Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Học Cơ Bản


...... ... .

 

 

NHẬP BỒ TÁT HẠNH

Nguyên tác Phạn ngữ  Bodhisattvacharyavatara

 

 

Nguyên tác:  Tịch Thiên (Shantideva)

 Hoa dịch:  Trần Ngọc Giao

Việt dịch:  Thích Nữ Trí Hải

 

--- o0o ---
 

Phần văn xuôi

 

 

 

CHƯƠNG SÁU

 

NHẪN NHỤC

 

1- Tất cả những thiện hành như lễ Phật, bố thí,… đã được tích luỹ trên ngàn kiếp đều bị phá hủy trong phút chốc vì giận dữ.

2- Không có điều ác nào bằng sân hận, không có điều lành nào bằng nhẫn nhục. Bởi thế ta nên nỗ lực bằng nhiều cách để tu hạnh nhẫn nhục.

3- Tâm ta sẽ không tịch tịnh nếu nuôi dưỡng những ý nghĩ hận thù. Ta sẽ không tìm thấy niềm vui hay hạnh phúc, phải mất ngủ và cảm thấy bất an.

4- Một người chủ nổi sân có thể bị giết bởi chính những người nhờ lòng tốt của ông ta mà có tài sản và hạnh phúc.

5- Vì ta giận dữ mà bạn bè thân quyến đâm chán, mặc dù ta bố thí rộng rãi, họ cũng không nương ta. Tóm lại, không ai sống hạnh phúc được khi ôm lòng sân hận.

6- Chính sự giận dữ - kẻ thù địch ấy - tạo nên những đau khổ như trên. Người nào tinh cần khắc phục giận dữ sẽ tìm thấy hạnh phúc trong đời hiện tại và những đời sau.

7- Được nuôi dưỡng bằng nỗi bất mãn do phải làm những việc ta không muốn, còn những gì ta muốn thì bị cản trở, sự thù hận tăng trưởng trong ta và cuối cùng hủy diệt ta.

8- Bởi thế ta nên trừ diệt thức ăn nuôi dưỡng kẻ thù sân hận này, vì nó chỉ có làm hại ta mà thôi.

9- Dù bất cứ gì xảy đến cũng chớ để nó quấy động niềm hỷ lạc trong tâm ta. Vì dù có bực tức ta cũng chẳng làm được điều mình mỏi, mà còn mất công đức.

10- Cần gì phải khổ sở về một sự việc nếu còn có biện pháp cứu vãn ? Nhưng nếu không còn biện pháp nào nữa, thì đau khổ cũng đâu có ích gì ?

11- Ta không muốn sự khổ đau, khinh miệt, lời thô ác khiếm nhã đến với bản thân và bằng hữu. Nhưng với kẻ thù thì ngược lại.

12- Trên đời hiếm hoi thay những nguyên nhân tạo nên hạnh phúc, nhưng nguyên nhân đem lại đau khổ thì rất nhiều. Nếu không có khổ đau, thì không có sự từ bỏ. Bởi thế này tâm ta ơi, ngươi hãy dũng cảm mà chịu khổ đi !

13- Nếu có một số người tu khổ hạnh và ngoại đạo Karnapa (Nam Ấn) vô cớ chịu đựng những đau đớn xẻ cưa và nung đốt, thì tại sao ta không can đảm chịu khổ vì mục đích giải thoát ?

14- Không có gì không hóa ra dễ dàng nhờ tập quán. Bởi thế, nhờ dần quen với những hại nhỏ, ta có thể nhẫn chịu những hại lớn.

15- Ai cũng thấy vậy, với những nỗi khổ tầm thường như khi bị rắn rết sâu bọ cắn, bị đói khát và những ung nhọt vặt vãnh.

16- Ta không nên mất kiên nhẫn vì những khổ như nóng, lạnh, gió, mưa, đau ốm, cột trói, đánh đập… Vì nếu mất kiên nhẫn thì ta càng đau khổ thêm thôi.

17- Có người khi thấy máu mình chảy thì đâm ra dũng cảm và cương quyết hơn, nhưng cũng có ngươi khi thấy máu kẻ khác thì thì té xỉu, bất tỉnh nhân sự.

18- Những phản ứng khác nhau ấy là do tâm quả cảm hay nhát gan. Bởi thế ta nên xem thường những tai hại đến với mình, đừng để bị khổ đau quật ngã.

19- Bậc trí dù trải nghiệm đau khổ, tâm vẫn minh mẫn không tán loạn. Vì khi đánh giặc phiền não, dù phải gặp nhiều tai họa trong trận chiến,

20- Những chiến sĩ vinh quang vẫn xem thường để chiến thắng địch thủ. Những chiến sĩ tầm thương thì chỉ đâm vào những thây chết.

21- Hơn nữa, đau khổ có nhiều đức tính : nhờ đau khổ mà ta phát sinh tâm chán lìa sinh tử, kiêu căng tan biến, ta phát tâm thương xót những chúng sanh trong cõi luân hồi, hổ thẹn về việc ác và hoan hỷ làm điều lành.

22- Nếu ta không giận những căn bệnh như bệnh đau gan, và những thống khổ to lớn khác của nhân loại thì sao lại giận dữ với hữu tình, khi tất cả đều do nhân duyên (điều kiện) sinh ra.

23- Mặc dù không ai muốn, những bệnh tật vẫn sinh khởi. Cũng vậy, mặc dù không ai muốn, những phiền não vẫn nổi lên.

24- Người ta nổi giận không cưỡng được, không nghĩ trước rằng “ta sẽ nổi giận”. Cũng thế, cơn giận tự phát, không nghĩ rằng “ta sẽ phát sinh”.

25- Tất cả lỗi lầm và tội ác đủ loại đều do duyên sinh (do hoàn cảnh thúc đẩy), không tự phát vô duyên cớ.

26- Những duyên này khi nhóm họp lại đều không có ý định “ta sẽ nổi sân”, và những tham, sân… do đấy mà sinh cũng không nghĩ “ta vừa được sinh ra”.

27- Nếu cho rằng có một “nguyên lý” (Ski.Prakrti, thần ngã, căn bản bất biến của vạn pháp theo Số luận) và có một chủ thể gọi là “Ngã” (atman, linh hồn hay ngã trường cửu theo Số luận) thì cả hai đều không nghĩ “ta sẽ xuất hiện” (để làm hại) rồi mới xuất hiện.

28- “Nguyên lý” đã là thường, nên không có quả. Sự hại cũng không có. Cái ngã muốn hưởng quả cũng trường cửu nên mãi mãi chấp trước cảnh không bao giờ ngưng.

29- Hơn nữa, nếu Ngã là thường, thì nó sẽ bất động như hư không. Bởi thế, dù nó có gặp gỡ những duyên khác, bản chất bất động của nó cũng không biến đổi.

30- Dù có bị tác động bởi ngoại duyên, Ngã vẫn như trước thì tác động để làm gì ? Vậy, nói các duyên tác động lên ngã, hai thứ có tương quan gì đâu.

31- Do vậy tất cả pháp đều do các duyên khác sinh ra, không pháp nào tự dưng mà có. Khi hiểu được điều này, ta không nên tức giận về những hiện tượng chỉ như huyễn như hóa.

32- “Nếu mọi sự là không thực, như huyễn, thì ai là người chế ngự cơn giận ? Vậy nói trừ sân là vô lý”. Không vô lý đâu, vì trên phương diện tục đế phải nhận rằng, nhờ chế ngự giận dữ mà cắt đứt được các khổ đau.

33- Bởi thế, khi thấy một kẻ thù hay người bạn vô cớ làm hại mình, thì hãy nghĩ việc này cũng do duyên sinh, rồi vui vẻ mà chấp nhận.

34- Nếu khổ là do tự chọn (không phải duyên sinh), thì đáng lẽ không hữu tình nào đau khổ cả, vì không ai chọn lựa khổ đau.

35- Có kẻ không cẩn thận mà tự làm mình bị thương vì gai nhọn và các vật khác. Hoặc vì ham muốn nữ sắc.v.v… người ta có thể quá sầu khổ đến nỗi tuyệt thực.

36- Có người tự hại mình bằng những việc phi phước như treo cổ, nhảy xuống vực, ăn độc dược và thực phẩm không lành.

37- Nếu vì phiền não người ta có thể tự đoạn dứt cái ngã mà họ rất yêu quý, thì làm sao họ có thể không tác hại đến thân người khác ?

38- Dù ta không thể phát tâm thương xót những người do phiền não mà giết hại ta, ít nhất ta cũng không nên tức giận họ.

38- Với những kẻ bản chất ngu muội chuyên làm hại kẻ khác, thì nổi giận với họ cũng phi lý như giận ngọn lửa vì nó đốt cháy.

40- Nếu lỗi lầm chỉ ngẫu sinh nơi người vốn hiền lành thì giận họ cũng vô lý như giận hư không đã để cho khói vươn lên mù trời.

41- Khi tự thân bị đánh bằng gậy, ta thường oán ghét người sai sử cây gậy. Nhưng chính người ấy cũng bị cơn giận sai sử, vậy đáng nên ghét cơn giận thay vì ghét người.

42- Trước kia có lẽ ta đã từng tác hại chúng sanh như thế, nên bây giờ ta - kẻ đã tổn hại hữu tình - đáng chịu sự tổn hại.

43- Vũ khí của kẻ kia và thân của ta, cả hai gây sự đau đớn. Kẻ kia tạo ra vũ khí, còn ta tạo ra cái thân, vậy ta nên giận ai đây ?

44- Thân thể cũng như một vết thương to lớn có hình dạng con người, dù một xúc chạm nhỏ cũng đau đớn không chịu nổi. Chỉ vì ngã ái mù quáng mà ta ôm giữ nó, vậy khi nó bị hại thì nên tức giận ai ?

45- Kẻ ngu dù không muốn khổ đau mà vẫn tạo những nguyên nhân đau khổ. Khi bị hại vì những gì mình đã tự tác tự thọ (vì những lỗi lầm của chính mình) thì tại sao lại ghét giận người ?

46- Ví như quỷ canh giữ địa ngục núi đao rừng kiếm đều do nghiệp mình sinh ra, vậy nên oán giận ai ?

47- Vì bị nghiệp quá khứ kích động mà kẻ khác gây não hại cho ta. Nếu do ác nghiệp này mà họ đọa địa ngục, thì có phải chính ta đã hại họ không ?

48- Nhờ những kẻ hại ta, mà ta tu nhẫn nhục, tiêu trừ được nhiều tội lỗi. Ngược lại, vì sự nhẫn nhục của ta mà họ phải sa địa ngục chịu khổ lâu dài.

49- Rốt cuộc, chính ta mới là kẻ làm hại họ, trong khi họ làm lợi ích cho ta. Vậy tại sao ngươi trở lại giận tức họ, hỡi cái tâm thô bạo hồ đồ ?

50- Nhờ công đức nhẫn mà ta sẽ không sa xuống địa ngục. Phần ta như vậy đã được bảo đảm, nhưng kẻ hại ta thì được cái gì ?

51- Nếu ta ăn miếng trả miếng thì ta cũng chẳng che chở được tội lỗi cho họ, mà còn thối thất hạnh nhẫn nhục của ta, cái hạnh khó làm sẽ bị hủy hoại.

52- Tâm ý vốn không có hình thể tướng trạng gì, nên bất cứ ai cũng không thể tổn hại nó được. Nếu tâm chấp trước cái thân, thì tâm sẽ bị tổn hại (do thân gây nên).

53- Những lời khinh miệt thô ác và những lời tiếng khó nghe khác không hại gì cho cái thân cả. Vậy thì này tâm, tại sao chúng khiến ngươi nổi giận (vì những lời ấy) lâu đến thế ?

54- Ngươi bảo “Vì người khác không ưa tôi”, nhưng dù ở đời này hay đời sau, sự “không ưa” ấy cũng chẳng thể làm gì ngươi được, thì sao lại ghét thái độ ấy ?

55- Ngươi bảo “vì (những lời bôi bác kia) trở ngại lợi lộc”, nhưng dù không muốn chịu tổn thất, cuối cùng ta cũng phải bỏ lại tất cả lợi lộc, chỉ còn những ác nghiệp thì vẫn tồn tại lâu dài.

56- Thà nay chết sớm còn hơn sống bằng nghề ác, vì nếu làm ác để mưu sinh thì dù sống lâu cuối cùng cũng phải chết.

57- Giả sử người thì mộng thấy mình hưởng vui trăm năm, người khác mộng thấy mình hương vui chỉ trong khoảnh khắc, nhưng cả hai đều phải tỉnh lại.

58- Khi tỉnh, cái vui trong cả hai giấc mộng đều không trở lại. Cũng thế, dù tuổi thọ có dài ngắn, song lúc chết đều giống nhau.

59- Dù có được nhiều lợi dưỡng, hưởng vui thú lâu dài, thì khi chết cũng phải ra đi tay không, mình trần thân trụi như bị giặc cướp sạch.

60- Nếu nói : “Có tài sản mới sống được, mới tránh ác làm lành được”, nhưng nếu vì tài sản (lợi dưỡng) mà giận dữ thì hết phước mà lại sinh tội.

61- Nếu vì mưu cầu sự sống mà làm toàn việc ác để rồi phải đọa thì đời sống ấy đâu có ích gì ?

62- Ngươi nói : “Vì lời phỉ báng kia khiến người ta mất niềm tin nơi tôi, nên tôi tức giận người phỉ báng”. Vậy sao không tức giận người nào phỉ báng kẻ khác ?

63- Nếu ngươi kham nhẫn được sự mất niềm tin đối với kẻ khác (vì không dính líu đến mình), thì tại sao ngươi không nhẫn được những lời khó chịu do phiền não (nơi người kia) sinh ra (cũng không dính gì đến mình) ?

64- Sân giận những người phá hại tượng, tháp, và chánh pháp cao thượng là vô lối, vì những bậc giác ngộ không bao giờ bị tổn hại về điều ấy.

65- Đối với những người làm hại bậc thầy và thân hữu, nên nghĩ sự tổn hại ấy đều do nhân duyên sinh khởi, biết vậy nên đình chỉ sân hận.

66- Người ta bị hại do vật hữu tình cũng như vô tình, tại sao ta chỉ tức giận loài hữu tình ? Bởi thế, ta nên nhẫn chịu tất cả mọi tai hại (do hữu tình cũng như vô tình gây ra).

67- Có người do ngu si mà làm hại, có người do ngu si mà nổi sân, vậy thì  ai có lỗi, ai không lỗi ?

68- Tại sao xưa kia ta đã tạo nghiệp để bây giờ chịu quả báo bị hại ? Mọi sự đều do nghiệp ta đã gây ra, sao lại tức giận kẻ khác ?

69- Khi đã thấy biết như vậy, thì ta nên nhất tâm tinh tấn làm lành và đem tình thương đối đãi với mọi người.

70- Ví dụ khi một ngôi nhà bốc lửa cháy, lan qua nhà khác, thì đáng nên mau rút bớt cỏ tranh hay bất cứ gì khiến ngọn lửa cháy lan.

71- Cũng vậy, khi ngọn lửa sân cháy lan đến những gì tâm ta ái luyến, ta nên mau trừ khử sự ái luyến ấy, nếu không ngôi nhà công đức sẽ bị thiêu rụi.

72- Như người bị trói tay chờ chết, chịu chặt bàn tay để thoát, nếu nhờ cái khổ trong lúc tu hành mà thoát địa ngục, không phải sung sướng hay sao ?

73- Nếu hiện tại ta không chịu đựng được những khổ nhỏ nhặt, thì tại sao không trừ khử sân hận, cái nhân của những thống khổ lớn trong địa ngục ?

74- Vì tham dục, ta đã ngàn lần chịu khổ ở địa ngục, lợi ích gì cho bản thân hay người khác.

75- Cái khổ này không đáng kể, nhưng lại có thể đem lại lợi ích lớn là trừ tổn hại cho tất cả chúng sanh. Vậy ta nên hoan hỷ chịu đựng nỗi đau khổ này.

76- Nếu có người sung sướng ca tụng công đức kẻ thù ngươi, thì hỡi tâm ý, tại sao ngươi không cùng ca tụng để làm cho mình sung sướng ?

77- Sự hoan hỷ phát sinh kiểu ấy sẽ là suối nguồn an lạc vô tội, được chư Phật khen, và là cách hay để thu phục người.

78- Ngươi nói : “Khi được khen như thế, người kia sung sướng, nhưng tôi không muốn nó sung sướng”. Nếu vậy ngươi cũng nên chấm dứt trả thù lao cho tôi tớ ngươi (vì điều ấy làm chúng sung sướng), và ngươi sẽ bị khổ sở trong đời hiện tại cũng như những đời sau.

79- Khi người khác ca tụng công đức ngươi, ngươi mong cho họ được an vui. Nhưng khi họ ca tụng công đức kẻ thù, thì sao ngươi không vui ?

80- Lúc đầu ngươi phát tâm Vô thượng Bồ-đề, mong đem an lạc cho tất cả hữu tình, nay hữu tình được an vui tại sao ngươi lại tức giận ?

81- Lúc đầu, ngươi phát tâm mong tất cả hữu tình thành Phật, được cung kính cúng dường, nay sao ngươi lại sầu khổ khi thấy kẻ khác được chút ít lợi dưỡng  cung kính ?

82- Tất cả hữu tình đều là cha mẹ, đáng lẽ ngươi phải lo cấp dưỡng chu đáo. Nay họ đã tự túc được, sao ngươi không mừng mà lại nổi sân ?

83- Nếu không mong cho chúng sanh được những mối lợi nhỏ nhặt (trong sinh tử) thì làm sao mong họ thành Chánh giác ? Còn đâu tâm Bồ-đề nơi một kẻ ghét người khác được giàu sang ?

84- Dù lợi dưỡng đã được hiến cho kẻ thù hay còn ở trong nhà thí chủ thì cũng không phải phần của ngươi, đâu can hệ gì đến ngươi khi thí chủ đem cúng hay không ?

85- Tại sao tự từ bỏ hạnh phúc và công đức của mình cùng tín tâm của người khác ? Không khéo gìn giữ gia tài công đức của chính mình, sao ngươi không tự giận mình đi ?

86- Chẳng những ngươi không lo sợ về những ác hành mình đã tạo, mà còn muốn cạnh tranh với những kẻ đã tô bồi phước đức hay sao ?

87- Giả sử kẻ thù ngươi gặp khổ thì có gì làm cho ngươi vui ? Đương nhiên không phải chỉ vì ngươi mong cho kẻ thù đau khổ mà kẻ ấy bị tổn hại.

88-  Dù kẻ thù bị khổ sở như ngươi mong muốn, thì có gì để vui mừng ? Nếu ngươi nói “thế là tôi mãn nguyện” thì không gì khiến người ta đọa lạc cho bằng thái độ ấy.

89- Đó là một lưỡi câu sắc nhọn vô cùng mà ông câu là vô minh phiền não đã tung ra, và khi đã cắn câu thì ta chỉ còn nước bị ngục tốt nấu nhừ trong chảo đồng sôi ở địa ngục.

90- Sự vinh quang, lời ca tụng mà ta nhận được không đem lại công đức, trường thọ hay vô bệnh, cũng không khiến cho thân thể được khinh khoái an vui.

91- Nếu ta biết phân biệt thế nào là thực sự lợi ích cho bản thân, thì sự khen ngợi ca tụng đâu ích gì ? Nếu chỉ muốn cầu vui chốc lát thì nên trang sức và uống rượu cũng đủ.

92- Nếu chỉ vì muốn được nổi danh mà phải mất cả tài sản, tính mạng, thì lúc chết, tiếng tăm ấy có ích gì, ai là người vui ?

93- Khi lâu đài bằng cát sụp đổ, kẻ ngu và trẻ nít khóc lóc thảm thiết ; cũng vậy, khi bị tổn thương danh tiếng, tâm ta giống như trẻ ngu.

94- Âm thanh là vô thường, vô tâm (không có ý ca tụng ta), vậy nhận lời khen thì có gì vui ? Ngươi bảo : “Nó làm cho người khen vui, còn danh tiếng của tôi làm tôi vui”

95- Nhưng dù khen ta hay khen kẻ khác thì với ta có ích gì ? Vì cái vui thuộc về bản thân người khen, ta không được một chút gì.

96- Nếu nhân người vui mà ta vui, thì đáng lẽ phải vui với tất cả mọi người, chứ tại sao khi họ vui vẻ khen ngợi kẻ thù ta thì ta lại không vui ?

97- Vậy khi nghĩ rằng mình được ca tụng mà tâm sinh vui mừng, thì thái độ vui mừng ấy không thích đáng, chỉ là cách hành xử của trẻ ngu.

98- Sự ca tụng, danh dự làm cho tâm tán loạn, phá hoại tâm chán lìa sanh tử, khiến ta ganh ghét với những người có đức, và hủy hoại những việc lành.

99- Nếu hiện tại có người muốn phá hủy danh tiếng ta, thì không phải họ đang cứu ta khỏi đọa vào các ác đạo đấy sao ?

100- Người chỉ tìm cầu giải thoát thì không cần bị lợi lộc, cung kính trói buộc. Sao ta lại tức giận người cở mở cho ta những dây trói ấy ?

101- Nếu khi ta muốn đi đến một nơi đầy dẫy những thống khổ, mà nhờ ơn Phật gia bị, (kẻ hại ta) đã đóng cửa không để ta đi. Vậy sao ta lại tức giận họ ?

102- Nếu nói : “Kẻ thù làm trở ngại công đức” thì giận họ cũng vô lý. Vì không có hạnh tu nào khó cho bằng nhẫn nhục, tại sao không nhẫn kẻ ấy đi ?

103- Nếu vì những lỗi lầm phiền não của chính mình mà ta không chịu nổi kẻ thù, vậy là ta tự trở ngại sự tu hạnh nhẫn nhục, cái nhân của phước đức.

104- Nếu không bị hại thì hạnh nhẫn nhục không sinh khởi. Có bị oán thù mới sinh cái phước của sự kham nhẫn. Kẻ thù đã là cái nhân cho ta tu phước, thì sao ta lại bảo họ trở ngại phươc ?

105- Người đến xin đúng lúc thì không phải là chướng ngại cho sự bố thí, cũng như không thể nói các thầy truyền giới là trở ngại cho việc xuất gia.

106- Trên đời, những người ăn xin - cơ hội cho hạnh tu bố thí - thì rất nhiều, nhưng kẻ thù, cơ hội cho hạnh tu nhẫn nhục thì rất hiếm. Vì nếu ta không ra ngoài để gây thù kết oán với ai, thì cũng chẳng ai đến hại ta cả.

107- Bởi thế, kẻ thù nghịch cũng như báu vật vào nhà, ta không nhọc sức mà bỗng dưng có được. Họ giúp ta thực hành hạnh giác ngộ, vậy ta nên ưa thích kẻ thù nghịch với mình.

108- Vì kẻ thù nghịch và ta cùng hợp tác mới viên thành hạnh tu nhẫn nhục, nên cái quả báo công đức của hạnh ấy trước hết hãy nên phụng hiến cho kẻ thù, vì họ là cơ hội cho ta tu nhẫn.

109- Ngươi bảo : “Kẻ thù đâu có ý muốn giúp cho ta, nên không đáng cung phụng”, nhưng nếu vậy cũng không nên cúng dường chánh pháp giúp ta tu thiện (vì Pháp cũng vô tư, không có ý định gì)

110- Nếu nói : “Kẻ thù nghịch chỉ nghĩ chuyện làm hại tôi, nên không đáng cung dưỡng”. Nhưng làm sao tu nhẫn được, nếu kẻ thù toàn như y sĩ hết trọi ? (nghĩa là tuy gây khổ đau nhưng có thiện ý)

111- Bởi thế, nhờ một người sân si tột độ, ta mới có thể tu hạnh nhẫn nhục kiên cố, chỉ có kẻ thù mới làm nhân cho hạnh nhẫn, nên đáng cúng dường họ như cúng dường chánh pháp.

112- Do vậy, đức Mâu Ni đã dạy : “Chúng sanh và Phật đều là hai ruộng phước thù thắng. Hãy thường kính trọng hai ruộng phước ấy thì hoàn tất được các hạnh Ba-la-mật” .

113- Trong các đối tượng ta nương vào để tu hành thì chúng sanh có giá trị ngang với chư Phật. Nếu kính Phật, không kính chúng sanh, đâu có lời kinh nào nói thế ?

114- Dĩ nhiên không phải Phật, chúng sanh tương đương về phương diện trí và đức, mà do hiệu quả từ hai đối tượng ấy phát sinh ra. Vì chúng sanh giúp ta thành Phật, nên cả hai (Phật và hữu tình) bình đẳng.

115- Cúng dường chúng sanh với tâm từ bi thì có phước vô biên, vì chúng sanh là nhân đem lại sự tôn quý, phước đức do sự kính Phật đem lại là ruộng phước rộng lớn, cũng vì sự tôn quý của Phật.

116- Vì cả hai đều giúp cho cái nhân thành Phật, nên Phật và chúng sanh đều bình đẳng. Nhưng chúng sanh không thể nào bằng Phật về phương diện biển công đức vô biên.

117- Đầy đủ công đức tối thắng quy tụ lại nơi một thân thể, thì chỉ có Phật mà thôi. Đối với người chỉ có một ít phần của công đức thù thắng ấy, dù có cúng cả ba cõi cho họ cũng chưa đủ.

118- Vì hữu tình có tham dự trong sự phát sinh những công đức thù thắng của Phật pháp, chỉ vì một phần công đức phù hợp nhau ấy, ta nên cúng dường chúng sanh.

119- Chư Phật không dua dối đã thành thân hữu của chúng sanh, ban vô lượng lợi lạc cho hữu tình. Vậy còn cách nào khác để báo ân Phật hơn là làm cho chúng sanh an vui ?

120- Chỉ có làm lợi ích chúng sanh mới đủ báo ân đức chư Phật đã xả thân vào địa ngục Vô gián để cứu độ hữu tình. Bởi thế, dù có chịu tổn hại vì những chúng sanh này, ta cũng nên làm các thiện hành lợi lạc cho chúng.

121- Chư Phật vì hữu tình còn không tiếc thân mạng, thế thì sao ta còn ngu si kiêu mạn không chịu phục vụ chúng sanh, tự xem mình như tôi tớ ?

122- Chúng sanh vui thì chư Phật vui, chúng sanh bị tổn hại thì chư Phật thương xót. Do vậy, nếu ta làm cho hữu tình hoan hỷ thì Phật sẽ hoan hỷ, mạo phạm chúng sanh cũng là làm Phật tổn thương.

123- Khi thân thể đang bị lửa vây thì dù ai đem đến đủ thứ dục lạc cũng không khoái. Cũng thế, nếu làm tổn hại chúng sanh thì không cách gì khiến chư Phật hân hoan.

124- Trong quá khứ con đã tổn hại chúng sanh, khiến Phật với tâm đại bi rộng lớn không được hoan hỷ. Tất cả những tội lỗi ấy con nay đều xin sám hối. Xin Phật đại từ bi tha thứ hết cho con.

125- Vì muốn làm đức Như Lai hoan hỷ, từ nay trở đi con sẽ chấm dứt tác hại chúng sanh, làm lợi lạc cho tất cả. Dù chúng sanh có đạp lên đầu con, thà chết con cũng rán làm vui lòng Phật, đấng Chúa tể thế gian.

126- Phật với tâm đại bi vô ngại, xem chúng sanh không khác chính mình, xem hữu tình vốn có Phật tính. Như vậy sao ta không kính trọng chúng sanh ?

127- Làm chúng sanh vui chẳng những khiến Như Lai hoan hỷ, mà còn thành tựu được lợi ích cho bản thân và xóa tan đau khổ trên đời. Bởi thế, ta nên thường tu tập hạnh ấy.

128- Ví như có vị đại thần của vua làm tổn hại nhiều người, nhưng kẻ nhìn xa trông rộng dù có khả năng cũng không làm hại vị ấy.

129- Vì họ biết đại thần kia không cô thế, sau ông ta còn có thế lực của vua. Kẻ làm tổn hại ấy tuy sức yếu nhưng không nên coi thường.

130- Chính đức Phật đại bi và ngục tốt hung ác ở địa ngục là những chỗ dựa cho kẻ thù ta. Bởi thế, ta nên làm cho chúng sanh hoan hỷ như bề tôi hầu bạo chúa.

131- Dù bạo chúa có nổi trận lôi đình cũng không thể lôi ta xuống địa ngục để chịu khổ, như quả báo của sự mạo phạm hữu tình.

132- Và dù bạo chúa ấy có hoan hỷ cũng không thể biếu cho ta Phật quả Niết-bàn, quả báo của sự đem lại an vui cho chúng sanh.

133- Sao không thấy : làm hữu tình an vui đem lại kết quả là đời này được vinh quang, tương lai thành Chánh giác.

134- Trong vòng sinh tử luân hồi, nhờ nhẫn nhục ta sẽ được sắc đẹp, không bệnh, tiếng tốt, sống lâu, hạnh phúc như vua Chuyển luân.

 

CHƯƠNG BẢY

 

TINH TẤN

 

1- Sau khi tu nhẫn, cần tu tinh tấn. Có tinh tấn thì mới có thể an trú tâm Bồ-đề. Cũng như không có chuyển động nếu thiếu gió, phước đức không sinh nếu không tinh tấn.

2- Tinh tấn là hăng hái đối với điều lành. Những chướng ngại cho tinh tấn là biếng nhác, tham đắm những chuyện thấp hèn, tự khinh mình, nản chí thối lui.

3- Vì tham hưởng thú vui làm biếng, ưa ngủ nghỉ , không chán khổ luân hồi, mà ta càng ngày càng giải đãi.

4- Đã bị vướng vào lưới mê, kế tiếp lại mắc cái bẫy thọ sinh. Sao ta không biết mình sẽ sa vào miệng thần chết ?

5- Không thấy tử thần đã tuần tự giết đồng loại ta sao ? Thế mà những kẻ tham ngủ vẫn bất động như trâu thấy đồ tể.

6- Sau khi niêm phong tất cả lối thoát, tử thần đang rình rập, sao người có thể ham ăn và ngủ ?

7- Tử vong sẽ đến rất nhanh, hãy sớm trữ lương thực cho kịp. Nếu chờ tử thần đến bên hông mới hết lười biếng thì đã quá muộn, còn ích gì ?

8- Có khi việc chưa làm, hoặc mới khởi sự, hoặc còn dang dở, tử thần đột nhiên xuất hiện : Ôi, mạng ta hết rồi !

9- Khi thân thuộc bằng hữu ta đã tuyệt vọng, đau buồn sưng mắt, hai dòng lệ chảy dài trên má, đấy là lúc ta thấy sứ giả thần chết đến.

10- Kinh sợ nhớ lại tội lỗi mình, hãi hùng nghe những âm thanh ở địa ngục, ta hoảng hốt vùi thân trong phẩn uế, lúc ấy còn làm được gì ?

11- Hiện tại, cái khổ chết đã khiến ta sợ hãi như con cá lăn lộn trên cát nóng, nói gì cái khổ khó nhẫn ở địa ngục, quả báo tội lỗi ta đã làm ?

12- Như thịt da trẻ sơ sinh chạm phải nước sôi thì đau đớn kinh khủng, kẻ đã tạo nghiệp địa ngục là ta làm sao có thể an nhiên được ?

13- Kẻ yếu đuối không nỗ lực mà muốn được kết quả, thì phải chịu nhiều tai hại. Khi cái chết đến, họ kêu trời, tôi đau khổ chết mất.

14- Nhờ nương vào chiếc bè là thân người này, ta có thể vượt qua biển khổ lớn. Chiếc bè này khó có lại, hỡi kẻ ngu, đừng ham ngủ !

15- Sao lại bỏ pháp hỷ thù thắng, nguồn gốc của tối thượng an lạc, mà vui với những thói hèn hạ chỉ đưa đến tán loạn lăng xăng ?

16- Đừng khiếp sợ, hãy tích lũy hai thứ hành trang là thiền định khiến thân tâm được tự chủ, và quán bình đẳng ta người. Hãy siêng tu pháp đổi địa vị, xem người như mình.

17- Không nên khiếp nhược tự thối lui, cho rằng “chắc mình không thể nào đạt giác ngộ”. Đức Như Lai đã nói lời chân thật (trong kinh Diệu Tý Thưa Hỏi) rằng :

18- Nếu phát khởi năng lực tinh tấn thì cả đến những côn trùng như ruồi muỗi cũng chứng được Vô thượng Bồ-đề.

19- Huống nay ta được sinh làm người, có khả năng phân biệt lợi hại, nếu không xả giới Bồ-tát, thì sao lại không chứng đạo ?

20- Nếu bảo “tôi sợ phải xả bỏ tay chân.v.v…” đó là kẻ ngu lo sợ vô lối khi chưa phân biệt được nặng nhẹ.

21- Vì trải qua vô số kiếp, ta đã từng cả ngàn lần bị đâm, đốt, cưa xẻ mà đến nay vẫn chưa thành Chánh giác.

22- Nay những khổ ta phải chịu để giác ngộ thì có giới hạn, như vì muốn chữa bệnh mà ta phải chịu cái đau giải phẫu.

23- Y sĩ khi muốn chữa bệnh cũng phải dùng những biện pháp gây đau đớn để trị liệu, vậy ta hãy nhẫn chịu những khổ nhỏ để diệt trừ tất cả khổ.

24- Đấng Vô thượng Y vương thì không cần sử dụng cách chữa trị tầm thường ấy. Bằng một phương thuốc hết sức êm dịu, Ngài chữa trị tất cả các chứng bệnh nan y.

25- Trước hết, Ngài dạy chúng sanh bố thí những thực phẩm như rau rán.v.v…Khi đã tập quen bố thí những vật nhỏ rồi, mới có thể bố thí thịt trên thân mình.

26- Khi đã giác ngộ bản thân mình cũng nhỏ nhặt không khác gì rau cỏ, thì xả thịt trên thân cũng như cho một mớ rau, đâu khó khăn gì ?

27- Bồ-tát đã tận trừ điều ác nên không còn khổ, có trí tuệ nên không lo sầu. Vì chính tà kiến chấp ngã và ác nghiệp làm cho thân tâm sầu khổ.

28- Bồ-tát không bao giờ sinh tâm nhàm chán khi ở lại trong sinh tử để cứu vớt chúng sanh. Nhờ có phước đức, Bồ-tát được thân thư thái, và nhờ có trí tuệ mà tâm an vui.

29- Nhờ năng lực tâm Bồ-đề, Bồ-tát tiêu trừ mọi ác nghiệp quá khứ và gặt hái vô lượng công đức. Do đó mà nói Bồ-tát thù thắng hơn Thanh văn.

30- Vậy, hãy tiêu trừ tất cả chán mệt, ngự trên con tuấn mã là tâm Bồ-đề để đi từ an vui đến an vui. Người có trí sao còn thối thất ?

31- Những điểm tựa (cho Bồ-tát) để siêng làm lợi lạc hữu tình gồm có 4 : Dục (nguyện), Tín, Hỷ và Xả. Dục phát sinh do sợ khổ và do quán sát lợi ích của dục.

32- Vậy, muốn tăng trưởng tinh tấn, ta phải cố từ bỏ những năng lực đối nghịch của nó như giải đãi, khiếp nhược, và tích lũy những năng lực là Dục, Tự tin, Hỷ, Xả.

33- Ta đã phát nguyện diệt trừ lỗi lầm của bản thân và tha nhân, và để trừ diệt mỗi lỗi lầm này cũng cần phải tu trải qua vô số kiếp.

34- Nhưng nếu ta chưa có một phần nhỏ nào của sự tinh tấn cần thiết để tận diệt lỗi lầm, thì nhất định ta sẽ đọa vào vô lượng khổ. Làm sao tim ta không hoảng sợ ?

35- Cũng thế, ta đã nguyện thực chứng vô lượng công đức cần thiết cho ta lẫn người. Và muốn có được chỉ một trong những công đức này, ta cũng đã phải tu vô số kiếp.

36- Thế mà ta lại chưa từng sinh khởi được một phần nhỏ nào của công đức cần tu tập. Thật lạ lùng thay, ta đã lãng phí một cách vô nghĩa tấm thân người khó được này.

37- Tôi chưa cúng dường chư Phật, chưa bày tiệc vui lớn (mời Phật và chúng sanh đến hưởng, xem Chương ba), chưa thực hành theo giáo lý, chưa thỏa mãn mong ước của kẻ nghèo.

38- Tôi chưa ban vô úy cho nững người sợ hãi. Tôi cũng chưa đem vui cho người khổ. Vậy tôi chỉ còn nước phải chịu thống khổ nhập thai, cùng với những khổ già, bệnh, chết.

39- Trong đời hiện tại và các đời trước, những nỗi khổ như trên phát sinh do tôi đã không nhiệt tình học Pháp. Khi đã biết vậy, thì ai còn từ bỏ nhiệt tâm tu hành ?

40- Chính đấng Thiện Thệ đã nói rằng dục (mong cầu) là căn nguyên của mọi đức tính. Gốc rễ của mong cầu Pháp là luôn tư duy về nhân quả nghiệp báo.

41- Tất cả những đau khổ kém vui, những sợ hãi, mong cầu không toại ý đều phát sinh từ tội lỗi quá khứ.

42- Nhờ làm các thiện hành được thúc đẩy bởi thiện dục, đi đâu ta cũng gặp lành do quả báo công đức đem lại.

43- Dù mong cầu hạnh phúc, kẻ làm ác đến đâu cũng gặp toàn quả báo của tội ác hiện ra trước mắt, bị đánh gục bởi khí giới sắc bén của thống khổ.

44- Nhờ những thiện nghiệp về trước, tôi sẽ sinh vào trong lòng mát rượi của một đóa sen thơm tho khoáng đạt. Nhĩ căn tôi được nuôi dưỡng bằng Pháp ngữ vi  diệu của đức Như Lai, thân tâm thấm nhuần phát sáng. Khi hào quang Phật chiếu đến, hoa sen trắng nở ra một thân thể thù thắng, tôi sung sướng thành con Phật, đứng trước đức Như Lai.

45- Nhưng hậu quả của bất thiện là tôi sẽ chịu khổ bị ngục tốt Diêm vương lột da rồi dội nước đồng sôi lên thân thể. Tôi lại còn bị đâm bằng những gươm nhọn tóe lửa làm cho thịt nát nhừ, và tôi sẽ ngã quỵ trên nền sắt nóng bỏng.

46- Bởi thế, tôi cần phải ham thích việc lành và cung kính tu thiện nghiệp. Theo quy tắc nói trong kinh Kim Cương Tràng, tôi khởi sự hành thiện và tập đức tự tin.

47- Khi muốn làm việc gì, trước hết hãy tự lượng sức xem mình có khả năng theo đuổi việc ấy không, nếu không thì đừng làm. Nhưng khi đã làm thì không được thối lui.

48- Vì nếu thối lui, thói quen này sẽ tiếp tục trong những đời sau, và sự ác cùng đau khổ sẽ gia tăng. Lại nữa, khi ấy mọi hành vi cùng kết quả hành vi cũng sẽ yếu ớt, không thành tựu.

49- Nên có tâm tự tín đối với sự làm lành dứt ác, và khả năng mình để àm việc ấy, với ý nghĩ : “Tự ta sẽ làm việc này”. Đó là tự tín để hành động.

50- Người đời vì bị phiền não khống chế nên không thể làm việc để tự lợi cho bản thân. Họ không thể tinh tấn tu lợi tha như tôi, bởi thế tôi sẽ cố gắng hết sức mình.

51- Người khác vì những công việc thế tục thấp hèn mà còn siêng năng cần mẫn, sao tôi lại ngồi không ? Nhưng cũng không nên vì kiêu căng ngạo mạn mà tu hành, tốt nhất là đừng kiêu mạn.

52- Khi những con quạ gặp một con rắn chết, chúng sẽ dũng cảm như chim phượng hoàng. Cũng vậy, nếu đức tự tin nơi tôi (để đối trị phiền não) yếu kém thì một lỗi lầm nhỏ cũng đủ khiến tôi suy sụp.

53- Làm sao những kẻ vì yếu kém đã từ bỏ nỗ lực hành thiện, có thể giải  trừ sự nghfo thiếu phước đức ? Nhưng với người có đức tự tin, lại nỗ lực tu hành, thì dù gặp trở ngại lớn cũng không sao.

54- Bởi thế, với một tín tâm kiên cố, tôi sẽ thắng lướt mọi sa đọa, vì nếu tôi để cho tội lỗi sa đọa đánh bại mình, thì cái ước muốn vượt ngoài tam giới của tôi sẽ trở thành chuyện đùa.

55- Tôi sẽ chiến thắng mọi phiền não tội ác, không để cho phiền não thắng lướt tôi. Tôi, đứa con của đấng Chiến thắng, như một sư tử con, sẽ kiên trì đức tự tin này.

56- Người bị ngã mạn khống chế là không đủ đức tự tin. Người có tự tin thì không bị giao động vì giặc phiền não, nhưng người ngạo mạn thường bị đánh gục vì chính phiền não ngã mạn nơi mình.

57- Người bên trong ngã mạn (tự cho mình nhất), bên ngoài lộ vẻ kiêu căng, thì sẽ đi đến các cõi ác, đọa xứ, mất hết phúc lạc đời người, trở thành nô bộc ăn cơm thừa canh cặn.

58- Ngu si, xấu xí, thân thể suy nhược, đến đâu cũng bị khinh rẻ, những kẻ tu khổ hạnh ngạo mạn cũng được kể vào hạng tự tin, thì hạng người thấp kém lại giống gì ?

59- Kẻ nào nắm lấy đức tự tín để khắc phục kẻ thù ngã mạn, chính là người hùng chiến thắng. Hơn nữa, kẻ nào quyết chinh phục sự bành trướng kẻ thù ngã mạn này, thì hoàn toàn đạt được kết quả của một đấng Chiến thắng, viên mãn ước nguyện của thế gian.

60- Nếu tôi thấy mình ở giữa một đám phiền não, tôi sẽ dùng trăm phương ngàn kế để chịu đựng, như một con sư tử giữa đám chồn, không để cho phiền não tác hại.

61- Như người ta giữ gìn đôi mắt mình lúc gặp nguy hiểm lớn, cũng vậy khi  lâm nguy tôi sẽ giữ gìn mắt tuệ của mình, không để cho phiền não thao túng.

62- Thà bị thiêu đốt, bị chặt đầu, bị giết hơn là khuất phục giặc phiền não. Dù ở đâu, lúc nào tôi cũng quyết không làm những việc vô nghĩa.

63- Như trẻ con thích thú theo đuổi những trò chơi, ta nên sinh tâm đam mê thích thú đối với việc lành, không bao giờ chán.

64- Tất cả hành động con người đều cốt để đạt đến hạnh phúc,mà chắc gì đãđược. Việc làm vừa tự lợi, lợi tha nhất định đem lại an vui, nhưng nếu không làm thì đâu có được niềm vui ấy ?

65- Người đời tham cầu năm dục không chán, như ong tham hút mật bôi đầu lưỡi dao bén, thế thì sao tôi lại chán làm các công đức đưa đến hạnh phúc an vui của Niết-bàn ?

66- Vì muốn viên thành phước đức, tôi sẽ hoan hỷ dấn thân làm việc lành như một con voi đang bị mặt trời giữa ngọ thiêu đốt, gặp được ao mát vội nhào xuống tắm.

67- Khi thân tâm suy yếu mỏi mệt, tôi nên tạm xả hơi để có thể tiếp tục lâu dài. Sau khi làm tốt một công việc cũng nên xả để hướng đến những thiện sự khác.

68- Như một chiến sĩ lão luyện trên chiến trường phản công trước mũi kiếm kẻ thù, tôi cũng sẽ đánh trả mũi nhọn của phiền não và trói kẻ thù này một cách thiện nghệ.

69- Trong khi đánh nhau lỡ làm rơi kiếm, người ta sợ hãi nhặt lên ngay ; cũng thế, khi mất chánh niệm, tôi sẽ đề khởi lại ngay vì sợ sa địa ngục.

70- Như độc dược lan khắp thân thể do máu tuần hoàn, cũng vậy, nếu phiền não có được cơ hội thì tội ác sẽ hoàn toàn che lấp bản tâm.

71- Hành giả cần phải chuyên chú giữ tâm như kẻ mang bát dầu bị người đưa gươm kề cổ dọa sẽ giết nếu làm rơi một giọt.

72- Lại như khi con rắn bò lên bụng, ta phải tức tốc đứng bật dậy để hất nó ra ; nếu tình cờ nổi cơn làm biếng hay ưa ngủ, phải nhanh chóng xua tan.

73- Mỗi khi lỡ phạm lỗi ầm, nên tự thống trách, thường nghĩ từ nay về sau ta sẽ không bao giờ tái phạm.

74- Để phòng lỗi lầm phát sinh, vào mọi thời nên tu chánh niệm. Với động lực này ta nên đi tìm minh sư để hoàn tất sự nghiệp chánh đạo.

75- Muốn có năng lực để làm thiện sự, trước khi bắt tay vào việc gì nên nhớ lại lời khuyên trong Chương bốn nói về bất phóng dật, rồi hân hoan khởi sự làm công việc.

76- Như bông tơ mềm nhẹ bay theo làn gió thổi, khi thân tâm phấn chấn thì mọi thiện sự đều dễ thành.

 

CHƯƠNG TÁM

 

THIỀN ĐỊNH

(Tịnh lự, lóng sạch)

 

1- Sau khi phát khởi tinh tấn, hãy để tâm an trú trong thiền định. Người mà tâm tán loạn thì sẽ bị rơi vào nanh vuốt của phiền não mê muội.

2- Nếu cả thân và tâm đều viễn ly (thân viễn ly là ở nơi vắng vẻ, tâm viễn ly là không tham đắm thế tục) thì kể tán loạn không sinh. Bởi thế, cần phải xa lìa trói buộc của đời sống thế tục (gia đình, bè bạn) và từ bỏ những tư tưởng thế tục (liên hệ tài sắc, danh, ăn, ngủ).

3- Vì ái luyến thân bằng quyến thuộc, yêu mến danh lợi nên khó bỏ thế tục. Bậc trí hoàn toàn từ bỏ những thứ ấy đẻ tuần tự thực hành thiền quán theo những nguyên tắc sau đây :

4- Vì biết rõ chỉ có tuệ quán thù thắng (gọi tắt là tuệ, hay chiếu, sáng suốt)  nghĩa là có kèm theo tịnh chỉ (định, hay tịch, vắng lặng) mới diệt được mê lầm phiền não, trước tiên nên tu tịnh chỉ. Tịnh chỉ thành tựu là do lìa tham ái.

5- Tự bản thân đã vô thường (nay còn mai mất, chóng thay đổi), lại còn đi tham luyến những kẻ khác cũng vô thường, thì dù có tái sinh trở lại cả ngàn lần cũng không gặp được những người mình yêu mến.

6- Khi chưa tìm thấy họ, đương nhiên ta sẽ sầu khổ không vui, vì không vui nên không thể đi vào chánh định (còn gọi tam ma địa, đẳng chí… là CHỈ). Dù có gặp được cũng không biết đủ (muốn gặp hoài), nên cũng lại sầu khổ vì ái luyến như trước.

7- Tham đắm những người, vật hữu tình là hoàn toàn ngược với thực chất của các pháp (hay hiện tượng, vì thực chất chúng là vô thường, như huyễn). Sự tham đắm ấy cũng huỷ hoại cái tâm cầu đạo hướng đến giải thoát, chán lìa sinh tử, và rốt cuộc phải rước lấy sầu khổ khóc than.

8- Nếu ta cứ nhớ thương những người thân, thì cuộc đời này trôi qua một cách vô nghĩa. Và như vậy là ta để cho những thân bằng quyến thuộc vô thường phá hỏng cơ hội tu chứng đạo lý chân thường.

9- Hành vi đã giống với phàm phu ngu si như vậy, thì chắc chắn ta phải đọa lạc vào ba ác đạo (ba cõi xấu : địa ngục, quỷ đói, súc sanh). Nếu mục đích của ta là hướng đến cảnh giới giải thoát thì cần gì phải thân gần những người phàm phu ngu độn ? (Câu cuối này bản Hoa ngữ là Tâm dục phó thánh cảnh/Hà nhu cận phàm phu. Bản dịch Anh Pháp giống nhau nhưng khác với bản Hoa ngữ. Anh dịch : And if I am led there by thoe unequal to the Noble Ones/What is the use of entrusting myself to the childish ? Pháp dịch : Et quand m’y conduisen ceux qui ne ressemblent pas aux être nobles/A quoi bon m’enremettre à eux ? Tự phó thác thân phận cho những kẻ phi thánh làm gì khi chúng chỉ dẫn ta đến ác đạo ?)

10- Mới phút trước bạn bè thân thiết, phút sau đã thành thù địch. Vào dịp vui cũng có thể chuốc oán cừu, ôi, kẻ phàm phu thật khó mà làm cho họ vừa lòng.

11- Khi ta lấy lời thành thật bảo họ, họ nổi giận và lại còn xúi ta từ bỏ việc lành. Nếu ta không nghe lời, họ sẽ nổi sân nà rơi vào đường ác.

12- Ganh ghét với kẻ hơn mình, cạnh tranh với kẻ  bằng mình, ngạo nghễ với kẻ thua mình, được khen thì kiêu căng, nói lời trái tai thì nổi giận. Làm bạn với những người ngu như thế đâu có ích gì ?

13- Làm bạn với kẻ ngu chắc chắn sẽ sinh cái lỗi khen mình chê người, ưa bàn chuyện thế tục và những điều không tốt.

14- Bởi thế, gần thân tộc bạn bè chỉ rước lấy tổn hại. Họ không có lợi gì cho ta, ta cũng không ích gì cho họ.

15- Vậy cần phải xa lìa phàm phu ngu si. Khi gặp họ hãy vui vẻ chào đón, nhưng đừng quá thân mật, hãy theo cách giao tiếp của chính nhân quân tử (nghĩa là không vồn vã lắm).

16- Như ong lấy mật hoa, khi vì pháp (sống đúng theo giới luật Phật chế) ra ngoài hóa duyên (khất thực, xin ăn) xong, hãy an nhiên như vầng trăng mới. (Sngon chad ma mthong bzhin, Matics dịch : like the new moon. Dịch giả Hoa ngữ cho rằng rất khó lý giải, và dịch thành như tích vị mưu diện, nghĩa là chưa từng toan tính gặp nhau trước đấy. Bản dịch Anh, Pháp cũng tương tự. Tôi theo cách dịch của Matics trên đây do dịch giả Hoa ngữ cung cấp, vì nó nên thơ và phù hợp với Luận Thanh Tịnh Đạo nói về hạnh khất thực từng nhà, vị khất sĩ như vầng trăng chiếu ngàn nhà, không có thân sơ, luôn mới mẻ).

17- Nếu ôm giữ ý nghĩ kiêu mạn, cho rằng ta đây giàu có, được mọi người cung kính, ai cũng yêu mến ta, người như vậy lúc chết nhất định sẽ đâm ra hãi sợ (sợ sa ác đạo).

18- Này ý thức ngu si kia ơi, bất kể tham luyến vật gì, nhất định ngươi sẽ rước lấy ngàn lần nỗi đau khổ mà ngươi phải chịu trong đời này.

19- Do vậy, kẻ có trí không bao giờ tham luyến, vì tham luyến sẽ đưa đến nỗi sợ đọa vào ba đường ác. Hãy giữ vững sự tin hiểu như sau : những sự vật kia tự bản chất nó là đáng bỏ.

20- Dù ta có nhiều tiền lắm của, nổi danh khắp thiên hạ, thì những danh lợi thâu thập được ấy cũng không thể chiều theo ý muốn của ta.

21- Lời ca tụng đâu đáng để làm ta vui khi cũng có người hủy báng ta ? Lời chê bai đâu đáng làm ta sầu khổ, khi cũng có người khen ta ?

22- Hữu tình chúng sanh có đủ loại tâm linh, ngay đến chư Phật cũng không thể làm cho họ vui lòng, huống chi kẻ hèn kém như ta ? Vậy nên xả bỏ ưu tư ấy.

23- Họ khinh miệt kẻ bần cùng và nói xấu người giàu có. Bản chất họ khó kết thân như thế, thì làm bạn với họ có gì vui ?

24- Đức Như Lai có dạy rằng : Kẻ phàm ngu nếu không được lợi lộc thì sầu não không vui, bởi thế đừng làm bạn với họ.

25- Những chim thú và cây trong rừng không có phát ra những âm thanh châm chích nhĩ căn. Làm bạn với chúng thì ta thường an vui. Đến bao giờ ta mới được ở yên với chim thú trong núi rừng ?

26- Bao giờ tôi mới được ở gốc cây, trong hang động hoặc chùa hoang vắng ? Nhưng tôi nguyện tâm này không còn tơ tưởng đến thân bằng quyến thuộc, cắt đứt ham muốn đối với trần thế.

27- Bao giờ tôi mới được dời đến chỗ thiên nhiên khoáng đạt để khỏi chấp đây là chỗ của tôi, tâm không còn tham đắm, được tự do tự tại ?

28- Bao giờ tôi mới được ở an không sợ hãi, chỉ giữ ít vật dụng cần thiết, y phục thì kẻ trộm không thèm lấy, thậm chí không cần phải che thân ?

29- Bao giờ tôi mới đến được rừng thây, tiếp xúc cảnh ấy mà phát sinh ý nghĩ : Bộ xương của tử thi với thân thể của ta đều là những  thứ sẽ đi đến hoại diệt.

30- Thân ta nhanh chóng vữa nát, hôi thối đến nỗi chồn sói cũng không dám đứng ăn ở đầu gió. Sự biến đổi của thân này chung cuộc sẽ như vậy.

31- Chỉ một tấm thân này lúc sống thì xương thịt liên kết nhau, nhưng chết rồi là phân tán mỗi thứ một nơi, huống chi những người thân thuộc.

32- Khi sinh ra đã một mình, lúc chết cũng đơn độc chết, những thống khổ khi  tứ đại phân tán không ai san sẻ được với mình, thì thân bằng quyến thuộc có ích gì ?

33- Như lữ khách trên đường dài không tham đắm chỗ tạm dừng chân, kẻ đang đi trên đường ba cõi (cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc) cũng không nên ái luyến gia đình từ đấy mình đã sinh ra.

34- Sao ta phải chờ đến lúc thân thể được bốn người khiêng, với thân bằng quyến thuộc đau đớn khóc lóc đi theo mới chịu vào rừng ?

35- Không cùng người thân hoặc kẻ thù, một mình ở ẩn trong rừng núi xem như đã chết, thì khi chết chẳng còn ai phải khóc than.

36- Khi ấy, vì xung quanh chẳng có người nào để đau buồn cho ta, hoặc để làm hại ta, nên lúc tu các pháp như niệm Phật theo hơi thở.v.v… sẽ không có ai làm cho tâm ta tán loạn.

37- Bởi thế, hãy ở một mình, ít việc, dễ an vui, trong cảnh núi rừng xinh đẹp khiến tâm người hoan hỷ, ngõ hầu đình chỉ tâm tán loạn.

38- Khi đã bỏ hết những lo nghĩ thế tục rồi, tâm ta nên chuyên nhất để có thể đi vào tịnh chỉ, và tinh tấn cắt đứt phiền não (bằng tuệ quán).

39- Đời này và đời sau, sự ham muốn khoái lạc giác quan dẫn đến tai họa, sự bắt trói,chặt giết trong đời này làm cho đời sau bị sa địa ngục.

40- Trước mặt các ông tơ bà mối, tại sao người ta khẩn cầu họ xe duyên nhiều thế ? Sao họ không kiêng kỵ phạm những tội lỗi hay tiếng xấu ?

41- Dù nguy hiểm bao nhiêu cũng lao vào, tài sản khánh tận cũng mặc, chỉ cần ôm gái đẹp vào lòng là khoái chí tiêu hồn.

42- Các cô gái ấy trừ xương xẩu ra, chẳng có gì, thế mà vì luyến ái họ ta đã không còn tự chủ được thân mình. Sao không hướng đến Niết-bàn tịch tịnh ?

43- Luc đầu (những cô gái) phải gan dạ lắm mới thò đầu ra, khi ta kéo voan che mặt của cô thì cô thẹn thùng cúi mặt nhìn xuống. Trước khi đem chôn, cái mặt ấy, dù có người thấy hay chưa ai thấy, đều được che đậy dưới một tấm voan. (Hoa dịch : Táng tiền kiến vị kiến/Tất dĩ sa phú diện. Cả hai bản Anh, Pháp đều không có ý gì ám chỉ việc chết chóc như bản Hoa. Theo mạch văn về quán bất tịnh của tử  thi, thì bản Hoa có lẽ đúng hơn, khi nhìn một cô gái đẹp che mặt sau tấm voan theo tục lệ thời ấy, mà tác giả nghĩ đến xác chết của cô cũng sẽ được che mặt y như thế).

44- Cái dung mạo ẩn sau màn che đã mê hoặc ngươi ngày xưa, nay bị chim kên kên tha mất tấm voan, hiện ra trước mặt ngươi, sao ngươi thấy lại bỏ chạy dài ?

45- Ngày xưa có kẻ nào nhìn trộm nó, ngươi vội vàng giữ kỹ, nay chim kên kên ăn thịt nó, sao ngươi không giữ đi ?

46- Khi đã thấy một khối thịt vữa nát bị chim thú tranh nhau ăn ấy, thì sao ta còn khổ công trang sức cho một món ăn được ân cần phụng hiến cho cầm thú ?

47- Nếu trông thấy một bộ xương trắng sạch sẽ nằm bất động cũng đủ khiến ngươi kinh hãi, thì sao không sợ một nữ nhân linh hoạt như một thây ngo ngoe ?

48- Ngày xưa cô gái mặc y phục đàng hoàng ngươi ham thích, sao nay lõa hình lại không ham ? Nếu nói tôi không thích cái thây chết lõa hình, thì tại sao ăn lại thích cái thây sống có áo mặc ?

49- Phân tiểu và nước bọt đều do ăn uống sinh ra, tại sao ngươi chỉ tham nước bọt mà không tham phân hôi ?

50- Những kẻ tham dục không thích xúc chạm cái gối mềm mại sạch sẽ, bảo rằng nó không có mùi thân thể đàn bà. Hóa ra họ mê những thứ ô uế.

52- Kẻ đam mê nhục dục nói : “Cái gối tuy mềm mại thật, nhưng ngủ với cái gối thì đâu có thành giấc ngủ của đôi uyên ương”. Họ còn nổi giận với cái gối.

53- Nếu ngươi bảo : “Tôi không thích những thứ dơ uế”, vậy tại sao lại ôm ấp một phụ nữ gồm bộ xương có gân dính liền, với thịt như bùn đắp lên ?

53- Những dơ uế của tự thân ngày nào ngươi cũng kinh nghiệm, hưởng chưa đủ hay sao mà còn tham cái túi da dơ uế của kẻ khác ?

54- Nếu bảo rằng chỉ thích nhìn và vuốt ve thịt da mềm mại kia, thế thì sao không muốn da thịt một tử thi hồn đã lìa khỏi xác ?

55- Vậy chính do cái tâm của cô gái làm ngươi ham muốn, nhưng tâm ấy thì không thể thấy hay sờ ; cái có thể thấy, sờ được thì chẳng phải tâm, vậy ôm giữ sự si mê vô lối ấy làm gì ?

56- Không rõ biết sự dơ uế nơi thân người khác cũng chưa phải là điều kỳ lạ, nhưng không biết sự dơ uế nơi chính thân mình mới thực là lạ kỳ.

57- Hỡi cái tâm tham luyến những vật bất tịnh kia, sao ngươi lại bỏ đóa sen non mới nở dưới ánh mặt trời mà đi ham thích cái túi da dơ uế ?

58- Nếu ngươi không muốn sờ một chỗ đất bị trát đầy đồ dơ, thì sao lại muốn sờ cái thân thể từ đó tiết ra đủ thứ uế bẩn ?

59- Nếu nói ngươi không ham dơ uế, thì tại sao lại ôm vào lòng một vật do hạt giống bất tịnh (tinh trùng, noãn) sinh ra, và thoát ra ở chỗ dơ dáy ?

60- Con dòi sinh từ phân tiểu tuy nhỏ nhít ngươi còn không ham, tại sao lại ham thích cái thân thể do bất tịnh sinh ra và đầy những thứ dơ bẩn ?

61- Ngươi chẳng những không coi rẻ cái thân bất tịnh của mình, lại còn vì ham vật bất tịnh mà tham luôn cả túi da dơ bẩn của kẻ khác.

62- Ngay cả những dược phẩm cùng thực phẩm thích hợp khẩu vị con người như băng phiến, gạo, cơm, rau rán,… đã vào cơ thể bài tiết ra thì khiến đại địa cũng ô uế.

63- Thân thể dơ bẩn như vậy rõ ràng ai cũng tự thấy. Nếu còn nghi thì nên quan sát thây chết ngoài nghĩa địa và những vật bất tịnh khác.

64- Khi lớp da ngoài được xẻ ra, người trông thấy phải kinh hãi. Khi đã biết vậy thì tại sao còn có thể ham thích cái thân này ? Vậy nên từ bỏ tư tưởng cho thân là sạch đẹp.

65- Mùi thơm mà kẻ kia thoa vào thân là hương của chiên đàn (hay các hương khác, như nước hoa ngày nay) chứ đâu phải của thân thể. Sao lại vì mùi hương không liên can gì đến thân thể mà tham cái thân của cô nàng ?

66- Nếu thân thể vốn hôi hám, thì đừng ham nó chẳng phải tốt hơn chăng ? Những người tham chuyện vô nghĩa trên đời bôi hương lên thân để làm gì nhỉ ?

67- Nếu mùi hương là của nước hoa (chiên đàn) thì thân thể toát ra mùi gì ? Cần gì nhân một mùi hương chẳng can hệ gì đến cái thân cô gái, mà ham thích thân ấy ?

68- Nếu tóc và móng tay dài ra, răng vàng hôi thối, thân thể như trạng thái tự nhiên của nó, thì phải khiến người ta khiếp sợ. Thế thì sao ngươi còn ham thân ấy ?

69- Tham dục như vũ khí tự hại mình, đã không để cho nó cùn nhụt bớt thì chớ, sao còn mài cho nó sắc bén thêm ? Than ôi, bọn người cuồng si tự mê hoặc mình, thật đầy dẫy trong thiên hạ.

70- Chỉ cần thấy một nắm xương ngoài nghĩa địa ta cũng đủ khởi tâm chán lìa (sinh tử), thế sao lại vui được khi thấy đầy dẫy những bộ xương trắng đang di động trong thị trấn ?

71- Lại nữa, cái thân bất tịnh của nữ nhân nếu không trả một giá rất đắc thì không có được. Đời này phải vì nó mà mệt mỏi chạy theo cát bụi , đời sau chịu khổ nạn ở địa ngục.

72- Tuổi nhỏ không có năng lực kiếm ra tài sản, lớn lên làm sao hưởng thú (cưới vợ) ? Khi có được tài sản thì thọ mạng sắp hết, cái già đã đến thì sắc dục mà làm gì ?

73- Những kẻ hạ liệt nhiều ham muốn suốt ngày lao động kiệt sức, buổi tối về nhà bao nhiêu tinh khí tiêu tan, lăn ra ngủ say như thây chết.

74- Có kẻ đi tha hương mưu sinh, trải nhiều gian nan cay đắng, dù có muốn hội ngộ vợ đẹp, suốt năm cũng không thấy nhau.

75- Có kẻ vì tự lợi, ngu si tự bán thân mình, nhưng chưa được lợi lộc gì vào tay mà phải bị gió nghiệp cuốn đi một cách vô định.

76- Có kẻ tự bán thân làm tôi tớ người, tha hồ cho kẻ khác sai sử. Thê thiếp họ sinh nở ở chỗ hoang dã, dưới gốc cây.

77- Những phàm phu bị dục vọng lừa dối, lại nói là vì kiếm sống mưu sinh. Họ ra sa trường mặc dù sợ chết hoặc vì ham lợi mà biến thành nô bộc.

78- Vì dục vọng có người tự sát, hoặc bị giáo nhọn đâm suốt thân, hoặc bị kiếm ngắn đâm thủng, hoặc bị lửa đốt.

79- Trải cho hết những khổ về tom góp, giữ gìn và mất mát, mới thấy tài sản thật đem lại nhiều tai họa. Kẻ vì tham vàng mà tiêu tán tâm lực thì không còn có kỳ hạn nào để thoát ra khỏi khổ sinh tử.

80- Tham dục phát sinh nhiều khổ, hại nhiều, phước lợi ít ; chẳng khác nào những con vật kéo xe chỉ ăn được vài nạm cỏ mà thôi.

81- Cái lợi nhỏ nhoi ấy súc sinh còn dễ kiếm, nhưng những con người thiển cận kia lại vì nó mà bôn ba chịu đủ thứ thống khổ, hủy hoại thân người khó được của mình.

82- Năm đối tượng của dục rốt cùng cũng hoại diệt, nhưng do đam mê chúng mà con người đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Vì cái vui chốc lát mà phải chịu khốn đốn trường kỳ.

83- Vậy mà chỉ cần chịu đựng một phần ngàn, phần vạn của sự khổ ấy để tu hành cũng đủ thành Vô thượng Bồ-đề. So với Bồ-tát tu hạnh giác ngộ thì người tham dục chịu nhiều khổ mà không được quả giác ngộ.

84- Tư duy về những thống khổ ở các ác đạo mới biết tai họa của các dục. Những tại họa do độc dược, lửa, binh khí, vực thẳm hoặc kẻ thù gây ra cũng không thể sánh bằng.

85- Bởi thế nên chán đối tượng năm dục, vui với cảnh nhàn tịnh ở trong núi rừng tịch tĩnh, lìa tranh chấp, không phiền não.

86- Dưới ánh trăng trong sang mát mẻ tợ hương chiên đàn, thư thái trên phiến đá phẳng như trong cung điện, được ngọn gió rừng êm ái quạt mát, bậc thiền giả tốt phước tản bộ nghĩ đến an lạc cho muôn người.

87- Theo thời tiết tha hồ mặc ý ở trong ngôi nhà trống, hoặc nơi hang động, hoặc dưới gốc cây, nhờ đã xả bỏ cái khổ của sự giữ gìn tài vật, vị ấy được tự do tự tại.

88- Lìa tham ái, hành động tự do, không can dự bất cứ ai, vua chúa cũng khó hưởng được cái thú tri túc ở chốn núi rừng tĩnh mịch.

89- Sau khi tư duy về những tai hại của năm dục và công đức của sự xa lánh duyên trần, nên chấm dứt vọïng tưởng phân biệt và tu quán tâm Bồ-đề.

90- Trước tiên nên quán ta với người cũng giống nhau ở chỗ tránh khổ tìm vui, do vậy cần thương chúng sanh như thương chính mình.

91- Chân tay tuy nhiều, nhưng giữ gìn tay chân thì cũng như giữ gìn thân thể. Khổ vui ở mỗi người tuy khác nhau, nhưng sự tìm cầu an lạc thì ai cũng giống ta.

92- Cái khổ mà ta chịu không làm tổn hại thân người khác, nhưng do xem là tôi khổ, vì chấp ngã nên ta khó mà kham nhẫn.

93- Cái khổ của người khác cũng không dính đến thân ta, nhưng nếu xem khổ ấy cũng như tôi khổ, thì cũng khó kham nhẫn.

94- Ta nên xua tan nỗi khổ của người như xua tan khổ của chính ta, và nên làm lợi lạc cho người vì họ cũng là hữu tình như ta.

95- Ta lẫn người, cả hai đều tìm vui nên giống nhau, họ có gì khác ta đâu ? Tại sao chỉ tìm vui cho mình ?

96- Ta lẫn người, cả hai đều ghét khổ nên giống nhau. Mình người có gì khác nhau, sao chỉ tự che chở mình mà không che chở người ?

97- Ngươi bảo : “Cái khổ của người khác không hại gì tôi, thì sao phải che chở họ khỏi khổ ?”. Vậy cái khổ về sau không hại cho bây giờ sao ngươi phải đề phòng ?

98- Nếu bảo : “Tôi chấp nhận chịu khổ tương lai, vì khi chết đi là một thân khác, cái thân tái sinh cũng là một thân khác nữa”. Thấy như vậy gọi là tà kiến, nên bỏ.

99- Nếu bảo “ Ai khổ thì tự lo lấy thân, can chi tôi phải che chở họ”. Thế thì chân khổ không phải tay khổ, sao tay lại che chở chân ?

100- Nếu bảo : nghĩ như trên (98,99) mặc dù phi lý thật, nhưng vì chấp ngã mà ra như thế. Nhưng sự chấp trước thật có ta và người hiện hữu biệt lập là tà kiến, nên bỏ.

101- Vì cái gọi là mình hay người chỉ là tính tương tục (thời gian) và năm uẩn hòa hợp (không gian) chỉ là giả danh, như chuỗi tràng (gồm nhiều hạt kết lại) hay như quân đội (từng binh sĩ họp lại), vốn thật không có người chịu khổ, thì ai là kẻ trừ khổ của ai ?

102- Đã không có người chịu khổ thật sự, thì tuyệt đối không có gì khác nhau giữa khổ mình hay khổ người. Có khổ nhất định nên xua tan, cần gì phân biệt gượng gạo mình và người ?

103- Không nên cãi rằng cần gì phải trừ khổ của người khác, vì không thật có sự khổ và người chịu khổ. Nhưng khi đã xua tan đau khổ của chính mình thì đương nhiên cũng phải xua tan tất cả đau khổ. Nếu không, thì tôi cũng như hữu tình khác, cần gì trừ khổ cho chính tôi ?

104- (Hỏi :) - Tâm thương xót kẻ khác đem lại cho tôi nhiều đau khổ, thì sao phải nỗ lực làm nó phát sinh ? (Đáp :) - Nếu nghĩ đến nỗi khổ của chúng sanh, thì khổ của mình sao lại tăng được ?

105- Nếu nỗi khổ của một người có thể trừ thống khổ của rất nhiều người khác, thì vì tự lợi lợi người, kẻ có tâm từ sẽ rước lấy nỗi khổ kia.

106- Như trong kinh Tam Ma Địa Vương nói : Bồ-tát Diệu Hoa Nguyệt mặc dù biết nhà vua có ý hại mình, song vì muốn chấm dứt thống khổ cho hàng vạn người, Bồ-tát đã chấp nhận khổ đau.

107- Người tu quán mình người bình đẳng như vậy thì ưa trừ diệt thống khổ cho kẻ khác, dù phải vào địa ngục Vô gián cũng vui vẻ như con thiên nga sà xuống ao sen.

108- Khi biết chúng sanh đã được giải thoát thì tâm vui mừng dạt dào như biển lớn. Nỗi vui ấy chưa đủ sao, cần gì phải cầu giải thoát cho riêng mình ?

109- Bởi thế hãy mưu cầu lợi ích cho tha nhân mà đừng kiêu căng tự đắc ; chuyên tâm ham thích làm lợi lạc cho người mà không hy vọng được quả báo lành.

110- Cũng như tôi tự giữ cho mình khỏi bị những khó chịu nhỏ như một lời nói khiếm nhã, tôi nên tu tập tâm thương xót che chở kẻ khác.

111- Đối với tinh huyết của người khác vốn không phải thân tôi, mà vì tập quán tôi đã xem sự kết tụ tinh huyết ấy là tôi ;

112- Vậy sao thân người khác tôi không thể xem là mình ? Do vậy, đem đổi thân mình thành thân người cũng không khó lắm.

113- Tự thương thân thì gặp nhiều tai họa, thương thân người thì đư