Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

 Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Học Cơ Bản


... ... .

 

 

THẾ GIỚI CUỘC SỐNG THĂNG HOA

 

Diễn giảng: Ðại sư Tinh Vân.

Việt dịch: Thích Hạnh Minh.

 

---o0o---

 

IV. Từ trong tình người trái nghịch nhìn qua thế giới thiền.

Thiền sư Hoàng Bá28 đời nhà Ðường xây dựng một ngôi chùa rất đẹp. Khi sắp đến ngày lạc thành, Ngài thỉnh thiền sư Hoằng Tán29 là một thư pháp gia nổi tiếng đương thời đến viết cho ngài bốn chữ "Ðệ nhất nghĩa đế". Khi ngài Hoằng Tán viết xong bản thứ nhất, ngài Hoàng Bá cảm thấy không hài lòng nên yêu cầu ngài Hoằng Tán viết lại; viết lại lần thứ hai cũng bị ngài Hoàng Bá bác bỏ nữa, cứ như thế viết liên tục không ngừng đã tám mươi bốn bản mà vẫn chưa có được một bản nào đạt yêu cầu. Ngài Hoằng Tán mồ hôi nhễ nhại, thân tâm đều đã thấm mệt. Vừa may lúc ấy bên ngoài có khách đến thăm nên ngài Hoàng Bá phải ra ngoài tiếp khách. Ngài Hoằng Tán suy nghĩ: đường đường là một đại thư pháp gia, vậy mà bất lực như thế, ngay cả bốn chữ "Ðệ nhất nghĩa đế" cũng viết không được đẹp. Ngài bèn cầm bút lên, thong thả viết lại một lần nữa, lần này thì thành công một cách tự nhiên, rất hoàn hảo. Ngài Hoàng Bá tiếp khách xong đi vào, trông thấy bốn chữ “ Ðệ nhất nghĩa đế” đặt trên bàn, nét bút hùng hồn rất có thần như thế, trong lòng vô cùng khâm phục, tán thán:

-Ðẹp thật! Bút pháp thần diệu vô cùng.

Vì thiền sư Hoàng Bá đứng nhìn chằm chằm, ánh mắt theo dõi chòng chọc không rời khiến cho ngài Hoằng Tán trong lòng e ngại, lo lắng nên không thể trổ hết tài năng, múa bút tự nhiên như ý được. Nhưng cũng chính nhờ sự bức bách của ngài Hoàng Bá, như thủ đoạn "dồn vào chỗ chết mới phát sinh" rất quen thuộc của thiền, bức bách đến cùng ngõ cụt, thân tâm như rơi xuống đáy vực, đã làm phát khởi cảm hứng nơi ngài Hoằng Tán. Giống như giao long vào trong đầm mới có thể khởi gió nổi sóng. Ðôi khi tình người trông có vẻ trái nghịch lại chính là đại cơ đại dụng của thiền.

Thiền sư Tiên Nhai30là một nhà thư họa nổi tiếng. Nhân một lần có một vị tín đồ tổ chức lễ mừng thọ, thỉnh Ngài đến đề chữ và ban đôi lời chúc phúc để được may mắn. Ngài bèn cầm cây bút lớn như cái rui nhà của mình lên, ngay tại chỗ múa bút viết sáu chữ: "Cha chết, con chết, cháu chết". Vị viên ngoại nọ trông thấy thất kinh, nét mặt đầy giận dữ trách:

-Cái lão Hòa thượng này thật là... Hôm nay là giờ lành ngày tốt, tôi tổ chức lễ mừng thọ, mời Ngài đến ban lời tốt lành, cớ sao lời tốt lành Ngài không nói mà lại nói toàn những chuyện rủi ro như thế?

Thiền sư Tiên Nhai trả lời một cách dõng dạc đầy lý lẽ rằng:

-Câu này rất may mắn như ý muốn đấy chứ! Cha trăm tuổi chết rồi mới đến lượt con cái chết, con cái trăm tuổi chết rồi tiếp đến cháu mới chết, đây không phải lớn nhỏ có thứ tự, sống chết theo thời gian ư? Lẽ nào ông lại muốn người tóc bạc đưa tiễn kẻ xuân xanh, con cháu chết trước ông bà, để đến lúc già nua hiu quanh, hậu sự thê lương sao?

Tư tưởng, hành vi của các thiền sư đều do từ trong cảnh giới chứng ngộ thiền biểu lộ ra. Nếu chúng ta căn cứ vào kiến thức thế tục để đánh giá về việc làm, lời nói, tiếng cười trái nghịch thường tình của các thiền sư thì chúng ta càng không thể thấy được chân lý của thiền. Thiền là vứt bỏ mọi quan niệm khuôn mẫu, là chú ngựa hoang thoát khỏi sự kiềm chế của dây cương, độc đáo giữa bầu trời xanh bao la vô tận. Thiền thường lấy vô lý đối đãi với hữu lý, vô tình đối đãi với hữu tình nhằm để hiển bày trí tuệ thần kỳ tuyệt diệu và lòng từ bi thâm trầm uẩn súc của thiền sư.

Thiền sư Huyền Sa Sư Bị31 một hôm thượng đường khai thị cho hàng môn đệ:

-Có rất nhiều bậc trưởng lão kỳ túc trong Phật môn hỏi ta rằng:“Trong lúc tiếp ứng quần cơ hóa độ chúng sanh, nếu gặp phải ba hạng người mù, điếc, câm thì phải làm thế nào để giáo hóa họ?” Người mù - mắt không còn trông thấy nữa - các vị giơ chùy lên hay dựng đứng phất trần thì người ấy cũng chẳng hay biết gì; người điếc - lỗ tai bị nghễnh ngãng - các vị cùng người ấy nói chuyện nhưng người ấy không nghe được ngôn ngữ tam muôïi; người câm - cổ họng khản đặc - các vị gọi, người ấy đáp lại nhưng nói không nên lời. Các vị có diệu pháp gì có thể hóa độ ba hạng người này không? Nếu các vị không nghĩ ra được biện pháp nào tối ưu để giáo hóa ba hạng người này thì Phật pháp cũng chẳng có gì linh diệu cả.

Ðại chúng nhìn tôi, tôi nhìn đại chúng, trố mắt đớ lưỡi, nói không nên lời. Nhưng trong hội ấy có một vị tăng Vân Thủy32 đem đoạn công án này đến thỉnh giáo thiền sư Vân Môn33. Thiền sư Vân Môn nghe xong, đột nhiên bảo vị tăng Vân Thủy ấy:

 -Ngươi  đến thỉnh giáo với ta mà sao không lễ bái hả?

Vị tăng Vân Thủy nghe thế, bèn cúi lạy ngay một lạy, khi ngẩng đầu lên thì trông thấy thiền sư Vân Môn đang cầm gậy nhằm ngay đầu đánh xuống. Vị tăng Vân Thủy thất kinh vội vàng lui tránh ra sau. Ngài Vân Môn thấy thế, cười ha hả nói:

-Ngươi hoàn toàn không mù mắt mà! Nào, hãy bước lên phía trước !

Vị tăng Vân Thủy y lời bước lên phía trước, Vân Môn lại nói tiếp:

-Tai ngươi cũng chẳng điếc! Thế nào, ý tứ trong ấy ngươi hiểu rồi chứ ?

Vị tăng Vân Thủy nghe thiền sư Vân Môn hỏi thế, buộc miệng trả lời:

-Học nhân không hiểu.

-Chà ! Ngươi cũng đâu có câm!

Vị tăng Vân Thủy nhân câu nói này mà được tỏ ngộ.

Ở trên đời có nhiều bịnh rất kỳ đặc: có mắt mà không thể nhìn thấy, có tai nhưng không thể nghe, có miệng nhưng không thể nói nên buộc thiền sư phải sử dụng loại thủ đoạn sấm chớp thình lình như sét đánh ngang tai này; là thanh gươm cắt đứt mầm tri thức vọng chấp phân biệt và các dòng tư tưởng luyến ái, hận thù, tham lam, độc ác v.v... đem lại cho chúng ta một đời sống thanh tịnh điềm nhiên siêu thoát.

Ngày xưa có  một vị xuất gia lúc ngủ luôn luôn bỏ cửa trống. Một đêm nọ có kẻ trộm đột nhập vào chùa ăn trộm. Tên trộm lục rương mở tủ, tìm tòi sục sạo hết bên này đến bên kia nhưng không tìm được vật gì đáng giá cả, vì thế muốn bỏ đi. Ðang lúc tên trộm định mở cửa thoát thân thì vị tăng nằm ngủ trên giường bỗng thình lình thức dậy nói:

-Này, đóng cửa lại rồi hãy đi !

Ấy vậy mà tên trộm kia lại lớn tiếng đáp oang oang lại rằng:

-Ông thật là lười biếng, ngủ lúc nào cũng bỏ cửa trống, thảo nào trong phòng chả có vật gì đáng giá cả.

-Ngươi là người thật thà tử tế thì đâu có thái độ như thế? Tại sao ta lại phải vất vả kiếm tiền, tích chứa báu vật để cho ngươi đến ăn trộm chứ? Vị Hòa thượng trả lời một cách hùng hồn đầy lý lẽ.

Có lẽ các vị không tin, cảm thấy thế gian sao lại có chuyện kỳ đặc đến thế, kẻ trộm với chủ nhân gặp nhau mà vẫn kính trọng nhau như khách và còn triển khai một cuộc đối thoại khôi hài đầy thú vị nữa. Quả thực nói ra mọi người khó mà tin nổi nhưng kỳ thực cảnh giới cuộc sống thăng hoa của thiền giả chính là ở chỗ này. Thế nên, trong tình người trái nghịch chúng ta có thể thấy được nhiều kỳ phong vô cùng thú vị.

Trên thực tế cuộc sống, đối đãi giữa con người với con người, nếu có thể cư xử với nhau một cách bình đẳng hài hòa, thung dung tự tại, cùng một lòng chân thành lương thiện, thanh tịnh vô nhiễm thì đó chính là nâng cao nhân cách, thăng hoa cuộc sống vậy!

Bất luận từ trong công việc bình thường, lời nói mâu thuẫn, sinh hoạt nghệ thuật hay tình người trái nghịch của các thiền sư chúng ta cũng đều có thể khám phá ra được nguồn gốc cảnh giới mà ta với cảnh dung hòa nhau thành một, khí tượng hài hòa cùng vũ trụ vạn hữu, hợp thành một thể trọn vẹn của thiền. Chỗ mà chúng ta muốn đạt đến lẽ nào không phải là thế giới cuộc sống gió mát trăng thanh này hay sao? Tâm linh thế nào mới là độc lập tự chủ, sinh hoạt thế nào mới là thung dung tự tại, cuộc sống thế nào mới là an nhàn tự đắc? Chúng ta thường phóng tầm mắt lên bầu trời sao vòi vọi nhưng vẫn không thể nhìn thấy được toàn bộ hoàn cảnh cuộc sống, muốn thấy được sức sống của cuộc đời chỉ có một cách duy nhất là dụng tâm tham thiền.

Dưới đây tôi xin giới thiệu cùng quí vị mười câu châm ngôn tu tập thiền định để làm lời kết thúc cho bài giảng này:

1. Sáng sớm thức dạy nên ngồi tĩnh tọa một cây hương.

2. Mặc áo buộc dây xong, trước tiên phải lạy Phật, lạy Tổ.

3. Ngủ không được vượt quá giờ, ăn không được quá no.

4. Tiếp khách như ở một mình, ở một mình như tiếp khách.

5. Bình thường không được nói bừa, nói ra nhất định phải làm.

6. Nắm bắt thời cơ không nên do dự bỏ lỡ, gặp việc phải suy xét kỹ càng.

7. Không nên vọng tưởng quá khứ, cần phải lo xa cho tương lai.

8. Có khí phách trượng phu, ấp ủ tâm trẻ con.

9. Lên giường ngủ như đậy áo quan, lìa nệm gối như tháo giày.

10. Ðối đãi với người luôn luôn cung kính, cư xử có độ lượng.

Những châm ngôn này không chỉ thiền giả phải gìn giữ để làm tư lương ngộ đạo mà người bình thường, nếu có thể thực tập theo thì tuy không thể ngộ đạo nhưng cũng cách đạo không xa. Cầu chúc quí vị đạt được thế giới cuộc sống thăng hoa!


 

28 Hoàng Bá: Xem chú thích 15, tr. 217.

29 Hoằng Tán: Vào đời nhà Ðường, cùng thời vơí thiền sư Hoàng Bá chỉ thấy có thiền sư Thần Tán chớ không thấy có thiền sư Hoằng Tán. 

30 Tiên Nhai (1751-1838): Tức thiền sư Nghĩa Phạm thuộc tông Lâm Tế của Nhật Bản. Ngài nối pháp thiền sư Nguyệt Thuyền Thiền Huệ (1702-1781). Ngài xuất gia năm 11 tuổi và năm lên 19 tuổi thì du phương hành cước. Sau khi yết kiến Nguyệt Thuyền, Ngài lưu lại học nơi đây và được Nguyệt Thuyền ấn khả. Sau đó Ngài lại cất bước du phương, nhận lời trù trì chùa Thánh Phúc - thiền viện đầu tiên tại Nhật Bản được thiền sư Minh Am Vinh Tây khai sáng năm 1195 và trở thành vị trụ trì thứ 123 của thiền viện này. Ngài nổi tiếng vì phương pháp giáo hóa nghiêm khắc nhưng vô cùng hiệu nghiệm, những đặc tính được phản ánh lại trong những tác phẩm nghệ thuật thiền như Mặc tích và những bức tranh mực tàu của Ngài hiện rất được ưa chuộng trong giới hâm mộ thiền trên khắp thế giới.

31 Huyền Sa Sư Bị (835-908): Ngài là một trong những môn đệ danh tiếng nhất của thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Ngài họ Tạ, quê ở huyện Mân, Phúc châu. Lúc trẻ Ngài là dân chài, năm 30 tuổi Ngài xuất gia với thiền sư Linh Huấn ở Phù Dung, sau đến chùa Khai Nguyên ở Dự Chương thọ giới cụ túc với luật sư Ðạo Huyền. Ngài tu theo hạnh đầu đà, chỉ mặc áo gai đi giày cỏ, ăn vừa đủ sống, suốt ngày ngồi im lặng, tăng chúng thấy vậy đều rất kính phục. Sau nhờ gặp thiền sư Tuyết Phong mà giác ngộ được huyền chỉ. Ban đầu, Ngài trụ trì ở Phổ Ứng viện, sau đó dời đến Huyền Sa được Mân Chủ kính trọng hậu đãi, đồ chúng đến tham học rất đông. Ðời Lương, niên hiệu Khai Bình thứ 2, ngày 27 tháng 11 năm Mậu Thìn (908), Ngài thị tịch, thọ 74 tuổi, được 40 tuổi hạ.

32 Tăng Vân Thủy: Chỉ vị Tăng đi vân du nay đây mai đó, như mây trôi nước chảy.

33 Vân Môn (864-949): Tức thiền sư Văn Yển ở núi Vân Môn, Thiều châu, là người khai sáng tông Vân Môn. Ngài nối pháp của thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Ngài họ Trương, quê ở Gia Hưng Cô Tô. Lúc nhỏ theo luật sư Chí Trừng chùa Không Vương xuất gia và thọ giới tại giới đàn Tì Lăng. Sau đó đến tham yết Mục Châu Trần Tôn Túc ba lần và lần thứ ba bị Mục Châu đóng cửa kẹp gẫy chân, Ngài nhân đó mà tỏ ngộ. Mục Châu khuyên Ngài đến thiền sư Tuyết Phong và nơi đây Ngài được ấn khả. Lúc đầu, Ngài trụ trì chùa Linh Thụ một thời gian, sau đến Vân Môn trụ trì chùa Quang Thới, học chúng theo học rất đông. Năm Kỷ Dậu niên hiệu Càn Hòa thứ 7  (949) nhà Nam Hán ngày 10 tháng 4, Ngài viên tịch, thọ 86 tuổi. Ðến năm Càn Ðức thứ 4 đời Tống Thái Tổ tức năm Thiên Bảo thứ 9 đời Nam Hán (966) được ban thụy hiệu là Ðại Từ Vân Khuông Chân Hoằng Minh thiền sư.

 

---o0o---

 

[ Mục Lục ] [ I ] [ II ] [ III ] [ IV]  

 

---o0o---

 

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster: quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Phật Học Cơ Bản

Đầu trang

 

Biên tập nội dung:  Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:  
quangduc@quangduc.com