THẾ GIỚI CUỘC SỐNG THĂNG HOA
Diễn giảng:
Ðại sư Tinh Vân.
Việt dịch:
Thích Hạnh Minh.
---o0o---
II.
Từ trong lời nói mâu thuẫn nhìn qua thế giới thiền.
Từ trong sinh hoạt thường ngày của thiền
giả, chúng ta có thể thấy được cuộc sống thăng hoa, nhưng làm thế nào để
thấu ngộ cảnh giới thiền trong câu đối thoại của các thiền sư?
Chúng ta thường cảm thấy đối thoại
của các thiền sư là chuyện đầu trâu mặt ngựa - chẳng có liên quan gì cả -
lộn xộn không có thứ tự. Chẳng hạn như bạn hỏi các thiền sư:
-Bông hoa này thế nào? Ðẹp không?
Có thể Ngài sẽ trả lời:
-Trời sắp mưa rồi?
Bạn hỏi Ngài:
-Ăn cơm chưa?
Ngài sẽ bảo bạn rằng:
-À ! Trong kia có người chết đói.
Bạn hỏi Ngài:
-Cầu học đạo như thế nào?
Có lẽ Ngài sẽ bảo như vầy:
-Ăn cơm, ngủ nghỉ mà thôi!
Bạn nhận được những câu trả lời như thế,
quả thực là con giòi một trượng hai lần không ra đầu mối. Bạn cảm thấy tất
cả các câu trả lời của thiền giả đều lộn xộn, không phù hợp với những điều
mà mình đã hỏi.
Kỳ thực không phải như thế, các Ngài chẳng
những không trả lời trái với điều được hỏi mà còn rất phù hợp huyền cơ.
Nói một cách nghiêm khắc, hai người không cùng kinh nghiệm thì rất khó
truyền tin cho nhau. Ðối với một người chưa từng trông thấy cảnh sơn thủy,
dù bạn có hao hơi tổn sức vì người đó miêu tả cảnh sơn thủy hữu tình một
cách sinh động như thật đi nữa thì cũng như đem đờn gẩy tai trâu, thật
uổng công vô ích. Cũng vậy, bàn luận về thiền với một người chưa có kinh
nghiệm chứng ngộ về thiền thì cũng như muỗi cắn trâu sắt, chỉ uổng phí lời
lẽ mà thôi. Tuy như thế, song các thiền sư vẫn cứ nói, mặc dù nói thế nào
cũng không thể diễn bày được thực tại, nhưng đó chính là chỗ vi diệu của
thiền và cũng chính là lòng từ bi vô lượng của thiền giả.
Ví như có vị thiền sư nói:“Núi nam
nổi mây, núi bắc đổ mưa”. Lại nói:“Ngựa Ích châu ăn cỏ, lừa Mục châu no
bụng”. Mới nghe qua hầu như không có một chút gì hợp lý, không hợp
lô-gích, nhưng nếu chúng ta tham cứu một cách tỉ mỉ thì tất cả đều là
thiền cơ trí tuệ sâu rộng. Vì rằng, quan niệm của người bình thường thấy
vật là vật, ta là ta, ta-vật, kia-đây đối lập nhau, mặc dù cũng có quan hệ
với nhau. Thứ quan niệm này hoàn toàn là do bắt nguồn từ hoạt động đối
đãi, phân biệt của tâm thức mà ra, căn bản không phải là chân lý cứu cánh.
Do loại tà kiến này sai sử dẫn dắt mà chúng ta thường tạo ra một số tranh
đấu vị kỷ vô nghĩa. Còn các thiền sư thì đã sớm từ bỏ tâm phân biệt chấp
trước đó rồi nên từ trong biển tự tánh giác ngộ của các Ngài biểu lộ ra
trí tuệ vô lậu thấu suốt thật tánh bình đẳng nhất như của các pháp. Do đó
vũ trụ vạn vật trong tầm nhìn của các Ngài không còn phân biệt ta-vật,
trong-ngoài khác nhau. Loại cảnh giới dung hợp này chính là cuộc sống
thăng hoa.
Vì vậy, chúng ta có thể dựa vào câu nói mâu
thuẫn của các thiền sư để khai thác bông hoa trí tuệ của mình và tiến đến
nâng cao cảnh giới cuộc sống.
Phó đại sĩ
có một bài thơ thiền như sau:
“Không thủ bả sừ
đầu
Bộ hành kỵ thủy
ngưu
Nhân tùng kiều
thượng quá
Kiều lưu, thủy bất
lưu”.
Tạm dịch:
“Tay không cầm cán
mai
Ði bộ lưng trâu
ngồi
Trên cầu người qua
lại
Cầu trôi, nước
chẳng trôi”.
Giả sử bài thơ này là tác phẩm do một vị
học sinh trẻ sáng tác thì chắc chắn sẽ bị thầy giáo phê bình là không hợp
tình lý, xa rời thực tế. Nhưng đây lại là trí tuệ từ trong tự tánh chứng
ngộ của thiền sư biểu lộ ra. Thiền tuy là “truyền riêng ngoài giáo lý,
không lập văn tự”, nhưng từ trong thơ thiền, chúng ta vẫn có thể thể hội
được tin tức cảnh giới chứng ngộ của thiền sư.
Toàn bộ bài thơ này, kỳ thực là điều hòa
mâu thuẫn, chỉ cần thuyết minh một chữ "không" thôi, cũng đã bao hàm toàn
bộ vũ trụ vạn hữu rồi. Nghĩa là “không tức là sắc, sắc tức là không”.
Trong trí tuệ của thiền sư “không” là nguồn gốc của tất cả vạn hữu; vũ trụ
không phải là “không” thì không thể bao trùm vạn vật; tâm linh không phải
là “không” thì làm sao dung chứa ba ngàn thế giới? Thiền sư nói:“tay không
cầm cán mai”, trên thực tế “tay không” đâu chỉ nắm giữ một mình “cán mai”
mà còn có toàn thể vũ trụ ba ngàn và hư không pháp giới nữa. Nhân đây mà
chúng ta thấy được lòng bao dung quảng đại của thiền sư. “Ði bộ lưng trâu
ngồi” là một trạng thái thung dung quên mình, là một cảnh giới tiêu dao tự
tại. Tâm bị vật trói buộc, tuy ngồi trên kiệu, trên xe xa hoa lộng lẫy
nhưng vẫn không được ung dung tự tại; tâm không phiền não bực bội thì dù
cỡi trâu hay đi bộ cũng đều thung dung, vui vẻ vô cùng. “Trên cầu người
qua lại, cầu trôi nước chẳng trôi”. Thông thường mọi người đều cho rằng
nước trôi chứ không phải cầu trôi. Trạng thái tâm lý này bắt nguồn từ quan
niệm sai biệt, do trong lòng chúng ta có sự phân biệt cho nên sinh ra các
hiện tượng ngoại cảnh có động-tĩnh, trong-ngoài, cho đến lớn-nhỏ,
trên-dưới v.v... sai khác, còn ngược lại cảnh giới của các thiền sư thì
động-tĩnh nhất như, trong-ngoài hiệp nhất. Thí như tôi đứng trong này diễn
giảng, có một số người ở bên ngoài không chen vào được, tôi thấy vậy không
yên tâm, bèn bảo:
-Các vị không nên đứng bên ngoài, hãy vào
bên trong để nghe.
Nhưng đối phương có người lại nói:
-Ðại sư! Ngài không nên đứng ở bên ngoài
diễn giảng, hãy vào bên trong nghỉ đi.
Do
đó, trong-ngoài, trên-dưới v.v... bất kỳ một vướng mắc nào cũng đều bắt
nguồn từ tâm thức đối đãi, phân biệt của chúng ta cả, mà hoạt động của
loại tâm thức này lại chỉ tồn tại trong khoảng một niệm thôi. Kỳ thực,
người qua kẻ lại, bên trong, bên ngoài đều là một chỉnh thể cùng tồn tại.
Vì thế, từ trong câu nói mâu thuẫn của các thiền sư, chúng ta phải làm thế
nào khám phá cho được những biểu tượng lộn xộn hư huyễn và trừ khử tận gốc
tâm phân biệt của chúng ta, không để vướng mắc vào chỗ động của gió và
phướng
thì mới có thể đi vào thế giới của thiền.
Thiền sư Phật Ấn
có một bài thơ thiền rất nổi tiếng:
“Nhất thụ xuân
phong hữu lưỡng ban
Nam chi hướng noãn,
bắc chi hàn
Hiện thành nhất
đoạn tây lai ý
Nhất phiến tây phi,
nhất phiến đông”.
Tạm dịch:
“Một cây xuân đến
tỏa đôi cành
Cành nam ấm áp,
cành bắc lạnh
Hiện thành một đoạn
trời tây đến
Một mảnh về tây,
một mảnh đông”.
Bài thơ này gợi lên hàm ý rất thâm thúy.
Ðời nhà Tống, Tô Ðông Pha
và Tần Thiếu Du,
cả hai đều là văn hào nổi tiếng đương thời, vì thường cùng nhau luận đạo
rất quyết liệt nên hay sanh ra tranh chấp. Có một lần, trong khi họ cùng
nhau ăn uống thì vừa lúc ấy có một người ăn mày toàn thân dơ bẩn, quần áo
lôi thôi lếch thếch tiến đến trước mặt, có lẽ vì đã lâu không tắm giặt nên
chấy rận bò khắp mình. Tô Ðông Pha thấy bộ dạng như thế, liền bảo:
-Người này thật dơ bẩn, cấu ghét trên người
đều sanh chấy rận cả rồi.
Tần Thiếu Du kiên quyết nói:
-Không đúng, chấy rận là từ trong bông vải
sanh ra.
Hai người vì thế tranh chấp mãi không
thôi, nhất quyết phải tìm một người bình luận cho công bằng. Vì vậy, hai
người bèn quyết định tìm đến thiền sư Phật Ấn nhờ phân xử. Trước sự việc
ấy, cả hai người đều vội vàng tìm đến thiền sư Phật Ấn tha thiết yêu cầu
ngài giúp đỡ cho mình. Bởi vì cuộc tranh chấp này không chỉ là sự hơn thua
trong một bàn tiệc mà còn là vấn đề thể diện nữa. Mấy ngày trôi qua, ngày
công bố kết quả đã đến, cả hai người đều cho rằng mình đã nắm chắc phần
thắng nên dương dương tự đắc thỉnh thiền sư Phật Ấn nhận xét. Thiền sư
Phật Ấn nhìn hai người, trong lòng đã có chủ định sẵn, bèn xoa xoa ngực
nói:
-Ðầu con rận này là từ cấu bẩn sanh ra, còn
chân của nó thì lại sanh ra từ bông vải. Hiện tại cả hai vị đều thua hết,
hãy bày tiệc mời ta đi thôi !
Thiền sư Phật Ấn nhân đó mà xúc cảm sáng
tác ra bài thơ này. Ðại ý bài thơ khuyên chúng ta nên xả bỏ tâm vọng tưởng
phân biệt, căn bản không nên vì truy tìm nguồn gốc của con rận mà vô cớ
tạo ra mâu thuẫn không cần thiết, trái lại phải đem việc mâu thuẫn nhau
chuyển hóa thành cảnh giới dung hợp. Nhưng kiểu nói mâu thuẫn này hoàn
toàn không phải ai ai cũng có thể nói được, không hiểu biết thấu đáo mà tự
ý nói càn, lời lẽ khoe khoang khuếch lác thì chỉ có làm trò cười cho
thiên hạ mà thôi.
Có một thanh niên trông thấy một vị lão Hòa
thượng đi ngang qua trước mặt, thế nhưng vẫn cứ ngồi yên không đứng dậy
cung kính nghinh tiếp. Lão Hòa thượng ấy đến gần anh ta, cất tiếng bảo:
-Anh bạn trẻ! Sao anh chẳng biết lễ phép gì
cả, trông thấy bậc trưởng lão sao không đứng dậy nghinh tiếp?
Người thanh niên nghênh ngang tự đắc, tự
cho rằng mình đã nắm bắt được thiền cơ nên trả lời:
-Tôi ngồi nghinh tiếp ngài chính là đứng
nghinh tiếp ngài vậy.
Lão Hòa thượng nghe thế, liền bước lên phía
trước, tát người thanh niên ấy một bạt tai. Người thanh niên bị đánh một
cách oan uổng, chẳng hiểu vì sao, nên hai mắt trừng trừng giận dữ, lớn
tiếng quát:
-Tại sao ngài lại đánh tôi?
-Ta đánh ngươi chính là không đánh ngươi
đó!
Vì vậy, khi nội tâm chưa trải qua quá
trình thể ngộ tâm chứng thực nghiệm thì cũng như con vẹt học nói, chẳng
qua chỉ là học đòi của người khác, rơi vào trò huyễn hoặc hoang đường,
chẳng sớm thì muộn cũng sẽ lộ rõ chân tướng, bị người biết tỏng mà thôi.
Thiền sư Hoàng Bá
đời Ðường, lúc du phương cầu học,
giữa đường gặp một vị cao Tăng tài cao đức trọng mà rất khiêm tốn, hai
người cùng đi, đến một nơi gặp phải dòng suối, nước dâng rất cao không lội
qua được. Thiền sư Hoàng Bá bèn chống tích trượng xuống nước, cởi
ủng treo ngược trên đầu tích trượng, rồi ngồi xếp bằng trên bờ suối. Vị
cao Tăng thấy bộ dạng như thế, liền bảo:
-Qua đi, qua đi chứ!
Thiền sư Hoàng Bá vẫn ngồi yên tại chỗ,
bình thản nói:
-Muốn qua ông tự mình đi qua, tôi muốn ở
đây nghỉ ngơi đã.
Vị cao Tăng vì thế tự mình qua suối, đi
trong nước như đi trên đất bằng, khi lội qua giữa dòng còn quay lại gọi
thiền sư Hoàng Bá:
-Này! Sang đây, sang đây đi!
Thiền sư Hoàng Bá thấy vị cao Tăng ấy quả
thực đã tự mình qua suối, bèn lớn tiếng trách:
-Sớm biết ông là một người chỉ biết cho
riêng mình thì ta đã chặt đứt hai chân của ông rồi, chứ không nhường ông
qua suối đâu.
Vị cao Tăng cười ha hả, khen rằng:
-Vĩ đại! Vĩ đại thay! Thật là một pháp khí
đại thừa phi thường.
Các vị có thể không hiểu được chỗ huyền
diệu trong ấy, nhất là trong khi thiền sư Hoàng Bá vấn đáp bằng lời lẽ cay
nghiệt ác độc, còn vị cao Tăng trái lại vẫn cười ha hả, tán thán thiền sư
Hoàng Bá là pháp khí đại thừa vĩ đại. Chuyển đổi căn cơ của thiền là ở chỗ
này và giác ngộ thiền cũng ngay tại đây. Chính vì thiền sư Hoàng Bá thấy
trước mắt rõ ràng là một người vị kỷ chỉ biết tự lợi mà không có tinh thần
lợi tha cho nên mới quát trách vị ấy, để nhắc nhở vị ấy. Nhưng vị cao Tăng
này lại là một đại A-la-hán đắc đạo ở núi Thiên Thai,
cố ý để thí nghiệm đạo hạnh của thiền sư Hoàng Bá và biết được thiền sư
Hoàng Bá đã sớm có lòng tự giác, giác tha, tự độ-độ tha, cho nên mới xưng
tán ngài là một vị Bồ-tát đại thừa cứu đời, làm lợi ích cho chúng sanh.
Từ những ví dụ trên có thể biết lời nói mâu
thuẫn của thiền sư kỳ thực đều là trí tuệ thấu ngộ thiền nơi tự tánh biểu
lộ ra. Chúng ta có thể lĩnh hội được cảnh giới cuộc sống nội tâm của các
ngài, đâu chỉ như hoàn cảnh “dựng nhà cỏ giữa chốn nhân gian, nhưng chẳng
có xe cộ náo nhiệt” của Ðào Uyên Minhmà
thôi? Cảnh giới tâm linh của Ðào Tiềm là trong sáng, thông suốt nhưng vẫn
còn phân biệt “ta” và “cảnh”, vả lại, cũng còn phân biệt cảnh xe cộ
qua lại tấp nập với cảnh hoa đào rực rỡ; còn tâm của thiền giả thì đã sớm
diệt trừ tận gốc loại tâm thức phân biệt này rồi. Thiền giả thì lại cho
rằng: dù đầm rồng, hang cọp cũng có thể là chốn sơn thuỷ tham thiền, đâu
nhất thiết phải bên suối hoa đào rực rỡ; núi đao, rừng kiếm cũng có thể là
pháp tọa, giường thiền, hà tất phải lót gối lớn, nệm cao. Thiền sư có một
bài thơ miêu tả về vấn đề này rất hay:
“Ðao sơn, kiếm thụ
vi bảo tọa
Long đàm, hổ huyệt
tác thiền sàng
Ðạo nhân hoạt kế
nguyên vi thử
Kiếp hỏa thiêu lai
dã bất man”.
Tạm dịch:
“Rừng kiếm, núi đao
làm bảo tọa
Ðầm rồng, hang cọp
lập giường thiền
Tiêu dao tự tại đời
tu sĩ
Kiếp hỏa cận kề vẫn
thản nhiên”.
---o0o---
---o0o---
Cập nhật: 01- 4 -2004