Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

 Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Học Cơ Bản


... ... .

 

 

  THẾ GIỚI CUỘC SỐNG THĂNG HOA

 

Diễn giảng: Ðại sư Tinh Vân.

Việt dịch: Thích Hạnh Minh.

 

---o0o---

Kính thưa các vị pháp sư, các vị tín đồ hộ pháp.

Bài giảng của chúng ta đã liên tục ba ngày nay rồi. Ngày thứ nhất là giảng về “con đường bằng phẳng của hành vi”, nơi hành vi của mỗi cá nhân sau khi hợp lý hóa, tiếp đến là theo đuổi nếp sống “thân tâm an trú điền viên”. Tuy thân tâm đã an trú rồi nhưng kỳ thật vẫn chưa hoàn toàn viên mãn, chúng ta cần phải tiến thêm một bước nữa để nâng cao cảnh giới cuộc sống, mà chỉ có ở trong “thế giới cuộc sống thăng hoa” mới có thể đạt được kết quả an lạc thực sự.

Trong xã hội thế kỷ XX ngày nay, chúng ta phải hứng chịu sự quấy nhiễu vô cùng tệ hại của nền văn minh vật chất nên dần dần đánh mất hết hương vị tự nhiên vốn dĩ của mình. Mọi người phải chịu đựng đủ mọi giày vò và áp lực từ gia đình, trường học, xã hội v.v... và những thứ khác nữa, như: tranh chấp tình cảm, xã giao bạn bè, cạnh tranh sự nghiệp, cho đến các vấn đề phức tạp về chính trị, kinh tế v.v... có thể nói là muôn hình vạn trạng, biến hóa không cùng. Vì thế, chúng ta không chỉ làm cho thân tâm an trú thực sự, mà còn phải theo đuổi cảnh giới cuộc sống tối cao nữa, có như thế mới không bị cuốn trôi theo dòng đời ô hợp.

Nhưng làm thế nào để cuộc sống được thăng hoa? Trong Phật giáo chỉ dạy cho chúng ta rất nhiều phương pháp tu hành, trong đó công phu thiền định là đơn giản dễ thực hành nhất. Tuy trong Phật pháp, như tám tông phái do đại thừa khởi xướng, có rất nhiều đường lối tu tập thiết thực có khả năng thanh lọc tư tưởng, tịnh hóa thân tâm, khiến cho cuộc sống tự nhiên thăng hoa, đáng để thực hành nhưng những phương pháp ấy đều không trực tiếp thấu triệt bằng thiền. Hôm nay tôi sẽ mượn phương pháp thiền để giảng cho các vị biết cảnh giới thăng hoa của cuộc sống như thế nào?!

Tham thiền có mấy điều quan trọng cần phải chú ý:

1. Không nên nói toạc ra.

2. Nêu lên lòng nghi.

3. Nắm vững thiền cơ.

4. Hành cước tham vấn.

5. Thực chứng khai ngộ.

Thiền thì không thể dùng ngôn ngữ văn tự mà nói hết được, một khi nói toạc ra rồi thì không còn là thiền nữa mà chỉ là những hiểu biết máy móc, cạn cợt trên bề mặt văn tự mà thôi. Thiền chú trọng ở chỗ tham cứu trực tiếp nơi tự thân và cần phải nêu lên nghi tình. Giống như đánh chuông, chúng ta vận sức càng mạnh thì tiếng vang càng xa. Cũng vậy, khi nghi vấn của chúng ta về bản chất cuộc sống càng sâu sắc thì đáp án thu được sẽ càng chính xác. Tham thiền hỏi đạo, điều quan trọng là phải nắm bắt được cơ phong, giống như khi chụp ảnh thì phải điều chỉnh tốt tiêu cự (tầm nhắm), xỏ kim phải trúng chính xác lỗ kim. Tham thiền mà không đúng căn cơ hoặc đánh mất cơ hội thì không thể khai ngộ. Thiền rất coi trọng việc tự mình cố gắng thực hành một cách thực tế, ngồi nhập định quán tưởng cố nhiên là một loại thiền định, mà đi - đứng - nằm - ngồi hằng ngày cũng là thiền. Thiền giả đôi khi vì để tham cứu thấu triệt một câu thoại đầu mà không tiếc “mang giày cỏ giẫm nát đỉnh mây ngàn” (không quản khó nhọc trèo non lội suối) tìm cầu bậc minh sư - thiện tri thức; ngoài điều ấy ra, trong lòng họ chẳng còn gì phải buồn lo hết. Cuộc sống của các thiền sư được thể hiện trong bài thơ sau:

“Tá thử nhàn phòng hựu nhất niên

Lĩnh vân, khê nguyệt bạn khô thiền

Minh triêu dục há nham tiền lộ

Hựu hướng hà sơn thạch thượng miên?”

 Tạm dịch:

“Non xanh dựng túp lều tranh

Trăng khe, mây núi mặc tình tiêu dao

Sớm mai dạo bước đồi cao

Thung dung tìm đá nơi nao ngủ khì?”

Kiểu an nhàn tự tại vui cùng mây nước này chính là thiền, mà mục đích cuối cùng của việc tham thiền là để chứng ngộ tự tánh thanh tịnh, nghĩa là công phu minh tâm kiến tánh. Một thiền giả mà có được năm thứ yếu lĩnh trên thì đại khái có thể lãnh hội được ý tứ sâu xa của thiền.

Sau đây, tôi sẽ căn cứ vào bốn gốc độ để cùng quí vị bàn luận về thế giới cuộc sống thăng hoa của thiền giả, rốt ráo là một thế giới như thế nào?

 

I. Từ trong công việc thường ngày nhìn qua thế giới thiền.

Ða số mọi người đều cho rằng: “Thiền nhất thiết phải ở trong thiền định mới có thể tu hành”. Một số người lại nhận định rằng: “Ngồi xếp bằng kiết già nhập định, nhắm mắt thu thần, mắt nhìn nơi chóp mũi, từ mũi quán tưởng trở vào trong tâm mới là thiền”. Ngồi nhập định đương nhiên là thiền nhưng thiền không chỉ giới hạn ở việc ngồi nhập định mà thôi, nháy mắt, dương mày, một lời nói, một nụ cười, không một cái gì không phải là thiền; thậm chí giơ tay, bước chân, bửa củi, gánh nước, ăn cơm, ngủ nghỉ v.v... mọi lúc mọi nơi đều tràn đầy thiền cơ. Thiền thì chỗ nào cũng có, khắp cả mọi nơi. Vì sao nói thiền thì chỗ nào cũng có, khắp cả mọi nơi? Một hôm, ngài Ngưỡng Sơn1 đến tham yết thầy mình là thiền sư Qui Sơn2. Thiền sư Qui Sơn hỏi:

- Suốt mùa hạ này, ta không thấy ngươi lên đây, ngươi đã làm gì dưới núi?

Câu hỏi này có ý quở trách ngài Ngưỡng Sơn trong ba tháng hạ không chịu tham thiền, không lo tu hành, cứ lần lữa lãng phí ngày giờ.

Ngài Ngưỡng Sơn thưa:

- Bạch sư phụ! Con đã gieo trồng một mảnh ruộng và thu được rất nhiều quả.

Tổ Qui Sơn nghe xong, rất lấy làm hoan hỷ, liền bảo:

  - Quả thực như vậy thì kỳ hạ này ngươi đã không để lãng phí vô ích.

Ý thiền sư Qui Sơn nói: đứng trên bình diện hiện thực cuộc sống mà nhìn nhận, nếu quả thực gieo trồng một khoảnh ruộng và được bội thu, thì không lãng phí ngày giờ vô ích; còn dựa trên ý nghĩa tham thiền mà nói, tức là đã gieo trồng nhân duyên để ngày sau làm Phật, làm Tổ.

Thiền sư Ngưỡng Sơn bị sư phụ hỏi như thế, cũng hỏi lại sư phụ rằng:

  - Sư phụ ơi! Mùa hạ này sư phụ đã làm gì?

  - Ta ban ngày ăn no, đêm đến ngủ khì.

Thiền sư Ngưỡng Sơn nghe vậy, liền tán thán lại rằng:

- Ồ! Mùa hạ này sư phụ cũng không bỏ phí thời giờ.

Giai thoại này rất gần gũi với sinh hoạt hằng ngày trong cuộc sống. Ðó chính là thiền, cũng chính là thế giới thăng hoa. Chính vì thiền sư Qui Sơn đã đạt đến cái vui cứu cánh nên mới có thể ngày đêm an vui tự tại, bất luận uống ăn, ngủ nghỉ thảy đều hết sức bình thường, tự nhiên. Cho nên nói, thiền thật sự chỗ nào cũng có, có khắp tất cả mọi nơi.

Con người thờøi nay thường bị công danh lợi lộc, tiền ngàn bạc tỉ làm cho rối rắm, không chỉ ăn ngủ không ngon mà ngay cả đứng ngồi cũng không yên. Thí như đi làm vừa về đến nhà, đang lúc định ngồi vào mâm ăn cơm thì chuông điện thoại vang lên, mà cứ mỗi lần nghe lại là một vấn đề gây cấn; thậm chí nửa đêm về đến nhà, nằm xuống sắp ngủ thì chuông cửa lại reo, tiếp theo là khách không mời mà đến để thương lượng nghiệp vụ quan trọng; muốn chợp mắt một lúc nhưng tâm thần không an, sợ rằng một khi ngủ gục thì lý trí ngờ nghệch khiến cho công việc kinh doanh buôn bán bị thất bại. Suốt ngày ngớ nga ngớ ngẩn, chăm chăm lo việc kinh doanh kiếm lời, không có một chút thời gian yên tĩnh dành cho chính mình. Cuộc sống như thế thì đâu còn gì vui thú nữa?

Ðời sống của một thiền giả là:

“Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Thanh mục đổ nhân thế

Vấn lộ bạch vân đầu”.

 

Tạm dịch :

 

“Một bát cơm ngàn nhà

Thân chơi muôn dặm xa

Mắt xanh xem người thế

Mây trắng hỏi đường qua”.

Thật là tự do thoải mái biết bao! Sinh hoạt thường nhật của thiền giả là một đời sống đơn giản hóa, nghệ thuật hóa, thuần túy hóa.

Ðời sống đơn giản hóa, nghệ thuật hóa, thuần túy hóa của thiền giả là gì? Tôi xin lấy một bài kệ để diễn tả tình hình sinh hoạt đó của thiền giả:

“Y đơn nhị cân bán

Tẩy liễm lưỡng bả bán

Ngật phạn tam xưng niệm

Quá đường ngũ quán tưởng”.

 

Tạm dịch :

 

“Chiếc áo hai cân rưỡi

Rửa mặt hai lần rưỡi

Ăn cơm niệm ba điều

Quá đường năm quán tưởng”.

Y phục của thiền giả rất đơn giản, xếp lại nặng không đầy hai cân rưỡi, do đó có thể tùy thời khoác lên vai vân du khắp bốn biển; chứ không như người đời mỗi khi ra khỏi cửa thì kén cá chọn canh, quần này áo nọ mà vẫn không vừa ý. Có một số người chỉ vì muốn chọn một bộ y phục hợp ý nhất để đi nghe một buổi thuyết pháp hoặc tham gia một buổi yến tiệc mà phải hao tâm tổn trí, cuối cùng phải quyết định dứt khoát không đi nữa cho khỏi phiền phức. Các vị hãy suy nghĩ thật kỹ xem, chỉ vì màu sắc, kích thước dài ngắn, hợp với không hợp của một bộ y phục mà phải bỏ lỡ một cơ hội tụ hợp ngàn năm khó gặp, như thế không đáng tiếc lắm ư? Vì vậy, có nhiều y phục chưa phải là hay, ít cũng không hẳn là dở; ít nhiều ôm ấp mãi trong lòng là điều không nên làm. Hãy sống tự nhiên giản dị, theo thời gian sự lo âu buồn bực trong lòng sẽ ngày một giảm dần, lối sống như thế không tự tại lắm sao? Nếu chúng ta có thể sống một đời sống đơn giản hóa thì tự nhiên sẽ thanh đạm với vật chất, không còn chạy theo tiếng tăm, lợi lộc nữa, lại có thể biến đổi cuộc sống khổ đau trở thành nghệ thuật hóa, thuần túy hóa.

Tôi nhớ lúc nhỏ tham thiền tại thiền đường, mỗi sáng sớm thức dậy, hai trăm người dùng chung một thau nước. Các vị chớ lấy làm lạ mà cho rằng không thể nghĩ bàn, kỳ thực đời sống của một thiền giả không chỉ “chiếc áo hai cân rưỡi” mà còn “rửa mặt hai lần rưỡi” nữa. Thế nào là“rửa mặt hai lần rưỡi”? Chính là một thau nước, thấm ướt khăn lần thứ nhất, lau khắp cả mặt là một lần; thấm khăn lần thứ hai, lau lại lần nữa là hai lần; bấy giờ còn lại một ít nước chỉ thấm ướt được một góc khăn, tùy ý lau qua một tí nữa, đây chính là hai lần rưỡi. Một thau nước, sau khi trải qua hai trăm người sử dụng, nước không còn trong nữa mà chỉ thấy một lớp cấu ghét đục ngầu nổi bồng bềnh trong thau.

Có lẽ các vị sẽ chế giễu người xuất gia thật dơ bẩn, nhếch nhác. Kỳ thực, nước rửa mặt tuy rất dơ bẩn nhưng tâm người xuất gia lại thanh tịnh vô cùng. Chính vì thiền giả sống một cuộc sống giản dị nên tâm đã từ lâu không còn bị hoàn cảnh chung quanh sai khiến, hoàn toàn không còn chạy theo sự hào nhoáng của cuộc sống nữa. Do đó, tâm an trú trong sự đơn giản bình dị và có thể đem cuộc sống mà người thường cho là khổ đau nghèo nàn nghệ thuật hóa, thuần túy hóa thành hoàn cảnh tự nhiên đầy hứa hẹn, đó chính là cuộc sống thường nhật của một thiền giả.

Ngoài điều này ra, lúc ăn cơm thiền giả còn phát ba lời nguyện:

1. Nguyện đoạn tất cả điều ác.

2. Nguyện tu tất cả điều lành.

3. Nguyện độ tất cả chúng sanh.

Và quán tưởng năm điều:

1. Xét kể công lao nhiều ít, lường chỗ đem đến.

2. Xét đức hạnh mình, đủ hay thiếu khi nhận sự cúng dường này.

3. Ðề phòng tâm lý, tránh những tội lỗi do tham, sân, si làm gốc gây ra.

4. Xem thực phẩm như thuốc hay để chữa trị thân hình gầy yếu.

5. Vì thành đạo nghiệp mới nhận cơm này.

Ðồng thời hằng tưởng niệm đến chư Phật và chúng sanh, dùng tâm cảm ân, tàm quý, nhẫn nhục, bình đẳng để xem xét suy lường tất cả thế gian. Hoàn cảnh tùy duyên tiêu dao tự tại không tìm cầu này của thiền giả có thể dùng một bài thơ để miêu tả:

   “Ngoại xuất tham thiền hòa thọ giới

     Biển đảm thằng tử tùy thân đới

     Xuất pha tác vụ thiên thiên hữu

     Vị cầu thân tâm vĩnh khương thới”.

Tạm dịch :

    “Ngoài việc tham thiền và thọ giới

     Dây thừng, đòn gánh chẳng xa rời

     Hằng ngày làm việc ngoài nương rẫy

     Vì muốn thân tâm luôn thảnh thơi”.

Thiền giả cho rằng trong công việc lao động bình thường như rửa bát, quét nhà, giẩy cỏ, cày ruộng v.v... khắp mọi nơi đều tràn đầy thiền cơ. Nếu chúng ta biết thưởng thức một cách tinh tế thì bất cứ chỗ nào cũng tràn ngập ý thú thiền. Chỉ cần mọi người sống với một tâm hồn “thản nhiên không chút vướng bận trong lòng” thì tự nhiên“khắp nhân gian sẽ trở nên tươi đẹp” ngay lập tức. Do đó, đối với thiền giả mà nói, công việc bình thường dù phiền toái đến mấy cũng phải biến đổi nó thành đơn giản hóa; quan hệ phức tạp của con người trong xã hội cũng phải biến đổi nó thành nghệ thuật hóa; và bảo vệ thân thể khỏe mạnh, tâm linh thuần tịnh. Có người gặp phải một tí việc cỏn con bằng hạt đậu hạt mè mà cứ băn khoăn lo lắng mãi trong lòng, ấp ủ lâu ngày thành ra tâm bệnh nên không thể lĩnh hội được đời sống “vốn đã vô tâm với muôn vật, ngại gì muôn vật giả xung quanh”, trụ nơi vô tâm, thảnh thơi phóng khoáng này của thiền giả. Ðã không thể lĩnh hội thì dù có nói bao nhiêu đi nữa cũng không làm cho cuộc sống thăng hoa được.

Thiền sư Ðạo Nguyên3- tổ sư tông Tào Ðộng tại Nhật Bản - lúc trẻ đến chùa Thiên Ðồng4Trung Quốc tham học. Một hôm, vào lúc giữa trưa, có một vị sư già đang phơi rau khô bên đường, mồ hôi nhễ nhại. Thiền sư Ðạo Nguyên bèn đến ngỏ lời hỏi thăm:

-Bạch sư phụ! Năm nay ngài được bao nhiêu tuổi rồi?  

- Bảy mươi tám.

-Ái chà! Tuổi cao như vậy, sao ngài không bảo người khác làm thế cho?

 Lão Hòa thượng liếc mắt nhìn thẳng vào thiền sư Ðạo Nguyên nói :

 -Người khác không phải mình! Việc bổn phận của mình, người khác làm sao thay thế được? Tiểu tiện, rửa tay, rửa mặt là bổn phận của mình, người khác có làm thế được không ?

 Thiền sư Ðạo Nguyên nghe xong, liền tỉnh ngộ, nhưng vẫn không đành lòng, bèn nói:

  -Vậy thì, thời tiết oi bức thế này, hà tất nhất định phải làm ngay bây giờ?

     -Không làm bây giờ thì còn đợi đến khi nào mới là lúc phơi rau khô?

Thái độ tham thiền của các thiền sư là tôn kính thiên nhiên, trời đất, tuyệt đối không bỏ qua bất kỳ một cơ hội nào. Các Ngài dùng tâm bình thường để cư xử trong sinh hoạt hằng ngày và cũng dùng tâm bình thường để trang nghiêm thế giới tương lai. Nhưng, thế giới tương lai trang nghiêm, mỹ lệ ấy là nhờ ở sự cải hóa, nâng cao ngay bây giờ và ở đây.

Trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc, đầu tiên có thiền sư Mã Tổ - Ðạo Nhất5 sáng lập tòng lâm, tiếp sau đó, có ngài Bá Trượng Hoài Hải6 lập ra thanh qui, lưu lại qui chế mẫu mực cho hậu lai ngàn năm noi theo phụng hành. Ngài Bá Trượng còn đặt ra cho chính mình một điều luật: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” nghĩa là: “Một ngày không làm thì một ngày không ăn”. Phật giáo Trung Quốc từ đây phát triển rộng rãi theo xu hướng “nông thiền”, và thiền từ đây cũng được thực hiện khắp mọi nơi ở Trung Quốc; hòa quyện mật thiết vào đời sống hằng ngày, không thể tách rời ra được. Sinh hoạt hằng ngày của thiền giả tuy không dụng tâm vào bất kỳ một chỗ nào, thung dung tự tại nhưng tuyệt đối không phải là du thủ du thực, buông lung phóng đãng, không kiềm chế được. Có nhiều thiền sư tỏ rõ thái độ thủ đạo, cần mẫn tham học khiến cho mọi người vô cùng kính phục. Các ngài không chỉ tham thiền trong lúc gánh nước,vác củi mà ngay cả khi nhíu mày, nháy mắt cũng không bỏ qua mảy may thiền cơ. Như đại sư Vĩnh Gia7 nói: “Ði cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói năng, im lặng, động tĩnh thể an nhiên”. Ðối với thiền giả chân chính mà nói, trong cuộc sống bình thường, thiền là nhìn thấy như vậy, chỗ nào cũng có.

Có khi chúng ta thấy thiền giả tham thiền sống rất giản dị, bề ngoài trông có vẻ khắc khổ lắm, nhưng chúng ta đừng bao giờ nhìn họ bằng ánh mắt thương hại, kỳ thực thế giới nội tâm của họ đã hoàn hảo rồi. Nhan sắc mà các vị ấy biểu lộ ra là rất tự nhiên và còn một phần hướng về công phu tham thiền tìm cầu giác ngộ nữa. Thiền sư Phật Giám8 chỉ một bình bát, một tay nãi và một đôi giày chu du khắp xứ hoằng pháp độ sanh, trải qua nhiều năm, y phục tả tơi trăm chắp ngàn vá nhưng vẫn không nỡ vứt bỏ. Có người khuyên Ngài nên thay đồ mới, Ngài bảo: 

- Những vật này, từ khi tôi ra khỏi Quỳ Quan9 đến nay chỉ mới dùng có năm mươi năm thôi, sao có thể nửa đường vứt bỏ được ?

Cảnh giới thăng hoa thanh đạm tri túc, siêu thoát thế gian ấy của thiền giả, lẽ nào không phải là điều mà chúng ta luôn tha thiết tìm cầu đó sao? Bởi vậy, chúng ta phải nương vào sinh hoạt thường ngày để thể hội tin tức của thiền ở bất cứ mọi nơi, sau đó đem pháp lạc của thiền mà mình thể hội được làm động lực thăng hoa cuộc sống.


 

1 Ngưỡng Sơn (807-883): Tức thiền sư Huệ Tịch ở Ðại Ngưỡng sơn, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc... Ngài xuất gia năm mười bốn tuổi. Thoạt đầu, Ngài đến yết kiến thiền sư Ðàm Nguyên Ứng Chân đệ tử của Nam Dương Tuệ Trung quốc sư được truyền cho chín mươi bảy viên tướng – một phương pháp quan trọng để hướng dẫn môn đệ sau này trong tông Qui ngưỡng. Sau đó Ngài đến tham học với ngài Qui Sơn Linh Hựu mà giác ngộ được huyền chỉ và cùng nhau lập ra phái thiền Qui ngưỡng ở Trung Quốc.

2 Qui sơn (771-853): Tức thiền sư Linh Hựu ở Ðàm châu đời Ðường, nguời Khê Cốc, Phúc châu; năm mười lăm tuổi xuất gia, ngiên cứu giáo lý đại – tiểu thừa ở chùa Long Hưng, Hàng châu. Năm hai mươi ba tuổi, Ngài đến Giang Tây, tham học với ngài Bá Trượng Hoài Hải thiền sư, được ấn chứng, rồi đến núi Qui sơn lập đạo tràng. Gặp lúc vua Võ Tông hủy hoại Phật giáo, Ngài phải ở ẩn trong dân chúng. Ðầu năm Ðại Hưng, tướng quốc Bùi Hưu mời Ngài trở về Qui sơn. Nguyên soái Lý Cảnh Nhượng tâu xin đề biển là chùa Ðồng Khánh. Gặp lúc vận hội Phật giáo hưng thịnh,  Ngài cùng đệ tử là Ngưỡng Sơn lập ra phái thiền Qui Ngưỡng. Ngài hoằng  dương Phật pháp hơn bốn mươi năm. Ngài tịch năm Ðại Trung thứ 7 đời Ðường, thọ tám mươi ba tuổi. Vua ban hiệu là Ðại Viên thiền sư. 

3 Ðạo Nguyên (1200-1253): Thiền sư là khai tổ của phái thiền Tào Ðộng tại Nhật Bản, húy Hy Huyền, còn được gọi là Vĩnh Bình Ðạo Nguyên. Ngài 13 tuổi xuất gia ở núi Tỉ Duệ với ngài Lương Hiển, học giáo nghĩa Thiên Thai. Năm Kiến Bảo thứ 2 (1214 TL), đến kinh đô chùa Kiến Nhân yết kiến ngài Minh Am Vinh Tây. Năm Trinh Ứng thứ 2 (1223 TL), sang Trung Quốc đến chùa Thiên Ðồng tham học, được ngài Trường Ông Như Tịch hướng dẫn đạt diệu tâm của dòng thiền Tào Ðộng. Năm 1227 trở lại Nhật, Ngài sống 15 năm ở kinh đô (Kyoto). Ngài sáng lập và cực lực xiển dương phái thiền Tào Ðộng, đề xướng pháp môn thực tế “Chỉ quản đả tọa”, người sau gọi thiền phong ấy là Mặc Chiếu thiền. Năm 1243, Ngài rời Hưng Thánh tự và đến vùng Ichizen để một năm sau đó kiến lập chùa Vĩnh Bình. Năm Kiến Trường thứ 5 (1253 TL) tháng 8, ngài thị tịch, thọ 54 tuổi, thụy hiệu Phật Tánh Truyền Ðông quốc sư – Thừa Dương đại sư. Ngài để lại cho đời rất nhiều tác phẩm, đặc biệt là bộ “Chánh pháp nhãn tạng” 95 quyển.

4 Chùa Thiên Ðồng: Chùa tọa lạc tại núi Thiên Ðồng, cách huyện lỵ Huyện Cận 65 dặm, thuộc tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Núi này rất cao đẹp, có những thắng cảnh như động Linh Lung, đầm Long Ẩn , vốn tên là núi Thái Bạch, vì sao Thái Bạch hóa thành Thiên Ðồng giáng hạ, cho nên gọi là núi Thiên Ðồng. 

5 Mã Tổ Ðạo Nhất (709 – 788): Sư họ Mã, người Giang Tô đời Ðường, người đương thời gọi ngài là Mã Tổ, sau được vua ban thụy hiệu là Ðại Tịch. Ðời Ðường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ 4 (788 TL), ngày mùng 4 tháng 2, sư ngồi kiết già thị tịch, thọ 80 tuổi, 60 tuổi hạ.

6 Bá Trượng Hoài Hải (720 – 814):  Sư họ Vương, quê ở Trường Lạc, Phúc châu đời Ðường, đệ tử của ngài là  Mã Tổ Ðạo Nhất. Vì Ngài trụ ở núi Bá Trượng nên người đương thời gọi ngài là Bá Trượng thiền sư. Ngài đã sáng lập ra qui thức trong thiền môn lấy tên là“ Bá Trượng Thanh Qui”. Ðời Ðường niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ 9 (814 TL) ngày 17 tháng giêng, sư qui tịch, thọ 95 tuổi. Vua ban hiệu là Ðại Trí thiền sư, tháp hiệu Ðại Bảo Thắng Luân.

6 Bá Trượng Hoài Hải (720 – 814):  Sư họ Vương, quê ở Trường Lạc, Phúc châu đời Ðường, đệ tử của ngài là  Mã Tổ Ðạo Nhất. Vì Ngài trụ ở nuí Bá Trượng nên người đương thời gọi ngài là Bá Trượng thiền sư. Ngài đã sáng lập ra qui thức trong thiền môn lấy tên là“ Bá Trượng Thanh Qui”. Ðời Ðường niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ 9 (814 TL) ngày 17 tháng giêng, sư qui tịch, thọ 95 tuổi. Vua ban hiệu là Ðại Trí thiền sư, tháp hiệu Ðại Bảo Thắng Luân.

7 Vĩnh Gia (665 – 713): Tức thiền sư Huyền Giác ở Vĩnh Gia, Ôn châu, Trung Quốc. Ngài họ Ðới, người Vĩnh Gia. Ngài xuất gia từ nhỏ và sớm tham học cả ba tạng kinh điển, tinh thông chỉ - quán của Thiên Thai. Sau Ngài tới chỗ Lục Tổ ở Tào Khê cùng Lục Tổ đàm đạo, nhân đó được giác ngộ, chỉ ở lại một đêm rồi ra đi, được người đương thời khen là Nhất Túc Giác (ở trọ một đêm mà giác ngộ) sáng hôm sau Ngài xuống núi trở về Ôn Giang. Môn nhân theo học rất đông, gọi Ngài là thiền sư Chân Giác. Ðời Ðường, niên hiệu Tiên Thiên thứ 2, ngày 17 tháng 10, Ngài tịch, thọ 49 tuổi. Vua sắc phong là Vô Tướng Ðại sư, tháp hiệu Tịnh Quang. Sư trước tác hai tập: Chứng đạo ca và Thiền tông ngộ tu viên chỉ, được lưu hành rộng rãi trong thiền môn.

8 Phật Giám (1178-1249): Tức Kính Sơn thiền sư, đệ tử ngài là Ngọa Long Phá Am. Ngài họ Ung, tên Sư Phạm, hiệu Vô Chuẩn. Các ngài Khai Sơn Thánh Nhất ở chùa Ðông Phước, Khai Sơn Tổ Nguyên ở chùa Viên Giác đều là đệ tử của ngài. Ðời Tống niên hiệu Thuần Hựu năm thứ 9 tháng 3 ngày 18, Ngài viên tịch, thọ 72 tuổi. 

9 Quỳ Quan: Tức Quỳ châu, nguyên là quận Hán Ba, đời Lương gọi là Tín châu. Ðường Vũ Ðức năm thứ 2 (619 TL) đổi thành Quỳ châu, cũng gọi là Vân An quận, nhà Tống đổi thành Lộ, nhà Minh đổi thành Phủ, thuộc địa phận tỉnh Tứ Xuyên ngày nay.

 

---o0o---

 

[ Mục Lục ] [ I ] [ II ] [ III ] [ IV]  

 

---o0o---

 

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster: quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Phật Học Cơ Bản

Đầu trang

 

Biên tập nội dung:  Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:  
quangduc@quangduc.com