III. Từ trong sinh hoạt nghệ
thuật nhìn qua thế giới thiền.
Phần trước đã đề cập đến sinh hoạt nghệ
thuật hóa của thiền giả, bây giờ tôi sẽ đem sinh hoạt nghệ thuật của
thiền để giới thiệu sơ lược cùng quý vị về cảnh giới thăng hoa của
thiền giả. Nhìn chung, nhà cửa hiện nay đại để đều là lầu cao, gác
lớn; cách thức trang trí bên trong bên ngoài có thể nói là rất tiến
bộ. Không những đòi hỏi phải mới mẻ, đàng hoàng mà còn chú trọng đến
sự gọn gàng, sạch đẹp có nghệ thuật nữa, chẳng hạn như cảnh trí sân
trước sân sau thật dạt dào ý xuân, vừa mở cửa sổ ra đã tràn đầy hứng
thú cuộc đời. Tất cả những thứ ấy đều là biểu trưng của nghệ thuật
hóa, kỳ thực cũng là do vận dụng thiền cơ mà biểu lộ ra. Thiền đã có
mặt khắp mọi nơi và gắn bó mật thiết với cuộc sống của chúng ta như
thế, tại sao chúng ta có thể tùy tiện vứt bỏ tất cả thiền cơ xung
quanh chứ? Bây giờ, tôi sẽ dựa vào bốn phương diện sau đây để thuyết
minh về cuộc sống nghệ thuật của thiền giả:
1. Vườn
thiền.
Tôi nghe nói có một công ty bách hóa
đưa ra quảng cáo, nội dung chủ yếu là biểu thị về “thiền”. Tôi vừa
nghe qua, không hiểu tại sao lại đem văn minh hiện đại để biểu thị
thiền, bèn đi tìm hiểu thử kết quả thật hư thế nào. Hóa ra người buôn
bán cũng hiểu được thiền cơ, biết được từ trong sức sống thiền biểu
hiện ra một vẻ đẹp chí chơn, chí thiện. Dù chỉ là một khối bê tông và
mấy bức tranh màu cũng có thể tạo nên một vườn thiền tịch tĩnh, cảnh
và tình biểu hiện hài hòa, khiến cho sản phẩm của văn minh vật chất
vốn dĩ rắn chắc, vô tình lại toát ra ánh sáng cuộc sống và tinh hoa
của thiền. Tôi đặt mình vào trong ấy thật là thích thú, dường như một
cảnh tiên ở nhân gian, có cảm giác cảnh và tình rất cao thâm u viễn.
Tại kinh đô Kyoto của Nhật Bản có một
ngôi chùa tên Long An (Ryuanji) nổi tiếng khắp xa gần. Mỗi một du
khách đến Nhật Bản phần lớn đều đến đó tham quan. Chỗ đặc thù nhất của
chùa Long An là khu vườn cảnh. Khu vườn cảnh này tuyệt nhiên chẳng có
cỏ cây, hoa cảnh chi cả mà chỉ do mười mấy hòn đá và rất nhiều cát
trắng tạo thành. Mới nhìn vào, chẳng có gì nổi bật cả nhưng trải qua
sự thiết kế linh xảo của thiền giả thì lại rất có sức hấp dẫn. Có rất
nhiều người một khi vào trong đó, ngồi yên lặng nơi cửa vườn, ngắm
nhìn đá trắng như băng giá nhưng lại dịu dàng ấm áp, bất giác tâm hồn
bay bổng trong cảnh trời biển bao la, hòa quyện trong thế giới sâu
rộng huyền diệu của thiền.
Ở Trung Quốc có một câu nói truyền
khẩu: “Danh sơn trong thiên hạ, tăng sĩ chiếm đa số”. Danh sơn
thắng cảnh trong thiên hạ đều xuất hiện từ bàn tay thần diệu của thiền
giả. Tứ đại danh sơn: Phổ đà sơn,
Nga my sơn,
Ngũ đài sơn,
Cửu hoa sơn,
cho đến hoa viên Háp đồng ở Thượng Hải trong thời cận đại đều biểu
hiện vẻ thanh nhã đặc thù của vườn thiền. Phong cách kiến trúc vườn
thiền còn ảnh hưởng sâu sắc đến kiểu thiết kế vườn hoa Trung Quốc.
Ðặc biệt ngày nay, chúng ta chú trọng vào việc làm đẹp vườn nhà, làm
đẹp tâm hồn, vậy nên vườn thiền có thể cung cấp cho chúng ta một sự
tham khảo quí báu.
2. Tranh
thiền.
Tranh là trạng thái tĩnh, biểu lộ cuộc
sống rất thâm trầm nhưng quá trình hình thành một bức tranh lại là
trạng thái động. Tranh vũ sư (sư tử múa) biểu hiện ra là một thánh thú
đang yên lặng nhập định nhưng quá trình mô tả của nhà họa sĩ thì có lẽ
đã phải quan sát không biết bao nhiêu trạng thái sư tử múa mới có thể
vẽ được một bức tranh như thế. Tranh thâm trầm, yên tĩnh của biển cả
với bãi cát trắng trải dài vô tận, người họa sĩ có lẽ phải mất hết nửa
cuộc đời mới có thể tìm được ánh sáng vinh quang của cuộc sống trong
chốc lát. Vậy mà sự huy hoàng rực rỡ ấy đối với thiền giả chỉ cần nhón
tay một cái, tùy ý tùy cơ có thể đạt được một cách dễ dàng.
Tháng trước, có một thiền sư người Hàn
Quốc chuẩn bị mở hội triển lãm tranh thiền tại Ðài Bắc. Trong đó có
chân dung thiền sư Tăng Xán
- vị tổ thứ ba của Thiền tông Trung Quốc. Tôi đến trước tham quan, quả
thật không khỏi kinh ngạc, hầu như tất cả các thiền sư của Trung Quốc
đều xuất hiện cả. Vốn dĩ, trong mỗi một bức tranh trầm tĩnh đều chứa
đựng một đời sống sâu sắc siêu phàm. Vì thế đã khiến tôi nhớ lại một
ảnh tượng trước đó không lâu tại Nhật Bản. Có lẽ mọi người đều biết ở
Trung Quốc có một vị thiền sư tên là Thạch Ðầu hòa thượng
mà sau khi Ngài viên tịch nhục thân của Ngài được đưa sang Nhật Bản.
Nhờ nhân duyên này mà một lần nọ trong hội trường triển lãm ở Nhật
Bản, tôi nhận ra được vị thiền sư lưu lạc tha hương của chúng ta. Theo
lý, Hòa thượng Thạch Ðầu sau khi chứng ngộ Niết-bàn thì kim thân
Xá-lợi của Ngài phải đời đời vĩnh viễn ở tại Trung Quốc, chứ tại sao
lại phiêu bạt nơi đất khách quê người?
Bây giờ tôi xin kể một giai thoại có
liên quan đến Hòa thượng Thạch Ðầu, đó chính là nguồn gốc của câu
“Tẩu giang hồ”. Ngày xưa ở Giang Tây có thiền sư Mã Tổ, đạo phong
của ngài rất nổi tiếng, ngoài ra ở Hồ Nam cũng có một vị thiền sư nổi
tiếng như Ngài, đó chính là thiền sư Hy Thiên mà mọi người quen gọi là
Hòa thượng Thạch Ðầu. Vào thời đại ấy, một số danh sĩ du học, nếu
không đến Giang Tây cầu đạo thì cũng đến Hồ Nam tham học. Vì vậy mà có
lưu truyền câu “Tẩu giang hồ” này. Nhưng nguyên ý của câu “Tẩu giang
hồ” lưu truyền đến ngày nay lại không phải là xuất ngoại tham học mà
mang ý nghĩa lang bạt buôn bán kiếm sống. Ðiển cố này đã gợi lại trong
lòng mọi người niềm thương nhớ khôn nguôi về sự lưu lạc tha hương của
Hòa thượng Thạch Ðầu.
Từ trong tranh thiền tổ sư Ðạt-ma
có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào tinh thần kiên nghị sang Ðông
Ðộ truyền pháp của Ngài. Từ trong tranh thiền tiếp cơ truyền đăng
(tiếp nhận thiền cơ truyền trao đuốc tuệ) của các thiền sư, chúng ta
có thể cảm nhận được quá trình tu tập gian khổ để trang nghiêm huệ
mạng của thiền giả. Từ trong tranh thiền sơn thủy sương mù lãng đãng
trăng chiếu đỉnh non xa, chúng ta có thể thấy được một cách rõ ràng về
cuộc sống thâm thúy của thiền. Nếu trong nhà, chúng ta trang trí một
bức tranh thiền thì sẽ khiến cho
bầu không khí trong nhà dạt dào sức sống hẳn lên.
3. Thiền vị.
Thiền phải có đạo vị. Thông thường đối
với các loại chua, ngọt, đắng, cay... bày biện lộn xộn trăm vị, chúng
ta rất mẫn cảm, nhưng đối với thiền lại không nhất định, bất cứ lúc
nào cũng có thể “tri vị”.
Ðời Ðường có một vị Lãn Toảnthiền
sư ẩn cư trong một hang động ở núi Nam Nhạc. Ngài đã cảm tác một bài
thơ như sau:
“Thế sự du du
Bất như sơn
khưu
Ngọa đằng la hạ
Khối thạch chẩm
đầu
Bất triều thiên
tử
Khởi tiễn vương
hầu?
Sanh tử vô lự
Ngô phục hà
ưu?”
Tạm dịch:
“Việc đời bối
rối
Chẳng bằng núi
đồi
Nằm dưới gốc
mây
Gối đầu trên đá
Không chầu
thiên tử
Há ham vương
hầu?
Sanh tử chẳng
lo
Ta lại lo gì?”
Hàm ý bài thơ này nói lên việc đời
phức tạp, rối rắm khó hiểu, vàng thau lẫn lộn chứ không như năm ba cụm
đá nhỏ nhắn thân thiết đáng yêu. Kiểu sống lấy trời làm chăn màn, lấy
đất làm nệm, nhàn hạ ngao du sơn thủy ấy mới thật sự thú vị làm sao! Ở
đâu còn có nhàn nhã thung dung không quan tâm đến việc quân vương
triều chính nhỉ! Mọi thứ công danh lợi lộc, vinh hoa phú quý đều xem
như mây nổi, sanh tử đã đặt sang một bên, không còn gì phải mong cầu
nữa thì còn hơi sức đâu mà so bì chuyện đúng sai, vui buồn chứ?
Khi bài thơ này được truyền đến tai nhà
vua, hậu quả đương nhiên không thể tưởng tượng nổi. Ðương thời nhằm
lúc vua Ðường Ðức Tông
trị vị, nhà vua liền hạ lệnh cho thị vệ truy bắt vị Hòa thượng ấy. Thị
vệ mang thánh chỉ tìm đến hang động, vừa lúc ấy trông thấy Hòa thượng
đang nhóm bếp trong động, thị vệ
đứng ngoài cửa động lớn tiếng
gọi: “Thánh chỉ đến, mau ra kính lễ nghinh tiếp...” Thiền sư Lãn Toản
Pháp Dung giả bộ câm điếc, hoàn toàn không để ý tới.
Thị vệ bèn vào xem
thử thì thấy Thiền sư dùng phân bò đốt lửa, trên lò đang nướng củ
khoai, thế lửa càng đốt càng mạnh, khói lửa mịt mùng, khắp trong động
ngoài động khói đen cuồn cuộn bốc lên nghi ngút, thiền sư nước mắt
nước mũi ràn rụa. Thị vệ bèn bảo Ngài:
-Này! Lão hòa
thượng, nước mũi của ông chảy
đầy hết kìa, sao không chùi đi?
-Tôi đâu có rảnh rỗi như người đời mà
lau nước mũi chứ ?
Thiền sư vừa nói vừa khoèo củ khoai
nướng trong lò ra, bỏ vào miệng nhai, và liên mồm khen: ‘Ngon thật!
Ngon thật!”. Thị vệ trông thấy bộ dạng Ngài như thế, trố mắt kinh
ngạc, trông Ngài ăn có vẻ rất ngon lành cũng bắt chảy nước bọt, bèn
đến cạnh hỏi:
-Lão hoà thượng ơi! Ông ăn gì mà ngon
thế?
Ðây chính là hương vị mà bọn thị vệ
không thể nào thưởng thức được nên buộc lòng phải quay về triều tâu
lại sự tình. Vua Ðường Ðức Tông nghe xong, vô cùng cảm kích, tán thán:
- Hòa thượng như thế chính là phúc cho
nhân gian đó!
Hương vị của thiền cần phải thưởng thức
một cách tinh tế mới có thể cảm nhận được sự vi diệu nhiệm mầu trong
ấy.
4. Thơ
thiền.
Xưa nay có rất nhiều bài thơ thiền hàm
ý sâu xa đáng để suy ngẫm, phần lớn là các thiền sư ngộ đạo bày tỏ về
cảnh giới chứng ngộ của mình. Mỗi một bài thơ đều biểu hiện cuộc sống
một cách thuần thục viên mãn, như:
“Dăng ái tầm
quang chỉ thượng toản
Bất năng
thấu xứ kỷ đa nạn
Hốt nhiên
tràng trước lai thời lộ
Thủy giác
bình sinh bị nhãn man”.
Tạm dịch :
“Ruồi ưa ánh
sáng giấy gương
Nào hay nơi ấy
tai ương chực chờ
Một khi xúc
vách, chạm bờ
Tỉnh ra mới
biết hồi giờ si mê”.
Ðại ý bài thơ này muốn nói chúng ta bị
hiện tượng giới (thế giới hiện tượng) sặc sỡ dị kỳ mê hoặc, giống như
ruồi muỗi mê ánh sáng của giấy dán trên ô cửa sổ,
chỉ biết một mực xông lên phía
trước mà không biết kịp thời tỉnh ngộ ăn năn hối cải, dừng chân trước
vực thẳm quay đầu lại là bờ, đến khi tỉnh ngộ trở lại thì đã lãng phí
biết bao năm tháng thời giờ. Thơ thiền miêu tả rộng rãi về nhân
sinh, thông đạt về cuộc sống, trong ngữ lục của các thiền sư
hầu như đâu đâu cũng có, đơn cử xin nêu ra hai bài thơ thiền nổi tiếng
sau đây:
“Thủ bả
thanh ương tháp mãn điền
Ðê đầu tiện
kiến thủy trung thiên
Thân tâm thanh
tịnh phương vi đạo
Thoái bộ
nguyên lai thị hướng tiền”.
Tạm dịch :
“Ôm lúa non cấy
khắp đồng cày
Cúi đầu liền
thấy trời trong nước
Thân tâm thanh
tịnh mới là đạo
Vốn dĩ thoái
lui là tiến tới”.
Và:
“Vạn sự vô như
thoái bộ nhân
Cô vân, dã hạc
tự do thân
Tùng phong
thập lý thời lai vãng
Tiếu ấp phong
đầu nguyệt nhất luân”.
Tạm dịch:
“Vui
thú điền viên mặc thế nhân
Mây côi, hạc
dại tự do thân
Thông reo
tiếng gọi rừng xanh vọng
Chào đón đầu
non nguyệt một vầng”.
Hai bài thơ này biểu hiện trí tuệ sáng
suốt, lấy thoái làm tiến, sống thanh đạm không tranh đua theo danh
lợi; đồng thời biểu lộ tính tùy duyên phóng khoáng, khí phách hào
hùng, mặc ý tự do tự tại của
thiền giả. Thiền giả sử dụng cái“vô tranh” mà cả thiên hạ chẳng thể
tranh được, lấy thoái làm tiến mà khắp vũ trụ không thể ngăn cản được.
Tiếc rằng chúng sanh ở thế gian chỉ biết ồn ào náo nhiệt chen lấn nhau
tiến lên mà không thể thưởng thức được loại thoái lui vốn tự đầy đủ
này của thiền giả. Ngoài ra, Chu Nguyên Chương
hồi trẻ, lúc còn làm một chú điệu ở chùa, cũng đãù sáng tác một bài
thơ khí phách rất hào hùng:
“Thiên vi la
trướng, địa vi chiên
Nhật, nguyệt,
tinh thần bạn ngã miên
Dạ gian bất cảm
trường thân túc
Duy khủng đạp
phá hải đê thiên”.
Tạm dịch:
“Trời làm màn
gối, đất làm chiên
Nhật, nguyệt
cùng ta một giấc yên
Ðêm khuya chẳng
dám dang chân duỗi
Chỉ sợ chân
trời góc biển xiên”.
Ngữ khí bàng bạc hào hùng, rất có uy
thế đế vương như thế. Chu Nguyên Chương ngày sau trở thành ngôi cửu
ngũ thì cũng không có gì là lạ cả.
Ở trên,
chúng ta đã dựa vào bốn góc độ để tìm hiểu về cảnh giới thiền được
biểu hiện ra nơi đời sống nghệ thuật của thiền sư. Không biết các vị
có lĩnh hội được phần nào pháp vị và sự an lạc của thiền hay không?
Thiền rất dễ học nhưng cũng không phải là dễ hiểu. Các vị nên áp dụng
cách sống nghệ thuật hóa, thiền vị hóa này vào những sinh hoạt thường
ngày của mình để thăng hoa cuộc sống thành một bức tranh thiền, một
bài thơ thiền và hãy tự mình thung dung dạo bước trong vườn thiền mà
tận hưởng niềm an lạc vô biên trong ấy.