Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

 Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Học Cơ Bản


... ... .

 

 

THẾ GIỚI CUỘC SỐNG THĂNG HOA

 

Diễn giảng: Ðại sư Tinh Vân.

Việt dịch: Thích Hạnh Minh.

 

---o0o---

 

III. Từ trong sinh hoạt nghệ thuật nhìn qua thế giới thiền.

Phần trước đã đề cập đến sinh hoạt nghệ thuật hóa của thiền giả, bây giờ tôi sẽ đem sinh hoạt nghệ thuật của thiền để giới thiệu sơ lược cùng quý vị về cảnh giới thăng hoa của thiền giả. Nhìn chung, nhà cửa hiện nay đại để đều là lầu cao, gác lớn; cách thức trang trí bên trong bên ngoài có thể nói là rất tiến bộ. Không những đòi hỏi phải mới mẻ, đàng hoàng mà còn chú trọng đến sự gọn gàng, sạch đẹp có nghệ thuật nữa, chẳng hạn như cảnh trí sân trước sân sau thật dạt dào ý xuân, vừa mở cửa sổ ra đã tràn đầy hứng thú cuộc đời. Tất cả những thứ ấy đều là biểu trưng của nghệ thuật hóa, kỳ thực cũng là do vận dụng thiền cơ mà biểu lộ ra. Thiền đã có mặt khắp mọi nơi và gắn bó mật thiết với cuộc sống của chúng ta như thế, tại sao chúng ta có thể tùy tiện vứt bỏ tất cả thiền cơ xung quanh chứ? Bây giờ, tôi sẽ dựa vào bốn phương diện sau đây để thuyết minh về cuộc sống nghệ thuật của thiền giả:

1. Vườn thiền.

Tôi nghe nói có một công ty bách hóa đưa ra quảng cáo, nội dung chủ yếu là biểu thị về “thiền”. Tôi vừa nghe qua, không hiểu tại sao lại đem văn minh hiện đại để biểu thị thiền, bèn đi tìm hiểu thử kết quả thật hư thế nào. Hóa ra người buôn bán cũng hiểu được thiền cơ, biết được từ trong sức sống thiền biểu hiện ra một vẻ đẹp chí chơn, chí thiện. Dù chỉ là một khối bê tông và mấy bức tranh màu cũng có thể tạo nên một vườn thiền tịch tĩnh, cảnh và tình biểu hiện hài hòa, khiến cho sản phẩm của văn minh vật chất vốn dĩ rắn chắc, vô tình lại toát ra ánh sáng cuộc sống và tinh hoa của thiền. Tôi đặt mình vào trong ấy thật là thích thú, dường như một cảnh tiên ở nhân gian, có cảm giác cảnh và tình rất cao thâm u viễn.

Tại kinh đô Kyoto của Nhật Bản có một ngôi chùa tên Long An (Ryuanji) nổi tiếng khắp xa gần. Mỗi một du khách đến Nhật Bản phần lớn đều đến đó tham quan. Chỗ đặc thù nhất của chùa Long An là khu vườn cảnh. Khu vườn cảnh này tuyệt nhiên chẳng có cỏ cây, hoa cảnh chi cả mà chỉ do mười mấy hòn đá và rất nhiều cát trắng tạo thành. Mới nhìn vào, chẳng có gì nổi bật cả nhưng trải qua sự thiết kế linh xảo của thiền giả thì lại rất có sức hấp dẫn. Có rất nhiều người một khi vào trong đó, ngồi yên lặng nơi cửa vườn, ngắm nhìn đá trắng như băng giá nhưng lại dịu dàng ấm áp, bất giác tâm hồn bay bổng trong cảnh trời biển bao la, hòa quyện trong thế giới sâu rộng huyền diệu của thiền.

Ở Trung Quốc có một câu nói truyền khẩu: “Danh sơn trong thiên hạ, tăng sĩ chiếm đa số”. Danh sơn thắng cảnh trong thiên hạ đều xuất hiện từ bàn tay thần diệu của thiền giả. Tứ đại danh sơn: Phổ đà sơn18, Nga my sơn19, Ngũ đài sơn20, Cửu hoa sơn21, cho đến hoa viên Háp đồng ở Thượng Hải trong thời cận đại đều biểu hiện vẻ thanh nhã đặc thù của vườn thiền. Phong cách kiến trúc vườn thiền còn ảnh hưởng sâu sắc đến kiểu  thiết kế vườn hoa Trung Quốc. Ðặc biệt ngày nay, chúng ta chú trọng vào việc làm đẹp vườn nhà, làm đẹp tâm hồn, vậy nên vườn thiền có thể cung cấp cho chúng ta một sự tham khảo quí báu.

2. Tranh thiền.

Tranh là trạng thái tĩnh, biểu lộ cuộc sống rất thâm trầm nhưng quá trình hình thành một bức tranh lại là trạng thái động. Tranh vũ sư (sư tử múa) biểu hiện ra là một thánh thú đang yên lặng nhập định nhưng quá trình mô tả của nhà họa sĩ thì có lẽ đã phải quan sát không biết bao nhiêu trạng thái sư tử múa mới có thể vẽ được một bức tranh như thế. Tranh thâm trầm, yên tĩnh của biển cả với bãi cát trắng trải dài vô tận, người họa sĩ có lẽ phải mất hết nửa cuộc đời mới có thể tìm được ánh sáng vinh quang của cuộc sống trong chốc lát. Vậy mà sự huy hoàng rực rỡ ấy đối với thiền giả chỉ cần nhón tay một cái, tùy ý tùy cơ có thể đạt được một cách dễ dàng.

Tháng trước, có một thiền sư người Hàn Quốc chuẩn bị mở hội triển lãm tranh thiền tại Ðài Bắc. Trong đó có chân dung thiền sư  Tăng Xán22 - vị tổ thứ ba của Thiền tông Trung Quốc. Tôi đến trước tham quan, quả thật không khỏi kinh ngạc, hầu như tất cả các thiền sư của Trung Quốc đều xuất hiện cả. Vốn dĩ, trong mỗi một bức tranh trầm tĩnh đều chứa đựng một đời sống sâu sắc siêu phàm. Vì thế đã khiến tôi nhớ lại một ảnh tượng trước đó không lâu tại Nhật Bản. Có lẽ mọi người đều biết ở Trung Quốc có một vị thiền sư tên là Thạch Ðầu hòa thượng23 mà sau khi Ngài viên tịch nhục thân của Ngài được đưa sang Nhật Bản. Nhờ nhân duyên này mà một lần nọ trong hội trường triển lãm ở Nhật Bản, tôi nhận ra được vị thiền sư lưu lạc tha hương của chúng ta. Theo lý, Hòa thượng Thạch Ðầu sau khi chứng ngộ Niết-bàn thì kim thân Xá-lợi của Ngài phải đời đời vĩnh viễn ở tại Trung Quốc, chứ tại sao lại phiêu bạt nơi đất khách quê người?

Bây giờ tôi xin kể một giai thoại có liên quan đến Hòa thượng Thạch Ðầu, đó chính là nguồn gốc của câu “Tẩu giang hồ”. Ngày xưa ở Giang Tây có thiền sư Mã Tổ, đạo phong của ngài rất nổi tiếng, ngoài ra ở Hồ Nam cũng có một vị thiền sư nổi tiếng như Ngài, đó chính là thiền sư Hy Thiên mà mọi người quen gọi là Hòa thượng Thạch Ðầu. Vào thời đại ấy, một số danh sĩ du học, nếu không đến Giang Tây cầu đạo thì cũng đến Hồ Nam tham học. Vì vậy mà có lưu truyền câu “Tẩu giang hồ” này. Nhưng nguyên ý của câu “Tẩu giang hồ” lưu truyền đến ngày nay lại không phải là xuất ngoại tham học mà mang ý nghĩa lang bạt buôn bán kiếm sống. Ðiển cố này đã gợi lại trong lòng mọi người niềm thương nhớ khôn nguôi về sự lưu lạc tha hương của Hòa thượng Thạch Ðầu.

Từ trong tranh thiền tổ sư Ðạt-ma24 có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào tinh thần kiên nghị sang Ðông Ðộ truyền pháp của Ngài. Từ trong tranh thiền tiếp cơ truyền đăng (tiếp nhận thiền cơ truyền trao đuốc tuệ) của các thiền sư, chúng ta có thể cảm nhận được quá trình tu tập gian khổ để trang nghiêm huệ mạng của thiền giả. Từ trong tranh thiền sơn thủy sương mù lãng đãng trăng chiếu đỉnh non xa, chúng ta có thể thấy được một cách rõ ràng về cuộc sống thâm thúy của thiền. Nếu trong nhà, chúng ta trang trí một bức tranh thiền thì sẽ khiến cho bầu không khí trong nhà dạt dào sức sống hẳn lên.

3. Thiền vị.

 Thiền phải có đạo vị. Thông thường đối với các loại chua, ngọt, đắng, cay... bày biện lộn xộn trăm vị, chúng ta rất mẫn cảm, nhưng đối với thiền lại không nhất định, bất cứ lúc nào cũng có thể “tri vị”.

Ðời Ðường có một vị Lãn Toản25thiền sư ẩn cư trong một hang động ở núi Nam Nhạc. Ngài đã cảm tác một bài thơ như sau:

“Thế sự du du

Bất như sơn khưu

Ngọa đằng la hạ

Khối thạch chẩm đầu

Bất triều thiên tử

Khởi tiễn vương hầu?

Sanh tử vô lự

Ngô phục hà ưu?”

Tạm dịch:

“Việc đời bối rối

Chẳng bằng núi đồi

Nằm dưới gốc mây

Gối đầu trên đá

Không chầu thiên tử

Há ham vương hầu?

Sanh tử chẳng lo

Ta lại lo gì?”

Hàm ý bài thơ này nói lên việc đời phức tạp, rối rắm khó hiểu, vàng thau lẫn lộn chứ không như năm ba cụm đá nhỏ nhắn thân thiết đáng yêu. Kiểu sống lấy trời làm chăn màn, lấy đất làm nệm, nhàn hạ ngao du sơn thủy ấy mới thật sự thú vị làm sao! Ở đâu còn có nhàn nhã thung dung không quan tâm đến việc quân vương triều chính nhỉ! Mọi thứ công danh lợi lộc, vinh hoa phú quý đều xem như mây nổi, sanh tử đã đặt sang một bên, không còn gì phải mong cầu nữa thì còn hơi sức đâu mà so bì chuyện đúng sai, vui buồn chứ?

Khi bài thơ này được truyền đến tai nhà vua, hậu quả đương nhiên không thể tưởng tượng nổi. Ðương thời nhằm lúc vua Ðường Ðức Tông26 trị vị, nhà vua liền hạ lệnh cho thị vệ truy bắt vị Hòa thượng ấy. Thị vệ mang thánh chỉ tìm đến hang động, vừa lúc ấy trông thấy Hòa thượng đang nhóm bếp trong động, thị vệ đứng ngoài cửa động lớn tiếng gọi: “Thánh chỉ đến, mau ra kính lễ nghinh tiếp...” Thiền sư Lãn Toản Pháp Dung giả bộ câm điếc, hoàn toàn không để ý tới.

Thị vệ bèn vào xem thử thì thấy Thiền sư dùng phân bò đốt lửa, trên lò đang nướng củ khoai, thế lửa càng đốt càng mạnh, khói lửa mịt mùng, khắp trong động ngoài động khói đen cuồn cuộn bốc lên nghi ngút, thiền sư nước mắt nước mũi ràn rụa. Thị vệ bèn bảo Ngài:

-Này! Lão hòa thượng, nước mũi của ông chảy đầy hết kìa, sao không chùi đi?

-Tôi đâu có rảnh rỗi như người đời mà lau nước mũi chứ ?

Thiền sư vừa nói vừa khoèo củ khoai nướng trong lò ra, bỏ vào miệng nhai, và liên mồm khen: ‘Ngon thật! Ngon thật!”. Thị vệ trông thấy bộ dạng Ngài như thế, trố mắt kinh ngạc, trông Ngài ăn có vẻ rất ngon lành cũng bắt chảy nước bọt, bèn đến cạnh hỏi:

-Lão hoà thượng ơi! Ông ăn gì mà ngon thế?

Ðây chính là hương vị mà bọn thị vệ không thể nào thưởng thức được nên buộc lòng phải quay về triều tâu lại sự tình. Vua Ðường Ðức Tông nghe xong, vô cùng cảm kích, tán thán:

- Hòa thượng như thế chính là phúc cho nhân gian đó!

Hương vị của thiền cần phải thưởng thức một cách tinh tế mới có thể cảm nhận được sự vi diệu nhiệm mầu trong ấy.

4. Thơ thiền.

 Xưa nay có rất nhiều bài thơ thiền hàm ý sâu xa đáng để suy ngẫm, phần lớn là các thiền sư ngộ đạo bày tỏ về cảnh giới chứng ngộ của mình. Mỗi một bài thơ đều biểu hiện cuộc sống một cách thuần thục viên mãn, như:

  “Dăng ái tầm quang chỉ thượng toản

 Bất năng thấu xứ kỷ đa nạn

 Hốt nhiên tràng trước lai thời lộ

 Thủy giác bình sinh bị nhãn man”.

Tạm dịch :

 “Ruồi ưa ánh sáng giấy gương

 Nào hay nơi ấy tai ương chực chờ

Một khi xúc vách, chạm bờ

 Tỉnh ra mới biết hồi giờ si mê”.

Ðại ý bài thơ này muốn nói chúng ta bị hiện tượng giới (thế giới hiện tượng) sặc sỡ dị kỳ mê hoặc, giống như ruồi muỗi mê ánh sáng của giấy dán trên ô cửa sổ, chỉ biết một mực xông lên phía trước mà không biết kịp thời tỉnh ngộ ăn năn hối cải, dừng chân trước vực thẳm quay đầu lại là bờ, đến khi tỉnh ngộ trở lại thì đã lãng phí biết bao năm tháng thời giờ. Thơ thiền miêu tả rộng rãi về nhân sinh, thông đạt về cuộc sống, trong ngữ lục của các thiền sư hầu như đâu đâu cũng có, đơn cử xin nêu ra hai bài thơ thiền nổi tiếng sau đây:

 “Thủ bả thanh ương tháp mãn điền

Ðê đầu tiện kiến thủy trung thiên

 Thân tâm thanh tịnh phương vi đạo

 Thoái bộ nguyên lai thị hướng tiền”.

 Tạm dịch :

“Ôm lúa non cấy khắp đồng cày

 Cúi đầu liền thấy trời trong nước

 Thân tâm thanh tịnh mới là đạo

 Vốn dĩ thoái lui là tiến tới”.

 Và:

 “Vạn sự vô như thoái bộ nhân

Cô vân, dã hạc tự do thân

 Tùng phong thập lý thời lai vãng

Tiếu ấp phong đầu nguyệt nhất luân”.

 Tạm dịch:

 “Vui thú điền viên mặc thế nhân

 Mây côi, hạc dại tự do thân

 Thông reo tiếng gọi rừng xanh vọng

 Chào đón đầu non nguyệt một vầng”.

Hai bài thơ này biểu hiện trí tuệ sáng suốt, lấy thoái làm tiến, sống thanh đạm không tranh đua theo danh lợi; đồng thời biểu lộ tính tùy duyên phóng khoáng, khí phách hào hùng, mặc ý tự do tự tại của thiền giả. Thiền giả sử dụng cái“vô tranh” mà cả thiên hạ chẳng thể tranh được, lấy thoái làm tiến mà khắp vũ trụ không thể ngăn cản được. Tiếc rằng chúng sanh ở thế gian chỉ biết ồn ào náo nhiệt chen lấn nhau tiến lên mà không thể thưởng thức được loại thoái lui vốn tự đầy đủ này của thiền giả. Ngoài ra, Chu Nguyên Chương27 hồi trẻ, lúc còn làm một chú điệu ở chùa, cũng đãù sáng tác một bài thơ khí phách rất hào hùng:

“Thiên vi la trướng, địa vi chiên

Nhật, nguyệt, tinh thần bạn ngã miên

Dạ gian bất cảm trường thân túc

Duy khủng đạp phá hải đê thiên”.

 Tạm dịch:

“Trời làm màn gối, đất làm chiên

Nhật, nguyệt cùng ta một giấc yên

Ðêm khuya chẳng dám dang chân duỗi

Chỉ sợ chân trời góc biển xiên”.

Ngữ khí bàng bạc hào hùng, rất có uy thế đế vương như thế. Chu Nguyên Chương ngày sau trở thành ngôi cửu ngũ thì cũng không có gì là lạ cả.

Ở trên, chúng ta đã dựa vào bốn góc độ để tìm hiểu về cảnh giới thiền được biểu hiện ra nơi đời sống nghệ thuật của thiền sư. Không biết các vị có  lĩnh hội được phần nào pháp vị và sự an lạc của thiền hay không? Thiền rất dễ học nhưng cũng không phải là dễ hiểu. Các vị nên áp dụng cách sống nghệ thuật hóa, thiền vị hóa này vào những sinh hoạt thường ngày của mình để thăng hoa cuộc sống thành một bức tranh thiền, một bài thơ thiền và hãy tự mình thung dung dạo bước trong vườn thiền mà tận hưởng niềm an lạc vô biên trong ấy.


 

18 Phổ đà sơn: Tên một ngọn núi trong biển Ðông thuộc huyện Ðịnh Hải, tỉnh Triết Giang, tên tiếng Phạn là Phổ đà lạc già (Potalaka), Trung Hoa gọi là Tiểu bạch hoa, còn gọi là núi Bổn đà, núi Mai sầm. Trên núi có ngôi chùa lớn, tăng đồ đến dâng hương lễ Phật rất đông. Ðây là thánh địa hoằng pháp của Bồ-tát Quán Thế Âm.

19 Nga my sơn: Núi này tọa lạc ở phía tây huyện Nga My, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Hai núi đối nhau như mày ngài nên gọi tên như thế. Một ngọn là Ðại Nga cùng hai ngọn Trung Nga, Tiểu Nga nằm kế tiếp nhau nên gọi là Tam Nga, chu vi đến ngàn dặm, có 120 khám băng thạch và 40 động lớn nhỏ. Trên đỉnh có chùa Quang Tướng là đạo tràng thuyết pháp của Bồ-tát Phổ Hiền.

20 Ngũ đài sơn: Còn gọi là núi Thanh lương, thuộc huyện Ngũ Ðài, tỉnh Sơn Tây. Núi có năm ngọn cao chót vót nên gọi là Ngũ Ðài, là đạo tràng hành đạo của Bồ-tát Văn Thù.

21 Cửu Hoa Sơn : Một trong bốn ngọn núi nổi tiếng của Trung Quốc. Trong Thanh nhất thống chí có chép: Núi Cửu hoa ở phía nam huyện Thanh Dương 40 dặm, thuộc tỉnh An Huy. Tương truyền núi Cửu Hoa là thánh địa hoằng hoá của ngài Ðịa Tạng.

22 Tăng Xán (?-606): Vị tổ thứ ba trong sáu vị tổ Thiền tông ở Ðông Ðộ, được thiền sư Huệ Khả truyền pháp, sau ẩn cư ở núi Hoàn Công đất Thư Châu. Trong thời gian Chu Vũ Ðế phá hoại Phật pháp, Ngài lên ẩn cư trên núi Tư Không huyện Thái Hồ. Năm Khai Hoàng thứ mười hai nhà Tùy (592 TL), Ngài tìm được ngài Ðạo Tín bèn truyền tâm ấn. Năm Ðại Nghiệp thứ hai đời vua Dạng Ðế (606 TL), Ngài viên tịch. Vua Huyền Tông nhà Ðường truy phong là Giám Trí thiền sư. Ngoài thiền sư Ðạo Tín, Ngài còn truyền pháp cho Tỳ Ni Ða Lưu Chi, người sau này đem Thiền tông sang Việt Nam.

23 Thạch Ðầu hòa thượng (700-790): Tức thiền sư Hy Thiên đời Ðường. Ngài họ Trần, quê ở Cao Yếu, Ðoan châu, đắc pháp nơi thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư. Về sau, Ngài đến Hoành Nhạc tại Nam Tự cất am tranh ở. Cạnh chùa có đồi đá nhô cao nên người đương thời kính trọng gọi Ngài là hòa thượng Thạch Ðầu. Mã Tổ đại sư hoằng hóa tại Giang Tây và Thạch Ðầu hoà thượng tại Hồ Nam là hai vị thầy danh tiếng nhất đương thời. Ðời Ðường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ sáu, ngày rằm tháng chạp, Ngài viên tịch, thọ 91 tuổi, 63 tuổi hạ. Vua sắc phong là Vô Tế thiền sư, tháp hiệu Qui Sơn. 

24 Ðạt-ma tổ sư: Tên đầy đủ là Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma), dịch là Ðạo Pháp. Ngài dòng dõi Sát-đế-lị ở Nam Thiên Trúc. Phụ Vương tên Hương Chí, Ngài là con trai thứ ba, vốn tên là Bồ-đề-đa-la, sau theo học tổ sư đời 27 là Bát-nhã Ða-la nên đổi Ða-la thành Ðạt-ma. Năm Phổ Thông thứ 1 đời Lương (520 TL), ngày 21 tháng 9, Ngài đến Quảng Châu bằng đường biển. Vua Vũ Ðế đón về Kiến Nghiệp. Ðối thoại với Vũ Ðế không hợp, Ngài liền vượt Trường Giang sang Ngụy, đến Lạc Dương nhằm đời Bắc Ngụy vua Hiếu Minh Ðế niên hiệu Chánh Quang năm đầu (520 TL) ngày 23 tháng 11. Ngài dừng chân ở chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn, suốt ngày quay mặt vào vách đá, người đời gọi Ngài là “Bích Quán Bà-la-môn” sau Ngài tìm được Huệ Khả bèn truyền cho y bát... Ngài viên tịch năm Ðại Thông thứ 2 đời Lương (528 TL), nhập tháp tại chùa Ðịnh Lâm, núi Hùng Nhĩ. Vua Vũ Ðế viết văn bia ca ngợi công đức. Ðời Ðường Ðại Tông, Ngài được ban thụy hiệu là Viên Giác đại sư. Ngài là thuỷ tổ của Thiền tông Trung Hoa nên gọi là Sơ tổ.

25 Lãn Toản: Tức thiền sư Minh Toản ở núi Nam Nhạc đời Ðường, tính rất lười nhác mà lại giỏi ăn nên gọi là Lãn Toản, và vì ngài thích ăn các món thừa của mọi người nên cũng gọi là Lãn Tàn.

26 Ðường Ðức Tông: Tục danh là Lý Thích, tại vị được 26 năm, thụy hiệu là Thần Vũ Hiếu Văn Hoàng Ðế. 

27 Chu Nguyên Chương (1328-1398): Tức Minh Thái Tổ, vị hoàng đế sáng lập triều Minh, Trung Quốc.

 

---o0o---

 

[ Mục Lục ] [ I ] [ II ] [ III ] [ IV]  

 

---o0o---

 

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster: quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Phật Học Cơ Bản

Đầu trang

 

Biên tập nội dung:  Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:  
quangduc@quangduc.com