Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

 Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Học Cơ Bản


... ... .

 

 

THẾ GIỚI CUỘC SỐNG THĂNG HOA

 

Diễn giảng: Ðại sư Tinh Vân.

Việt dịch: Thích Hạnh Minh.

 

---o0o---

 

II. Từ trong lời nói mâu thuẫn nhìn qua thế giới thiền.

Từ trong sinh hoạt thường ngày của thiền giả, chúng ta có thể thấy được cuộc sống thăng hoa, nhưng làm thế nào để thấu ngộ cảnh giới thiền trong câu đối thoại của các thiền sư?

Chúng ta thường cảm thấy đối thoại của các thiền sư là chuyện đầu trâu mặt ngựa - chẳng có liên quan gì cả - lộn xộn không có thứ tự. Chẳng hạn như bạn hỏi các thiền sư:

-Bông hoa này thế nào? Ðẹp không?

Có thể Ngài sẽ trả lời:

-Trời sắp mưa rồi?

Bạn hỏi Ngài:

-Ăn cơm chưa?

Ngài sẽ bảo bạn rằng:

-À ! Trong kia có người chết đói.

Bạn hỏi Ngài:

-Cầu học đạo như thế nào?

Có lẽ Ngài sẽ bảo như vầy:

-Ăn cơm, ngủ nghỉ mà thôi!

Bạn nhận được những câu trả lời như thế, quả thực là con giòi một trượng hai lần không ra đầu mối. Bạn cảm thấy tất cả các câu trả lời của thiền giả đều lộn xộn, không phù hợp với những điều mà mình đã hỏi.

Kỳ thực không phải như thế, các Ngài chẳng những không trả lời trái với điều được hỏi mà còn rất phù hợp huyền cơ. Nói một cách nghiêm khắc, hai người không cùng kinh nghiệm thì rất khó truyền tin cho nhau. Ðối với một người chưa từng trông thấy cảnh sơn thủy, dù bạn có hao hơi tổn sức vì người đó miêu tả cảnh sơn thủy hữu tình một cách sinh động như thật đi nữa thì cũng như đem đờn gẩy tai trâu, thật uổng công vô ích. Cũng vậy, bàn luận về thiền với một người chưa có kinh nghiệm chứng ngộ về thiền thì cũng như muỗi cắn trâu sắt, chỉ uổng phí lời lẽ mà thôi. Tuy như thế, song các thiền sư vẫn cứ nói, mặc dù nói thế nào cũng không thể diễn bày được thực tại, nhưng đó chính là chỗ vi diệu của thiền và cũng chính là lòng từ bi vô lượng của thiền giả.

Ví như có vị thiền sư nói:“Núi nam nổi mây, núi bắc đổ mưa”. Lại nói:“Ngựa Ích châu ăn cỏ, lừa Mục châu no bụng”. Mới nghe qua hầu như không có một chút gì hợp lý, không hợp lô-gích, nhưng nếu chúng ta tham cứu một cách tỉ mỉ thì tất cả đều là thiền cơ trí tuệ sâu rộng. Vì rằng, quan niệm của người bình thường thấy vật là vật, ta là ta, ta-vật, kia-đây đối lập nhau, mặc dù cũng có quan hệ với nhau. Thứ quan niệm này hoàn toàn là do bắt nguồn từ hoạt động đối đãi, phân biệt của tâm thức mà ra, căn bản không phải là chân lý cứu cánh. Do loại tà kiến này sai sử dẫn dắt mà chúng ta thường tạo ra một số tranh đấu vị kỷ vô nghĩa. Còn các thiền sư thì đã sớm từ bỏ tâm phân biệt chấp trước đó rồi nên từ trong biển tự tánh giác ngộ của các Ngài biểu lộ ra trí tuệ vô lậu thấu suốt thật tánh bình đẳng nhất như của các pháp. Do đó vũ trụ vạn vật trong tầm nhìn của các Ngài không còn phân biệt ta-vật, trong-ngoài khác nhau. Loại cảnh giới dung hợp này chính là cuộc sống thăng hoa.

Vì vậy, chúng ta có thể dựa vào câu nói mâu thuẫn của các thiền sư để khai thác bông hoa trí tuệ của mình và tiến đến nâng cao cảnh giới cuộc sống.

Phó đại sĩ10 có một bài thơ thiền như sau:

“Không thủ bả sừ đầu

Bộ hành kỵ thủy ngưu

Nhân tùng kiều thượng quá

Kiều lưu, thủy bất lưu”.

Tạm dịch:

“Tay không cầm cán mai

 Ði bộ lưng trâu ngồi

 Trên cầu người qua lại

 Cầu trôi, nước chẳng trôi”.

Giả sử bài thơ này là tác phẩm do một vị học sinh trẻ sáng tác thì chắc chắn sẽ bị thầy giáo phê bình là không hợp tình lý, xa rời thực tế. Nhưng đây lại là trí tuệ từ trong tự tánh chứng ngộ của thiền sư biểu lộ ra. Thiền tuy là “truyền riêng ngoài giáo lý, không lập văn tự”, nhưng từ trong thơ thiền, chúng ta vẫn có thể thể hội được tin tức cảnh giới chứng ngộ của thiền sư.

Toàn bộ bài thơ này, kỳ thực là điều hòa mâu thuẫn, chỉ cần thuyết minh một chữ "không" thôi, cũng đã bao hàm toàn bộ vũ trụ vạn hữu rồi. Nghĩa là “không tức là sắc, sắc tức là không”. Trong trí tuệ của thiền sư “không” là nguồn gốc của tất cả vạn hữu; vũ trụ không phải là “không” thì không thể bao trùm vạn vật; tâm linh không phải là “không” thì làm sao dung chứa ba ngàn thế giới? Thiền sư nói:“tay không cầm cán mai”, trên thực tế “tay không” đâu chỉ nắm giữ một mình “cán mai” mà còn có toàn thể vũ trụ ba ngàn và hư không pháp giới nữa. Nhân đây mà chúng ta thấy được lòng bao dung quảng đại của thiền sư. “Ði bộ lưng trâu ngồi” là một trạng thái thung dung quên mình, là một cảnh giới tiêu dao tự tại. Tâm bị vật trói buộc, tuy ngồi trên kiệu, trên xe xa hoa lộng lẫy nhưng vẫn không được ung dung tự tại; tâm không phiền não bực bội thì dù cỡi trâu hay đi bộ cũng đều thung dung, vui vẻ vô cùng. “Trên cầu người qua lại, cầu trôi nước chẳng trôi”. Thông thường mọi người đều cho rằng nước trôi chứ không phải cầu trôi. Trạng thái tâm lý này bắt nguồn từ quan niệm sai biệt, do trong lòng chúng ta có sự phân biệt cho nên sinh ra các hiện tượng ngoại cảnh có động-tĩnh, trong-ngoài, cho đến lớn-nhỏ, trên-dưới v.v... sai khác, còn ngược lại cảnh giới của các thiền sư thì động-tĩnh nhất như, trong-ngoài hiệp nhất. Thí như tôi đứng trong này diễn giảng, có một số người ở bên ngoài không chen vào được, tôi thấy vậy không yên tâm, bèn bảo:

-Các vị không nên đứng bên ngoài, hãy vào bên trong để nghe.

 Nhưng đối phương có người lại nói:

-Ðại sư! Ngài không nên đứng ở bên ngoài diễn giảng, hãy vào bên trong nghỉ đi.

 Do đó, trong-ngoài, trên-dưới v.v... bất kỳ một vướng mắc nào cũng đều bắt nguồn từ tâm thức đối đãi, phân biệt của chúng ta cả, mà hoạt động của loại tâm thức này lại chỉ tồn tại trong khoảng một niệm thôi. Kỳ thực, người qua kẻ lại, bên trong, bên ngoài đều là một chỉnh thể cùng tồn tại. Vì thế, từ trong câu nói mâu thuẫn của các thiền sư, chúng ta phải làm thế nào khám phá cho được những biểu tượng lộn xộn hư huyễn và trừ khử tận gốc tâm phân biệt của chúng ta, không để vướng mắc vào chỗ động của gió và phướng11 thì mới có thể đi vào thế giới của thiền.

Thiền sư Phật Ấn12 có một bài thơ thiền rất nổi tiếng:

 “Nhất thụ xuân phong hữu lưỡng ban

Nam chi hướng noãn, bắc chi hàn

Hiện thành nhất đoạn tây lai ý

Nhất phiến tây phi, nhất phiến đông”.

  Tạm dịch:

 “Một cây xuân đến tỏa đôi cành

Cành nam ấm áp, cành bắc lạnh

Hiện thành một đoạn trời tây đến

Một mảnh về tây, một mảnh đông”.

Bài thơ này gợi lên hàm ý rất thâm thúy. Ðời nhà Tống, Tô Ðông Pha13 và Tần Thiếu Du14, cả hai đều là văn hào nổi tiếng đương thời, vì thường cùng nhau luận đạo rất quyết liệt nên hay sanh ra tranh chấp. Có một lần, trong khi họ cùng nhau ăn uống thì vừa lúc ấy có một người ăn mày toàn thân dơ bẩn, quần áo lôi thôi lếch thếch tiến đến trước mặt, có lẽ vì đã lâu không tắm giặt nên chấy rận bò khắp mình. Tô Ðông Pha thấy bộ dạng như thế, liền bảo:

-Người này thật dơ bẩn, cấu ghét trên người đều sanh chấy rận cả rồi.

Tần Thiếu Du kiên quyết nói:

-Không đúng, chấy rận là từ trong bông vải sanh ra.

 Hai người vì thế tranh chấp mãi không thôi, nhất quyết phải tìm một người bình luận cho công bằng. Vì vậy, hai người bèn quyết định tìm đến thiền sư Phật Ấn nhờ phân xử. Trước sự việc ấy, cả hai người đều vội vàng tìm đến thiền sư Phật Ấn tha thiết yêu cầu ngài giúp đỡ cho mình. Bởi vì cuộc tranh chấp này không chỉ là sự hơn thua trong một bàn tiệc mà còn là vấn đề thể diện nữa. Mấy ngày trôi qua, ngày công bố kết quả đã đến, cả hai người đều cho rằng mình đã nắm chắc phần thắng nên dương dương tự đắc thỉnh thiền sư Phật Ấn nhận xét. Thiền sư Phật Ấn nhìn hai người, trong lòng đã có chủ định sẵn, bèn xoa xoa ngực nói:

-Ðầu con rận này là từ cấu bẩn sanh ra, còn chân của nó thì lại sanh ra từ bông vải. Hiện tại cả hai vị đều thua hết, hãy bày tiệc mời ta đi thôi !

Thiền sư Phật Ấn nhân đó mà xúc cảm sáng tác ra bài thơ này. Ðại ý bài thơ khuyên chúng ta nên xả bỏ tâm vọng tưởng phân biệt, căn bản không nên vì truy tìm nguồn gốc của con rận mà vô cớ tạo ra mâu thuẫn không cần thiết, trái lại phải đem việc mâu thuẫn nhau chuyển hóa thành cảnh giới dung hợp. Nhưng kiểu nói mâu thuẫn này hoàn toàn không phải ai ai cũng có thể nói được, không hiểu biết thấu đáo mà tự ý nói càn, lời lẽ khoe khoang khuếch lác thì chỉ có  làm trò cười cho thiên hạ mà thôi.

Có một thanh niên trông thấy một vị lão Hòa thượng đi ngang qua trước mặt, thế nhưng vẫn cứ ngồi yên không đứng dậy cung kính nghinh tiếp. Lão Hòa thượng ấy đến gần anh ta, cất tiếng bảo:

-Anh bạn trẻ! Sao anh chẳng biết lễ phép gì cả, trông thấy bậc trưởng lão sao không đứng dậy nghinh tiếp?

 Người thanh niên nghênh ngang tự đắc, tự cho rằng mình đã nắm bắt được thiền cơ nên trả lời:

-Tôi ngồi nghinh tiếp ngài chính là đứng nghinh tiếp ngài vậy.

Lão Hòa thượng nghe thế, liền bước lên phía trước, tát người thanh niên ấy một bạt tai. Người thanh niên bị đánh một cách oan uổng, chẳng hiểu vì sao, nên hai mắt trừng trừng giận dữ, lớn tiếng quát:

-Tại sao ngài lại đánh tôi?

-Ta đánh ngươi chính là không đánh ngươi đó!

 Vì vậy, khi nội tâm chưa trải qua quá trình thể ngộ tâm chứng thực nghiệm thì cũng như con vẹt học nói, chẳng qua chỉ là học đòi của người khác, rơi vào trò huyễn hoặc hoang đường, chẳng sớm thì muộn cũng sẽ lộ rõ chân tướng, bị người biết tỏng mà thôi.

 Thiền sư Hoàng Bá15 đời Ðường, lúc du phương cầu học, giữa đường gặp một vị cao Tăng tài cao đức trọng mà rất khiêm tốn, hai người cùng đi, đến một nơi gặp phải dòng suối, nước dâng rất cao không lội qua được. Thiền sư Hoàng Bá bèn chống tích trượng xuống nước, cởi ủng treo ngược trên đầu tích trượng, rồi ngồi xếp bằng trên bờ suối. Vị cao Tăng thấy bộ dạng như thế, liền bảo:

-Qua đi, qua đi chứ!

Thiền sư Hoàng Bá vẫn ngồi yên tại chỗ, bình thản nói:

-Muốn qua ông tự mình đi qua, tôi muốn ở đây nghỉ ngơi đã.

Vị cao Tăng vì thế tự mình qua suối, đi trong nước như đi trên đất bằng, khi lội qua giữa dòng còn quay lại gọi thiền sư  Hoàng Bá:

-Này! Sang đây, sang đây đi!

Thiền sư Hoàng Bá thấy vị cao Tăng ấy quả thực đã tự mình qua suối, bèn lớn tiếng trách:

-Sớm biết ông là một người chỉ biết cho riêng mình thì ta đã chặt đứt hai chân của ông rồi, chứ không nhường ông qua suối đâu.

Vị cao Tăng cười ha hả, khen rằng:

-Vĩ đại! Vĩ đại thay! Thật là một pháp khí đại thừa phi thường.

Các vị có thể không hiểu được chỗ huyền diệu trong ấy, nhất là trong khi thiền sư Hoàng Bá vấn đáp bằng lời lẽ cay nghiệt ác độc, còn vị cao Tăng trái lại vẫn cười ha hả, tán thán thiền sư Hoàng Bá là pháp khí đại thừa vĩ đại. Chuyển đổi căn cơ của thiền là ở chỗ này và giác ngộ thiền cũng ngay tại đây. Chính vì thiền sư Hoàng Bá thấy trước mắt rõ ràng là một người vị kỷ chỉ biết tự lợi mà không có tinh thần lợi tha cho nên mới quát trách vị ấy, để nhắc nhở vị ấy. Nhưng vị cao Tăng này lại là một đại A-la-hán đắc đạo ở núi Thiên Thai16, cố ý để thí nghiệm đạo hạnh của thiền sư Hoàng Bá và biết được thiền sư Hoàng Bá đã sớm có lòng tự giác, giác tha, tự độ-độ tha, cho nên mới xưng tán ngài là một vị Bồ-tát đại thừa cứu đời, làm lợi ích cho chúng sanh.

Từ những ví dụ trên có thể biết lời nói mâu thuẫn của thiền sư kỳ thực đều là trí tuệ thấu ngộ thiền nơi tự tánh biểu lộ ra. Chúng ta có thể lĩnh hội được cảnh giới cuộc sống nội tâm của các ngài, đâu chỉ như hoàn cảnh “dựng nhà cỏ giữa chốn nhân gian, nhưng chẳng có xe cộ náo nhiệt” của Ðào Uyên Minh17mà thôi? Cảnh giới tâm linh của Ðào Tiềm là trong sáng, thông suốt nhưng vẫn còn phân biệt “ta” và “cảnh”, vả lại, cũng còn phân biệt cảnh xe cộ qua lại tấp nập với cảnh hoa đào rực rỡ; còn tâm của thiền giả thì đã sớm diệt trừ tận gốc loại tâm thức phân biệt này rồi. Thiền giả thì lại cho rằng: dù đầm rồng, hang cọp cũng có thể là chốn sơn thuỷ tham thiền, đâu nhất thiết phải bên suối hoa đào rực rỡ; núi đao, rừng kiếm cũng có thể là pháp tọa, giường thiền, hà tất phải lót gối lớn, nệm cao. Thiền sư có một bài thơ miêu tả về vấn đề này rất hay:

“Ðao sơn, kiếm thụ vi bảo tọa

Long đàm, hổ huyệt tác thiền sàng

Ðạo nhân hoạt kế nguyên vi thử

 Kiếp hỏa thiêu lai dã bất man”. 

 Tạm dịch:

“Rừng kiếm, núi đao làm bảo tọa

 Ðầm rồng, hang cọp lập giường thiền

Tiêu dao tự tại đời tu sĩ

Kiếp hỏa cận kề vẫn thản nhiên”.


 

10 Phó đại sĩ: Ngài họ Phó tên Hấp, tự Huyền Phong, sinh năm Kiến Võ thứ 4 đời Nam Tề (497 TL) mất năm Ðại Kiến thứ 1 đời Tuyên Ðế nhà Trần (569.TL).  Ngài là vị Ðại sĩ để tóc dài, dùng họ mà gọi là Phó đại sĩ, dùng địa danh mà gọi là Ðông Dương đại sĩ, còn Ngài tự xưng là Thiện Huệ đại sĩ. Ðại sĩ là dịch âm từ chữ Bồ-tát, vị Ðại sĩ này sáng lập ra luận, vì vậy trong luận tạng có Phó đại sĩ truyện phụ vào sau sách Long Hoa Sám Pháp, lại có Phó đại sĩ lục 4 quyển, hiện còn lưu hành ở đời. 

11 Ðây là một giai thoại về Lục tổ Huệ Năng (638-713): Ngót 16 năm ẩn tránh, Ngài biết cơ duyên hoằng pháp đã đến, bèn đến Quảng châu, nhằm ngày mùng tám tháng giêng năm Bính Tý, niên hiệu Nghi Phụng năm đầu (676 TL) nhà Ðường. Ngài vào nghỉ nhờ ngoài hiên chùa Pháp Tánh. Hôm ấy, pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết-bàn. Trước chùa treo lá phướng dài, gió thổi lá phướng phất phơ qua lại. Hai ông đạo lấy đó làm đề tài tranh luận. Người nói: “phướng động”, người bảo “gió động”, bàn qua cãi lại mà không ngã lẽ. Ngài đến thưa: ‘Có thể cho khách cư sĩ này lạm bàn chăng?” Hai ông đồng ý, Ngài bảo: “Không phải phướng động, không phải gió động, mà tâm nhân giả động”. Mọi người nghe qua đều ngạc  nhiên...

12 Phật Ấn (1031-1098): Ngài họ Lâm, quê ở Phù-Lương, Nhiêu châu đời Tống, tự Giác Lão, hiệu Liễu Nguyên. Trụ trì chùa Vân Cư hơn 40 năm, khi Tô Ðông Pha bị biếm tới Hàng châu, Ngài trụ trì ở chùa núi Lô Sơn, hai người cùng nhau thù tạc làm thơ. Năm thứ nhất niên hiệu Nguyên Phù đời Triết Tông (1098 TL), Ngài tịch, thọ 67 tuổi, 52 tuổi hạ. 

13 Tô Ðông Pha (1036-1101): Tức Tô Thức, tự  Tử Chiêm, hiệu Ðông Pha, người Nga My thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Ông là một nhà thơ, nhà tản văn lừng danh đời Tống.

14 Tần Thiếu Du: Người Cao Bưu đời Tống, tự là Thiếu Du, lại còn gọi là Thái Hư, hiệu Hàn Câu cư sĩ, ở đời gọi là Tần Hoài Hải. Ông giỏi văn chương thi từ, là bạn thân với Tô Ðông Pha.   

15 Hoàng Bá (? –850): Tức Hy Vận thiền sư đời Ðường, người tỉnh Mân (Phúc Kiến), Hồng châu. Thuở nhỏ, ngài xuất gia ở núi Hoàng Bá, sau tham vấn thiền sư Bá Trượng Hoài Hải mà được giác ngộ. Sau ngài ở chùa Ðại An đất Hồng châu, đồ chúng tìm đến tham học rất đông. Ðời Ðường khoảng niện hiệu Ðại Trung (847-860 TL), Ngài tịch tại núi Hoàng Bá. Vua ban thụy hiệu là Ðoạn Tế thiền sư, tháp hiệu Quảng Nghiệp.

16 Núi Thiên Thai: Núi này là nhánh phía đông của rặng Tiên Hà Lĩnh,ở phía tây huyện Thiên Thai đất Thai Châu, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc.. Núi có hình thể cao lớn, tây nam nối với Quát Thương, Nhạn Ðãng, tây bắc nối với Tứ Minh, Kim Hoa ngoằn ngoèo trên bờ biển đông, như áo có đường viền. Ðại sư Trí Giả đời Tuỳ đã dựa vào núi này mà sáng lập ra một tông phái, vì thế mà có tên là tông Thiên Thai.

17 Ðào Uyên Minh (365-427): Tức Ðào Tiềm, một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đời Tấn.

 

---o0o---

 

[ Mục Lục ] [ I ] [ II ] [ III ] [ IV]  

 

---o0o---

 

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster: quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Phật Học Cơ Bản

Đầu trang

 

Biên tập nội dung:  Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:  
quangduc@quangduc.com