dùng vật chất để cứu giúp người nghèo khó, còn mình tinh thông thắng nghĩa của Phật pháp thì dùng để giáo hóa, an ủi, khích lệ chúng sanh.

Do đó, tinh thần đại thừa chân chánh tuy do đại Bồ-tát xuất gia cho đến đức Thế tôn thành lập nhưng người xuất gia phàm phu thông thường thì không thể thể hiện được đầy đủ, chỉ có cư sĩ tại gia phát tâm đại Bồ-đề mới là người thực hành trọn vẹn lý tưởng Bồ-tát đạo.

Ðương nhiên, người cư sĩ lý tưởng ấy được giới thiệu ở phần lịch sử phía trước cũng đã khá rõ ràng, còn cư sĩ bình thường quả thực không dễ dàng gì tạo được hoàn cảnh lý tưởng như vậy. Cư sĩ có tiền của, tuy có thể dùng nhiều vật chất bố thí nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó mà thôi, chứ họ chưa thể thâm đạt được thắng nghĩa của Phật pháp nên không thể dùng Phật pháp để giáo hóa. Còn như họ muốn tiến thêm một bước nữa mong cầu Giải thoát đạo thì việc ấy đã khó lại càng khó hơn (đương nhiên không phải là không được). Vì vậy, họ bố thí nhưng chỉ hạn chế ở việc làm phước nghiệp nhân thiên mà thôi.

Còn như cư sĩ thâm đạt thắng nghĩa Phật pháp, tuy có thể thực hiện được pháp thí nhưng họ đâu phải là bậc đại phú trưởng giả, nên đối với việc bố thí về vật chất cũng chỉ lực bất tòng tâm. Ðại đa số những cư sĩ có chánh tín thì lẩn quẩn giữa đôi đường Nhân thiên đạo và Giải thoát đạo, đã hướng về Giải thoát đạo nhưng lại không có cách thoát khỏi nghiệp báo nhân thiên, thế là đành phải ở trong vòng nghiệp báo của trời người mà mong cầu con đường giải thoát. Và đương nhiên, họ vẫn còn cơ hội, không lâu trong tương lai họ nhất định sẽ đi trên con đường giải thoát, thậm chí trên con đường Bồ-tát đạo chân chính nữa.

 

NHỮNG ÐIỀU KIỆN CƯ SĨ CẦN PHẢI CÓ ^

Phần trên là giảng về người cư sĩ lý tưởng, nhưng cư sĩ lý tưởng là từ trong cư sĩ bình thường sản sinh ra. Họ là tấm gương mẫu mực để cho cư sĩ bình thường noi theo mà thực hành. Vậy người cư sĩ bình thường cần phải có những điều kiện gì?

Trong kinh Tạp A-hàm (tập III, kinh số 927) qui định: “Cư sĩ tại gia cần phải có đủ năm điều kiện, gọi là năm pháp đầy đủ, đó là:

1. Tín đầy đủ: Lòng tin rất quan trọng, nếu không kiến lập lòng tin vững chắc thì mọi vấn đề không cần phải bàn nữa. Ðối với Phật giáo, yêu cầu trước tiên là phải có tín ngưỡng đúng đắn mà trọng tâm của tín ngưỡng chính là Phật pháp. Phật pháp có thể khiến cho chúng ta lìa khổ được vui, do đó nên phải tín ngưỡng. Phật pháp do chính đức Phật nói ra và do chúng Tăng kết tập, lưu truyền, gìn giữ, truyền dạy rộng khắp, vì thế cũng cần phải tín ngưỡng. Hợp lại chính là tín ngưỡng Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Bước vào cửa tín ngưỡng thì phải qui y Tam bảo. Quy y Tam bảo là làm cho toàn thể thân tâm tắm mình trong hào quang và ân đức của Tam bảo một cách vô điều kiện. Sau khi qui y Tam bảo rồi thì phải sống theo sự hướng dẫn của Tam bảo. Mọi người đều quay về nương tựa con đường rộng lớn Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định và tinh tấn tu tập để đạt đến cảnh giới an vui tuyệt đối của chư Phật, chư đại Bồ-tát.

2. Giới đầy đủ: Chủ yếu là chỉ cho năm giới: không giết hại (không giết hại chúng sanh mà ngược lại phải ăn chay và phóng sanh), không trộm cướp, không tà dâm (ngoài vợ hay chồng ra, không được cùng người khác phái làm việc tà hạnh), không nói dối, không uống rượu. Năm giới vốn là phương pháp tu tập căn bản mà hàng đệ tử qui y Tam bảo cần phải tu trì. Qui y Tam bảo và thọ trì năm giới, hai tầng ý nghĩa này không nên phân ra làm hai giai đoạn. Nếu qui y Tam bảo mà không thọ trì năm giới thì cũng giống như chỉ đến trường đăng ký tên vào sổ mà không thực sự đến lớp học tập, đó chỉ là gieo trồng thiện căn chứ không đạt được lợi ích thực tế. Năm giới, mười điều thiện là nghiệp nhân làm trời, làm người trong Nhân thiên đạo. Nếu không thể thọ trì năm giới thì ngay cả quả vị làm trời, làm người trong Nhân thiên đạo còn không giữ được, vậy làm sao có thể giải thoát sanh tử?

Nếu muốn hướng đến đời sống xuất gia mà vì hoàn cảnh hiện tại không cho phép thì điều đó cũng không có gì trở ngại. Ngoài năm giới ra, vào sáu ngày trai của mỗi tháng âm lịch (mùng 8, 14, 15, 23 và hai ngày cuối cùng trong tháng) có thể lấy một ngày một đêm làm kỳ hạn để thọ trì Bát quan trai giới. Gọi rằng Bát quan trai giới là chỉ cho:

1. Không giết hại.

2. Không trôïm cướp.

3. Không dâm dục (trong một ngày một đêm không được cùng với người khác phái làm việc phi tịnh hạnh).

4. Không nói dối.

5. Không uống rượu.

6. Không đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, không thoa ướp dầu thơm vào mình, không được hát xướng nhảy múa, không được cố ý xem nghe.

7. Không ngồi nằm giường cao rộng lớn.

8. Không ăn phi thời (tục gọi là ăn ngọ, sau quá nửa ngày, chỉ được uống nước chứ không được ăn).

Nếu cư sĩ tu tập Bồ-tát đạo thì ngoài ra có thể thọ thêm giới Bồ-tát. Việc này tuy không phải là qui định trong kinh A-hàm nhưng trong Phật giáo đại thừa, quả thực cư sĩ cần phải thọ trì giới Bồ-tát. Vì việc thọ giới giống như tuyên thệ vậy, hơn nữa ý nghĩa của sự tuyên thệ càng trang nghiêm thì hiệu dụng của sự tuyên thệ càng rộng lớn. Tác dụng của giới chính là liều thuốc chống mục nát, nó chống lại sức công phá của những tánh xấu ác.

3. Thí đầy đủ: Nội dung của bố thí là đem lòng tôn kính phụng dưỡng cha mẹ, sư trưởng, cúng dường Tam bảo; đem lòng bi mẫn cứu giúp những người cô quả, nghèo khó, bệnh tật và làm việc bố thí công ích tạo nên phước lợi cho quần chúng xã hội.

4. Văn đầy đủ: Trì giới, bố thí là để tô bồi phước đức, còn nếu muốn đạt được sự thấy biết đúng đắn về Phật pháp thì đồng thời phải như lý thực hành theo lời Phật dạy. Việc ấy cần phải bắt đầu từ việc nghe pháp. Xem kinh cũng là một hình thức nghe pháp nhưng ý nghĩa của kinh rất sâu xa, rộng lớn, nên cần phải luôn luôn thân cận những bậc thiện tri thức (lui tới chùa tháp, chuyên tâm nghe pháp) để được khai thị, dạy dỗ. Ðây chính là mục đích lớn nhất để người cư sĩ đến chùa viện.

5. Huệ đầy đủ: Ðây chính là sự hiểu biết hoặc lãnh ngộ về chân đế (chân lý tuyệt đối), là một loại kinh nghiệm thực chứng do nghe pháp và tinh tấn thực hành mà đạt được. Vào thời đức Phật, mỗi một lần Ngài thuyết pháp thì có rất nhiều người nhờ nghe pháp mà thấy được chân lý, chứng đắc sơ quả. Ðó chính là điển hình của huệ đầy đủ.

 

SINH HOẠT GIA ÐÌNH CỦA CƯ SĨ ^

Một người cư sĩ, tuy đã qui y Tam bảo rồi nhưng người ấy vẫn là người thế tục tại gia. Mà đã là người tại gia thì cần phải hiểu rõ những chuẩn mực trong sinh hoạt của người thế tục để cùng chung sống, hơn nữa người cư sĩ cần phải sống thật tích cực, thật hài hòa, thật hoàn mỹ, thật hăng say, tràn đầy sinh khí hơn so với cuộc sống của người thế tục không tin Phật. Chỉ có như thế mới có thể làm cho chính mình được an vui và khiến cho người khác kính ngưỡng, đồng thời tác động tạo cho mọi người cảm giác vui vẻ khi tiếp xúc với mình.

Việc cần thiết nhất trong đời sống của người tại gia là xây dựng gia đình an vui, hòa thuận. Người cư sĩ đối với cha mẹ phải hết lòng hiếu kính, đối với con cái phải hết mực yêu thương. Kính trọng và nuôi dưỡng, dạy bảo cùng chăm sóc, người cư sĩ phải làm hết khả năng của mình mới có thể hoàn thành trách nhiệm đối với cha mẹ và con cái. Vợ chồng là trọng tâm của gia đình, giữa hai người nhất định cần phải chung thuỷ, phải kính yêu chăm sóc lẫn nhau. Một khi tình cảm vợ chồng hòa thuận, thì dù cho đời sống có thô sơ đạm bạc, vẫn là một gia đình đáng yêu.

Gia đình an vui hòa thuận chủ yếu được xây dựng trên cơ sở tình cảm vợ chồng; hạnh phúc gia đình chủ yếu dựa vào sự cân bằng về thu chi kinh tế. Cư sĩ cần phải tùy theo khả năng của mình mà chọn lấy nghề nghiệp chính đáng để làm phương tiện mưu cầu cuộc sống. Ngoại trừ những nghề xấu ác như: nghề đồ tể (kể cả nghề đánh cá cùng quán nhậu .v.v...), nghề ăn trộm (bao hàm cả nghề đánh bạc và buôn lậu .v.v...), nghề mại dâm (bao quát cả quán rượu, vũ trường, kỹ viện...) .v.v... còn các nghề khác hoặc nông, hoặc công, hoặc buôn bán, hoặc công chức .v.v... thảy đều có thể lựa chọn được. Khi có thu nhập rồi thì cần phải lường mức thu nhập mà chi tiêu. Trong kinh Thiện Sanh, đức Phật phân chia sự thu nhập của cư sĩ thành bốn phần sử dụng: một phần dùng để chi tiêu trong sinh hoạt gia đình; một phần dùng để làm vốn kinh doanh; một phần để dự trữ trong nhà; một phần cho người trồng trọt, người đi buôn vay để sanh ra lợi tức. Cư sĩ dùng cách phân chia này để làm kế hoạch kinh tế cho gia đình quả thực rất an toàn và cũng rất là khoa học.

Nhưng, tác dụng của kinh tế là để tạo nên đời sống hạnh phúc, nhằm đạt đến mục đích đạo đức. Vì vậy, đức Phật thường quở trách những người keo kiệt bủn xỉn thu nhập vượt quá chi tiêu, họ được ví như là “chó chết đói” (kẻ hám tiền, hám lợi), và Ngài cũng cực lực chỉ trích những người chi tiêu vượt quá thu nhập, họ được ví như quả Ưu-đàm-bát1 không có hột (tiêu xài quá mức lỗ cả vốn thì không thể đầu tư vào những mùa sau, như quả Ưu đàm bát không có hột nên không thể mọc ra cây mới được).

Trước tiên, người cư sĩ cần phải củng cố cơ sở kinh tế gia đình, rồi sau đó, ngoài nhu cầu sinh hoạt bình thường của gia đình ra, nếu như cảm thấy còn có khả năng thì hãy đem làm việc phước đức như cúng dường Tam bảo và đóng góp vào những công cuộc từ thiện công ích. Do đó, trong kinh Tạp A-hàm cũng nói, tài sản của cư sĩ nên phân ra làm ba loại công dụng: một phần để phụng dưỡng cha mẹ; một phần để nuôi dưỡng vợ con, cho đến giúp đỡ bà con, bạn bè, tôi tớ (người làm công, kẻ giúp việc.v.v...); một phần để cúng dường Sa môn, Bà-la-môn (Tam bảo cũng ở trong đó).

Một người cư sĩ lẽ đương nhiên phải luôn luôn gần gũi Tam bảo, nhưng nếu bỏ mặc công việc gia đình, vứt bỏ trách nhiệm đối với cha mẹ,vợ con để thường xuyên gần gũi Tam bảo thì đó chẳng phải là điều Phật giáo mong muốn; trừ phi người ấy đã hết trách nhiệm đối với gia đình. Một người cư sĩ cần phải cúng dường Tam bảo một cách vô điều kiện nhưng nếu bớt xén nhu cầu của cha mẹ, cắt giảm dinh dưỡng của con cái, dè xẻn sinh hoạt phí của chồng hoặc vợ, hạ thấp mức lương của người giúp việc .v.v... để đem cúng dường Tam bảo thì đó cũng không phải là điều Phật giáo kỳ vọng. Trừ phi được sự đồng ý của những thành viên trong gia đình, hoặc giả là mỗi người tự động chi ra. Bởi vì, một người cư sĩ không thể vì tin theo Phật mà hủy hoại sự an vui, hòa thuận của gia đình, ngược lại cần phải nương vào nhân duyên đã tin theo Phật mà làm cho gia đình càng trở nên hòa thuận vui vẻ hơn. Nếu không giải thích cho người nhà của bạn hiểu rõ thì vì bất mãn bạn đã bỏ mặc gia đình, chỉ quan tâm đến Tam bảo, nên họ không những sanh ác cảm đối với bạn mà còn liên kết với nhau sanh ra ác cảm đối với Phật giáo nữa. Như vậy, trong khi bạn vốn rất cung kính Tam bảo nhưng hóa ra lại khiến cho người thân của bạn trở thành người chống đối Tam bảo, ấy là điều hết sức bất hạnh. Phần trước tôi đã nói: cư sĩ là người thực hành lý tưởng Bồ-tát đạo mà Bồ-tát thì lấy việc cứu độ chúng sanh làm chính yếu. Nhưng nay, bạn bị chính người thân của mình cự tuyệt, đối với Tam bảo còn xa lánh thì nói gì đến việc cứu độ chúng sanh?!


SINH HOẠT XÃ HỘI CỦA CƯ SĨ ^

Có người cho rằng: nhân loại là động vật của xã hội, cho nên mọi sinh hoạt của con người không thể thoát ly khỏi xã hội. Ðịnh nghĩa của xã hội là “đoàn thể có tổ chức”. Vì thế, xã hội của chúng ta rất lớn có thể bao quát toàn thể nhân loại. Một xã hội được cấu thành ít nhất là từ hai gia đình trở lên.

Do đó, gia đình là cơ sở của xã hội, xã hội là sự mở rộng của gia đình. Gia đình được kết hợp ít nhất là hai người, vợ và chồng, còn xã hội có thể tổ chức rộng khắp toàn nhân loại, thậm chí vào thế kỷ không gian trong tương lai nhân loại có thể sẽ khái quát được bên trong các vì sao nữa. Vì vậy, hàm nghĩa của xã hội là không bị hạn chế bởi không gian và thời gian.

Nói theo lập trường của Phật giáo thì phạm vi sinh hoạt của một người cư sĩ tại gia sâu rộng hơn nhiều so với một tăng sĩ xuất gia, và sự hệ thuộc trong xã hội của vị ấy cũng phức tạp hơn nhiều so với tăng lữ xuất gia. Cho nên, bàn đến vấn đề sinh hoạt xã hội của cư sĩ là điều rất cần thiết. Một người cư sĩ phải đảm trách rất nhiều bổn phận trong gia đình: đối với cha mẹ là bổn phận làm con; đối với con cái thì giữ vai trò làm cha làm mẹ; đối với em út thì làm anh làm chị, đối với anh chị thì lại là em; đối với lứa đôi tức là chồng, là vợ; đối với cha mẹ của cha mẹ, con cái của con cái, cho đến đối với họ hàng, bà con .v.v... đều tạo thành mỗi mỗi thân phận khác nhau. Từ một gia đình khuếch đại lên thành một gia tộc, lại mở rộng thêm nữa thành xã hội vượt ra ngoài gia tộc: đối với thầy giáo là học trò, đối với học trò thì lại là thầy giáo; đối với cấp trên là thuộc hạ, đối với thuộc hạ thì lại là cấp trên; đối với chính phủ là người dân; đối với đoàn thể là đoàn viên, đảng viên, xã viên, hội viên; còn có bạn bè của bạn bè, quan hệ giữa con người với con người .v.v... đều là nhân tố hình thành hình thái xã hội. Một người cư sĩ nhất định phải sống trong mối quan hệ xã hội phức tạp như vậy, và một người thực hành lý tưởng Bồ-tát đạo cũng rất vui lòng sống chung trong mối quan hệ xã hội phức tạp ấy. Bởi vì có quan hệ rồi mới có cơ hội tiếp xúc, có cơ hội tiếp xúc rồi mới có thể hướng dẫn mọi người qui hướng về con đường giải thoát duy nhất nơi Tam bảo.

Nhưng muốn độ chúng sanh mà chỉ dựa vào tinh thần cuồng nhiệt tôn giáo thôi thì chưa đủ, thậm chí chẳng được ích lợi gì. Sự cuồng nhiệt tôn giáo đương nhiên có thể khiến cho mọi người phát sanh dũng khí dám xông vào nơi dầu sôi lửa bỏng, đi tuyên truyền, biện luận, xông pha nơi trận địa, chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì đạo .v.v... nhưng phương sách ấy nhất định không thể duy trì được lâu dài, cũng quyết không thể tạo ra ảnh hưởng tốt đẹp sâu xa được. Nếu có thì cũng chỉ là bắt chước theo tinh thần cuồng nhiệt của Cơ đốc giáo và thành ra bạo lực cách mạng của chủ nghĩa quân phiệt mà thôi.

Phật giáo thì lấy việc phục vụ xã hội làm biểu trưng của Bồ-tát đạo. Trong vô số kiếp quá khứ của mình, đức Phật Ðã dùng mọi thân phận, mọi hình thái, mọi phương thức để đi sâu vào trong mọi chủng tộc, mọi loài, mọi quần thể và thảy đều ở địa vị làm vua. Gọi rằng vua chính là lãnh tụ, nhưng những địa vị lãnh tụ ấy không phải dựa vào vũ lực để cưỡng đoạt mà chính là dùng giá trị đạo đức phục vụ đại chúng để giáo hóa và kêu gọi mà đạt được. Bởi vì, chỉ có người thực sự vì đại chúng mưu cầu hạnh phúc mới đủ tư cách làm lãnh tụ mọi người, cũng như được mọi người hướng về và thành thực cảm phục. Bằng không, đó không phải là vua mà là giặc, là kẻ trộm, là tiễu phỉ, là kẻ buôn lậu!

Do đó, một người cư sĩ lý tưởng, tuy không nhất thiết là ở bất cứ trường hợp nào cũng phải xuất hiện với vai trò lãnh đạo nhưng ít ra cũng được mọi người hoan nghênh và tôn trọng. Thật đáng tiếc! Theo chỗ tôi biết, có nhiều cư sĩ ngay sau khi họ tin Phật, học Phật thì xa lánh, lạnh nhạt, cách ly với xã hội, đến nỗi bị mọi người xem là cô độc, thờ ơ, quái dị, không hợp tình lý. Tất nhiên, đó là do lòng thiết tha mộ đạo của họ. Họ một lòng hướng về đời sống xuất gia của Giải thoát đạo; và vì thế mới dần dần tách rời, không còn gần gũi với quan hệ xã hội nữa. Nhưng, tôi muốn bảo cho họ biết rằng: một người cư sĩ không nên có thái độ này, kể cả cư sĩ tu học đạo cũng không cần phải như thế. Dù là người đã xuất gia, đối với danh lợi vật dục cố nhiên phải lạnh nhạt, nhưng đối với những việc công ích xã hội thì vẫn phải nhiệt tình. Trên thực tế, trong lịch sử Phật giáo thường có những vị thành tựu đại nghiệp, chứng đắc quả vị lớn nhưng đối với quần chúng xã hội thì không có việc gì là không sốt sắng. Sự hăng say ấy chính là tâm bi từ trong tâm Bồ-đề biểu lộ ra. Tin Phật, học Phật là để làm phát khởi tâm Bồ-đề. Cư sĩ sau khi tin Phật, học Phật mà lại đánh mất tâm Bồ-đề thì có khác nào đi ngược lại với đạo đâu? Mức độ thấp nhất là một cư sĩ không nên làm đối tượng khiến cho mọi người chán ghét. Nếu không như thế thì đó là do vị ấy chưa làm tròn nghĩa vụ của mình, thậm chí còn làm nhục cả cương vị công tác nữa. Ðã không làm tròn cương vị công tác mà vẫn hưởng thụ sự đãi ngộ và quyền lợi trên cương vị công tác thì đó là một món nợ, là một hành vi tội lỗi, là một sự nhân quả cho tương lai! Ðó hoàn toàn không phải là bản sắc của một người cư sĩ đệ tử Phật. Trên thực tế, mọi người đều có quyền lợi trong sinh hoạt thì tất nhiên cũng phải có nghĩa vụ, dù là người xuất gia cũng không thể ngoại lệ. Bản sắc của một tín đồ Phật giáo là phải làm tròn nghĩa vụ mà ít hưởng quyền lợi mới có thể giành được sự quí mến của mọi người xung quanh.

Do đó, đức Phật vì muốn thống nhiếp tất cả đoàn thể - xã hội nên Ngài đã thuyết minh ra bốn phương pháp, gọi là Tứ nhiếp pháp. Nhiếp là thống nhiếp và nhiếp thọ, cũng chính là ý nghĩa của sự lãnh đạo hoặc hóa đạo. Tứ nhiếp pháp chính là bốn phương pháp xử thế mà một người lãnh đạo không thể thiếu. Khi một người thực hiện tốt Tứ nhiếp pháp thì người đó sẽ cảm hóa được quần chúng và có thể lãnh đạo được quần chúng nữa. Tứ nhiếp pháp đó là:

   1. Bố thí: Tính trọng yếu của bố thí rất lớn. Phương pháp tu tập của Phật giáo, hễ có liên quan đến nhân quần xã hội thì không thể không chú trọng đến bố thí; mà phương pháp tu tập có quan hệ đến cư sĩ thì cũng không thể không khuyến khích bố thí. Vì vậy cho nên, trong kinh Ưu-bà-tắc giới tuy liệt kê ra Lục độ nhưng ngược lại chỉ đặc biệt chú trọng phát huy một mình bố thí độ mà thôi. Bởi vì chỉ có bố thí mới có thể làm cho sự nghèo giàu của xã hội đạt được sự điều tiết thích hợp, cũng chỉ có bố thí mới thể hiện được cùng tột tinh thần từ bi của Phật giáo. Thông thường, mọi người đều hiểu lầm nghĩa gốc của chữ “bố thí” rồi cho rằng tên gọi “thí chủ” là từ chuyên dùng nơi chùa chiền để chỉ cho cư sĩ. Trên thực tế, vì Tam bảo bỏ tiền của ra, tốt nhất nên gọi là cung kính cúng dường; còn cứu giúp cho kẻ bần cùng, bịnh hoạn, bơ vơ khốn khó thì mới thực sự đúng với ý nghĩa của chữ “bố thí”. Cư sĩ đem tiền của ra bố thí thì được gọi là “thí chủ”, còn tăng ni dùng Phật pháp để bố thí thì lẽ nào không phải là “thí chủ”? Kể ra cũng không thể trách! Tăng ni thời nay thường hay khuyến khích hàng cư sĩ đóng góp tiền của để tổ chức sự nghiệp công ích Phật giáo, nhưng thực hiện chưa được là bao. Ðây là vấn đề mà Phật giáo nước nhà cần phải lưu tâm thực hiện.

Ðương nhiên, bố thí là một loại phước nghiệp. Ðức Phật phân chia đối tượng của phước nghiệp ra làm tám loại, gọi là Bát phước điền. Ðó chính là: chư Phật, Thánh nhân (là bậc thánh của tiểu thừa, đại thừa chưa chứng quả vị Phật. Ðối với tiểu thừa thì từ sơ quả trở lên; còn đối với đại thừa thì từ sơ địa trở lên), Hòa thượng (thân giáo sư - là chỉ cho người chủ trì khi người xuất gia thọ giới, cư sĩ không có Hòa thượng), A-xà-lê (quỹ phạm sư- là thầy dạy học, thầy y chỉ, thầy truyền giới, thầy qui y ...), chúng Tăng, cha, me và bệnh nhân.

Trong tám loại phước điền này, điều quan trọng trước tiên mà cư sĩ tại gia cần phải làm là phụng dưỡng cha mẹ, thứ đến là cúng dường chư Phật, Thánh nhân... Không phụng dưỡng cha mẹ mà đem cúng dường Tam bảo, đó không phải là điều mà đức Phật chỉ dạy. Nhưng trong kinh Phạm võng lại dạy: “Nếu Phật tử gặp người bệnh tật thì phải cung kính cúng dường như cúng dường chư Phật vậy. Trong tám phước điền, chăm sóc người bệnh là phước điền bậc nhất”. Ở đây, đức Phật khuyến khích mọi người nên làm nhiều việc từ thiện. Cúng dường Tam bảo đương nhiên là cần thiết nhưng cứu giúp người nghèo khó, bệnh tật liên quan đến sự sống còn thì lại là điều vô cùng khẩn thiết. Lúc bình thường, ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ ra, đem cúng dường Tam bảo là bậc nhất; gặp tình huống đặc biệt, nếu có khả năng thì nên đem giúp nơi nguy, đỡ đần nơi khó. Việc này hàng cư sĩ nhất định cần phải hiểu thật tường tận.

2. Ái ngữ: Ái ngữ không phải là lời nói luyến ái, cũng không phải là a dua nịnh nọt mà là dùng thái độ vui vẻ hài hòa để cùng người khác đàm luận, đây là do từ nơi tâm bi tự nhiên biểu lộ ra. Bởi vì, Bồ-tát xem tất cả chúng sanh đều là cốt nhục thân thiết của mình, đều là bậc đại thiện tri thức, đều là những người sẽ thành Phật trong tương lai cho nên lòng chỉ có kính trọng, thương yêu họ, mà còn sợ rằng như thế vẫn chưa đủ. Sở dĩ, Phật giáo chủ trương ái ngữ không chỉ là kỹ xảo nói chuyện mà còn là một cung cách nói chuyện chân thành tha thiết, dịu dàng, hòa nhã, cảm động lòng người. Ðây chính là một sự tự nhiên thoải mái, một thứ trí tuệ, một sự trau dồi đạt được sau khi áp dụng lời Phật dạy vào những việc làm lợi ích thực tế. Chẳng hạn như: thăm hỏi, an ủi những người gặp tai nạn, khổ đau; khích lệ, động viên những người bị thất bại; khen ngợi những người thành công; khuyên bảo, khuyến khích những người tà kiến mê lầm ( lúc cần thiết có thể dùng lời quở trách để đạt được mục đích khuyến khích).v.v... Một phong cách nói chuyện hài hòa và chân thành như vậy thế nào cũng được mọi người hoan nghênh, và còn có thể tạo thành một xã hội vui vẻ, hòa đồng, tiến bộ, an ninh nữa. Chúng ta biết rằng, người hòa giải tranh chấp khéo léo nhất cũng chính là người làm lãnh đạo thích hợp nhất, ít ra cũng được mọi người hoan nghênh. Nếu chẳng may gặp phải người không hiểu nghĩa lý thì cũng đành phải chiều theo họ vậy, không cần phải miễn cưỡng làm gì.

3. Lợi hành: Lợi hành là chỉ cho sự mưu cầu và xúc tiến vì lợi ích chung của đoàn thể, nói theo danh từ hiện đại chính là phục vụ cho xã hội. Thời đại bây giờ, quan chức do dân bầu ra. Lúc ra tranh cử, ai cũng đều nói rằng phục vụ quốc gia, phục vụ nhân dân, phục vụ quê hương .v.v... Trên thực tế cũng thực sự cần phải như vậy. Chúng ta ở trong bất kỳ một đoàn thể nào cũng đều có thể thể nghiệm được. Phàm người nào thường có ý muốn làm lợi ích cho đoàn thể và giúp đỡ mọi người giải quyết khó khăn thì cũng chính là người được quần chúng hướng về nhất. Một người lãnh tụ vĩ đại tất nhiên phải có nhiều cống hiến - phục vụ cho xã hội.

4. Ðồng sự: Ðồng sự là tự mình phải hòa nhập vào mọi nơi, mọi hoàn cảnh khác nhau trong xã hội và là người sở hữu chung của toàn xã hội, tùy theo nhu cầu của xã hội mà thay đổi chính mình để trở thành một con người hữu ích cho xã hội. Trong lúc thực hành hạnh Bồ-tát, đức Phật Thích ca mâu ni đã tùy loại mà ứng hóa và Bồ-tát Quán Thế Âm có ba mươi hai ứng thân thị hiện khắp nơi để cứu độ chúng sanh, đó là những hình ảnh điển hình tiêu biểu cho đồng sự. Nhưng, tự mình hòa nhập vào xã hội hoàn toàn không có nghĩa chạy theo sự cám dỗ của xã hội mà đánh mất chính mình. Mục đích hòa nhập vào xã hội là để lãnh đạo và cảm hóa xã hội. Do đó mà thiền sư Ðạo Nguyên người Nhật Bản đã dựa vào định nghĩa ấy để giải thích đồng sự như sau: “Trước tiên, mình phải giống với mọi người, sau đó mới có thể khiến mọi người giống mình”. (Chánh pháp nhãn tạng, quyển Tứ nhiếp pháp).

Tóm lại, Tứ nhiếp pháp là phương pháp sống không thể thiếu trong sinh hoạt xã hội, nhỏ thì một gia đình, lớn thì toàn nhân loại, hễ có bao nhiêu khả năng thực hiện thì nhất định có bấy nhiêu giá trị hiệu quả. Mỗi cư sĩ cần phải tùy theo thân phận, tùy theo năng lực của mình mà thực hiện mới không bị người ngoại đạo hiểu lầm, cho rằng tín đồ Phật giáo là kẻ tiêu cực lánh đời. Tiếp đến, người cư sĩ phải tích cực giáo hóa, hướng dẫn mọi người bỏ ác hành thiện để góp phần tịnh hóa xã hội của chúng ta.


  SINH HOẠT TÔN GIÁO CỦA CƯ SĨ ^

Theo Nguyên thủy thánh điển, như thấy trong A-hàm bộ và Luật bộ thì sinh hoạt tôn giáo của cư sĩ cũng chính là tam quy, ngũ giới, Bát chánh đạo, Năm pháp đầy đủ, tứ nhiếp pháp v.v..., và chỗ khác nhau giữa sinh hoạt của cư sĩ với người thế tục bình thường cũng được biểu hiện từ sự thực hành theo những phương pháp này. Những phương pháp này đã được giảng qua ở phần trước.

Chỗ chưa giảng là vấn đề tu trì Giải thoát đạo nhưng Giải thoát đạo thì không tách rời giới-định-tuệ. Vấn đề này có thể tham khảo riêng trong “Thế nào là giải thoát?” (cùng một tác giả), thì sẽ có được một khái niệm đại cương. Ở đây không tiện nói lại nữa.

Nhưng, trong sinh hoạt hằng ngày, người cư sĩ mỗi ngày cần phải trích ra một khoảng thời gian tối thiểu để dành toàn bộ thân tâm cho tín ngưỡng của mình. Nếu có thể qui định được mức thời gian nhất định thì càng tốt, ít nhất mỗi ngày không được dưới hai lần. Khoảng thời gian này là dùng để tu tập. Người cư sĩ nên phối hợp hoàn cảnh sinh hoạt của mình với việc lạy Phật, tĩnh tọa, tụng kinh, niệm Phật (nếu hoàn cảnh ồn ào thì có thể quán tưởng, mặc niệm), sám hối (quán xét lại chính mình một cách toàn diện, chí thành phát lồ sám hối, đồng thời cảm ngưỡng về ân đức của Tam bảo), trì chú v.v... Hãy chọn ra môït vài phương pháp thích hợp với mình để làm pháp môn tu tập hằng ngày. Tuy nhiên, riêng về mục sám hối thì nhất định không được bỏ qua. Chỉ có ở trong sự sám hối không gián đoạn mới có thể “cải vãng tu lai” (sửa đổi những lỗi lầm đã qua, tiến tu những pháp lành trong hiện tại) và không ngừng tiến bước trên con đường hướng đến thành Phật. Chỉ có ngày ngày sống trong sự nhận thức mới “biết ngày nay đúng mà ngày trước sai”, mới là người có khả năng thay đổi phong cách sống và có nhiều hy vọng mới, phát hiện mới nhất. Kinh nghiệm tôn giáo của người xưa thường thường cũng từ trong sự sám hối ấy mà đạt được. Sám hối không cần phải theo một nghi thức nhất định, quì, ngồi, đứng... đều có thể được. Nhưng mà, trong khi theo thời khóa tu tập cần phải buông bỏ mọi duyên, một lòng hướng về nương tựa tự tâm. Mặc dù mỗi lần chỉ vỏn vẹn vài phút nhưng hành trì lâu dài, ngày một tăng thêm, ắt sẽ có hiệu nghiệm khả quan, ít nhất đối với phạm vi của cuộc sống nhất định cũng sẽ được thanh thản, an lạc. Ðây cũng chính là công phu thực tiễn của Giải thoát đạo.

Nếu thời cơ nhân duyên cho phép thì các cư sĩ nên tham gia nhiều vào những pháp hội trường kỳ được mở ra ở các tự viện. Nhưng, tham gia pháp hội cần phải thật chuyên cần, nếu bữa được bữa mất thì kết quả sẽ không được là bao.

Là cư sĩ, nếu muốn ăn chay, điều đó rất tốt nhưng trước tiên bạn phải được người nhà nhất trí và thông cảm. Sáu ngày trai trong mỗi tháng, nếu muốn thọ trì Bát quan trai giới thì bạn phải được sự đồng ý của chồng hoặc vợ của bạn. Bằng không, vì học Phật mà khiến cho gia đình mất đi hòa khí, điều đó là không nên.

Tóm lại, cư sĩ là người thực hành cương vị Bồ-tát đạo thì trước tiên cần phải thay đổi phong cách của chính mình, thứ đến Phật hóa gia đình và sau nữa là Phật hóa xã hội. Là cư sĩ thì phải ủng hộ Tam bảo, nhất quyết không thể hủy báng Tam bảo.


1 Tam quan: Ba vấn đề hay ba câu thoại đầu trong Thiền tông, có hai loại: 1- Lăng nghiêm tam quan; 2- Hoàng long tam quan.

1 Ưu-đàm-bát: Tức là cây Bánh mì, quả của nó hình tròn giống như quả mít, nhưng không có hột. Tiếng Anh là: Bread fruit tree; tên khoa học là: Artorcarpus communis; hoặc Artorcarpus-incisa. Sống ở quần đảo Pha-lị-ni Tây-á (polynesia) trung nam Thái-bình-dương. Quả của nó khi nướng lên giống như bánh mì vậy, dùng làm thức ăn. (quốc tế Anh-Hán đại từ điển). Người Việt-nam gọi là cây Sa-kê.     

--- o0o ---

 

Mục Lục Pháp Tạng- 20

 

--- o0o ---

Trình bày: Linh Thoại

Cập nhật: 1-4-2004

 

Webmaster: quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Phật Học Cơ Bản

Đầu trang

 

Biên tập nội dung:  Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:  
quangduc@quangduc.com