THẾ GIỚI CUỘC SỐNG THĂNG HOA
Diễn giảng:
Ðại sư Tinh Vân.
Việt dịch:
Thích Hạnh Minh.
---o0o---
Kính
thưa các vị pháp sư, các vị tín đồ hộ pháp.
Bài giảng của chúng ta
đã liên tục ba ngày nay rồi. Ngày thứ nhất là giảng về “con đường bằng
phẳng của hành vi”, nơi hành vi của mỗi cá nhân sau khi hợp lý hóa, tiếp
đến là theo đuổi nếp sống “thân tâm an trú điền viên”. Tuy thân tâm đã an
trú rồi nhưng kỳ thật vẫn chưa hoàn toàn viên mãn, chúng ta cần phải tiến
thêm một bước nữa để nâng cao cảnh giới cuộc sống, mà chỉ có ở trong “thế
giới cuộc sống thăng hoa” mới có thể đạt được kết quả an lạc thực sự.
Trong xã hội thế kỷ XX
ngày nay, chúng ta phải hứng chịu sự quấy nhiễu vô cùng tệ hại của nền văn
minh vật chất nên dần dần đánh mất hết hương vị tự nhiên vốn dĩ của mình.
Mọi người phải chịu đựng đủ mọi giày vò và áp lực từ gia đình, trường học,
xã hội v.v... và những thứ khác nữa, như: tranh chấp tình cảm, xã giao bạn
bè, cạnh tranh sự nghiệp, cho đến các vấn đề phức tạp về chính trị, kinh
tế v.v... có thể nói là muôn hình vạn trạng, biến hóa không cùng. Vì thế,
chúng ta không chỉ làm cho thân tâm an trú thực sự, mà còn phải theo đuổi
cảnh giới cuộc sống tối cao nữa, có như thế mới không bị cuốn trôi theo
dòng đời ô hợp.
Nhưng làm thế nào
để cuộc sống được thăng hoa? Trong Phật giáo chỉ dạy cho chúng ta rất
nhiều phương pháp tu hành, trong đó công phu thiền định là đơn giản dễ
thực hành nhất. Tuy trong Phật pháp, như tám tông phái do đại thừa khởi
xướng, có rất nhiều đường lối tu tập thiết thực có khả năng thanh lọc tư
tưởng, tịnh hóa thân tâm, khiến cho cuộc sống tự nhiên thăng hoa, đáng để
thực hành nhưng những phương pháp ấy đều không trực tiếp thấu triệt bằng
thiền. Hôm nay tôi sẽ mượn phương pháp thiền để giảng cho các vị biết cảnh
giới thăng hoa của cuộc sống như thế nào?!
Tham thiền có mấy
điều quan trọng cần phải chú ý:
1. Không nên nói
toạc ra.
2. Nêu lên lòng
nghi.
3. Nắm vững thiền
cơ.
4. Hành cước tham
vấn.
5. Thực chứng khai
ngộ.
Thiền thì không thể
dùng ngôn ngữ văn tự mà nói hết được, một khi nói toạc ra rồi thì không
còn là thiền nữa mà chỉ là những hiểu biết máy móc, cạn cợt trên bề mặt
văn tự mà thôi. Thiền chú trọng ở chỗ tham cứu trực tiếp nơi tự thân và
cần phải nêu lên nghi tình. Giống như đánh chuông, chúng ta vận sức càng
mạnh thì tiếng vang càng xa. Cũng vậy, khi nghi vấn của chúng ta về bản
chất cuộc sống càng sâu sắc thì đáp án thu được sẽ càng chính xác. Tham
thiền hỏi đạo, điều quan trọng là phải nắm bắt được cơ phong, giống như
khi chụp ảnh thì phải điều chỉnh tốt tiêu cự (tầm nhắm), xỏ kim phải trúng
chính xác lỗ kim. Tham thiền mà không đúng căn cơ hoặc đánh mất cơ hội thì
không thể khai ngộ. Thiền rất coi trọng việc tự mình cố gắng thực hành một
cách thực tế, ngồi nhập định quán tưởng cố nhiên là một loại thiền định,
mà đi - đứng - nằm - ngồi hằng ngày cũng là thiền. Thiền giả đôi khi vì để
tham cứu thấu triệt một câu thoại đầu mà không tiếc “mang giày cỏ giẫm nát
đỉnh mây ngàn” (không quản khó nhọc trèo non lội suối) tìm cầu bậc minh sư
- thiện tri thức; ngoài điều ấy ra, trong lòng họ chẳng còn gì phải buồn
lo hết. Cuộc sống của các thiền sư được thể hiện trong bài thơ sau:
“Tá thử nhàn phòng
hựu nhất niên
Lĩnh vân, khê
nguyệt bạn khô thiền
Minh triêu dục há
nham tiền lộ
Hựu hướng hà sơn
thạch thượng miên?”
Tạm dịch:
“Non xanh dựng túp
lều tranh
Trăng khe, mây núi
mặc tình tiêu dao
Sớm mai dạo bước
đồi cao
Thung dung tìm đá
nơi nao ngủ khì?”
Kiểu an nhàn tự tại
vui cùng mây nước này chính là thiền, mà mục đích cuối cùng của việc
tham thiền là để
chứng ngộ tự tánh thanh tịnh, nghĩa là công phu minh tâm kiến tánh. Một
thiền giả mà có được năm thứ yếu lĩnh trên thì đại khái có thể lãnh hội
được ý tứ sâu xa của thiền.
Sau đây, tôi sẽ căn
cứ vào bốn gốc độ để cùng quí vị bàn luận về thế giới cuộc sống thăng hoa
của thiền giả, rốt ráo là một thế giới như thế nào?
I. Từ
trong công việc thường ngày nhìn qua thế giới thiền.
Ða số mọi người đều
cho rằng: “Thiền nhất
thiết phải ở trong
thiền định mới có thể tu hành”. Một số người lại nhận định rằng: “Ngồi xếp
bằng kiết già nhập định, nhắm mắt thu thần, mắt nhìn nơi chóp mũi, từ mũi
quán tưởng trở vào trong tâm mới là thiền”. Ngồi nhập định đương nhiên là
thiền nhưng thiền không chỉ giới hạn ở việc ngồi nhập định mà thôi, nháy
mắt, dương mày, một lời nói, một nụ cười, không một cái gì không phải là
thiền; thậm chí giơ tay, bước chân, bửa củi, gánh nước, ăn cơm, ngủ nghỉ
v.v... mọi lúc mọi nơi đều tràn đầy thiền cơ. Thiền thì chỗ nào cũng có,
khắp cả mọi nơi. Vì sao nói thiền thì chỗ nào cũng có, khắp cả mọi nơi?
Một hôm, ngài Ngưỡng Sơn1
đến tham yết thầy mình là thiền sư Qui Sơn2.
Thiền sư Qui Sơn hỏi:
- Suốt mùa hạ này,
ta không thấy ngươi lên đây, ngươi đã làm gì dưới núi?
Câu hỏi này có ý
quở trách ngài Ngưỡng Sơn trong ba tháng hạ không chịu tham thiền, không
lo tu hành, cứ lần lữa lãng phí ngày giờ.
Ngài Ngưỡng Sơn
thưa:
- Bạch sư phụ! Con
đã gieo trồng một mảnh ruộng và thu được rất nhiều quả.
Tổ Qui Sơn nghe
xong, rất lấy làm hoan hỷ, liền bảo:
- Quả thực như
vậy thì kỳ hạ này ngươi đã không để lãng phí vô ích.
Ý thiền sư Qui Sơn
nói: đứng trên bình diện hiện thực cuộc sống mà nhìn nhận, nếu quả thực
gieo trồng một khoảnh ruộng và được bội thu, thì không lãng phí ngày giờ
vô ích; còn dựa trên ý nghĩa tham thiền mà nói, tức là đã gieo trồng nhân
duyên để ngày sau làm Phật, làm Tổ.
Thiền sư Ngưỡng Sơn
bị sư phụ hỏi như thế, cũng hỏi lại sư phụ rằng:
- Sư phụ ơi! Mùa
hạ này sư phụ đã làm gì?
- Ta ban ngày ăn
no, đêm đến ngủ khì.
Thiền sư Ngưỡng Sơn
nghe vậy, liền tán thán lại rằng:
- Ồ! Mùa hạ này sư
phụ cũng không bỏ phí thời giờ.
Giai thoại này rất
gần gũi với sinh hoạt hằng ngày trong cuộc sống. Ðó chính là thiền, cũng
chính là thế giới thăng hoa. Chính vì thiền sư Qui Sơn đã đạt đến cái vui
cứu cánh nên mới có thể ngày đêm an vui tự tại, bất luận uống ăn, ngủ nghỉ
thảy đều hết sức bình thường, tự nhiên. Cho nên nói, thiền thật sự chỗ nào
cũng có, có khắp tất cả mọi nơi.
Con người thờøi nay
thường bị công danh lợi lộc, tiền ngàn bạc tỉ làm cho rối rắm, không chỉ
ăn ngủ không ngon mà ngay cả đứng ngồi cũng không yên. Thí như đi làm vừa
về đến nhà, đang lúc định ngồi vào mâm ăn cơm thì chuông điện thoại vang
lên, mà cứ mỗi lần nghe lại là một vấn đề gây cấn; thậm chí nửa đêm về đến
nhà, nằm xuống sắp ngủ thì chuông cửa lại reo, tiếp theo là khách không
mời mà đến để thương lượng nghiệp vụ quan trọng; muốn chợp mắt một lúc
nhưng tâm thần không an, sợ rằng một khi ngủ gục thì lý trí ngờ nghệch
khiến cho công việc kinh doanh buôn bán bị thất bại. Suốt ngày ngớ nga ngớ
ngẩn, chăm chăm lo việc kinh doanh kiếm lời, không có một chút thời gian
yên tĩnh dành cho chính mình. Cuộc sống như thế thì đâu còn gì vui thú
nữa?
Ðời sống của một
thiền giả là:
“Nhất bát thiên gia
phạn
Cô thân vạn lý du
Thanh mục đổ nhân
thế
Vấn lộ bạch vân
đầu”.
Tạm dịch :
“Một bát cơm ngàn
nhà
Thân chơi muôn dặm
xa
Mắt xanh xem người
thế
Mây trắng hỏi đường
qua”.
Thật là tự do thoải
mái biết bao! Sinh hoạt thường nhật của thiền giả là một đời sống đơn giản
hóa, nghệ thuật hóa, thuần túy hóa.
Ðời sống đơn giản
hóa, nghệ thuật hóa, thuần túy hóa của thiền giả là gì? Tôi xin lấy một
bài kệ để diễn tả tình hình sinh hoạt đó của thiền giả:
“Y đơn nhị cân bán
Tẩy liễm lưỡng bả
bán
Ngật phạn tam xưng
niệm
Quá đường ngũ quán
tưởng”.
Tạm dịch :
“Chiếc áo hai cân
rưỡi
Rửa mặt hai lần
rưỡi
Ăn cơm niệm ba điều
Quá đường năm quán
tưởng”.
Y phục của thiền
giả rất đơn giản, xếp lại nặng không đầy hai cân rưỡi, do đó có thể tùy
thời khoác lên vai vân du khắp bốn biển; chứ không như người đời mỗi khi
ra khỏi cửa thì kén cá chọn canh, quần này áo nọ mà vẫn không vừa ý. Có
một số người chỉ vì muốn chọn một bộ y phục hợp ý nhất để đi nghe một buổi
thuyết pháp hoặc tham gia một buổi yến tiệc mà phải hao tâm tổn trí, cuối
cùng phải quyết định dứt khoát không đi nữa cho khỏi phiền phức. Các vị
hãy suy nghĩ thật kỹ xem, chỉ vì màu sắc, kích thước dài ngắn, hợp với
không hợp của một bộ y phục mà phải bỏ lỡ một cơ hội tụ hợp ngàn năm khó
gặp, như thế không đáng tiếc lắm ư? Vì vậy, có nhiều y phục chưa phải là
hay, ít cũng không hẳn là dở; ít nhiều ôm ấp mãi trong lòng là điều không
nên làm. Hãy sống tự nhiên giản dị, theo thời gian sự lo âu buồn bực trong
lòng sẽ ngày một giảm dần, lối sống như thế không tự tại lắm sao? Nếu
chúng ta có thể sống một đời sống đơn giản hóa thì tự nhiên sẽ thanh đạm
với vật chất, không còn chạy theo tiếng tăm, lợi lộc nữa, lại có thể biến
đổi cuộc sống khổ đau trở thành nghệ thuật hóa, thuần túy hóa.
Tôi nhớ lúc nhỏ
tham thiền tại thiền đường, mỗi sáng sớm thức dậy, hai trăm người dùng
chung một thau nước. Các vị chớ lấy làm lạ mà cho rằng không thể nghĩ bàn,
kỳ thực đời sống của một thiền giả không chỉ “chiếc áo hai cân rưỡi” mà
còn “rửa mặt hai lần rưỡi” nữa. Thế nào là“rửa mặt hai lần rưỡi”? Chính là
một thau nước, thấm ướt khăn lần thứ nhất, lau khắp cả mặt là một lần;
thấm khăn lần thứ hai, lau lại lần nữa là hai lần; bấy giờ còn lại một ít
nước chỉ thấm ướt được một góc khăn, tùy ý lau qua một tí nữa, đây chính
là hai lần rưỡi. Một thau nước, sau khi trải qua hai trăm người sử dụng,
nước không còn trong nữa mà chỉ thấy một lớp cấu ghét đục ngầu nổi bồng
bềnh trong thau.
Có lẽ các vị sẽ chế
giễu người xuất gia thật dơ bẩn, nhếch nhác. Kỳ thực, nước rửa mặt tuy rất
dơ bẩn nhưng tâm người xuất gia lại thanh tịnh vô cùng. Chính vì thiền giả
sống một cuộc sống giản dị nên tâm đã từ lâu không còn bị hoàn cảnh chung
quanh sai khiến, hoàn toàn không còn chạy theo sự hào nhoáng của cuộc sống
nữa. Do đó, tâm an trú trong sự đơn giản bình dị và có thể đem cuộc sống
mà người thường cho là khổ đau nghèo nàn nghệ thuật hóa, thuần túy hóa
thành hoàn cảnh tự nhiên đầy hứa hẹn, đó chính là cuộc sống thường nhật
của một thiền giả.
Ngoài điều này ra,
lúc ăn cơm thiền giả còn phát ba lời nguyện:
1. Nguyện đoạn tất
cả điều ác.
2. Nguyện tu tất cả
điều lành.
3. Nguyện độ tất cả
chúng sanh.
Và quán tưởng năm
điều:
1. Xét kể công lao
nhiều ít, lường chỗ đem đến.
2. Xét đức hạnh
mình, đủ hay thiếu khi nhận sự cúng dường này.
3. Ðề phòng tâm lý,
tránh những tội lỗi do tham, sân, si làm gốc gây ra.
4. Xem thực phẩm
như thuốc hay để chữa trị thân hình gầy yếu.
5. Vì thành đạo
nghiệp mới nhận cơm này.
Ðồng thời hằng
tưởng niệm đến chư Phật và chúng sanh, dùng tâm cảm ân, tàm quý, nhẫn
nhục, bình đẳng để xem xét suy lường tất cả thế gian. Hoàn cảnh tùy duyên
tiêu dao tự tại không tìm cầu này của thiền giả có thể dùng một bài thơ để
miêu tả:
“Ngoại xuất tham
thiền hòa thọ giới
Biển đảm thằng
tử tùy thân đới
Xuất pha tác
vụ thiên thiên hữu
Vị cầu thân
tâm vĩnh khương thới”.
Tạm dịch :
“Ngoài việc
tham thiền và thọ giới
Dây thừng, đòn
gánh chẳng xa rời
Hằng ngày làm
việc ngoài nương rẫy
Vì muốn thân
tâm luôn thảnh thơi”.
Thiền giả cho rằng
trong công việc lao động bình thường như rửa bát, quét nhà, giẩy cỏ, cày
ruộng v.v... khắp mọi nơi đều tràn đầy thiền cơ. Nếu chúng ta biết thưởng
thức một cách tinh tế thì bất cứ chỗ nào cũng tràn ngập ý thú thiền. Chỉ
cần mọi người sống với một tâm hồn “thản nhiên không chút vướng bận trong
lòng” thì tự nhiên“khắp nhân gian sẽ trở nên tươi đẹp” ngay lập tức. Do
đó, đối với thiền giả mà nói, công việc bình thường dù phiền toái đến mấy
cũng phải biến đổi nó thành đơn giản hóa; quan hệ phức tạp của con người
trong xã hội cũng phải biến đổi nó thành nghệ thuật hóa; và bảo vệ thân
thể khỏe mạnh, tâm linh thuần tịnh. Có người gặp phải một tí việc cỏn con
bằng hạt đậu hạt mè mà cứ băn khoăn lo lắng mãi trong lòng, ấp ủ lâu ngày
thành ra tâm bệnh nên không thể lĩnh hội được đời sống “vốn đã vô tâm với
muôn vật, ngại gì muôn vật giả xung quanh”, trụ nơi vô tâm, thảnh thơi
phóng khoáng này của thiền giả. Ðã không thể lĩnh hội thì dù có nói bao
nhiêu đi nữa cũng không làm cho cuộc sống thăng hoa được.
Thiền sư Ðạo Nguyên3-
tổ sư tông Tào Ðộng
tại Nhật Bản - lúc trẻ đến chùa Thiên Ðồng4
ở Trung Quốc tham học. Một hôm, vào lúc giữa trưa, có một vị sư già
đang phơi rau khô bên đường, mồ hôi nhễ nhại. Thiền sư Ðạo Nguyên bèn đến
ngỏ lời hỏi thăm:
-Bạch sư phụ! Năm
nay ngài được bao nhiêu tuổi rồi?
- Bảy mươi tám.
-Ái chà! Tuổi cao
như vậy, sao ngài không bảo người khác làm thế cho?
Lão Hòa thượng
liếc mắt nhìn thẳng vào thiền sư Ðạo Nguyên nói :
-Người khác không
phải mình! Việc bổn phận của mình, người khác làm sao thay thế được? Tiểu
tiện, rửa tay, rửa mặt là bổn phận của mình, người khác có làm thế được
không ?
Thiền sư Ðạo
Nguyên nghe xong, liền tỉnh ngộ, nhưng vẫn không đành lòng, bèn nói:
-Vậy thì, thời
tiết oi bức thế này, hà tất nhất định phải làm ngay bây giờ?
-Không làm bây
giờ thì còn đợi đến khi nào mới là lúc phơi rau khô?
Thái độ tham thiền
của các thiền sư là tôn kính thiên nhiên, trời đất, tuyệt đối không bỏ qua
bất kỳ một cơ hội nào. Các Ngài dùng tâm bình thường để cư xử trong sinh
hoạt hằng ngày và cũng dùng tâm bình thường để trang nghiêm thế giới tương
lai. Nhưng, thế giới tương lai trang nghiêm, mỹ lệ ấy là nhờ ở sự cải hóa,
nâng cao ngay bây giờ và ở đây.
Trong lịch sử Thiền
tông Trung Quốc, đầu tiên có thiền sư Mã Tổ - Ðạo Nhất5
sáng lập tòng lâm, tiếp sau đó, có ngài Bá Trượng Hoài Hải6
lập ra thanh qui, lưu lại qui chế mẫu mực cho hậu lai ngàn năm noi theo
phụng hành. Ngài Bá Trượng còn đặt ra cho chính mình một điều luật: “Nhất
nhật bất tác, nhất nhật bất thực” nghĩa là: “Một ngày không làm thì một
ngày không ăn”. Phật giáo Trung Quốc từ đây phát triển rộng rãi theo xu
hướng “nông thiền”, và thiền từ đây cũng được thực hiện khắp mọi nơi ở
Trung Quốc; hòa quyện mật thiết vào đời sống hằng ngày, không thể tách rời
ra được. Sinh hoạt hằng ngày của thiền giả tuy không dụng tâm vào bất kỳ
một chỗ nào, thung dung tự tại nhưng tuyệt đối không phải là du thủ du
thực, buông lung phóng đãng, không kiềm chế được. Có nhiều thiền sư tỏ rõ
thái độ thủ đạo, cần mẫn tham học khiến cho mọi người vô cùng kính phục.
Các ngài không chỉ tham thiền trong lúc gánh nước,vác củi mà ngay cả khi
nhíu mày, nháy mắt cũng không bỏ qua mảy may thiền cơ. Như đại sư Vĩnh Gia7
nói: “Ði cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói năng, im lặng, động tĩnh thể an
nhiên”. Ðối với thiền giả chân chính mà nói, trong cuộc sống bình thường,
thiền là nhìn thấy như vậy, chỗ nào cũng có.
Có khi chúng ta
thấy thiền giả tham thiền sống rất giản dị, bề ngoài trông có vẻ khắc khổ
lắm, nhưng chúng ta đừng bao giờ nhìn họ bằng ánh mắt thương hại, kỳ thực
thế giới nội tâm của họ đã hoàn hảo rồi. Nhan sắc mà các vị ấy biểu lộ ra
là rất tự nhiên và còn một phần hướng về công phu tham thiền tìm cầu giác
ngộ nữa. Thiền sư Phật Giám8
chỉ một bình bát, một tay nãi và một đôi giày chu du khắp xứ hoằng pháp độ
sanh, trải qua nhiều năm, y phục tả tơi trăm chắp ngàn vá nhưng vẫn không
nỡ vứt bỏ. Có người khuyên Ngài nên thay đồ mới, Ngài bảo:
- Những vật này, từ
khi tôi ra khỏi Quỳ Quan9 đến
nay chỉ mới dùng có năm mươi năm thôi, sao có thể nửa đường vứt bỏ được ?
Cảnh giới thăng hoa
thanh đạm tri túc, siêu thoát thế gian ấy của thiền giả, lẽ nào không phải
là điều mà chúng ta luôn tha thiết tìm cầu đó sao? Bởi vậy, chúng ta phải
nương vào sinh hoạt thường ngày để thể hội tin tức của thiền ở bất cứ mọi
nơi, sau đó đem pháp lạc của thiền mà mình thể hội được làm động lực thăng
hoa cuộc sống.
---o0o---
---o0o---
Cập nhật: 01- 4 -2004