Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Học Cơ Bản


......... .

 

TINH VÂN HOÀ THƯỢNG

LỜI GIẢI ĐÁP CHO CON NGƯỜI

 

TẤT CẢ ĐỀU LÀ LẼ ĐƯƠNG NHIÊN

 

一切都是當然的

 

Hạnh Huệ soạn dịch từ Tinh Vân Bách Ngữ
---o0o---

 

Mục Lục

 

Trọng Yếu Của Nhân Học ^

"Nhân", phải trải qua sự từng trải việc người mới có thể trưởng thành.

"Nhân", phải nghĩ đến sự tồn tại của người khác mới có thể rộng mở.

"Vô duyên đại từ – đồng thể đại bi", ắt là cảnh giới tối cao giữa "người" và "người". 

Tháng 11 năm 1994, tại đạo trường Phật Quang Sơn Đài Bắc cử hành hội nghị học thuật của hai bờ eo biển, tôi đáp lời mời cùng các nhà học giả toạ đàm. Trong bàn có một vị giáo sư nói, trước mắt, Trung Quốc Đại Lục có một nhóm học giả chuyên môn nghiên cứu "Nhân học".Ông ta là một người trong đó.Thì ra, Người – mới là học vấn tối trọng yếu của thế gian. Tôi bảo với các nhân sĩ, nếu chỉ nghiên cứu "người" trên bề mặt thì chưa đủ, cần phải nên nghiên cứu "tâm", bởi vì người là sắctâm hoà hợp mà thành, ắt đem vật chất và tinh thần điều hoà, mới có thể triệt để đem "người" làm tốt, trọng yếu của nhân học, mới thật chẳng hư rỗng.

Nhớ lúc còn bé, bà ngoại đưa tôi đi học tại trường tư thục. Ngày đầu tiên thầy giáo chỉ dạy tôi một chữ "người" (人: Nhân). Sau này đem "người" làm tốt trở thành mục tiêu của đời tôi. Do đó, trước hết tôi theo sự hiếu thuận với bậc trưởng thượng mà làm, vì muốn giúp người mẹ cô quả khổ cực, tôi đem số tiền dành dụm hằng ngày, tiền mừng tuổi năm mới đưa mẹ mua điểm tâm về nhà, để cho tiếng cười thích thú của bọn con cái làm nhạt nhoà sự thảm não trong lòng mẹ.

Tuổi quá sáu mươi, tôi và người mẹ đã xa cách bốn mươi năm gặp gỡ nhau, tôi liền nghĩ cách rước mẹ về nuôi dưỡng hiếu kính, thần hôn định tĩnh, và bắt chước tinh thần của Lão Lai Tử mặc áo hoa làm vui cho mẹ, nương vui dưới gối. Thậm chí tôi yêu nhà, yêu luôn quạ đậu trên nhà, hết sức vì cậu, anh chị em giải quyết vấn đề khiến cả nhà vui vẻ an lạc, làm mẹ được an tâm.

Năm mười hai tuổi, tôi xuất gia.Sư phụ là Thượng nhân Chí Khai đưa tôi đến Phật Học Viện để học.Tôi tiến một bước học đến tâm là nguồn vạn pháp. Học làm "người" trước phải điều tâm, trong tâm có "người", vì "người" mà để tâm đến, là điều kiện tiên quyết làm "người". Vì để Sư phụ hoan hỉ, khỏi lo, tôi tinh tấn phấn phát, cố sức vươn lên. Vì muốn cho sư huynh đảm nhiệm trụ trì tại chùa chuyên tâm quản lí việc chùa, tôi thường xuống núi chạy hơn trăm dặm đường dài lo kinh sám Phật sự, qua lại giữa thôn làng mà thổ phỉ thường ẩn hiện, và cũng tự nguyện tối ba mươi Tết gõ cửa từng nhà để quyên góp lương thực.

Lúc nội chiến bùng nổ, tôi cùng bạn đồng học một mặt hoằng pháp, một mặt lánh nạn. Sự thiếu thốn vật dụng khiến tôi nghĩ đến nhu yếu của người khác, do đó khi tiết đông lạnh giá tôi đem chiếc áo bông duy nhất tặng bạn đồng song là Hoành Độ, lại đem chiếc áo tràng khó được cho người bạn tốt Chữ Vân. Tôi cảm nhận sâu xa giữa "người" và "người", nếu có thể tương thân tương ái, vũ trụ rộng mở biết bao!

Đến Đài Loan, tín đồ ngày càng tăng, và lo nhu yếu cho người khác, có thể nói là tôi ngày ngày vì người cực khổ, ngày ngày vì người bận rộn. Bằng hữu vừa báo điện thoại sẽ đến thăm, tôi tựa cửa ngóng trông, quét giường để đợi. Tín đồ có Phật sự tống táng, tôi vội vàng đi xe siêu tốc để kịp thời dự lễ, niêm hương, thuyết pháp. Hứa làm lễ hỉ sự kết hôn, dù ở mãi tận cuối làng xa xôi hẻo lánh, trời mưa tầm tã, tôi cũng len lỏi trên đường nhỏ quanh co giữa sấm chớp vang rền, kiếm cách đến nơi để chúc phúc chứng minh, thậm chí sau này còn quan tâm đến vấn đề họ sanh con nuôi cái. Như nhà cư sĩ Thái Cố Nghi ba đời đều là tôi đặt tên cho, năm người con của Quách Bổn Vân, ba cậu bé của Lí Nhất Bình, tôi thay họ nuôi nấng nhiều năm. Về sau, dứt khoát mở rộng, đổi thành Dục Ấu Viện, chuyên thâu nhận nuôi dưỡng luôn một loạt.Trong đám đông nhân quần, vì người khác bôn ba cực nhọc, tôi chẳng chút nào cho rằng khổ, nhân vì tôi từ thân "người" học tập được đức tính tốt đẹp khiêm hoà nhẫn nhục, từ bi bao dung.

Một đệ tử trẻ tuổi từng nói với tôi:

— Người ta đến lúc già thường giống như trái banh chuyền, con cái đẩy qua đẩy lại, chẳng chịu chiếu cố, nhưng Sư phụ lại giống quả bóng chày, con cái trong thiên hạ đều hoan hỉ qua lại ôm chầm Thầy.

Tôi nghĩ đây nhân vì tôi rất chú trọng sự tôn trọng hài hoà giữa con người với nhau. Bình thường chúng ta đều biết lúc trời lạnh cần chuẩn bị dù đi mưa, lúc xuân hạ cần tích cốc phòng đông."Người" cũng không thể chỉ thấy lợi gần ngắn ngủi mà phải ở hằng ngày bồi dưỡng duyên lành, vì vị lai vĩnh hằng mà lưu tâm.

Tôi suốt đời giữ nguyên tắc xử thế đãi "người": "Anh lớn tôi nhỏ, anh tốt tôi xấu, anh có tôi không, anh vui tôi khổ", có bị thua thiệt thế nào đi nữa cũng không dễ dàng phá hoại "tình người". Kết quả tôi làm người khác hoan hỉ, người khác cũng dang rộng hai tay, biểu thị hoan nghinh tôi.

Có lúc, tín đồ cho rằng tôi biết xem phong thuỷ địa lí, đến hỏi tôi miếng đất này tốt hay xấu. Tôi hoàn toàn đề xướng "nơi nơi đều là đất tốt", nhân đây đều nói "Tốt", chúc phúc họ được cát tường như ý, đợi họ được bình an thuận lợi, mới đem cục đá trong tâm buông xuống. Có tín đồ hỏi tôi ngày này tốt hay xấu. Tôi luôn chủ trương "ngày ngày đều là ngày tốt, do đó đều nói "tốt", chúc phúc họ tháng tốt ngày lành, chỉ vẫn đợi đến khi họ cảm tình hoà mục, tự mình cũng mới an tâm. "Người" là điều trọng yếu.Tánh của "người", tại có sở đắc. Tuy nói đưa ra chút quan tâm, nhưng có thể bảo trì tình nghĩa nặng sâu, tự biết như thế là thu hoạch nhiều tốt đẹp.

Đối với hơn ngàn đệ tử xuất gia, từ trên thực chất cho đến sự khải phát về tinh thần, từ sự kiến thiết cứng cỏi đến nghị định chế độ, từ giáo dục sinh hoạt đến khai thác tư tưởng, từ khai đạo cá biệt đến phổ tham đại chúng…, tôi đều đem hết khả năng, đắng miệng mềm lòng… Nhưng mưa thì nhuần khắp mặt đất mà cây thì có lớn nhỏ khác nhau, trình độ thấm nhuần bất đồng. Pháp thì đồng dạng, một vị bình đẳng, nhân nơi trí hay ngu của "người" có phân biệt hơn kém, sự tiếp thọ nhiều ít cũng có sai biệt. Giống như có một ít đệ tử không hề muốn tôi quan hoài, một lòng chỉ nghĩ việc phụng hiến thường trụ, phục vụ nhân quần, bọn họ tạm dùng thời giờ, sẽ thành long tượng trong cửa Phật, lương đống trong giáo giới. Nhưng có một ít đệ tử đã không muốn người khác quan tâm, mà tự mình chẳng giúp đỡ "người khác" chút nào, chỉ nghĩ cho mình, bình tĩnh an nhàn qua một đời. Có một số đệ tử chỉ hi vọng "người khác" đối xử tốt với mình, chính mình lại không chịu đáp trả.Lại có số chỉ biết chê gièm "người khác", dù đối với họ tốt, họ cũng chẳng biết đủ, vừa lòng.Bọn họ cứ việc lo tài năng cho ưu việt, nhưng do cá tánh sai sử, không cách gì làm cho nhân hoà, nghĩ đến tiền đồ của họ cũng chịu nhiều hạn chế.

Hơn mười năm trước, vì mở mang chùa Tây Lai làm cơ sở hoằng pháp tại Âu Mĩ, một nhóm đồ chúng trẻ tuổi mạnh mẽ, có đủ tiềm lực lục tục đến Mĩ quốc làm công tác khai sơn, đâu dè có một ít đệ tử lại nói sau lưng:

—  Sư phụ đem đồ đệ ưa thích nhất đưa đi Mĩ.

Về sau chùa Tây Lai khánh thành, thường trụ lại phái một nhóm đệ tử lão thành cẩn thận, tu dưỡng thâm hậu đến trước để độ chúng, chẳng dè mấy người này lại nói:

— Hiện tại Sư phụ đem đệ tử không ưa nhất phái đi Mĩ.

Vừa nghe như thế, thật chẳng biết làm sao. Lòng bàn tay hay lưng bàn tay cũng đều là thịt, rốt cuộc ai là người tôi thích nhất? Ai là người tôi ghét nhất?Theo thời gian đưa đẩy, đến nay, tiếng bất bình đã mất tăm mất tích. Té ra thích hay không thích đều là vấn đề "người" mà thôi. Tâm có cao thấp, "người" bèn có tầng lớp bất đồng.Chỉ cần việc làm công chính, công bình, qua một thời gian, tự nhiên khiến người nể phục, hà tất suy bì cái thấy ngắn ngủi một thời của người sao?

Nhớ mấy năm trước, vào một sáng quang đãng, tôi đưa mẹ đi tản bộ. Lúc đến dốc phía dưới bên trái chùa Tây Lai, tôi rút chìa khoá mở cửa sắt, giải thích cho mẹ:

— Cái cửa hông này là đường ngắn thông tới chùa Tây Lai.

Mẹ tôi nói:

— Cửa chính? Cửa hông? "Người bậc thượng" thì rước cửa trên, "Người bậc trung" thì "người" đãi "người", "Người bậc hạ" thì cầu chẳng thành. Đâu có con đường ngắn nào?

Đích xác, đầy đủ từ bi trí huệ, chịu chủ động phục vụ cho "người", tự nhiên được mọi người công kênh làm "người ở trên người". Tâm ôm phân biệt, chỉ tính lợi trước mắt, đã không từ bi lại không trí huệ, đương nhiên chỉ quanh quẩn làm "người ở dưới người".

Lại có một lần, tôi tuyên giảng kinh Kim Cang, lúc xuống toà, tôi hỏi mẹ hay hay không? Mẹ tôi đáp: "Ông nói không ngã tướng, tôi có thể lí giải được, nhưng làm người nếu như không nhân tướng, tôi không rõ lắm. Trong tâm một con người mà không có người khác, thì làm sao an thân lập mạng trên xã hội?"

Mẹ tôi không biết chữ mà nói ra lời khiếp người, khiến đệ tử của tôi đều thán phục quá chừng. Tôi nghĩ đây là vì bà bình thường thích gỡ rối, dẹp khó cho bà con lối xóm, do đó, có thể thông đạt nhân tình thế cố như thế! Mà tôi từ bé ở chỗ thấy nghe lựa chọn, cũng tập lo lắng cho người là việc thường. Thẳng đến ngày nay, vì để giữ thanh tịnh cho người, đêm khuya, tiết mục truyền hình đáng xem lại tôi cũng không xem.Vì muốn tín đồ không thất vọng, tôi nhất định giữ đúng lời hứa, dù bịnh đau nặng nề, cũng chưa hề huỷ bỏ ước hẹn. Lúc bình thường, tôi ra vào đóng cửa, mở cửa nhất định nhẹ tay nhẹ chân, không cho ra tiếng, để khỏi kinh động người khác. Lúc dùng nước, tôi chẳng dám mở mạnh cho nước chảy ào ào, sợ ồn náo người khác.Nói chuyện cốt người nghe vui vẻ; làm việc cốt cho người ta biết rồi đồng ý.

Vì muốn người già có chỗ dưỡng, bé thơ có chỗ yên, tôi xếp đặt sự nghiệp từ thiện, dưỡng lão, dục ấu… Vì muốn trợ giúp người Trung Hoa ở hải ngoại được an trú mỗi miền, tôi thành lập Trung Hoa Học Hiệu, Tùng Hạc Học Uyển. Để có phương tiện cho tín đồ thế giới thăm viếng, tôi giao phó mỗi phân viện tăng gia thêm xe đón, xe đưa phục vụ. Thậm chí để nâng cao tầng lớp tín đồ, ở mỗi nơi trên toàn cầu, tôi đều thành lập Phật Quang Hội, để mọi người có thêm nhiều cơ hội học tập. Phật dạy: "Tất cả đều vì chúng sanh, do đó, chúng ta chẳng phải là vì "người", lại có Phật sự nào để làm ư?"

Năm 1992, tôi đến chủ trì Đại hội do Đan Phật Phật Quang Hiệp Hội thành lập. Tiên sinh Tạ Điển Phong nhậm chức Hội trưởng lúc từ giã ra về nói:

— Quá khứ tôi là một Công trình sư mỗi ngày làm bạn với cốt sắt, xi măng, cơ khí, mô-tơ. Chẳng những sinh hoạt khô khan vô vị, mà ngày qua ngày lại vì "công việc" mà bận rộn, trên tư tưởng cũng không được thông cảm, khiến tôi thường cảm thấy cô đơn trống vắng. Từ khi tổ chức Đan Phật Phật Quang Hiệp Hội rồi, tôi ngày ngày vì "người" mà bận rộn. Tuy trong quá trình có hỉ, nộ, ai, lạc, có thuận nghịch, chê khen, nhưng trong sinh hoạt có thanh âm, có tiếng vang, trên sự tu hành có phản tỉnh, có tiến bộ, khiến tôi biến đổi có từ bi, có trí huệ, làm việc càng an ổn mạnh mẽ, thành thục thêm. Hiện tại tôi cảm thấy đời người sung mãn vô hạn.

Một lời nói này, có thể nói hết cái "Trọng yếu của nhân học".

Hơn hai mươi năm trước, lúc tôi đảm nhận chức Viện trưởng Phật Quang Sơn Phật Giáo Học Viện, mắt thấy thiểu số học sinh vừa mới đến, nhất thời tục tình chưa hết, muốn xuống núi xem đoàn trượt băng Bạch Tuyết, lại ngại nội quy của viện không cho phép, trong tâm thấp tha thấp thỏm. Tôi vì muốn thành toàn cho họ, bèn lấy cớ của mình, phái họ đến chợ mua văn phòng phẩm, thả họ nửa ngày rảnh rỗi. Học sinh này đi rồi, sau bèn có thể an trụ trên học nghiệp, tinh tấn phấn chí, không còn nghĩ đến việc xuống núi nữa.

Những chú bé của Sa-di Học Viện tuổi nhỏ thích chơi, lão sư kiểm soát thường thường y theo phương pháp của tùng lâm ở Đại Lục, phạt họ quỳ hương lạy Phật, tôi vội vàng ngăn lại, bảo lão sư phạt Sa-di quấy rối phải ngủ, chẳng cho họ theo chúng tham gia khoá tụng sớm chiều. Biện pháp này được thực thi nửa năm, bọn Sa-di quấy rối thấy bạn đồng học khác có thể lên điện theo khoá tụng, còn mình lại không thể tham gia, rõ ra đi ngủ là một loại xử phạt, lễ Phật là một việc vinh quang, dần dần sanh tâm hổ thẹn, mỗi người đều tự động tự phát biến đổi, nhận chân việc siêng năng, tấn tới. Về sau, các lão sư đều bội phục phương pháp giáo dục của tôi, kì thực tôi chẳng có học qua trường sư phạm nào, cũng chẳng hề tu học qua về giáo dục, chỉ là biết được một điểm nhân tính mà thôi.

Tôi biết được chẳng kể là dạy người hay xử người, đều phải trước hết duy trì sự tôn nghiêm của đối phương, chỗ nói "người biết tánh mới ở chung", "người" sống trong sự tôn trọng. Đối với người tham dục sâu, chúng ta để họ nhiều vật chất một chút.Đối với người lòng giận dữ nặng, chúng ta cần cho họ lời khen tặng nhiều một chút. Đối với người ngu si, chúng ta cần tha thứ về sự chẳng rành sự lí của họ. Đối với người kiêu mạn, chúng ta cần khiêm hư thêm để tiếp đãi. Đối với người nhiều nghi ngờ, chúng ta cần giảng rõ ràng, nói minh bạch, để họ tăng gia tín tâm.

Trong nhóm đệ tử của tôi, không những bao quát đủ mọi nghề sĩ, nông, công, thương, mà còn trùm hết các nhân chủng đen, trắng, vàng, nâu đủ màu. Một hôm nọ, có một số đệ tử da đen đến Congo nói với tôi:

— Chúng con rất lo lắng vì tâm người da đen so ra không nhu nhuyến, không dễ dàng tiếp thọ Phật pháp, chúng con phải làm sao để cải biến tâm này?

Tôi đáp họ:

— Cải biến màu da thì khó, cải biến nội tâm thì dễ hơn, hơn nữa cải biến nhan sắc cũng chẳng tất yếu, chỉ cần đổi tâm là tốt rồi. Kì thật, chẳng những người da đen cần đổi tâm, mà ai ai cũng đều phải cần đổi tâm.Tâm của người da đen thực sự rất hiền lương, có lúc người da trắng, người da vàng cũng không bằng. Hi vọng các con hôm nay xuất gia, cần phát nguyện hoằng dương lòng từ bi trong Phật pháp, giải quyết vấn đề bất bình đẳng ở Phi Châu, đem nhân dân từ trong khổ nạn bởi chiến tranh giải thoát ra, qua sinh hoạt hạnh phúc hoà bình của Phật pháp.

Bọn họ nghe rồi, vui mừng chắp tay. Như nay ở Nam Phi lại có nhiều vị da đen do nhân tính Phật pháp của các pháp sư Huệ Lễ, Huệ Cơ chiêu cảm mà phát tâm xuất gia, tôi tin rằng ánh sáng trong nhân tính một mặt nhất định có thể chiếu phá đám mây mù đen tối.

Mạnh Tử nói: "Nhân chi sơ tính bản thiện". Phật giáo thì cho rằng: "Người người đều có Phật tánh, chỉ do vọng tưởng chấp trước, do đó luân hồi lưu chuyển trong năm đường". Lại nói: "Một tâm chia hai môn, tâm chân như môn và tâm sanh diệt môn". Nếu như chúng ta để tâm tĩnh lặng lại, phản quán tự chiếu trở về nguồn cội, sẽ phát hiện: Sự thiện ác của "người" là tự trong bản tánh phát sanh. Mừng giận của "người" là từ tâm phân biệt mà đến.Buồn vui của "người" là từ trong cảm quan tiếp nhận.Chân giả của "người" là từ trong cảnh giới mà dẫn phát.

Mười năm trước, một vị trẻ tuổi vừa tốt nghiệp Đại học đến núi học Phật. Lúc đó khí thế của Đại Chuyên Thanh Niên Học Phật lại không thịnh lắm. Do đó, mọi người đối với anh ta hết sức trọng vọng, nhưng vì anh ta chủ quan quá mạnh, duyên với người ngày càng nhạt nhẽo. Có một hôm, anh ta tìm tôi, đầy miệng toàn là: "Tôi nhận là… Tôi biết được… Ý của tôi là… Cách nhìn của tôi cho rằng…" Tôi bảo anh ta:

— Thế giới không phải có một mình anh, chỉ có buông hết thành kiến, dẹp bỏ ngã chấp, nghĩ đến người khác, mới có thể có toàn bộ thế giới.

Nghĩ lại mình lúc còn trẻ, cũng từng cao ngạo tự phụ, nhưng theo tuổi tác tăng trưởng, biết "ngoài người có người", "ngoài trời có trời". Triết Tây nói: "Vũ trụ chỉ cao năm thước, thân con người sáu thước, phải cúi đầu mới có thể sinh tồn". Do đó, từ từ học được khiêm hư, nhường nhịn, đồng thể cộng sanh, không lúc nào không nghĩ cha mẹ của ta là người, anh em của ta là người, thầy của ta là người, bạn bè ta là người, cùng ta qua lại đều là người. Nghĩ đến lại có nhiều người cần ta, ta cũng cần nhiều người. Tôi thầm thầm cảm được: "Người", ắt phải trải qua sự từng trải "nhân sự" mới có thể trưởng thành. "Người", ắt phải nghĩ đến sự tồn tại của "người khác" mới có thể rộng mở. "Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi", đây là cảnh giới tối cao giữa người và người.

Phật Quang Sơn từ lúc khai sơn đến nay, mọi việc lớn nhỏ đều phải mở hội quyết nghị. Đệ tử thường nói:

— Sư phụ, Thầy đến quyết định nhé! Thầy nói làm gì, chúng con sẽ làm thế.

Tôi lại kiên trì mở hội để bàn luận, nhân vì Phật Quang Sơn là của chung mọi người. Ba mươi năm nay, Phật Quang Sơn ở trong ổn định mạnh mẽ trưởng thành, "nhân hoà" là nhân tố trọng yếu nhất.

Tiên sinh Trần Trúc là bậc nhân sĩ có công năng đặc dị nổi tiếng ở Đại Lục, một hôm nói chuyện với tôi về vấn đề "con người", ông nói: Người sách hoạch bộ phim Hà Thương, lúc mới đầu vì việc mở đầu phim mà nhức đầu nhức óc, có một hôm vô tình xem thấy bản đồ treo trên tường, chỗ hai sông Trường Giang và Hoàng Hà chia nhánh, giống hệt chữ ? (người), khiến ông ta "phước đến tâm linh", lấy đây làm đầu phim, nhiều người xem xong rất khen ngợi sự thiết kế trí huệ của ông ta. Tục ngữ nói: "Đất có nước mới có người ở". Trường Giang và Hoàng Hà đã gầy dựng "nhân văn" của Trung Hoa thật vĩ đại. Kì thực, không những người trong nước như thế, nhiều năm nay, tôi đi thăm các nơi trên thế giới, phát giác ra hễ quốc gia nào giảng giải nghiên cứu "nhân ngã tôn trọng" nhất định gặp được đường khang trang hạnh phúc, ngược lại thì hoạ loạn không dứt.

Người Trung Quốc khổ nạn liên miên, nhưng chữ Trung Quốc lại phong phú triết lí, ví dụ như 人 (người), 也 (ấy) hợp thành 他 (người khác) nghĩa là người khác cũng là "người". 人 (người) và 尒 (anh) là 你 (bạn), ý nói bạn cũng là người. 人 (người) và 二 (hai) là 仁 (nhân từ) ý nói nghĩ nhớ đến hai người đây và kia, mới là biểu hiện nhân từ. 人 (người) và 一 (một) là 大 (to lớn) ý là thêm một người nữa mới có thể cộng sự với người, đoàn kết hợp tác, mới có thể thành tựu sự nghiệp vĩ đại. 人 (người) và 二  (hai) là天 (trời), ý nói thêm hai người, có thể đủ hoà bình đối xử với nhau, mới là thiên hạ làm việc công chạy theo đường chân lí. Ngoài ra như 人 (người) với 言 (lời nói) thành 信 (tin cậy), 人 (người) với 立 (đứng) thành 位 (ngôi vị), 人 (người) với 建 (kiến lập) thành 健 (mạnh), 人(người) với 桀 (tài giỏi) thành 傑 (hơn người), phàm những chữ này đều nói với chúng ta: Một cá nhân nghĩ muốn đặt chân trên xã hội ắt phải tự mình kiện toàn, giữ vững cương vị, chuyên cần làm hết trách vụ của mình, tạo phước cho nhân quần.

Có người nói: "Người, rốt cuộc vì ai cay đắng, vì ai bận rộn?" Tôi nói: "Người, là vì người cay đắng, vì người bận rộn". Nhân vì "người" vì "người", người người là một thể, vì người khác đáp trả, kì thực thu hoạch lớn nhất lại là chính mình. Cũng có người nói: "Làm người khó, người khó làm, khó làm người". Tôi cho rằng: "Làm người khó, người khó làm", đều là do chính mình không biết "làm người" mà nhân chính là "khó làm người". Do đó chúng ta cần phải học tập "làm người".

Lúc còn nhỏ, biết được có người tốt, người xấu, người trí, người ngu… Xuất gia học Phật rồi, trong tâm chỉ có "người cần giúp đỡ".Tuổi trẻ biết được người có người nghèo, người giàu, vĩ nhân, phàm nhân…, hôm nay qua mấy mươi năm, trong tâm chỉ có "người cần báo đáp". Cổ đức nói: "Sau bảy mươi tuổi, chỗ muốn trong tâm không vượt quy củ". Tôi lại biết được: Tuổi đến bảy mươi vẫn cảm thấy chẳng đủ, tôi vẫn tiếp tục không ngừng học tập làm sao để "làm người".

Đại sư Thái Hư nói: "Người thành tức Phật thành, đó gọi là Chân hiện thực". Kinh Phật thì nói: "Chư Phật mười phương đều chứng ngộ Phật quả tại trong nhân đạo".

Tất cả đạo lí trên thế gian đều lấy "nhân học" làm gốc, "người" làm không tốt, cái gì cũng đều chẳng thông.

Cảnh giới tối cao của học tập làm người là thành Phật. Một chữ Phật 佛 (đức Phật), là 人 (người) và 弗 (phủi) nghĩa là "người" trước tiên phải quét sạch chấp trước riêng tư, "dẹp" vô minh phiền não mình có, trừ bỏ vật không nên có của người, đó là Phật vậy.

Quản Lí Học Tối Cao ^

Bí quyết của quản lí – Ở chỗ nên đem trái tim của chính mình quản lí trước đã.

Điều rất trọng yếu là để trong tâm của mình có sự tồn tại của kẻ khác, có lợi ích của đại chúng, có một trái tim từ bi nhu hoà.

Diệu Mục sau khi tốt nghiệp Phật Học Viện ra, bị thường trụ phái tới chùa Tây Lai ở Lạc-sam-cơ (Mĩ) làm tri khách. Một hôm, tôi khoản đãi khách ở Tây Lai Tự, có một chút ý kiến đối với quá trình…, tôi hỏi cô:

— Cô được giáo dục ở đâu?

Cô nói:

— Trước khi con học ở Tùng Lâm Học Viện Phật Quang Sơn, con học ngành Quản lí ở Hương Cảng.

Tôi nghe xong, bảo cô ta:

— Quản lí học mà con đã học ở quá khứ đều là học để quản việc, quản người. Điều đó không đủ, nay con cuối cùng nên cần học tập đem mình ra quản lí, mới là quản lí học tối cao.

Hôm nay chính là lúc mà môn Quản lí học phổ cập khắp nơi, luận về chủng loại thật không kể xiết. Có Xí nghiệp quản lí, Nhân tánh quản lí, Dân chủ quản lí, Phân tầng quản lí cho đến Quản lí tiệm ăn, Quản lí bệnh viện, Quản lí hành chánh, Quản lí thương khố… Nhưng đối với việc quản lí chính mình thế nào, quản lí nội tâm ra sao, thì rất ít khoá trình thiết lập như thế!

Năm 1996, tôi lập ra Học Viện Quản Lí Nam Hoa, cùng các Đại học ở Đài Loan cùng lúc tham gia chiêu sinh liên hợp. Sau khi nghiên cứu, tôi thầm thầm cảm nhận Phật giáo kì thực là một môn Quản lí học rộng lớn tinh thâm.

Như một cuốn kinh A-Di-Đà, chính là "Quản lí học" của Phật A-di-đà, ở trong thế giới Tây phương Cực lạc của Ngài, không những hưởng hoàn cảnh tự nhiên ưu mĩ, đền đài lầu các tráng lệ, vui chơi nhàn nhã thanh tịnh, sinh hoạt quần sanh dung hoà, mà chẳng có bị chính trị bức hại, chẳng có sự quấy nhiễu của người ác, không có cảnh kinh tế khốn cùng, không có sự chiếm hữu nam nữ, không có sự cố giao thông, không có ô nhiễm sinh thái, không có chuyện cơm áo phiền người, không có già bệnh làm chướng ngại, không có giới hạn chủng tộc, không có đối địch oan gia. Phật A-di-đà đem cư dân của thế giới Cực lạc quản lí thành "Chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ". Có thể nói Phật A-di-đà là một chuyên gia Quản lí tối cao, vì Ngài có thể cung cấp an toàn cho người, an tâm cho người và an thích cho người.

Một cuốn Phổ Môn Phẩm là Quản lí học rất hay của Bồ Tát Quán Thế Âm. Bồ Tát Quán Thế Âm vì muốn đem chúng sanh trong thế giới của Ngài quản lí cho tốt, do đó trước hết cứu khổ cứu nạn, để chúng sanh được không lo không sợ. Ví dụ như anh có cái ham muốn, Ngài bố thí hỉ xả giúp đỡ anh. Anh có sân giận, Ngài đem từ bi đến giáo hoá anh. Anh ngu si, Ngài dùng trí huệ đến dẫn dắt anh. Anh nghi ngờ tật đố, Ngài ban lòng tin đến nhiếp thọ anh. Người cầu sanh con trai, Ngài giúp cho sanh con trai phước đức trí huệ. Người cầu sanh con gái, Ngài có thể giúp được con gái đoan chánh đẹp đẽ. Nếu như anh là quân nhân, Ngài nói về pháp quân nhân cho anh. Nếu anh là nhân sĩ công thương, Ngài giảng quản lí công thương với anh. Ngay dù anh là đồng nam hay đồng nữ, Ngài cũng biết đem giáo dục đồng nam đồng nữ bố thí cho anh… Vì Bồ Tát Quán Thế Âm khéo tùy loài ứng hoá, xem căn cơ mà thuyết pháp, do đó Ngài đi thẳng vào trong tâm từng người, mà người tin Ngài cũng đem chỗ đẹp nhất trong gia đình mình để dâng lên Ngài, với lòng vui vẻ chân thành kính phục mà tiếp nhận tín ngưỡng và lãnh đạo của Ngài.

Do đây mà xét, chúng ta có thể biết được, các loại Quản lí học của Phật A-di-đà và Bồ Tát Quán Thế Âm, đúng là hợp với Quản lí chính mình, Quản lí tự tánh, Quản lí tự giác, Quản lí tự tri.

Do Phật A-di-đà và Bồ Tát Quán Thế Âm cấp cho chúng ta cách thức quản lí cho nên Phật giáo được phát triển cách quản lí của các loại tông phái, cách quản lí của tòng lâm tự viện, cách quản lí của giới luật Tăng đoàn, cách quản lí của Tổ sư đại đức… có thể nói là nội dung rất nhiều, thật là tốt đẹp, thậm chí việc "quản lí chính mình"… Vì thế, Phật giáo đối với xã hội ngày nay đều có cống hiến rất lớn.

Ba mươi năm trước, lúc tôi thăm viếng Nhật Bản thấy đoàn thể xí nghiệp công thương của Nhật Bản, từng đội từng đội, từng đoàn từng đoàn, đều đến các đại Tự viện tập họp thụ huấn, nghe gọi là "huấn luyện trước khi nhận chức", là vì công ty hàng hiệu muốn giáo dục công nhân có tư tưởng và tập quán sinh hoạt tốt đẹp. Do đó trước khi chính thức công tác, họ được đưa đến tự viện để tiếp nhận huấn luyện "Quản lí của Phật giáo". Đương thời trong tự viện của Nhật Bản, Pháp sư xuất gia phụ trách hành chánh đều dùng phương thức "Quản lí làm người", "Quản lí công tác" dốc túi truyền trao. Lúc ấy tôi nhận ra phương diện quản lí tại xã hội, Phật giáo nên đưa ra một ít cống hiến.

Trên thế gian, quản lí vật phẩm tương đối dễ dàng, vì vật phẩm chẳng biết nêu ý kiến, cũng không biết chống đối kháng cự anh. Anh xếp đặt thế nào, nó phát huy công dụng thế ấy. Nói đến quản lí sự tình, sự tình lại cũng quản lí được rất tốt, vì sự tình có nguyên tắc nhất định. Nếu như có thể đem sự nặng nhẹ, hoãn gấp của sự tình nắm bắt thoả đáng, sự tốt xấu, được mất của sự tình cân nhắc rõ ràng thì quản lí cũng chẳng khó.

Quản lí khó nhất là người, vì tính người là cái riêng tư. Người có rất nhiều phiền não, rất nhiều ý kiến, điều trọng yếu nhất là đối diện với tư tưởng bất đồng, thói quen bất đồng, cách nhìn bất đồng, học lực bất đồng, tư cách bất đồng, nơi chốn bất đồng, tuổi tác bất đồng… Làm sao ở trong sai biệt nhiều như thế mà thống nhiếp họ lại được, trên sự thực rất khó khăn.

Người, rất khó quản lí; kì thật, cái khó quản lí hơn chính là cặp mắt của chính mình. Anh muốn quản lí nó không phải lễ thì chớ nhìn, có lúc nó vẫn chẳng nghe lời. Hai lỗ tai, anh muốn quản lí nó phi lễ thì chớ nghe, nó vẫn ưa nghe trộm điều riêng tư của người khác. Một cái miệng, anh muốn quản lí nó không được nói bậy, nó khăng khăng hoạ tùng khẩu xuất, gây bao phiền phức. Một cái tay, anh muốn quản lí nó, chẳng phải vật của mình thì không được lấy, nhưng người ham thích một ít tiện nghi đều chẳng kể đến hậu quả… Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều chẳng thể nghe theo mệnh lệnh của chính mình, lại làm sao quản lí người khác, quản lí sự tình nào khác ư?

Kì thực, quản lí mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là cái có hình có tướng, tính ra lại quản lí tốt, nếu như quản lí nội tâm của chính mình, đây là khó lại càng khó hơn. Trong tâm có vô minh riêng của mình, phiền não tà kiến, như kiêu mạn, tật đố, phẫn hận, chấp trước… như sóng mòi đánh vỗ không dừng. Nếu như chính mình thiếu sót đại nguyện, đại lực, đại trí, đại bi thì làm sao có thể quản lí được nội tâm của chính mình?

Phiền não chiếm ngự trong tâm tuy khó quản lí, ngay một niệm tình chấp trong tâm cũng  chẳng dễ quản lí, có người bỏ thân để thành tựu nhân, liều chết để thủ nghĩa. Có thể nói là đem tâm ý tình chấp của chính mình phát huy đến cực điểm. Có người yêu nước yêu dân, yêu nhà, yêu người, dù cho thế nào cũng chấp chặt chẳng bỏ, cũng lại có thể được xã hội tiếp nhận. Nhưng, lại có một số người, tâm họ giống như khỉ cứng đầu, ngựa trở chứng xâm phạm lúa mạ của người. Rốt cuộc, chính mình bị hại rất sâu.

Một cá nhân định đem chính mình quản lí cho tốt, thì phải quản lí sự tình hiện tại thật nhiều. Ví dụ như tư tưởng của mình muốn quản lí tốt, tâm niệm của mình muốn quản lí tốt, oai nghi của mình muốn quản lí tốt, lời nói của mình muốn quản lí tốt; bất cứ chỗ nào quản lí chẳng tốt, đều đem đến cho chúng ta ít nhiều tai ương, vô nghĩa.

Bình thường có người khen ngợi tôi, bảo tôi đồ chúng môn hạ đông, tự viện nhiều chẳng biết làm sao quản lí? Kì thực tôi biết chính mình chẳng có phép tắc "quản lí"ù gì. Giống như tôi quản lí tự viện, cửa nẻo chẳng đóng, như Đại Hùng Bảo Điện, Đại Bi Điện, Hội Nghị Thất, Khách Đường, Giáo Thất… đều mở toang cả ngày để đại chúng tùy lúc đều có thể đến chiêm ngưỡng, sử dụng. Tôi quản lí vật chất, chẳng thích xây nhà kho, tôi biết vật phẩm là làm ra để cấp cho mọi người dùng, tốt nhất có thể dùng cho hết, đồ vật một khi chất vào kho, không có người xem đến, thường thường bỏ quên nhiều năm, đợi đến lúc muốn dùng đã lên meo lên mốc, không đáng tiếc sao!

Tôi quản lí tiền, cũng chẳng thích cất chỗ bí mật. Ba mươi năm trước khi ở chùa Thọ Sơn, tôi đem tiền để nơi cố định, để học sinh đồ chúng ai cần bao nhiêu thì lấy, tôi nhận ra đây mới là đạo công bình. Tôi quản lí "người" đề xướng pháp trị, nhân trị cho đến lấy vô vi mà trị. Tôi biết được quản lí tốt nhất, kì thực là quản lí nội tâm của chính mình. Tâm trị thì thân trị, thân trị thì tất cả đều trị.

Có một đoạn nói líu lưỡi của dân gian: "Có một miếu Thành Hoàng, bên Đông có một Quản phán quan ngồi, bên Tây có Phan phán quan ngồi. Phan phán quan bên Tây muốn quản Quản phán quan bên Đông, Quản phán quan bên Đông muốn quản Phan phán quan bên Tây, rốt cuộc là cần Quản phán quan bên Đông đến quản Phan phán quan bên Tây, lại là Phan phán quan bên Tây đến quản Quản phán quan bên Đông". Đó là phán quan mà kia đây cũng chẳng phục nhau, anh muốn quản tôi, tôi muốn quản anh, hỗ tương chẳng trọng nể nhau, khăng khăng chẳng bỏ, bèn rất khó làm cụ Thành Hoàng.

Có thể thấy, hễ có cách định quản lí đối phương, bèn có sự phân biệt đối lập, ngược lại càng khó quản lí.

Trong thiền môn có một chuyện rất thú vị, có thể cùng câu chuyện líu lo trên kia đối nhau. Có một tín đồ đến tự viện tìm Trụ trì giảng pháp. Trụ trì gọi một vị sư già bên cạnh nói:

— Ông mau pha trà!

Không bao lâu, Trụ trì lại gọi ông ta:

— Ông mau đi dọn một mâm trái cây!

Cùng tín đồ giảng xong, Trụ trì lại kêu vị sư già, nói:

— Ông tiếp khách chơi nhen! Tôi có việc phải đi trước!

Trụ trì đi rồi, tín đồ rất lạ lùng hỏi thiền sư già:

— Vị trụ trì này là gì của Thầy?

Thiền sư già đáp:

— Là đồ đệ của tôi!

Tín đồ rất bất mãn, nói:

— Đã là đồ đệ của Thầy, tại sao có thể sai Thầy rót nước?

Lão thiền sư đáp:

— Ông ta chỉ kêu tôi rót nước, đâu có kêu tôi đun trà, đun trà mới khó chứ.

— Ông ta lại kêu Thầy dọn trái cây!

— Ông ta rất từ bi đó! Chỉ có kêu tôi dọn trái cây, chẳng có kêu tôi trồng trái cây, trồng trái cây khó hơn.

— Ông ta tự mình đi trước, lại gọi Thầy đến tiếp tôi!

— Ông ta tuổi trẻ, hữu dụng hơn. Tôi già rồi do đó làm một chút việc lặt vặt.

Kì thực, trong tự viện này Lão thiền sư mới đúng là người hiểu được "Quản lí tam-muội". Do Sư có thể nhìn toàn đại cuộc, buông bỏ thân mình, thấu suốt nhân duyên quan hệ giữa con người, nhân đây để toàn thể tự viện được hoà hợp không tranh giành.

Có xét "Nhân hoà vi quý" nên tôi một mực chủ trương "Tập thể sáng tác", tôi biết được phương thức quản lí tối thượng thừa, phải là nhường cho mọi người tự động tự phát, khẳng định vai trò diễn xuất của đây kia, hỗ tương hợp tác, cùng chung phấn phát đột phá. Tôi cũng ra sức đề xướng tinh thần "Đồng thể cộng sinh", tôi biết được nguyên lí quản lí cao minh nhất là phải nên để cả đoàn thể có thể sản sinh ý thức chung đầy đủ, trên dưới một lòng. Tuy nhiên, một tay tôi sáng lập Phật Quang Sơn, nhưng tôi đều triệu tập hội nghị để thay thế mình đưa ra mệnh lệnh. Dù tôi là Sư ông, Sư phụ của bao nhiêu người, nhưng tôi thà nguyện để mọi người bàn bạc nghiên cứu, cũng chẳng chịu phủ quyết cắt đứt ý kiến của người khác. Đương nhiên, trong đó cũng từng gặp rất nhiều quấy nhiễu không cần thiết. Ví dụ như một số thì muốn mau chóng thực hành nghị án, nhưng vì sự bảo thủ của người chủ sự mà trễ mất thời cơ, đến nỗi về sau phải nỗ lực và tiền bạc gấp bội. Nhưng vì tôn trọng cách nhìn của người khác cũng có sự tất yếu của nó. Cho nên tôi bằng lòng gánh mọi hậu quả.

Ba mươi năm nay, vì để điều đình ý kiến của các đơn vị, vì để điều hoà cách nhìn bất đồng của các vị chủ quản, đều có mở hội nghị bất hoàn (chẳng hoàn hảo). Nhưng nghĩ đến có thể cấp cho người ít nhiều lợi ích, cho người bao nhiêu phương tiện, cho người ít nhiều học tập thì tất cả cay đắng biến thành không có.

Quá khứ từng nghe qua chuyện của một bà nội trợ, khiến tôi cảm niệm rất nhiều.

Có một bà mẹ đã qua bảy mươi tuổi. Người nhà bí mật bàn với nhau chúc thọ bà thế nào. Nghĩ cả nửa ngày mà chẳng biết bà thích cái gì nhất. Cuối cùng một chú bé nói:

— Tôi biết, mẹ thích nhất là ăn cơm thừa mỗi bữa của chúng ta.

Mọi người ngẫm nghĩ thì thật đúng như thế. Rồi đến một ngày, con cái đem thức ăn thừa trong tủ lạnh thanh lọc lại rồi nấu một nồi, nói:

— Mẹ ơi! Hôm nay là ngày sinh nhật của mẹ, chúng con nấu thức ăn thừa mà mẹ thích nhất để dâng mẹ.

Người mẹ này nghe xong, vừa khóc vừa nói:

— Đúng rồi, ta rất thích thức ăn thừa, mấy mươi năm nay món mà các con không thích, ta đều thầm thầm vui vẻ chịu đựng.

Từ xưa đến nay, đàn ông phần nhiều gọi vợ mình là nội nhân, chuyết hình, thậm chí là tiện nội…, kì thực vợ hiền mẹ tốt mới là người chủ đạo mặt trong của gia đình, là nhân vật hạch tâm cả trong lẫn ngoài. Tôi đem cách quản lí là nhận hi sinh, chịu cống hiến, không so đo, không sợ khổ này gọi là "Triết học thức ăn thừa" để dạy dỗ đồ chúng. Nếu xem cổ kim trong ngoài, các bậc danh tướng lương thần khéo việc quản lí không phải là đều nhân vì có loại mĩ đức quan tâm, gánh vác, do đó có thể đủ sức thắng địch đó sao? Như Ngô Khởi lãnh quân, chẳng những cùng binh sĩ ngủ chung giường, ăn chung bàn mà lại hỏi han ấm lạnh, hút máu mủ, do đó quan binh đều chịu ông, vì ông ta nhảy vào dầu sôi lửa bỏng không hề từ nan. Lí Quảng dẫn binh, lúc đói khát phát hiện suối nước, không đợi sĩ tốt uống hết, ắt không đến gần nước, không đợi sĩ tốt ăn hết, ắt chẳng nuốt cơm. Do đó, mọi người đều yêu thích ông ta, góp sức liều mình, vào sanh ra tử.

Nhân đây, chỗ nói quản lí không nhất định là ngồi tuốt trên cao, ra lệnh phát hiệu mà nên thâm nhập quần chúng, đem tinh thần đoàn đội ra dẫn dắt.

Hơn ba mươi năm trước, tôi mới xây Học Viện Phật Giáo, ngay việc ban đất, tôi cũng đích thân thuyết minh ý nghĩa, và dẫn đầu trước tiên, khuân ngói gánh nước. Hôm nay sau ba mươi năm, định số đồ chúng giúp tôi làm việc cả muôn ngàn, nhưng tôi chẳng những chưa hề dùng miệng ra lệnh cho người làm, mà thường chủ động vì đồ chúng giải quyết vấn đề. Thường nghe nói đồ chúng nọ ở phía Bắc bận rộn, tôi bèn vì họ chủ trì hội nghị ở phía Nam. Thường thường biết đồ chúng kia ngay tại chủ trì hội báo, nhất thời không cách kết thúc, tôi bèn vì họ dạy thế giáo thư. Tôi biết được: Quản lí tốt nhất, là chính mình trước hết cùng đối phương thiết lập quan niệm "sống chết có nhau", mới có thể phát huy lực lượng toàn thể lớn nhất.

Có một số người quản lí, khéo dùng mưu lược tạo mâu thuẫn giữa mình người. Nhưng một khi bị người lột trần, không dễ được thuộc hạ tôn trọng. Có một số người làm quản lí, thích dùng kế sách để thăm dò sự trung thành của người khác. Nhưng một khi bị người biết rõ, thì không thể được đối phương tin phục. Chỗ nói "Nghi người thì đừng dùng, dùng người thì đừng nghi". Phương thức quản lí tốt nhất là đem lòng mình để đo lường tình người, dùng trao quyền thay thế can thiệp. Như tiên sinh Cung Bằng Trình với tôi chẳng hề quen biết, chỉ nhân nghe nói về tài hoa của ông, lập tức đang ở trong toa xe chạy vùn vụt trên đường cao tốc, trước hết dùng điện thoại mời ông giữ chức Hiệu trưởng. Ông ta ngạc nhiên một trận, nghe nói tôi muốn xây dựng một Đại học Tinh Trí thuộc toàn dân, liền bằng lòng. Từ đây nhiều năm sau, công việc nhà trường tôi chưa hề nhúng tay can thiệp. Nam Hoa, từ khi ông lãnh đạo, ngày càng tiếng tăm. Trước mắt, tiên sinh Trần Thần làm Hiệu trưởng Đại Học Tây Lai, quá khứ là Hiệu trưởng trường Sư phạm Hoa Liên, sau khi giao phó việc trường cho ông rồi, cũng rất ít hỏi qua, việc trường Đại Học Tây Lai dưới sự phát triển của ông, cũng càng ngày càng vươn lên vùn vụt.

Trên thế gian, có một số cha mẹ bảo con cái:

— Con xem! Con nhà họ Trương sát vách hay quá, thành tích tốt như thế, đâu giống như con!

Kết quả, đứa con bị nói không chỗ nào được, chỉ có tự sa ngã. Trên xã hội, một số vị chủ quản cứ trách móc thuộc hạ không bằng người khác. Người nói cố nhiên là "Tiếc rằng chưa thành tài", nhưng không nghĩ đến lối suy nghĩ của người nghe thế nào, căn khí thế nào thì cũng uổng phí tâm cơ. Mỗi cá nhân tư cách bất nhất, mỗi người có diệu dụng, chỉ cần ông khéo lãnh đạo, thì quân lính bại trận cũng có thể thành kiện tướng dũng sĩ. Điều trọng yếu nhất chính là ông có thể nhìn ra chỗ sở trường, ưu điểm của họ hay không, để ban lời khích lệ thích đáng? Ông có khả năng nhìn ra mấu chốt sai lầm của họ để hướng dẫn cho đích xác. Nhất là ông có khả năng không làm tổn hoại sự tôn nghiêm của họ hay không, để cho cuộc đời họ được đến chỗ trưởng thành? Như thiền sư Bàn Khuê dùng tâm yêu thương từ bi làm cảm động kẻ quen thói ăn cắp không đổi tánh xấu. Thiền sư Tiên Nhai dùng cách chẳng nói rõ để dạy Sa-di ngang ngược quấy rối. Có thể xem Cao tăng Đại đức nhiều đời quản lí tòng lâm mười phương có trí huệ khéo léo tiếp dẫn các loại Tăng chúng.

Quá khứ từng có cậu bé chẳng biết viết một chữ được đưa đến Phật Quang Sơn, mọi người đều bực mình sự ngu độn của chú, tôi dùng phương thức chơi đùa để dạy chú, từ từ cuối cùng chú khai mở trí huệ. Lúc Đại Hùng Bảo Điện mới lạc thành, mặt trong đường dây điện của 14800 cái đèn nhỏ đều do một mình chú ta bao biện. Lại, có một cô gái đương xuân Ma-đăng-già, mỗi lần đến núi đều đánh phấn trang điểm lộng lẫy. Lúc ấy, không biết bao nhiêu người phản đối tôi nhận cô ta làm đệ tử xuất gia. Nhưng sau cô ta ở cửa Phật hun đúc, chẳng những siêng năng gắng sức mà lại làm hết bổn phận, được mọi người khen ngợi. Do đó, nói đến quản lí, kì thật là ở chỗ khảo nghiệm tâm mình có bao nhiêu từ bi, trí huệ.

Lúc tín đồ cùng tôi nói chuyện, thường lạ lùng nói:

— Thầy nói trúng tâm sự con rồi!

Đây là vì từ hơn bốn mươi năm qua tôi hoằng pháp cho đến giờ thường ở trước thính chúng tín đồ tìm hiểu xem họ làm nghề gì, ôm tâm trạng gì, ta cần giảng gì cho họ, để họ hoan hỉ, để họ cảm động, do ta có thể dụng tâm vì người mà nghĩ đến. Do đó về sau lúc quản lí người đông, tôi mới có thể ứng phó ung dung.

Lúc tôi tiếp tục mở Học Viện Quản Lí Nam Hoa, từng sửa đổi thiết kế nơi chốn của một toà lầu. Việc xong, có nhiều người nói sửa thật là hay. Họ hỏi tôi có biết xem phong thuỷ địa lí hay không? Kì thật tâm thì có tâm lí, người thì có lí của người, tình thì có lí của tình, vật thì có vật lí, địa thì đương nhiên cũng có địa lí. Quá khứ lúc tôi học ở Phật Học Viện, mỗi lần lên Phật điện, tôi biết cần mau mau đến vị trí nào, vì tôi thích đánh pháp khí, dù cho không có khai bảng của tôi, tôi vẫn nghĩ có cơ hội bổ sung. Mỗi lần đến trai đường, tôi cũng biết nên ngồi chỗ nào, vì tôi ăn nhiều, muốn tìm một nơi mà hành đường dễ thấy, sẽ châm thêm thức ăn cho tôi. Mỗi lần đến giáo thất, tôi cũng biết nên đến vị trí nào, vì quá khứ tự viện không có tiền đốt đèn dầu, chỉ có chính mình mau mắn chọn chỗ ánh sáng tốt nhất. Mỗi lần cùng Sư trưởng nói chuyện, tôi cũng biết nên đến đứng ở đâu, vì tôi muốn khiến họ để ý, có thể cho tôi cơ hội học tập được nhiều. Về sau, hễ sắp đặt hình thức đội ngũ, kiến trúc xa gần, cao thấp, sự tình trình tự mau chậm… Tôi đều có thể nắm bắt chuẩn xác. Đây là vì tôi có thể dụng tâm đem "không gian" của mình quản lí được đích đáng.

Tôi thường đến trước một khắc để đón tiếp khách muốn đến tại cổng, để đối phương kinh ngạc vui mừng không thôi. Có người hỏi tôi có thần thông không? Kì thực, là vì từ nhỏ tôi đã huấn luyện chính mình cần có quan niệm thời gian. Như thế nào là năm phút, thế nào là mười phút, từ chỗ này đến chỗ nọ cần bao nhiêu thời khắc, làm một việc gì tốn bao nhiêu thời gian, trong tâm tôi đều rõ ràng phân minh, do đó tất cả sự vật đương nhiên cũng đủ có thể quản lí đúng mức.

Mồng một Tết mỗi năm, tôi có thể ước lượng được năm nay mùa Xuân đại khái có bao nhiêu người lên núi. Tại chỗ kia, đợi trên một, hai ngày, tôi cũng có thể biết ở đó hương đèn nhiều ít. Đồ chúng lấy làm kinh lạ, kì thật tôi không có mảy may công năng đặc dị, chỉ là vì tôi có tâm lưu ý lưu lượng xe lớn nhỏ, tôi chịu chủ động hiểu rõ nhân văn kinh tế mỗi địa phương. Do tâm tôi có khái niệm số chữ, do đó lúc quản lí tự viện, bất kể hành chánh, tài vụ, công trình, tổng vụ… đương nhiên đủ có thể dự tính việc mà lập, mọi mặt đều đến nơi đến chốn.

Do đó, diệu quyết quản lí, ở chỗ đem một trái tim của mình trước tiên quản lí tốt, để trong tâm mình có quan niệm thời gian, có tầng lớp không gian, có thống kê chữ số, có nguyên tắc làm việc. Điều trọng yếu nhất là để cho trong tâm có sự tồn tại của người khác, có lợi ích của đại chúng, đủ có thể đem tâm chính mình quản lí được từ bi nhu hoà, đem tâm của chính mình quản lí được ta người nhất như, mới tính tu học phần Quản lí học tối cao được hoàn mãn.


Bị Lãnh Đạo Học

Hoa hồng phải có lá xanh kề cận, trăng sáng phải có các ngôi sao tô điểm thêm, đem chính mình dung nhập người khác, nhập khắp trong đại ngã, cũng là thành tựu chính mình trong tự  kỉ rộng lớn.

Rất gần đây, những sách vở về lãnh đạo học, thống ngự học, thống soái học, chủ quản học đầy dẫy ở các tiệm sách, rất phù hợp với quan niệm của người Trung Quốc "Thà làm đầu gà hơn làm đuôi trâu". Kì thực theo sự lịch duyệt một đời của tôi mà nói thì bị người lãnh đạo mới là một môn học trọng yếu, hơn nữa người có thể bị người lãnh đạo, tương lai mới có thể làm tốt vai trò lãnh đạo. Tôi cảm nhận sâu xa rằng lãnh đạo người khác cố nhiên rất khó làm cho tốt, nhưng có thể khéo bị người lãnh đạo cũng chẳng phải là việc dễ. Do đó, ngay lúc mắt thấy mọi người khao khát làm người lãnh đạo, tôi chẳng đừng được mà phải vội kêu to lên: Làm một người bị lãnh đạo thành công mới là một môn học trọng yếu nhất.

Tôi từ nhỏ xuất gia, cứ mong có thể có một vị lãnh đạo để cho tôi theo học hỏi bắt chước, lúc đó đại sư Thái Hư nhận thấy Phật giáo Trung Quốc chứa chất những tệ hại rất sâu, do đó cực lực đẩy mạnh sự cải cách giáo chế, giáo lí, giáo sản. Lòng từ bi và nguyện lực của Ngài, học vấn và sự hàm dưỡng của Ngài, nhiệt tình đam mê vì đạo của Ngài, sự dũng mãnh gánh vác của Ngài… đâu đâu cũng đều trở thành đối tượng rất đáng ngưỡng mộ trong tâm mắt của bao nhiêu Tăng-già thanh niên. Tuy tôi chỉ đích thân nhận lời dạy dỗ một hai lần, nhưng tâm thường hướng về Ngài, thậm chí thường nghĩ, nếu như ngày nào đó được hết lòng phục vụ cho Ngài, dù cho vào dầu sôi lửa bỏng cũng chẳng từ nan.

Năm 1964, tôi thật chẳng dễ dàng gì khi được Sư phụ là Thượng nhân Chí Khai cho phép chuẩn bị trở về nhà. Đây là lần đầu tiên kể từ khi xuất gia, tôi được về thăm thân thuộc. Đúng lúc mừng chưa kịp dứt thì tin tức truyền đến đại sư Thái Hư đề xướng tổ chức "Ban Huấn Luyện Nhân Viên Hội Vụ lần thứ I của Hội Phật Giáo Trung Quốc", tôi lập tức bỏ ngay kế hoạch về quê, tranh thủ tham gia, trở thành một trong những hồi ức khó quên suốt đời tôi.

Trung Quốc Phật Giáo Hội chính ngay lúc dự trù tổ chức Đại hội lần thứ I, thì đại sư Thái Hư viên tịch tại Thượng Hải, tin buồn làm kinh động toàn thể giới Phật giáo, hai chúng Tăng tục đều đau xót khôn tả, tôi cũng như sét đánh giữa trời quang, suốt ngày mất hồn lạc vía, cảm thấy tiền đồ một trời mù mịt, giống như mặt trời mặt trăng không ánh sáng, mặt đất một màu đen tối, chẳng biết đi đâu, đến đâu? Vì đây không phải là một tổn thất riêng cá nhân tôi, mà cũng vì tương lai của Phật giáo Trung Quốc mà lo lắng. Về sau tôi nghĩ đến bạn đồng học là pháp sư Trí Dũng là người viết hay nói giỏi, văn võ song toàn, bèn một lòng tìm theo, và nhiều lần gởi thơ muốn đem chức Hiệu trưởng trường Quốc Tiểu ở Nghi Hưng giao cho Sư, mời mau đến lãnh đạo. Sau này vì một cơ duyên nọ, chúng tôi chia tay rời khỏi Nghi Hưng. Lúc vừa đến chùa Hoa Tạng ở Nam Kinh, tôi cũng ủng hộ Sư làm trụ trì và tự nguyện làm phó, tiếp nhận lãnh đạo, hết lòng hết dạ tận trung, cùng vì phục hưng Phật giáo mà gắng sức.

Năm 1949, chúng tôi giao ước với nhau chia ra để gắng sức, hi vọng nhân ở chân trời góc biển này, chia đèn vì đạo. Về sau Sư từ Nam Kinh lại trở về Nghi Hưng, tôi từ Đại Lục đến Đài Loan, từ đây quan san cách trở, chẳng có một chút âm hơi. Trong lòng tôi vẫn mong có một vị đại đức để tôi theo bên cạnh, vâng theo sự lãnh đạo, do đó tôi quan sát rất lâu, chuẩn bị chọn Chúa để thường theo. Trong lúc tìm tìm kiếm kiếm, tôi phát hiện chỉ toàn có đại đức giỏi về nghiên cứu giáo lí, có đại đức rành về phân tích thời thế, có đại đức khéo về phê bình chính luận, có người ngồi yên ở địa vị vinh hiển trên cao, nhưng đều chưa thể hoài bão lí niệm chấn hưng Phật giáo. Ngoài lúc mịt mù vô chủ ra, tôi càng thêm khát vọng có thể xuất hiện một vị không có lập trường chủ quan tự lợi, mà là bậc Cao tăng đại đức chân chính quan tâm đến toàn bộ Phật giáo để làm đối tượng cho mình y chỉ.

Năm 1955, đoàn tuyên truyền Đại Tạng Kinh Hoàn Đảo Hoằng Pháp thành lập, tôi đảm nhiệm lãnh đội đi theo Pháp sư đoàn trưởng là Nam Đình bố giáo khắp nơi. Nắm giữ phận thuộc hạ gánh vác lo lắng lao nhọc cần phải có thái độ vâng lời, chỉ là pháp sư Nam Đình có tánh bảo thủ, thường ra chỉ thị cho tôi kiểu này không làm được, lối kia không thể làm, do đó tuy thời gian hợp tác chưa hề phát sanh tranh chấp, nhưng trong lòng tôi thầm lấy làm tiếc. Tôi tự thuỷ chí chung chưa hề có vẻ mặt không vui, tôi vui mừng vì may mà chính mình có thể tiếp nhận sự lãnh đạo của người khác.

Năm 1963, tôi và pháp sư Bạch Thánh tổ chức đoàn phỏng vấn đầu tiên của hội Phật giáo Trung Quốc đến phỏng vấn các nước trên thế giới, từng nhiều lần suy nghĩ đóng vai trò trợ lí tốt, đâu dè thân làm Phát ngôn nhân mà tôi lại không được phát ngôn. Tôi có thứ cảm giác không được người tôn trọng, tuy người khác không tôn trọng tôi như thế, nhưng tôi vẫn muốn tôn trọng người khác, cuối cùng mới được kết cuộc viên mãn.

Bốn mươi năm trước, thấy rằng Thánh giáo không được sáng sủa, phần lớn Phật tử theo tập quán cũ chỉ nghĩ hướng bên ngoài cầu phước, chẳng biết chính mình phải thực tiễn, tôi cũng từng một phen vì người biên tập tạp chí Nhân Sinh, vì người giúp công tác in ấn phát hành in ảnh Đại Tạng Kinh, hi vọng nhờ đây thúc đẩy sự nghiệp văn hoá Phật giáo, nhưng người chủ sự chỉ nghĩ việc giữ sự thành công, cùng với lí niệm khai mở của tôi không cách gì phù hợp, tuy tôi không vừa lòng tác phong lãnh đạo ấy trước sau nhiều năm, đến khi tôi bảo với ông ta xin rút lui, ông ta vẫn khăng khăng không bỏ, nói rằng tôi rất thích hợp theo ông ta công tác. Đây có thể chứng minh một điểm là tôi hiểu cách để người lãnh đạo mình.

Cho dù việc đời không cách gì trọn vẹn như mình mong ước, tôi lại mười phần tận lực làm tốt công tác trợ tá. Tôi từng thân cận Lão Hoà thượng Diệu Quả là Lí sự trưởng Hội Phật giáo ba nơi Tân Trúc, Đào Viên, Miêu Lật, làm trợ lí cho Ngài. Trong ký ức, các loại kế hoạch tôi đã dự định, các thứ công văn hồi đáp, chưa từng thấy Ngài động thêm một chữ, các loại sự hạng kiến nghị, các thứ hoạt động xếp đặt chỗ tùng sự, cho đến hội khách, phiên dịch cũng chưa từng thấy Ngài phủ quyết. Chẳng những như thế, vào thời đại giao thông bất tiện lúc ấy, lại nhờ ơn Ngài đích thân đem tôi trèo non lội suối, chu du các khu vực của khách mời, như núi Sư Đầu Trúc Nam, chùa Pháp Vân ở Đại Hồ, Sư Thiện Đường ở Trúc Đông, chùa Triều Âm ở Quan Tây, cho đến Bình Trấn, Dương Mai, còn có rất nhiều đạo tràng Tân Trúc, Miêu Lật, đều cảm tạ lòng từ bi hướng dẫn của Ngài cho tôi kết nhiều nhân duyên. Nhớ một hôm, trời rất nắng, Ngài đem tặng tôi một cái mũ kiểu Nã Phá Luân để che nắng. Mãi đến hôm nay, tôi vẫn xét không thấu huyền cơ trong lòng Lão Hoà thượng.

Tôi cũng từng làm trợ biên Từ Hàng Pháp Sư Toàn Tập, và nhiều lần đến thăm viếng pháp sư Từ Hàng, được Ngài từ bi che chở, tiếp đãi thân thiết. Ngài tuy là bậc trưởng bối của tôi, nhưng mỗi lần viết thơ đều gọi tôi là Vân đệ, có thể nói vô cùng thương mến. Bất hạnh là lúc sáu mươi tuổi, đúng như người ta nói: "Thuyền từ dừng lúc hải triều xuống về đêm". Tôi vì chưa thể được gần gũi lâu dài, được Ngài lãnh đạo, đến nay nghĩ lại, rất tiếc mình duyên mỏng.

Do mấy lần chưa thể được người lãnh đạo trường kì như nguyện, chỗ nói "Trong đất Thục không có đại tướng, Liêu Hoá làm tiên phong", dưới tình huống bất đắc dĩ, tôi bị thanh niên Phật tử từ từ đẩy lên địa vị người lãnh đạo. Từ năm 1953 về sau, tôi đều đảm nhiệm những chức vụ trụ trì, hội trưởng, hiệu trưởng, viện trưởng, sở trưởng… lại càng thể hội ra "Bị người lãnh đạo là điều may mắn, lãnh đạo người khác là điều cay đắng".

Một con đường đi này, tôi tuy chưa từng kiếm được người lãnh đạo vừa tầm mắt mình, nhưng nhân vì tôi cam chịu tùy duyên, bị người lãnh đạo, chẳng những ngộ ra một phương pháp lãnh đạo, lại thầm thầm cảm được câu "Chim hay lựa cây mà đậu, trung thần chọn chúa mà hầu", thật là lời chí lí vang dội, càng lâu càng mới.

Nói cách khác, một người bị lãnh đạo đúng đắn nếu như kiếm được danh chúa, ắt có thể vui lòng tùng phục, buông hết dục vọng "thượng, trung, tiền" (thỉnh khách ngồi địa vị trên, chụp ảnh ngồi ở giữa, đi đường đi đằng trước), dẹp hết kiến chấp riêng mình, luôn luôn nhớ đứng vai trò phụ tá giỏi, không những chẳng nên phê bình người lãnh đạo, lại không nên bán đứng người lãnh đạo để cầu vinh cho chính mình. Một người thuộc hàng con cháu bị người lãnh đạo, không được lợi dụng danh tiếng của người lãnh đạo, mà phải nên khéo thể hội lí niệm của người lãnh đạo, siêng năng chấp hành chỉ thị của người lãnh đạo. Lạc Nghị thời đại Xuân Thu nói: "Quân tử tuyệt giao, không nói ra tiếng ác, trung thần bỏ nước, chẳng trong sạch thanh danh của mình". Như Lưu Dung ngay thẳng không dua nịnh, tận trung giữ chức; Hoà Thân thì khôn ngoan xảo quyệt, chỉ lo tự lợi. Hai loại người bị lãnh đạo mà hình thái bất đồng, kết quả người trước lưu tiếng thơm trăm đời, người sau để tiếng thối vạn năm, thật đủ cho người đời sau suy nghĩ sâu xa mà chọn lựa.

Đối với đồ chúng, tôi chẳng tự cho mình ở chỗ người lãnh đạo, mà đều nương dùng lời khéo dẫn dụ, quán xét căn cơ để dạy dỗ. Đại đa số đệ tử đều cam tâm tình nguyện, hết lòng phục tùng lãnh đạo, trên cương vị công tác siêng năng tinh tấn, nhưng cũng có một số đệ tử bề ngoài thì thuận theo, trong lòng lại còn kiến chấp sâu dày. Đối với loại người này, tôi cũng chỉ đành giả điếc giả câm, nhịn đau mà nhìn họ chịu vấp váp về sau hối hận biết vậy chẳng làm. Có lúc, tôi cũng để cho một số đệ tử gặp được cơ hội làm người quản lí cho tôi, để họ trong lòng cao hứng một chút. Do đó, có lúc đi đường, nghe thiện ý của họ muốn tôi tiến tới, lui sau, tôi đều tuân thủ hết, có lúc ăn cơm, nghe họ hảo tâm muốn tôi ăn món này món nọ, tôi cũng đều nghe lời… cho đến lúc khai hội, đệ tử đưa ra ý kiến hay, tôi đều "tùng thiện như lưu". Lúc làm việc, đồ chúng có kế sách tốt, tôi cũng tùy hỉ tiếp nạp. Cũng cho là vì tôi có sẵn tính cách "bị người lãnh đạo" này, do đó có thể dung hợp ở chung với đệ tử, hoà hợp không ngăn cách.

Đến như Phật Quang Hội do tôi thiết lập, hội trưởng, cán bộ… của các địa phương, các phân hội phần nhiều là những vị tinh anh trong xã hội, có sự nghiệp thành đạt, mọi người ở dưới sự tín ngưỡng Phật giáo nhân gian của Phật-đà mà đoàn kết hợp tác, do đó tôi đối với việc lãnh đạo họ cũng chỉ giới hạn ở sự chỉ điểm trên tín ngưỡng, ngoài ra như những vấn đề tình cảm, sự nghiệp, hữu nghị, hôn nhân, tôi đều né tránh khỏi can dự. Do nhận rõ ranh giới kia đây, do đó có thể tụ họp cùng hiểu biết, phát huy lực lượng.

Trong tùng lâm, trụ trì tuy quý vì làm chủ một chùa, nhưng hễ tiến ra đạo tràng đều phải tuân thủ quy củ khách đường, việc trước tiên phải báo cho tri khách xếp chỗ, sư huynh xuất gia trước dù cho tuổi tác già cả, cũng phải tuân theo luân lí công tác, phục tùng sư đệ có cấp bậc cao hơn lãnh đạo làm việc. Đây chính là Trưởng lão của giới Phật giáo, người đảm nhiệm và người bị lãnh đạo, lấy pháp chế làm sự tôn trọng, không kể danh vị, nhìn khắp cổ kim, có thể nói là rất hợp với luân lí công tác, rất hợp với nghệ thuật làm người.

Xem kinh điển, Bồ Tát Quán Thế Âm vốn đã chứng ngộ Phật quả trước vô lượng kiếp, tên Chánh Pháp Minh Như Lai, lại cam chịu cỡi ngược thuyền từ, tiếp nhận sự lãnh đạo của Phật A-di-đà, tại thế gian theo tiếng cầu xin mà cứu khổ, do đó uế độ Ta-bà được có quang minh. Bồ Tát Di-lặc và Phật Thích-ca vốn là đạo hữu đồng tham học, nhưng do người trước thích làm Bồ Tát bổ xứ, tiếp nhận sự lãnh đạo của người sau, khiến cho Phật tử đời sau có may mắn được độ toàn bộ ở ba hội Long Hoa. Chư Phật Bồ Tát còn như thế, chúng ta là phàm phu tục tử càng nên buông hết quan niệm tôn ti lớn nhỏ, lấy hạnh phúc của chúng sanh, an lạc của thế giới làm trọng.

Xem lại sử sách, Chu Công phò tá Chu Thành Vương, người sau chẳng những khen ngợi lòng nhân từ yêu dân của Thành Vương, mà đối với sự liêm chính hiền đạt của Chu Công càng thêm thán phục. Nguỵ Trưng phụ bật Đường Thái Tông, người sau chẳng những ca ngợi Thái Tông biết nhận lời hay, mà còn cảm động không thôi vì lòng tận trung với nước của Nguỵ Trưng. Như Gia Cát Khổng Minh phò tá A Đẩu ngu muội, cha của A Đẩu là Lưu Bị tuy chỉ rõ Gia Cát Lượng có thể thay người khác, nhưng Gia Cát Lượng vẫn một lòng vì chúa, cúc cung tận tuỵ đến chết mới thôi. Lưu Bá Ôn giúp Minh Thái Tổ được thiên hạ, lại cam chịu làm một mưu thần dưới trướng, cống hiến kế sách hay…, những chuyện này đều thành những giai thoại đẹp đẽ, truyền tụng đến nay. Nhân đây, người bị lãnh đạo tuy bề mặt địa vị hơi thấp, nhưng chỉ cần chịu ẩn giấu tài năng, hàm dưỡng nhân cách, giữ vững cương vị, hết lòng phụ giúp, đến khi thành tựu, cũng đủ được khen ngợi bằng với người lãnh đạo. Tại Trung Quốc thường gọi vợ là hiền nội trợ, thời đại nam nữ bình quyền ngày nay, hiển lộ người nữ bị thấp một bậc, nhưng suy cho kỹ, trên thực tế trong một gia đình nếu như không có mẹ, vợ thì làm sao thành nhà? Do đó một người hiền nội trợ chân chánh phải đủ điều kiện hiền huệ, cần lao, đảm đang, thân thiện. Tại Âu Mĩ, bên cạnh nhân vật trọng yếu đều có rất nhiều trợ lí giúp họ thu xếp công việc, xã hội Trung Quốc một bề gọi là bí thư. Bất kể là trợ lí cũng tốt, bí thư cũng tốt, so với yếu nhân, dường như đều ở địa vị bị lãnh đạo thấp kém, nhưng tất cả việc quan trọng nếu không có sự thúc đẩy của trợ lí, bí thư thì không cách gì xong việc.

Do đó thân làm một thuộc hạ bị người lãnh đạo, trừ điều kiện phải xem trước ngó sau, kế hoạch công việc đầy đủ, giao tiếp dung hoà với người, siêng năng chịu khó ra, lại cần phải có đức tính tốt đẹp như trung thành không đổi dạ, thông đạt tình lí, biết tiến lùi, không vượt quá phận mình. Kỵ nhất là chỉ thấy lợi gần, dối trên gạt dưới, tiếp đón phan duyên, cong queo tà vạy. Chỗ nói "Thế sự thông đạt đều học hỏi", nhân gian có chỗ nào không phải là tấm gương cho chúng ta học tập. Anh xem, hoa hồng cần phải có lá xanh kề cận, mới có thể hiển lộ vẽ mĩ cảm hoàn chỉnh, trăng sáng cũng cần có những ngôi sao tô điểm, mới có thể biểu hiện sự mĩ lệ giữa trời đêm. Bị lãnh đạo là một môn học vấn lớn nhất, người bị lãnh đạo có thể làm được đúng quy củ trong chức vụ của mình, đem chính mình dung nhập người khác, nhập vào khắp trong Đại ngã, cũng là thành tựu chính mình trong tự kỉ rộng lớn.

Bị Lãnh Đạo Học ^

Hoa hồng phải có lá xanh kề cận, trăng sáng phải có các ngôi sao tô điểm thêm, đem chính mình dung nhập người khác, nhập khắp trong đại ngã, cũng là thành tựu chính mình trong tự kỉ rộng lớn.

Rất gần đây, những sách vở về lãnh đạo học, thống ngự học, thống soái học, chủ quản học đầy dẫy ở các tiệm sách, rất phù hợp với quan niệm của người Trung Quốc "Thà làm đầu gà hơn làm đuôi trâu". Kì thực theo sự lịch duyệt một đời của tôi mà nói thì bị người lãnh đạo mới là một môn học trọng yếu, hơn nữa người có thể bị người lãnh đạo, tương lai mới có thể làm tốt vai trò lãnh đạo. Tôi cảm nhận sâu xa rằng lãnh đạo người khác cố nhiên rất khó làm cho tốt, nhưng có thể khéo bị người lãnh đạo cũng chẳng phải là việc dễ. Do đó, ngay lúc mắt thấy mọi người khao khát làm người lãnh đạo, tôi chẳng đừng được mà phải vội kêu to lên: Làm một người bị lãnh đạo thành công mới là một môn học trọng yếu nhất.

Tôi từ nhỏ xuất gia, cứ mong có thể có một vị lãnh đạo để cho tôi theo học hỏi bắt chước, lúc đó đại sư Thái Hư nhận thấy Phật giáo Trung Quốc chứa chất những tệ hại rất sâu, do đó cực lực đẩy mạnh sự cải cách giáo chế, giáo lí, giáo sản. Lòng từ bi và nguyện lực của Ngài, học vấn và sự hàm dưỡng của Ngài, nhiệt tình đam mê vì đạo của Ngài, sự dũng mãnh gánh vác của Ngài… đâu đâu cũng đều trở thành đối tượng rất đáng ngưỡng mộ trong tâm mắt của bao nhiêu Tăng-già thanh niên. Tuy tôi chỉ đích thân nhận lời dạy dỗ một hai lần, nhưng tâm thường hướng về Ngài, thậm chí thường nghĩ, nếu như ngày nào đó được hết lòng phục vụ cho Ngài, dù cho vào dầu sôi lửa bỏng cũng chẳng từ nan.

Năm 1964, tôi thật chẳng dễ dàng gì khi được Sư phụ là Thượng nhân Chí Khai cho phép chuẩn bị trở về nhà. Đây là lần đầu tiên kể từ khi xuất gia, tôi được về thăm thân thuộc. Đúng lúc mừng chưa kịp dứt thì tin tức truyền đến đại sư Thái Hư đề xướng tổ chức "Ban Huấn Luyện Nhân Viên Hội Vụ lần thứ I của Hội Phật Giáo Trung Quốc", tôi lập tức bỏ ngay kế hoạch về quê, tranh thủ tham gia, trở thành một trong những hồi ức khó quên suốt đời tôi.

Trung Quốc Phật Giáo Hội chính ngay lúc dự trù tổ chức Đại hội lần thứ I, thì đại sư Thái Hư viên tịch tại Thượng Hải, tin buồn làm kinh động toàn thể giới Phật giáo, hai chúng Tăng tục đều đau xót khôn tả, tôi cũng như sét đánh giữa trời quang, suốt ngày mất hồn lạc vía, cảm thấy tiền đồ một trời mù mịt, giống như mặt trời mặt trăng không ánh sáng, mặt đất một màu đen tối, chẳng biết đi đâu, đến đâu? Vì đây không phải là một tổn thất riêng cá nhân tôi, mà cũng vì tương lai của Phật giáo Trung Quốc mà lo lắng. Về sau tôi nghĩ đến bạn đồng học là pháp sư Trí Dũng là người viết hay nói giỏi, văn võ song toàn, bèn một lòng tìm theo, và nhiều lần gởi thơ muốn đem chức Hiệu trưởng trường Quốc Tiểu ở Nghi Hưng giao cho Sư, mời mau đến lãnh đạo. Sau này vì một cơ duyên nọ, chúng tôi chia tay rời khỏi Nghi Hưng. Lúc vừa đến chùa Hoa Tạng ở Nam Kinh, tôi cũng ủng hộ Sư làm trụ trì và tự nguyện làm phó, tiếp nhận lãnh đạo, hết lòng hết dạ tận trung, cùng vì phục hưng Phật giáo mà gắng sức.

Năm 1949, chúng tôi giao ước với nhau chia ra để gắng sức, hi vọng nhân ở chân trời góc biển này, chia đèn vì đạo. Về sau Sư từ Nam Kinh lại trở về Nghi Hưng, tôi từ Đại Lục đến Đài Loan, từ đây quan san cách trở, chẳng có một chút âm hơi. Trong lòng tôi vẫn mong có một vị đại đức để tôi theo bên cạnh, vâng theo sự lãnh đạo, do đó tôi quan sát rất lâu, chuẩn bị chọn Chúa để thường theo. Trong lúc tìm tìm kiếm kiếm, tôi phát hiện chỉ toàn có đại đức giỏi về nghiên cứu giáo lí, có đại đức rành về phân tích thời thế, có đại đức khéo về phê bình chính luận, có người ngồi yên ở địa vị vinh hiển trên cao, nhưng đều chưa thể hoài bão lí niệm chấn hưng Phật giáo. Ngoài lúc mịt mù vô chủ ra, tôi càng thêm khát vọng có thể xuất hiện một vị không có lập trường chủ quan tự lợi, mà là bậc Cao tăng đại đức chân chính quan tâm đến toàn bộ Phật giáo để làm đối tượng cho mình y chỉ.

Năm 1955, đoàn tuyên truyền Đại Tạng Kinh Hoàn Đảo Hoằng Pháp thành lập, tôi đảm nhiệm lãnh đội đi theo Pháp sư đoàn trưởng là Nam Đình bố giáo khắp nơi. Nắm giữ phận thuộc hạ gánh vác lo lắng lao nhọc cần phải có thái độ vâng lời, chỉ là pháp sư Nam Đình có tánh bảo thủ, thường ra chỉ thị cho tôi kiểu này không làm được, lối kia không thể làm, do đó tuy thời gian hợp tác chưa hề phát sanh tranh chấp, nhưng trong lòng tôi thầm lấy làm tiếc. Tôi tự thuỷ chí chung chưa hề có vẻ mặt không vui, tôi vui mừng vì may mà chính mình có thể tiếp nhận sự lãnh đạo của người khác.

Năm 1963, tôi và pháp sư Bạch Thánh tổ chức đoàn phỏng vấn đầu tiên của hội Phật giáo Trung Quốc đến phỏng vấn các nước trên thế giới, từng nhiều lần suy nghĩ đóng vai trò trợ lí tốt, đâu dè thân làm Phát ngôn nhân mà tôi lại không được phát ngôn. Tôi có thứ cảm giác không được người tôn trọng, tuy người khác không tôn trọng tôi như thế, nhưng tôi vẫn muốn tôn trọng người khác, cuối cùng mới được kết cuộc viên mãn.

Bốn mươi năm trước, thấy rằng Thánh giáo không được sáng sủa, phần lớn Phật tử theo tập quán cũ chỉ nghĩ hướng bên ngoài cầu phước, chẳng biết chính mình phải thực tiễn, tôi cũng từng một phen vì người biên tập tạp chí Nhân Sinh, vì người giúp công tác in ấn phát hành in ảnh Đại Tạng Kinh, hi vọng nhờ đây thúc đẩy sự nghiệp văn hoá Phật giáo, nhưng người chủ sự chỉ nghĩ việc giữ sự thành công, cùng với lí niệm khai mở của tôi không cách gì phù hợp, tuy tôi không vừa lòng tác phong lãnh đạo ấy trước sau nhiều năm, đến khi tôi bảo với ông ta xin rút lui, ông ta vẫn khăng khăng không bỏ, nói rằng tôi rất thích hợp theo ông ta công tác. Đây có thể chứng minh một điểm là tôi hiểu cách để người lãnh đạo mình.

Cho dù việc đời không cách gì trọn vẹn như mình mong ước, tôi lại mười phần tận lực làm tốt công tác trợ tá. Tôi từng thân cận Lão Hoà thượng Diệu Quả là Lí sự trưởng Hội Phật giáo ba nơi Tân Trúc, Đào Viên, Miêu Lật, làm trợ lí cho Ngài. Trong ký ức, các loại kế hoạch tôi đã dự định, các thứ công văn hồi đáp, chưa từng thấy Ngài động thêm một chữ, các loại sự hạng kiến nghị, các thứ hoạt động xếp đặt chỗ tùng sự, cho đến hội khách, phiên dịch cũng chưa từng thấy Ngài phủ quyết. Chẳng những như thế, vào thời đại giao thông bất tiện lúc ấy, lại nhờ ơn Ngài đích thân đem tôi trèo non lội suối, chu du các khu vực của khách mời, như núi Sư Đầu Trúc Nam, chùa Pháp Vân ở Đại Hồ, Sư Thiện Đường ở Trúc Đông, chùa Triều Âm ở Quan Tây, cho đến Bình Trấn, Dương Mai, còn có rất nhiều đạo tràng Tân Trúc, Miêu Lật, đều cảm tạ lòng từ bi hướng dẫn của Ngài cho tôi kết nhiều nhân duyên. Nhớ một hôm, trời rất nắng, Ngài đem tặng tôi một cái mũ kiểu Nã Phá Luân để che nắng. Mãi đến hôm nay, tôi vẫn xét không thấu huyền cơ trong lòng Lão Hoà thượng.

Tôi cũng từng làm trợ biên Từ Hàng Pháp Sư Toàn Tập, và nhiều lần đến thăm viếng pháp sư Từ Hàng, được Ngài từ bi che chở, tiếp đãi thân thiết. Ngài tuy là bậc trưởng bối của tôi, nhưng mỗi lần viết thơ đều gọi tôi là Vân đệ, có thể nói vô cùng thương mến. Bất hạnh là lúc sáu mươi tuổi, đúng như người ta nói: "Thuyền từ dừng lúc hải triều xuống về đêm". Tôi vì chưa thể được gần gũi lâu dài, được Ngài lãnh đạo, đến nay nghĩ lại, rất tiếc mình duyên mỏng.

Do mấy lần chưa thể được người lãnh đạo trường kì như nguyện, chỗ nói "Trong đất Thục không có đại tướng, Liêu Hoá làm tiên phong", dưới tình huống bất đắc dĩ, tôi bị thanh niên Phật tử từ từ đẩy lên địa vị người lãnh đạo. Từ năm 1953 về sau, tôi đều đảm nhiệm những chức vụ trụ trì, hội trưởng, hiệu trưởng, viện trưởng, sở trưởng… lại càng thể hội ra "Bị người lãnh đạo là điều may mắn, lãnh đạo người khác là điều cay đắng".

Một con đường đi này, tôi tuy chưa từng kiếm được người lãnh đạo vừa tầm mắt mình, nhưng nhân vì tôi cam chịu tùy duyên, bị người lãnh đạo, chẳng những ngộ ra một phương pháp lãnh đạo, lại thầm thầm cảm được câu "Chim hay lựa cây mà đậu, trung thần chọn chúa mà hầu", thật là lời chí lí vang dội, càng lâu càng mới.

Nói cách khác, một người bị lãnh đạo đúng đắn nếu như kiếm được danh chúa, ắt có thể vui lòng tùng phục, buông hết dục vọng "thượng, trung, tiền" (thỉnh khách ngồi địa vị trên, chụp ảnh ngồi ở giữa, đi đường đi đằng trước), dẹp hết kiến chấp riêng mình, luôn luôn nhớ đứng vai trò phụ tá giỏi, không những chẳng nên phê bình người lãnh đạo, lại không nên bán đứng người lãnh đạo để cầu vinh cho chính mình. Một người thuộc hàng con cháu bị người lãnh đạo, không được lợi dụng danh tiếng của người lãnh đạo, mà phải nên khéo thể hội lí niệm của người lãnh đạo, siêng năng chấp hành chỉ thị của người lãnh đạo. Lạc Nghị thời đại Xuân Thu nói: "Quân tử tuyệt giao, không nói ra tiếng ác, trung thần bỏ nước, chẳng trong sạch thanh danh của mình". Như Lưu Dung ngay thẳng không dua nịnh, tận trung giữ chức; Hoà Thân thì khôn ngoan xảo quyệt, chỉ lo tự lợi. Hai loại người bị lãnh đạo mà hình thái bất đồng, kết quả người trước lưu tiếng thơm trăm đời, người sau để tiếng thối vạn năm, thật đủ cho người đời sau suy nghĩ sâu xa mà chọn lựa.

Đối với đồ chúng, tôi chẳng tự cho mình ở chỗ người lãnh đạo, mà đều nương dùng lời khéo dẫn dụ, quán xét căn cơ để dạy dỗ. Đại đa số đệ tử đều cam tâm tình nguyện, hết lòng phục tùng lãnh đạo, trên cương vị công tác siêng năng tinh tấn, nhưng cũng có một số đệ tử bề ngoài thì thuận theo, trong lòng lại còn kiến chấp sâu dày. Đối với loại người này, tôi cũng chỉ đành giả điếc giả câm, nhịn đau mà nhìn họ chịu vấp váp về sau hối hận biết vậy chẳng làm. Có lúc, tôi cũng để cho một số đệ tử gặp được cơ hội làm người quản lí cho tôi, để họ trong lòng cao hứng một chút. Do đó, có lúc đi đường, nghe thiện ý của họ muốn tôi tiến tới, lui sau, tôi đều tuân thủ hết, có lúc ăn cơm, nghe họ hảo tâm muốn tôi ăn món này món nọ, tôi cũng đều nghe lời… cho đến lúc khai hội, đệ tử đưa ra ý kiến hay, tôi đều "tùng thiện như lưu". Lúc làm việc, đồ chúng có kế sách tốt, tôi cũng tùy hỉ tiếp nạp. Cũng cho là vì tôi có sẵn tính cách "bị người lãnh đạo" này, do đó có thể dung hợp ở chung với đệ tử, hoà hợp không ngăn cách.

Đến như Phật Quang Hội do tôi thiết lập, hội trưởng, cán bộ… của các địa phương, các phân hội phần nhiều là những vị tinh anh trong xã hội, có sự nghiệp thành đạt, mọi người ở dưới sự tín ngưỡng Phật giáo nhân gian của Phật-đà mà đoàn kết hợp tác, do đó tôi đối với việc lãnh đạo họ cũng chỉ giới hạn ở sự chỉ điểm trên tín ngưỡng, ngoài ra như những vấn đề tình cảm, sự nghiệp, hữu nghị, hôn nhân, tôi đều né tránh khỏi can dự. Do nhận rõ ranh giới kia đây, do đó có thể tụ họp cùng hiểu biết, phát huy lực lượng.

Trong tùng lâm, trụ trì tuy quý vì làm chủ một chùa, nhưng hễ tiến ra đạo tràng đều phải tuân thủ quy củ khách đường, việc trước tiên phải báo cho tri khách xếp chỗ, sư huynh xuất gia trước dù cho tuổi tác già cả, cũng phải tuân theo luân lí công tác, phục tùng sư đệ có cấp bậc cao hơn lãnh đạo làm việc. Đây chính là Trưởng lão của giới Phật giáo, người đảm nhiệm và người bị lãnh đạo, lấy pháp chế làm sự tôn trọng, không kể danh vị, nhìn khắp cổ kim, có thể nói là rất hợp với luân lí công tác, rất hợp với nghệ thuật làm người.

Xem kinh điển, Bồ Tát Quán Thế Âm vốn đã chứng ngộ Phật quả trước vô lượng kiếp, tên Chánh Pháp Minh Như Lai, lại cam chịu cỡi ngược thuyền từ, tiếp nhận sự lãnh đạo của Phật A-di-đà, tại thế gian theo tiếng cầu xin mà cứu khổ, do đó uế độ Ta-bà được có quang minh. Bồ Tát Di-lặc và Phật Thích-ca vốn là đạo hữu đồng tham học, nhưng do người trước thích làm Bồ Tát bổ xứ, tiếp nhận sự lãnh đạo của người sau, khiến cho Phật tử đời sau có may mắn được độ toàn bộ ở ba hội Long Hoa. Chư Phật Bồ Tát còn như thế, chúng ta là phàm phu tục tử càng nên buông hết quan niệm tôn ti lớn nhỏ, lấy hạnh phúc của chúng sanh, an lạc của thế giới làm trọng.

Xem lại sử sách, Chu Công phò tá Chu Thành Vương, người sau chẳng những khen ngợi lòng nhân từ yêu dân của Thành Vương, mà đối với sự liêm chính hiền đạt của Chu Công càng thêm thán phục. Nguỵ Trưng phụ bật Đường Thái Tông, người sau chẳng những ca ngợi Thái Tông biết nhận lời hay, mà còn cảm động không thôi vì lòng tận trung với nước của Nguỵ Trưng. Như Gia Cát Khổng Minh phò tá A Đẩu ngu muội, cha của A Đẩu là Lưu Bị tuy chỉ rõ Gia Cát Lượng có thể thay người khác, nhưng Gia Cát Lượng vẫn một lòng vì chúa, cúc cung tận tuỵ đến chết mới thôi. Lưu Bá Ôn giúp Minh Thái Tổ được thiên hạ, lại cam chịu làm một mưu thần dưới trướng, cống hiến kế sách hay…, những chuyện này đều thành những giai thoại đẹp đẽ, truyền tụng đến nay. Nhân đây, người bị lãnh đạo tuy bề mặt địa vị hơi thấp, nhưng chỉ cần chịu ẩn giấu tài năng, hàm dưỡng nhân cách, giữ vững cương vị, hết lòng phụ giúp, đến khi thành tựu, cũng đủ được khen ngợi bằng với người lãnh đạo. Tại Trung Quốc thường gọi vợ là hiền nội trợ, thời đại nam nữ bình quyền ngày nay, hiển lộ người nữ bị thấp một bậc, nhưng suy cho kỹ, trên thực tế trong một gia đình nếu như không có mẹ, vợ thì làm sao thành nhà? Do đó một người hiền nội trợ chân chánh phải đủ điều kiện hiền huệ, cần lao, đảm đang, thân thiện. Tại Âu Mĩ, bên cạnh nhân vật trọng yếu đều có rất nhiều trợ lí giúp họ thu xếp công việc, xã hội Trung Quốc một bề gọi là bí thư. Bất kể là trợ lí cũng tốt, bí thư cũng tốt, so với yếu nhân, dường như đều ở địa vị bị lãnh đạo thấp kém, nhưng tất cả việc quan trọng nếu không có s