Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học Cơ Bản


 

 

 

TRUNG TÂM HỌC LIỆU PHẬT GIÁO
 

PHẬT GIÁO TỔNG QUAN 

600 câu hỏi và trả lời liên quan đến giáo lý, hành trì,

sự phát triển của Phật Giáo; đến lịch sử, văn hóa của các nước thọ nhận Phật Giáo;

đến các vấn đề văn hóa, xã hội, chính trị thời đại.

 

 TRẦN QUANG THUẬN

 

---o0o---

 

 

PHẦN V. GIÁO LÝ.

 

211. Phật Giáo là gì?

- Danh từ Phật Giáo xuất phát từ chữ Phạn Buddhi,có nghĩa là tỉnh thức,giác ngộ.Phật Giáo vì vậy có nghĩa là triết lý tỉnh thức,đạo lý giác ngộ. Ðạo lý này do Siddhata Gautama khai triển sau khi ngài đắc đạo,giác ngộ năm ngài 35 tuổi cách đây trên 2,500 năm.

 

212. Phật Giáo là một triết học?

- Danh từ Triết học xuất phát từ chữ Hi Lạp gồm hai phần Philo có nghĩa là Tình thương và Sophia có nghĩa là Trí tuệ.Triết học vì vậy có nghĩa là yêu mến trí tuệ hay tình thương và trí tuệ. Ðó là triết lý Phật.Tuy nhiên đạo lý triển khai lòng từ bi và ánh sáng trí tuệ để mọi người đều là bằng hữu không phải chỉ là một triết học mà là siêu triết học.

 

213. Cho em biết sơ qua những đặc điểm của Phật Giáo.

- Phật Giáo là một tôn giáo đầu tiên trên thế giới đã truyền bá ngoài biên cương Ấn Ðộ,xứng đáng một tôn giáo hoàn vũ.

- Phật Giáo là một tôn giáo sử dụng phương pháp phân tích,tìm hiểu ý nghĩa và chân tướng của cuộc sống con người và vũ trụ.

- Phật Giáo với bản chất hoằng truyền,với tổ chức tự viện đã tạo được một tổ chức Tăng Già rất dân chủ.

- Phật Giáo trong tinh thần khế lý,khế cơ là một tôn giáo hài hòa,không cố chấp,không cứng nhắt,uyển chuyển vận hành.

- Trong tiến trình phát triển Phật Giáo không hủy diệt phong tục,tập quán,văn hóa địa phương,không gây tang tóc cho những người khác tín ngưỡng.

- Phật Giáo đặt nặng trọng tâm vào con người.Theo Phật Giáo con người làm chủ cho số phận của mình,con người là nơi nương tựa của chính mình.Phật dạy:Chư Phật chỉ là người chỉ đường,chính con người mới có thể đi trên con đường đạo,chính con người mới hoàn thành lộ trình giải thoát của mình.

- Ðức Phật khuyên hàng Phật tử phải suy nghĩ,chiêm nghiệm trước khi tin vào giáo lý Phật.Nói một cách khác Phật Giáo quan niệm con người có khả năng,có tự do phán xét,lựa chọn.

- Phật Giáo chú trọng đến vấn đề thực tiễn,không đặt nặng vào những địa hạt trừu tượng mà ngài cho là“hý luận”(luận bàn để mà chơi,làm trò giải trí,làm thỏa mãn hay đề cao trí thức hiểu biết).

- Ðức Phật là một đấng giáo chủ tôn giáo duy nhất trên thế giới không nhờ sức lực của thần linh,không lấy danh nghĩa thần linh mà có thể truyền bá chánh pháp khắp nơi trên thế giới.

- Ðức Phật là đấng giáo chủ tôn giáo duy nhất xác nhận tất cả những ai đạt đến từ bi,trí tuệ tuyệt đối đều sẽ được thành Phật như ngài qua câu nói:“Ta là Phật đã thành,chúng sanh là Phật sẽ thành.”

- Ðạo Phật không nhờ đạo quân hùng hậu hay đoàn thương thuyền giúp đỡ vẫn có thể truyền bá khắp nơi.Tinh thần hài hòa,dung hợp là kim chỉ nam cho các nhà hoằng truyền chánh pháp.

 

214. Phật xuất gia bỏ vợ, bỏ con như vậy có phải thiếu tinh thần trách nhiệm đối với gia đình?

- Thái Tử Tất Ðạt Ða(Siddhartha)con vua Tịnh Phạn(Suddhodana)năm 16 tuổi lấy công chúa Gia Du Ðà La(Yasodhara hay Bimbadevi hay Bhaddhacana),có đứa con đầu lòng và duy nhất tên là La Hầu La(Rahula).

- Không phải là chuyện dễ khi Thái Tử Tất Ðạt Ða rời hoàng cung,rời vợ con thân thuộc vào rừng tìm đạo Chắc chắn ngài đã đắn đo,gạt bỏ mọi quyến luyến, để cuối cùng ra đi.Ngài phải lựa chọn giữa hai đường:gia đình,vương vị hay hiến trọn đời mình cho nhân loại.Cuối cùng,vì lòng từ bi vô lượng ngài đã chọn con đường thứ hai,nhờ đó mà thế giới được thừa hưởng ánh sáng nhiệm mầu,nhờ sự hi sinh không bờ bến ấy mà nay chúng ta có một đạo pháp vô thượng dắt đường,chỉ lối.Ðây không phải là hành động vô trách nhiệm mà là một hi sinh,dâng hiến cao cả.

 

215.  Phật đã nhập diệt cách đây trên 2500 năm, làm sao Ngài có thể giúp đỡ chúng ta?

- Farady người phát minh điện đã qua đời nhưng phát minh của ông ấy vẫn giúp đỡ chúng ta.

- Luis Pasteur người khám phá ra nhiều phương thuốc trị bệnh đã qua đời, nhưng những khám phá của ông còn giúp đỡ chúng ta.

- Leonard da Vinci nhà danh họa đã sáng tác ra những họa phẩm lừng danh tuy đã qua đời,nhưng những gì ông sáng tác vẫn mang lại niềm cảm hứng,niềm vui vô tận.

- Các bậc anh hùng,các nhà thiền đức dầu đã khuất bóng cách đây hàng thế kỷ,nhưng những hành hoạt,thành tựu của họ vẫn là chất xúc tác cho chúng ta.

- Vâng, Ðức Phật đã nhập diệt cách đây trên 2,500 năm nhưng giáo lý của ngài vẫn giúp nhân loại,nếp sống của ngài vẫn là gương sáng cho nhân loại,lời dạy của ngài vẫn có năng lực thay đổi đời sống con người.Chỉ có Phật mới có quyền năng như vậy sau bao nhiêu thế kỷ.

 

216. Nói đến quyền năng, Đức Phật phải chăng là một đấng thần linh, một chúa trời tạo thiên lập địa?

- Không,Ðức Phật không phải như vậy.Ngài không bao giờ nói Ngài là Ðức Chúa Trời,Con của Ðức Chúa Trời hay là Thông Sứ của Chúa.Trời,theo vũ trụ quan Phật Giáo là một trong Ba Cõi(Dục Giới,Sắc Giới,Vô Sắc Giới),Sáu Ðường(Thiên nhân,a tu la, địa ngục,ngạ quỷ,súc sinh).Người sống trên trời vẫn chịu cảnh sinh tử luân hồi.

- Ðức Phật là người thoát ra khỏi cảnh giới Ta Bà,là người đã giác ngộ và dạy cho chúng ta biết nếu chúng ta theo gương Ngài,chúng ta cũng được giác ngộ như Ngài,cũng có thể vượt qua biển sinh tử luân hồi,khỏi cảnh giới Ta Bà.

- Ngài là người chỉ đưởng,khai lộ tiến trình giải thoát.

 

217. Nói về Tam Giới, như vậy Đạo Phật cũng tin vào thiên đường, địa ngục như Cơ Đốc Giáo?

- Trong ý nghĩa thưởng phạt đạo đức hai bên giống nhau nhưng trên nhận định,giáo nghĩa hoàn toàn khác biệt.Thiên đường Cơ Ðốc là phần thưởng vĩnh cửu và địa ngục Cơ Ðốc là phần phạt muôn đời.Phật Giáo quan niệm địa ngục giới cũng như thiên giới đều vô thường biến đổi,giống như cảnh giới điều kiện hóa khác.

- Phật Giáo không quan niệm một hành vi ác trong giây lát hay ngay cả trong cuộc đời ngắn ngủi lại phải bị trừng phạt kiếp này qua kiếp khác vô thời hạn.Bản tính của con người không phải luôn luôn ác,do đó không có lý do gì phải đọa địa ngục vĩnh cửu.Cũng như vậy,một hành động thiện trong giây lát hay suốt của cuộc đời ngắn ngủi cũng không thể được phần thưởng thiên đường vĩnh cửu.

- Hơn nữa thưởng,phạt,thiên đường, địa ngục là kết quả của ý chí và hành động của con người chứ không phải do tính bất thường của Ðấng Bề Trên giáng xuống.

- Quy luật đạo đức đi theo diễn trình thiên nhiên, đạo Phật gọi là Luật Nhân Quả. Ðiều này rất quan trọng,vì nếu Ðấng Bề Trên có đầy đủ vạn năng,có thể rửa sạch tội ác mà nếu không thi hành quyền vạn năng ấy,thì công lý của Ðấng Bền Trên chẳng qua chỉ là một danh từ khác cho sự trả thù.

- Ðối với Phật Giáo chính hành động thiện ác là quan tòa tuyên án.Chính cá nhân có những hành động ấy đưa họ lên thiên đường hay đẩy họ xuống địa ngục và cũng chính cá nhân ấy có thể cứu họ khỏi cảnh địa ngục hay kéo họ ra khỏi cảnh giới thiên đường.

 

218. Nếu Đức Phật không phải là một thiên thần vạn năng, tại sao dân chúng cúng vái, cầu khẩn, thờ tự, bái lạy Ngài?

- Có nhiều cách bái lạy,cúng vái.Có người cầu khẩn thánh thần,bái lạy thánh thần,dâng hiến cống phẩm cho thần thánh để cầu ban phước lành,rửa sạch tội lỗi.Người Phật tử không cầu khẩn,bái lạy kiểu này.

- Hình thức bái lạy,kính ngưỡng khác diễn đạt lòng yêu quý,kính trọng như khi giáo sư vào phòng học ta đứng dậy,khi gặp những bậc trưởng thượng ta chấp tay kính chào,khi gặp nhân viên chính quyền ta cung kính bắt tay,khi nghe bài quốc ca ta đứng dậy nghiêm chỉnh chào.Ðây là cung cách tỏ bày lòng tôn trọng,kính ngưỡng.Ðây là phương thức bái lạy của người Phật tử.

- Hình tượng Phật ngồi trên tòa sen thế kiết già,tay bắt ấn hay để trên đùi,miệng mỉm cười hoan hỷ,thanh thoát giúp ta cố gắng phát triển tâm từ bi,thanh tịnh trong ta.Hàng ngày ta đọc bài Tam Tự Quy:tự quy y Phật,quy y đức Phật trong ta,hoan hỷ,không ai bắt buộc quy y Phật ngoài ta;tự quy y Pháp,quy Chánh Pháp trong tâm ta,hoan hỷ không ai bắt buộc quy y theo chân lý tiềm tàng trong ta;tự quy y Tăng,quy y Thánh Chúng trong ta,hoan hỷ không ai bắt buộc nương vào cộng đồng Tăng Già hướng dẫn tiến tu trong tâm ta.

- Làn hương nhắc ta ảnh hưởng đạo đức tràn lan khắp nơi, ánh sáng thắp trên bàn Phật nhắc ta ánh sáng trí tuệ và những bông hoa cúng Phật nở đó,tàn đó,tươi đó,héo đó nhắc ta ý nghĩa vô thường của cuộc đời.

- Khi ta cúi đầu bái lạy,ta bày tỏ lòng kình ngưỡng đối với Phật đã đem ánh sáng nhiệm mầu dạy cho chúng ta;đối với pháp đã cung cấp cho ta lộ trình đi đến giác ngộ,giải thoát;đối với Tăng đã hướng dẫn ta đi đúng lộ trình giác ngộ.Ðó là đặc tính bái lạy của Phật Giáo.

 

219. Có người cho Phật Tử sung bái ngẫu tượng (idol), thờ cúng thần linh?

- Cách nói này chứng tỏ họ không biết gì về Phật Giáo.Tự điển định nghĩa chữ Idol tiếng Anh là ngẫu tượng được cúng bái như vị thần.Như đã nói trên đức Phật không phải là thần,hay thiên thần,hay chúa trời thì làm sao Phật tử lại xem cục gỗ hay một tụ thể kim loại là thánh thần.

- Tất cả tôn giáo đều dùng biểu tượng để diễn đạt quan điểm giáo lý hay tín nghĩa.Trong Mật Thừa âm dương được sử dụng,tượng trưng cho sự hòa hợp của hai cá thể đối nghịch.Trong đạo Sikh,cây kiếm tượng trưng cho sự đấu tranh tâm linh.Trong Cơ Ðốc Giáo con cá tượng trưng cho sự hiện hữu của Chúa và cây thập tự tượng trưng cho sự hi sinh,cứu rỗi.Với Phật Giáo,tượng Phật là tượng trưng cho sự trọn vẹn hoàn hảo của con người,nói lên ý nghĩa Phật Giáo nhắm vào nhân thế,chứ không nhắm vào thần linh cứu rỗi và Phật tử phải nhìn trong ta chứ không hướng ngoại để tìm ánh sáng nhất như,để tìm giải thoát,để khai triển trí tuệ.Do đó nói Phật Giáo sùng bái ngẫu tượng hoàn toàn sai.

 

220. Tín đồ Phật Giáo vào chùa đốt vàng mã, xin xăm. Như vậy có phải mê tín dị đoan hay không?

- Nhiều điều mới nhìn qua có vẻ xa lạ với giáo lý Phật,có vẻ mê tín,dị đoan khi ta chưa am tường được ý nghĩa của nó.Hãy nhìn đài Chiến Sĩ Trận Vong,nơi ngọn lửa thiêng được thắp quanh năm,nơi dân chúng đem hoa đến tưởng niệm anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì nước.Tại Mỹ vào ngày lễ Thanksgiving,Lễ Tạ Ơn,dân chúng đem hoa đến cắm hay để trên mồ mả thân nhân.Những hành động ấy không phải là mê tín mà nói lên lòng thành kính,thương nhớ người quá vãng.

- Vì thương nhớ người quá vãng,không muốn họ lang thang trong kiếp sống Ta Bà mà không có tiền tiêu,không có nhà ở v.v…nên dân chúng ở một số quốc độ đốt vàng mã,xe cộ,nhà cửa,thuyền bè cho người quá vãng. Ở các nước kỹ nghệ mở mang ta cũng thấy đầy dẫy những người bói bài chuyên nghiệp,bảo đó là mê tín là nhìn theo góc độ nhãn quan của từng người.

- Phật Giáo truyền vào quốc độ nào đều hòa mình vào phong tục,tập quán,không loại bỏ mà phong phú hóa,rồi dùng những phong tục tập quán ấy hướng chuyển người về với chánh pháp.

- Phong tục,tập quán mỗi nơi một khác:Dân chúng Ấn Ðộ tin tưởng tắm nước sông Hằng thì mọi tội chướng đều tiêu tan,uống nước thiêng thì mọi bệnh hoạn được tiêu trừ v.v…

- Dựa vào những phong tục ấy để nói tôn giáo này hay tôn giáo kia là mê tín dị đoan chắc chắn là phiến diện.Lời dạy của Phật rất rõ ràng và tỉ mỉ nhưng nếu một số người không am tường lời Phật dạy thì không phải lỗi của Phật Giáo.Phật dạy:“Nếu người bị bệnh tật mà không chịu uống thuốc,không đi khám bác sĩ.Thuốc hay không có lỗi,bác sĩ không có lỗi.Cũng vậy,nếu người bị phiền não,vô minh,bị lụy làm khổ đau,nhưng không đến Phật tìm phương pháp cứu chữa,đó không phải lỗi của Phật.”

(JN 28-9).

- Không nên phán đoán Phật Giáo qua những người không hành trì Phật Ðạo,không theo đúng lời chỉ dạy của Phật.

 

221. Ở trong làng em có một ông thầy có vợ, có con, ở chùa nhưng không trường trai, giữ giới, thường hay làm lễ cúng tế cho dân làng. Em có nên đến chùa thầy ấy dâng hương, lễ Phật, tham dự lễ?

- Những vị sư này thường thường có danh xưng là Thầy Cúng.Kể ra dùng danh từ này mà gọi họ thì có vẻ thất kính,vì trong số những ông “thầy có vợ này”,cũng có những người rất thánh thiện, đầy lòng từ bi, đầy ý nguyện hoằng hóa.Ta hãy nhìn những vị Mục Sư,tuy có gia đình,nhưng lòng hi sinh và phục vụ cho Chúa cũng không kém những vị Linh Mục không vợ không con.

- Tại Nhật Bản phần nhiều chư Tăng đều có gia đình.Các sư thuộc phái Mũ Ðỏ của Phật Giáo Tây Tạng phần nhiều đều có gia đình.Ðiều cần thiết là họ có lo cho đạo hay không,hay chỉ mượn đạo làm kế sinh nhai.

- Ít nhất những vị sư này cũng có công giữ chùa,thắp hương,làm lễ cho Phật tử đến lễ bái.

- Quá lắm ta cứ xem họ như là một người cư sĩ đã dành nhiều thì giờ duy trì tự viện,giúp ta gần Phật,nghe pháp.

 

222. Nếu Đạo Phật tốt như vậy tại sao một số quốc gia Phật Giáo lại lạc hậu, nghèo nàn?

- Nếu dựa vào thước đo kinh tế mà phán đoán,thì đúng vậy,một số quốc gia Phật Giáo lạc hậu nghèo đói.Nhưng nếu nhìn vào góc độ hài hòa,dung nạp,góc độ phẩm chất của đời sống thì các nước Phật Giáo rất giàu.

- Hoa Kỳ là một quốc gia hùng cường,phồn thịnh,trên phương diện kinh tế,vũ lực,nhưng mức độ phạm pháp ở Mỹ cao nhất thế giới,hàng triệu người già không được con cái săn sóc,bạo lực trong gia đình,ly dị v.v…là những vấn đề trọng đại trong xã hội Hoa Kỳ.Trái lại nước Miến Ðiện dù nghèo và chậm tiến về kinh tế nhưng con cái kính trọng cha mẹ,mức độ phạm pháp rất thấp,li dị,tự tử,sa đọa tình dục hầu như không có.Ngay cả trên lĩnh vực kinh tế,Nhật Bản là nước phồn vinh nơi 93% dân chúng là Phật tử.

- Trong tuần báo Newsweek ra ngày 3/11/2003 Robert J.Samuelson,một kinh tế gia nổi tiếng,nói câu nói bất hủ:“(Dân Mỹ)người trẻ thì muốn già hơn,người già thì muốn trẻ hơn. Ðây chẳng qua chỉ là một đoạn đường trong nỗ lực kiếm tìm hạnh phúc thiên thu bất tận của người Hoa Kỳ.”Tìm hoài,tìm mãi,giàu có,sung túc,nhưng cánh cửa hạnh phúc cứ khép chặt.

 

223. Phật Giáo nói nhiều về từ bi, tại sao không thấy hoạt động tích cực về mặt xã hội.

- Cách đây mấy năm nhà lãnh đạo Phật Giáo Nhật Bản được giải thưởng Templeton vì nỗ lực xây dựng hòa đồng tôn giáo.Một vị sư người Thái Lan được giải thưởngMagsaysay vì hoạt động giúp người mắc nghiện.Năm 1987 Ðại Ðức Kantayapiwat được giải thưởng Hoà Bình Thanh Thiếu Niên của Na Uy vì nhiều năm âm thầm hoạt động giúp đỡ những thanh thiếu niên ở thôn quê.Giáo Hội Tăng Già Tây Phương bấy lâu giúp đỡ dân nghèo tại Ấn Ðộ,xây dựng trường học,ký nhi viện,phòng phát thuốc,chương trình phát triển cộng đồng v.v…Họ không có phương tiện truyền thông để quảng bá,hay họ cũng không muốn quảng bá.

- Một số quốc gia Phật Giáo lấy chùa làm trung tâm xã hội,y tế,giáo dục,phát triển cộng đồng như tại Tích Lan,Thái Lan,xem đó là hoạt động thường xuyên,quen thuộc.Một số quốc gia khác vì thiếu thốn phương tiện nên hoạt động xã hội không mấy rộng rãi.

 

224. Tại sao Phật Giáo có nhiều giáo phái?

- Có nhiều loại đường:đường đen,đường trắng,đường phèn,đường phổi nhưng chất của các loại đường đều là ngọt,được chế biến qua nhiều hình thức và được sử dụng theo nhiều kiểu khác nhau.

- Phật Giáo cũng vậy:Phật Giáo Nguyên Thỉ,Phật Giáo Thiền,Tịnh Ðộ,Mật Giáo,Kim Cang Thừa,nhưng tất cả đều là Phật Giáo,đều có một mùi vị đó là giải thoát.Phật Giáo có nhiều giáo phái là tùy theo trình độ và quốc độ,diễn giải như thế nào để dân chúng ở quốc độ đó am tường Phật lý,cho mọi thế hệ biết rõ Phật lý.Bề ngoài có nhiều hình tướng,nhưng bên trong đều xoay quanh đạo lý Tứ Ðế,Bát Chánh Ðạo.

- Tuy có nhiều giáo phái,nhưng trong lịch sử phát triển Phật Giáo,những giáo phái này không thù ghét,chém giết lẫn nhau.Trong chùa ta thấy chư Tăng thuộc nhiều giáo phái cùng nhau học đạo,cùng nhau hành trì.

 

225. Phải chăng Phật Giáo phù hợp với khoa học?

- Nhãn hiệu tôn giáo,triết học,khoa học gắn vào Phật Giáo là tùy theo nhãn quan của từng người.Trong kinh có kể câu chuyện Malunkyaputta cầu Phật cho biết về bản tính của vũ trụ,về linh hồ,về kiếp sống mai hậu và nhiều vấn đề có tính cách hình nhi thượng.Phật đem chuyện người bị bắn tên tẩm thuốc độc,hấp hối nằm trên giường bệnh,từ chối không cho bạn bè giúp đỡ chữa trị nếu không biết rõ danh tính của người bắn tên tẩm thuốc độc,người đó thuộc giai cấp nào,sinh đẻ ở đâu,diện mạo ra làm sao và những nguyên liệu làm cung,làm tên.Người ấy chắc chắn bị chết trước khi thõa mãn tò mò trí tuệ.Nhãn hiệu không cần thiết.

-Ðức Phật dạy hàng đệ tử đừng có mù quáng theo lời chỉ dẫn của bất kỳ người nào,mà phải quan sát,tìm hiểu,chiêm nghiệm-tinh thần của khoa học.Ngài nói:“ Ðừng dựa vào mặc khải, đừng dựa vào truyền thống, đừng dựa vào tin đồn, đừng dựa vào lý luận, đừng dựa vào uy tín cá nhân, đừng dựa ngay vào kinh điển mà dựa vào hiểu biết,chiêm nghiệm bản thân.”

- Albert Einstein ,nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ 20 đã nói về Phật Giáo:“Tôn giáo của thế giới tương lai sẽ là tôn giáo vũ trụ(cosmic)siêu việt Thượng Ðế nhân cách hóa,không giáo điều,không thần học,dựa vào ý nghĩa tôn giáo phát xuất từ kinh nghiệm thiên nhiên cũng như tâm linh đi vào nhất thể hòa hợp.Phật Giáo bao gồm những yếu tố này.Nếu có tôn giáo nào có thể đương đầu với những nhu cầu khoa học, đó chính là Phật Giáo.”

- Phật Pháp(Dharma)không khác chiếc bè(Yana),đưa con người từ bờ mê đến bến giác.Khi đã đến bờ giác thì phải vất chiếc bè đi chứ không mãi đeo sau lưng.Như vậy danh từ tôn giáo,triết học,khoa học có thể trọn vẹn diễn đạt Phật Giáo?

 

226. Giáo lý căn bản của Phật là gì?

- Trước khi đi vào phần giáo lý, để có thể thâm nhập giáo pháp Phật một cách trọn vẹn,người Phật tử phải trang bị tinh thần tự tín không ỷ lại,tự do không quản ngại,khoan dung không chấp trước,tin tưởng không mù quáng,tự tại không trói buộc,thực tế không viễn vông.

- Tự tín không ỷ lại.Tin vào khả năng bi,trí,dũng,không ỷ lại vào một uy lực nào khác.Chính mình mới có thể giải thoát cho mình.Phật giáo không phải là giáo lý tìm an ủi nhất thời,không dành cho những tâm hồn nô lệ,cầu cạnh thần quyền.Phật dạy:“Các Ðấng Như Lai chỉ là kẻ chỉ đường,tự mình đi đến chứ không ai có thể đi thế cho mình”(Kinh Dhammapada).“Lời dạy của Kinh như ngón tay chỉ mặt trăng.Muốn thấy mặt trăng không thể chỉ nhìn vào ngón tay.”(Kinh Viên Giác).

- Tự do không quản ngại.Người Phật tử phải tự do khai triển sự tìm tòi,chiêm nghiệm,không ngần ngại.Phật luôn luôn khuyến khích hàng đệ tử nêu ra những nghi vấn.Nếu vì quá cung kính với Phật không dám hỏi,thì nhờ người khác hỏi.Hoài nghi,chất vấn cho đến khi không còn hoài nghi nữa.

- Khoan dung không chấp trước.Câu chuyện người mù sờ voi trong kinh Udàna nói lên tinh thần này.Sau khi những người mù đã sờ voi,vua bảo họ diễn tả hình dáng con voi.Có người nói con voi giống cái nồi lớn(họ sờ đầu voi),con voi giống cái nia(họ sờ tai voi),con voi giống cây cột(họ sờ chân voi),con voi như cái chổi(họ sờ đuôi voi).Những người mù này cãi nhau,không ai nhịn ai,cho mình là đúng,người khác là sai,chấp chặt ý kiến của mình.Những người này thật sự không biết con voi như thế nào,nhưng họ kiên trì kiến chấp.Cần phải bỏ kiến chấp mới thấy được Thực Tướng của các pháp,cần phải khoan dung nếu họ chỉ thấy một phần của thức tướng.

- Trong cuốn Tìm Ðạo của Thượng Tọa Thích Thiện Châu có kể câu chuyện giữa Thiền Sư Nan-In,người Nhật Bản dưới thời Minh Trị(1868-1912)và một giáo sư triết.Giáo sư hỏi về đạo lý thiền nhưng không chịu nghe lời trình bày của thiền sư.Kết quả cuộc đàm thoại không đi đến đâu.Thiền sư mời khách dùng trà,tiếp tục rót trà tràn chén vẫn không thôi.Giáo sư la lên,chén đã đầy rồi,không chứa đựng được nữa.Thiền sư nói: Ðúng vậy chén đã đầy rồi,không còn chứa đựng thêm nước trà nữa.Muốn chứa đựng phải làm trống chén trà. Ðầu óc của chúng ta đã tràn đầy,không thể chứa đựng thêm tri kiến,dù là tri kiến thiền là phải bỏ tất cả định kiến sẵn có,thong dong trên con đường tìm hiểu,thâu nạp.

- Tin tưởng không mù quáng.Người Phật tử xây dựng đức tin sau khi đã nhận thức,chiêm nghiệm rõ ràng.Phật dạy:“Phá trừ kiến chấp là kẻ đã hiểu và đã thấy,chứ không phải việc của kẻ không hiểu và không thấy mà làm được.”(Samyutta-nikaya).Phật không bắt hàng đệ tử tin một cách mù quáng.Danh từ tiếng Pali Saddha,tiếng Phạn Sraddhà diễn đạt đức tin đã được thấy rõ, được kiểm chứng.

- Tự tại không trói buộc.Giáo phái của Phật như chiếc bè chở người qua sông.Qua sông rồi đừng để chiếc bè trói buộc.Kinh Kim Cang có câu:“Cái gọi là Phật Pháp chẳng phải là Phật Pháp,nên gọi là Phật Pháp…”Phật nói:“Từ ngày tìm được giác ngộ,cho đến khi ta sắp nhập Niết Bàn,ta chưa từng nói một lời nào!”(Kinh Niết Bàn).Ngôn ngữ, âm thanh hạn cuộc không đủ khả năng chuyên chở giáo pháp vi diệu,do đó không để bị trói buộc bởi ngôn ngữ âm thanh hạn cuộc ấy.

- Thực tế không viễn vông.Phật tử không lặn lội trong những lý luận viễn vông,Phật gọi là hý luận(luận bàn mà chơi)mà phải dốc lòng hành trì sau khi biết rõ lợi ích của nó.

Giờ đây ta trở lại câu hỏi trên:Giáo lý căn bản của Phật là gì?

- Ðạo lý Trung Ðạo.Trong bài kinh đầu tiên,Kinh Chuyển Pháp Luân(Dhamma Cakkapavattana Sutta),kinh Khai Ðạo(chỉ đường)do Phật thuyết giảng cho 5 ông Kiều Trần Như tại Vườn Lộc Uyển,hai tháng sau khi Phật thành đạo,Phật dạy:“Có hai thái cực mà người tu đạo nên tránh:một là lao mình vào khoái lạc,nhục dục,hai là hành hạ thân xác cho hao mòn.Cả hai con đường đều đưa đến sự phá sản của thân tâm.Con đường mà tôi tìm ra là con đưòng trung đạo tránh được hai thái cực ấy và có thể đem đến trí tuệ giải thoát và an lạc…”

- Lời dạy có vẻ giản dị,trực tiếp nhưng rồi thiên kinh vạn quyển vẫn không nói lên đầy đủ ý nghĩa của đạo lý Trung Ðạo.Trung đạo trong tri kiến,trong tư duy,trong lời nói,trong nếp sống,trong quán tưởng.Làm sao trung đạo trong tri kiến.Cái nhìn của chúng ta bị điều kiện hóa bởi học vấn,truyền thống,văn hóa,phong tục tập quán.Làm sao có thể hiểu thấy sự thật,thâm nhập đạo lý Trung Ðạo.45 năm thuyết pháp của Phật cốt đi sâu vào vấn đề này,đi sâu từ câu nói giản dị và trực tiếp cho 5 ông Kiều Trần Như,những người đã nhiều năm thụ hưởng đời sống vất chất lúc còn tại gia,những người đã nhiều năm tu khổ hạnh đời đạo sĩ.Họ là nhân tuyển thích hợp cho bài giảng khai đạo này.

- Chân lý tuy là một,nhưng phương tiện để đạt được chân lý thì có nhiều. Ðừng lấy phương tiện làm chân lý và cũng đừng bỏ phương tiện đi đến chân lý. Ðức Phật xem giáo lý của Ngài như ngón tay chỉ mặt trăng,như chiếc bè đưa người qua sông chính là ý nghĩa này và câu nói bất hủ của ngài “Chánh pháp còn phải bỏ,huống là phi pháp”(Mn.I. 134)biểu lộ một cách trọn vẹn ý nghĩa trung đạo.

- Lời Phật dạy vì vậy tùy theo hoàn cảnh,theo trình độ,theo căn cơ,đem áp dụng vào đời sống trên đường đến giải thoát.Danh từ nhà Phật gọi là khế lý khế cơ.

 

227. Trung đạo phải chăng là sự chiết trung giữa khổ và vui, giữa trái và phải, giữa thiện và ác? Một đạo lý hàng hai?

- Nếp sống bình dị,không xa hoa,sa đọa,không bủn xỉn,keo kiệt,không ép xác,hại thân không phải là nếp sống hàng hai,mà là nếp sống an lạc.

- Mọi sự vật trong trời đất đều phải trải qua bốn thời kỳ biến đổi:thành(giai đọan hoàn thành),trụ(giai đọa hiện hữu),hoại(giai đọan tàn lụn),không(giai đoạn chấm dứt).Nhưng chấm dứt không phải hết.Sống để mà chết,chết để mà sống.Các tế bào của cơ thể con người luôn luôn sống chết,biến đổi không ngừng,chết đi sống lại có tới 6,400,099,980 lần.Như thế chết không phải là hết.Trong tử có sinh,trong sinh có tử, đó là đạo lý Trung Ðạo.

- Trong kinh có câu:Muội vũ trụ chi chân lý,vị chi mê,minh vũ trụ chi chân lý,vị chi ngộ.”(Không rõ cái lý thật của vũ trụ gọi là Mê.Rõ được cái lý thật của vũ trụ gọi là Tỉnh),đó là đạo lý Trung Ðạo.

- Trong kinh điển nhà Phật lấy câu chuyện chiếc giây thừng và con rắn để làm thí dụ.Trong bóng tối,ta thấy một chiếc giây thừng,tưởng đó là con rắn.Nhưng khi có ánh sáng ảo giác giây thừng là con rắn biến mất.Không có con rắn thực,nhưng có sợi giây thừng.Bảo giây thừng là con rắn là sai,nhưng nói không có gì cả cũng sai vì có giây thừng.Ðó là ý nghĩa sắc mà không,không mà sắc.Ðó là đạo lý Trung Ðạo.

 

228. Trong Kinh Chuyển Pháp Luân sau khi Đức Phật nói về Trung Đạo, Ngài thuyết giảng thêm đạo lý gì?

- Ngài nói về Bát Chánh Ðạo,nguyên văn trong kinh như sau:“Này các Tỳ Kheo,thế nào là Trung Ðạo do Như Lai Chánh Giác chứng ngộ,phát sinh sự thấy,sự hiểu, đưa đến an tịnh,thắng trí,niết bàn?Ðó là Tám Con Ðường Chánh: 1/Chánh Tri Kiến. 2/Chánh Tư Duy. 3/Chánh Ngữ. 4/Chánh Nghiệp. 5/Chánh Mạng. 6/Chánh Tinh Tấn. 7/Chánh Niệm. 8/Chánh Ðịnh.”

- Ðể dễ hiểu ta có thể diễn dịch như sau:Con đường Chánh Ðạo là con đường Bát Chánh:nhận thức chân chánh,tư duy chân chánh,ngôn ngữ chân chánh,hành động chân chánh,sinh kế chân chánh,chuyên cần chân chánh,niệm lực chân chánh và định lực chân chánh.

- Phật đã đi theo con đường bát chánh đó và đã thực hiện được trí tuệ,giải thoát và an lạc.

 

229. Tại sao con đường này gọi là chánh đạo?

- Vì con đường này không lẫn tránh khó khăn đau khổ mà trực tiếp đối diện với khổ đau,nói rõ thực trạng của khổ đau,hiểu rõ nguyên nhân của khổ đau và tìm con đường diệt trừ khổ đau.

- Vì đây là con đường giác ngộ,con đường tỉnh thức.

 

230. Trong Kinh Chuyển Pháp Luân có nói thêm về đạo lý gì nữa?

- Ngài nói Ðạo Lý Tứ Diệu Ðế(Bốn Sự Thật Nhiệm Mầu,hay Bốn Chân Lý Cao Thượng),đó là 1/Khổ đế. 2/Tập đế. 3/Diệt đế. 4/Ðạo đế.Nguyên văn trong kinh như sau:

- “Này các Tỳ Kheo,đây là sự thật về khổ(Khổ Ðế):sinh là khổ,già là khổ,bệnh là khổ,chết là khổ,sầu bi, ưu não là khổ,oán thù tụ hội là khổ,thương yêu ly biệt là khổ,mong cầu không được là khổ,tham đắm vào thân năm uẩn là khổ.

- “Này các Tỳ Kheo,đây là sự thật về nguyên nhân của Khổ(Tập đế),đó là ái dục dẫn đến tái sinh.Do ái cấu kết với hỷ và tham,tìm kiếm thú vui nơi này chỗ khác,tức là ái dục,ái hữu và phi ái hữu.

- “Này các Tỳ Kheo,đây là sự thật về diệt khổ(Diệt Ðế):đoạn diệt tham ái,xả bỏ,giải thoát,không còn chấp trước dục ái.”

- “Này các Tỳ Kheo,đây là sự thật về con đường diệt khổ(Ðạo Ðế):đó chính là Bát Chánh Ðạo.”

-Bốn sự thật ấy nói lên thực trạng khổ đau của kiếp người,nguyên nhân sinh ra đau khổ,trạng thái an lạc sau khi đã diệt trừ khổ đau và lộ trình mầu nhiệm hướng đến giải thoát.Giáo lý về Bốn Sự Thật(Tứ Ðế)này là giáo lý nhiệm mầu(Diệu)nên gọi là Tứ Diệu Ðế:Bốn Sự Thật Nhiệm Mầu hay Bốn Chân Lý Cao Thượng.

Phật giảng giải đạo lý Tứ Diệu Ðế bằng ba phương thức,danh từ chuyên môn của Phật Giáo gọi là Tam Chuyển và Mười Hai Tướng.Ba Chuyển là Thị Chuyển,Khuyến Chuyển,Chứng Chuyển.Mười Hai Tướng là dùng Tam Chuyển áp dụng cho mỗi sự thật(3 Chuyển x 4 Ðế = 12 Tướng).

- Thị Chuyển:Chỉ bày,cắt nghĩa Tứ Diệu Ðế.

- Khuyến Chuyển:Khuyến khích tìm hiểu,chiêm nghiệm,chứ không phải nghe suông.

- Chứng Chuyển:Chứng minh bằng kinh nghiệm của Phật đã trải qua và kinh nghiệm bản thân mình.

Ðạo lý Tứ Diệu Ðế qua Ba Chuyển nói lên không những nhận thức thực tại mà còn giai trình biện chứng qua kinh nghiệm bản thân của Phật,qua tương quan nhân quả,qua thăng chứng nội tại.Nói một cách khác qua diễn trình nhận thức thực tại(Khổ Ðế) đến chuyển hướng tư duy(Tập Ðế),đến kết quả hành trình(Diệt Ðế),đến giai trình thực hiện(Ðạo Ðế).

 

231. Đạo Phật nói đời là khổ, như vậy xem cuộc đời có vẻ bi quan lắm sao?

- Nói đời là khổ là diễn đạt thực tại của cuộc sống. Ðiều đó không phủ nhận trong cuộc sống của con người cũng có những phút sung sướng,hạnh phúc.

- Hơn nữa sau khi trình bày hiện thực của cuộc sống,Phật Giáo không bi quan mà còn đưa ra con đường diệt trừ đau khổ,chứng đắc giải thoát,một hạnh phúc vĩnh cửu,thái độ lạc quan,thực tiễn.

 

232. Đạo Phật chủ trương diệt dục, cho đó là nguyên nhân của khổ đau. Nhưng nếu không có dục lấy đâu có động cơ tiến thủ, xã hội như vậy sẽ mãi mãi trong tình trạng hoang sơ?

- Ý nghĩa diệt dục của Phật Giáo không phải như vậy.Ðức Phật dạy nếu cuộc sống chỉ dựa vào lòng ham muốn tiếp tục không bao giời dừng nghỉ thì chỉ gây khổ đau,vì không làm sao thỏa mãn được.

- Ngài dạy phải phân biệt chúng ta cần gì,chúng ta muốn gì rồi cố gắng đạt cho được điều chúng ta cần mà thay đổi điều chúng ta muốn. Ðiều ta cần có thể thỏa mãn,nhưng điều ta muốn thì thật vô cùng tận.

- Mục đích của cuộc sống là gì?Phải chăng là hạnh phúc,an lạc?Hạnh phúc an lạc có thể đạt được không nếu chúng ta chỉ muốn và muốn?

- Một trong sáu hạnh Ba La Mật là Tinh Tiến Ba La Mật. Ý chí hướng thượng,tinh tấn,dũng mãnh là động cơ đưa ta đến bờ giác.Yêu Niết Bàn và yêu trần thế đều là yêu,đều là lòng mong cầu,nhưng nội dung yêu và mong cầu khác nhau.

 

233. Trong đạo lý Tứ Đế, Phật đề cập đến cảnh giới Niết Bàn thanh tịnh, nơi mọi ham muốn không còn nữa. Vậy Niết Bàn là gì? Nằm ở đâu?

- Nếu chúng ta chưa có dịp thử mùi vị của kẹo chocolate,thì dầu có diễn tả một cách tài tình,chúng ta cũng chỉ mập mờ biết vậy mà thôi.Niết Bàn cũng vậy,không thể dùng văn tự diễn tả,nhất là văn tự hạn hẹp của con người.Chúng ta chỉ dựa vào lời Phật,vị đã giác ngộ,đã chứng đạt Niết Bàn cho chúng ta hay:“Ở đây không sinh,không nằm trong quá trình hiện hữu,không tạo dựng,không tổng thể phát hiện,vượt ngoài hiện tượng sinh,thành hình,tạo dựng,hợp thể.”(UD 80).

- Niết Bàn chữ Pali là Nibbana,chữ Phạn Nirvana,có nghĩa là vắng lặng,tuyệt diệu,không còn vọng động,trạng thái giải thoát.

- Tiểu Thừa Phật Giáo chia Niết Bàn thành hai loại tương đối và tuyệt đối.Khi tu định,thâm nhập cảnh giới Niết Bàn,có tính cách nhất thời,tương đối,khi viên tịch vào cảnh giới Niết Bàn vĩnh viễn và tuyệt đối.

- Ðại Thừa Phật Giáo không chối bỏ hiện hữu,không chối bỏ cảnh Niết Bàn trong thiền định mà chấp nhận hiện hữu để giải thoát hiện hữu.Như vậy không đợi kiếp sau, đợi khi viên tịch mới chứng quả Niết Bàn.Niết Bàn trong hiện thế.Nói một cách khác cái ngộ nằm trong cái mê,bồ đề nằm trong phiền não.Phật pháp bất ly thế gian pháp.

- Một người nọ,mùa đông giá lạnh sắp đến,hỏi vị thiền sư làm sao tránh được cảnh mùa đông lạnh giá.Thiền sư trả lời: Ðông đến anh cứ run đi,hạ đến anh cứ để cho mồ hôi toát đầy mình đi.Ðó là cảnh giới Niết Bàn!

 

234. Ngoài đạo lý Trun g Đạo, Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế, Đức Phật có dạy thêm đạo lý nào nữa không?

- Trong bài kinh giảng về Tứ Diệu Ðế,khi giải thích về nguyên nhân của sự khổ đau,Phật đề cập đến đạo lý Duyên Khởi,thuyết Thập Nhị Nhân Duyên.Kinh văn chép:“Này các Tỳ Kheo,thế nào là chân lý cao thượng về nguyên nhân của khổ?Duyên vô minh có hành,duyên hành có thức,duyên thức có danh sắc,duyên danh sắc có sáu xứ,duyên sáu xứ có xúc,duyên xúc có thọ,duyên thọ có ái,duyên ái có thủ,duyên thủ có hữu,duyên hữu có sinh,duyên sinh có lão,tử,sầu bi, ưu não.”

- Ðức Phật gọi nguyên nhân là nhân(hetu),là tập(samudaya),là duyên(paccaya),là điều kiện(nidàya)tùy theo trường hợp,tùy góc độ nhận thức.Về sau các nhà Phật học thường gọi nhân là chủ yếu và gọi duyên là những nguyên nhân thứ yếu.Thực ra chủ yếu,thứ yếu đều dựa vào vị trí quan sát mà thôi,vì trong mối liên hệ chằng chịt của các hiện tượng,cái này nhận cái kia là nhân hay là duyên,chính nó cũng là nhân,là duyên cho những yếu tố khác.

- Ðạo lý Duyên Khởi(Paticcasamuppada)là thuyết nhân sinh quan của Phật Giáo.Mọi sinh vật đều do duyên(paccaya)hay do điều kiện, ảnh hưởng(nidàna),hay do nguyên nhân(hetu),hoặc do yếu tố tích lũy(samudaya)dựa vào nhau mà có.Kinh Tương Ưng nói:“Các pháp do nhân duyên sinh.Dù Chư Như Lai có xuất hiện hay không,chân lý này vẫn hiện hữu,dựa vào nó mà các pháp hiện hữu,nó quyết định sự hiện hữu của các pháp,các pháp đều dựa vào duyên tính của nó.”

- Ngũ Phần Luật nói:“Các pháp đều do nhân duyên mà có,cũng do nhân duyên mà diệt. Ðức Phật,vị Ðại sa Môn,thường dạy như vậy.”

- Cái vận hành sinh diệt máy móc của sự vật được tóm tắt bằng câu:“Do cái này có mặt,cái kia có mặt.Do cái này sinh cái kia.”Do duyên vô minh mà có hành;do duyên hành mà có thức…Sự vận chuyển,sinh thành,hủy diệt không diễn tiến trên một đuờng thẳng mà theo một vòng tròn,vì tất cả đều là tương đối,thời gian,không gian đều tương đối.Quá khứ,hiện tại,vị lai đều là tương đối,chằng chịt vào nhau.Hai câu tục ngữ Việt Nam nói lên tinh thần đạo lý duyên khởi:

                     Có cây thì có dây leo

                 Có cột có kèo thì có đòn tay.

 

235. Xin giải thích thêm cho những từ ngữ như vô minh, hành, v.v…

- Vô Minh(Avijja,Ignorance)là trạng thái tâm thức đối lập với giác ngộ,là nhân tố quyết định thân phận khổ đau của con người ở cõi Dục,Sắc và Vô Sắc(Tam Giới).Vô Minh trong Phật Giáo Nguyên Thỉ là nguyên nhân của ngã kiến,về cái Ta,chấp về cái Ta nhỏ nhoi,nỗ lực duy trì nó làm cho nó tiếp tục mãi mãi,quanh quẩn trong luân hồi sinh tử.

- Kinh Tương Ưng II,phẩm Nhân Duyên, đức Phật dạy:“Này các Tỳ Kheo,thế nào là vô minh?Là không biết rõ về khổ,không biết rõ về khổ tập,không biết rõ về khổ diệt,không biết rõ con đường đi đến khổ diệt.”Nói một cách khác không thâm nhập Tứ Diệu Ðế.

- Hành(Sankhara,Mental formations)là sửa sọan,sắp đặt,hình thành,quá trình hình thành,kết quả hình thành,hành động,sự vận hành,sự tập hợp,sự gồm thành.Nói tóm lại Hành là các cấu trúc tâm lý thông qua thân,khẩu, ý.Kinh Tương Ưng III,Kinh Ðại Duyên,Trường Bộ III,Kinh Saccaka Tiểu Kinh,Kinh số 35,Trung Bộ Kinh I và Kinh Hữu Minh Tiểu Kinh,Kinh số 64,Trung Bộ Kinh I có ghi:“Này các Tỳ Kheo,thế nào là sự vận chuyển của Hành?Có ba hành là thân hành,khẩu hành và ý hành.”Hành là sự chuyển biến của thân,khẩu, ý nghiệp.Hành là ý chí muốn sống(Will zum leben)theo triết gia Schopenhauer.

- Thức(Vinnàna,Consciousness)là sự ghi nhận sự vật,là tri giác.Kinh Tương Ưng III giải thích:“Này các Tỳ Kheo,thế nào gọi là Thức?Rõ biết gọi là Thức,rõ biết gì?Rõ biết chua,đắng,cay,ngọt,mặn,lạt…”

- Nói đến thức là bao gồm cả chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức,là tâm và Cảnh.Theo từ ngữ tâm lý học(Psychology)hay tâm thái học(Behaviorism),Thức là năng lực tiềm ẩn của mọi trạng thái và thái độ tâm lý khi gặp đối tượng kích thích.

- Danh Sắc(Nàma-rùpa,Corporealty and mentality):con người gồm yếu tố tâm lý(Danh)và vật lý(Sắc).Kinh Tương Ưng II nói:“Này các Tỳ Kheo,thế nào là Danh Sắc?Thọ,tưởng,tư,xúc,giác, tác ý gọi là Danh.Tứ Ðại và Sắc do Tứ Ðại tạo ra gọi là Sắc.”Danh Sắc như vậy gồm quá trình đi đến Thức(xúc,tác ý,thọ,tưởng,tư).Danh Sắc là cỗ máy hoạt động,nhưng sự vận hành của nó thì cần đến nhiên liệu,nhiên liệu ấy là thức.Ta hãy chiêm nghiệm lời dạy trong Kinh Ðại Duyên,thuộc Trường Bộ Kinh:“Này A Nan,nếu Thức đi vào trong bụng mẹ rồi bị tiêu diệt,thì Danh Sắc có thể thành hình được không?”A Nan trả lời:“Bạch Thế Tôn,không.” Ở đây đề cập đến sự thọ thai.Danh Sắc ở đây là sự quy tụ của noãn và tinh trùng mẹ cha,chưa trở thành hữu thể nếu không có thức.Yếu tố vật lý chưa đủ để tạo thành con người mà cần có yếu tố tâm lý.

- Lục Nhập(Salayàtana,Six Bases),sự tương nhập của sáu căn(hay sáu xứ,sáu điểm tựa:mắt,tai,mũi,lưỡi,thân, ý),với sáu trần(sáu đối tượng:hình thể,âm thanh,mùi thơm,mùi vị,sự đụng chạm, ý niệm(pháp)).Nói một cách khác,Lục Nhập là sáu ngõ tiếp nhận các đối tượng của nhận thức.

- Xúc(Phassa,Impression)là sự tiếp xúc của các cơ quan cảm giác với đối tượng.Xúc là sự gặp gỡ của thức(chủ thể nhận thức),căn(cơ quan nhận thức) và trần(đối tượng nhận thức).Kinh Trường A Hàm ghi chép lời Phật hỏi A Nan:“Này A Nan,giả sử không có nhãn căn,không có sắc trần,không có nhãn thức thì liệu có Xúc không?A Nan thưa: “Bạch Ðức Thế Tôn,không.”Như vậy Xúc không những là sự gặp gỡ của 18 giới(6 căn+6 trân+6 thức)mà còn là kết quả của sự gặp gỡ đó.

- Thọ(Vedana,Feelings):cảm xúc khi chủ thể tiếp xúc với đối tượng.Trạng thái tâm ký hay thái độ tâm lý theo nghĩa tâm lý học ngày nay.Tương Ưng Bộ Kinh II cắt nghĩa:“Này các Tỳ Kheo,thế nào gọi là Thọ?Là cảm xúc do mắt,tai,mũi,lưỡi,thân, ý tiếp xúc với các đối tượng phát sinh.”

- Có 3 loại cảm thọ:Lạc thọ,khổ thọ,bất khổ bất lạc thọ.Cảm xúc buồn khổ,vui thích,không khổ,không vui).

- Ái(Tanha,Craving):sự luyến ái,ham thích.Tăng Ưng Bộ Kinh II giải thích:“Này các Tỳ Kheo,thế nào là Ái?Là ái sắc,thanh,hương,vị,xúc,pháp.” Ái là ý chí sống, động lực mạnh nhất đẩy chúng sinh vào sinh tử,luân hồi.

- Thủ(Upàdàna,Grasping,Clining,Fastening to life):Nắm giữ,bám chặt,ràng buộc vào.Trong kinh đề cập đến bốn loại thủ(nắm giữ những gì ưa thích),Kiến Thủ(chấp chặt quan điểm của mình),Giới Cấm Thủ(giữ chặt các giới điều sai lạc,tà đạo),Ngã Luận Thủ(duy trì quan điểm về tự ngã,bám vào Ngũ Uẩn xem là của mình mà không biết Ngũ Uẩn là hợp thể không thường hằng.

- Hữu(Bhava,Process of Becoming):tiến trình tương duyên để hình thành hiện hữu.Hữu còn có nghĩa là nơi,chốn,cảnh giới,như trong Kinh Pháp Hoa gọi Tam Hữu(Dục,Sắc,Vô Sắc)là tam giới hỏa trạch(ba cõi như ngôi nhà lửa),chúng sinh trong Tam Giới bị lửa dục thiêu đốt,bị hữu vi,vô thường chi phối.

- Sinh(Jàti,Birth,Rebirth,Becoming):ra đời,xuất hiện,sự thành tựu của vật lý,tâm lý và khả năng sống, ý chí muốn sống.

- Lão tử(Jati-marana,Old Age and Death,Decay and Death):Già nua và chết(tan rã).Với Phật Giáo,chết không phải là hết,mà chỉ là sự tháo rời các nhân duyên đã tạo ra ngũ uẩn.Nhân duyên khi tháo rời gọi là chết mà không phải mất đi.Các nhân duyên ấy vẫn còn và đi vào giòng sống khác,nếu vô minh,tham đắm,muốn sống v.v…thì quay trở lại vòng tròn Thập Nhị Nhân Duyên.

- Khi các duyên hợp lại thì tạo ra hiện hữu mới.Hiện hữu này không phải là hiện hữu cũ,nhưng cũng không phải khác với hiện hữu cũ.Hiện tượng này được Phật thuyết giảng trong đạo lý Nhân Quả,Nghiệp Báo,Luân Hồi.

- Mười Hai Nhân Duyên,nói tóm lại là hiện hữu của con người,cũng là tiến trình hiện hữu của con người.

 

236. Danh từ Phật học làm em choáng váng. Về thân người có khi gọi là Thân Tứ Đại, có khi gọi là Thân Ngũ Uẩn, có khi gọi là Thân Lục Giới là nghĩa như thế nào?

- Trong thời Ðức Phật các triết gia, đạo sĩ Ấn Ðộ đã đưa ra học thuyết Tứ Ðại,bốn yếu tố tạo thành con người: 1/Ðịa(Ðất),chất cứng. 2/Thủy(Nước),chất lỏng. 3/Hỏa(Lửa),sức nóng. 4/Phong(Gió)sức vận hành.

- Ðức Phật sử dụng quan điểmTứ Ðại xem như yếu tố vật chất(Sắc).Nhưng con người không phải chỉ do vật chất tạo thành,con người là tổng hợp của: 1/Sắc(Rùpa)vật chất,hình tướng. 2/Thọ(Vedana),cảm thọ,cảm giác,tình cảm. 3/Tưởng(Sanna)ghi nhớ,tưởng nhớ,nhận biết. 4/Hành(Sankhara) ý chí,vận hành,hành động. 5/Thức(Vinnàna)sự nhận thức,biết.Con người gồm 5 tổng thể,gọi là Ngũ Uẩn(Ngũ:Năm,Uẩn:tích tập,tổng hợp).Nếu chỉ cho cái thân vật chất,đó là thân Tứ Ðại.Nếu nói con người trọn vẹn thì dùng danh từ Ngũ Uẩn.

- Lục Giới gồm:địa,thủy,hỏa,phong,không và thức.Ðịa,thủy,hỏa,phong,không khác Tứ Ðại,thức không khác yếu tố thứ năm của Ngũ Uẩn. Ở đây chỉ thêm một yếu tố nữa là không(không khí,hư không)yếu tố quan trọng của không gian,của sự cách biệt giữa các vật thể.

 

237. Xin cho biết thêm về giáo lý Ngũ Uẩn.

- Ngũ Uẩn là 5 yếu tố tập hợp lại tạo thành hiện tượng,tạo thành con người.Năm yếu tố ấy là sắc,Thọ,Tưởng.Hành và Thức.

- Ðức Phật phân tích hiện tượng quy ước gọi là con người chỉ là sự tổng hợp của Danh và Sắc(Nama,Name và Rupa,Form).

- Danh ở đây là bốn hoạt động tâm linh cộng với xác thân,gọi là Ngũ Uẩn,tổng hợp lại tạo thành con người.Khi thân xác và bốn hoạt động tâm linh tách rời nhau,thì con người ấy không còn tồn tại.Năm Uẩn tan rã không có nghĩa là dòng đời chấm dứt,chúng(Ngũ Uẩn)lại tái xuất hiện trong một tổng thể khác,theo mức độ nặng nhẹ của nghiệp lực.

 

238. Quan điểm của các học phái Ấn Độ lúc Phật còn tại thế khác với đạo lý Thập Nhị Nhân Duyên như thế nào?

- Lúc Phật còn tại thế, ở Ấn Ðộ có 62 phái,hay 62 học thuyết,trong đó có ba học phái quan trọng chủ trương: 1/Tất cả khổ vui đều do túc nghiệp(Pubba-katu-hetu),mang tính chất định mệnh. 2/Do Ðấng Tạo Hóa(Issaranimàna)sáng tạo,mang tín ngưỡng về quyền năng của thần linh. 3/Sự vật hiện hữu ngẫu nhiên mà thành,mang tính cách thiên nhiên.

- Những học thuyết này không những trên phương diện hiện tượng luận không thuyết phục mà trên phương diện đạo đức học thì rất nguy hiểm,vì nếu là định mệnh thì mọi cố gắng tiến thủ của con người đều không có ý nghĩa;nếu do Ðấng Tạo Hóa,thì cuộc sống hoàn toàn ỷ lại vào thần linh, ý chí của con người hoàn toàn vô nghĩa;nếu do thiên nhiên,thì hành động đạo đức không có ý nghĩa gì trong cuộc sống.

 

239. Như vậy người Phật Tử không tin có đấng Tạo Hóa?

- Không.Có nhiều lý do.Các nhà xã hội học,tâm lý học hiện đại cho rằng những tư tưởng tôn giáo liên quan đến thần linh,nhất là quan điểm về Ðấng Tạo Hóa phát xuất từ sự sợ hãi trước vũ trụ bao la,trước những thiên tai,sấm sét ngoài sự kiểm soát của con người.Phật dạy:“Con người vì quá sợ hãi đã tìm đến những ngọn núi,những hang động,những cây cổ thụ,những am điện cho là thiêng liêng để cầu nguyện nhờ thần linh phò trợ.”(Dp 188).

- Con người thời thượng cổ,trước vũ trụ bao la rùng rợn,rồi thú dữ bao quanh,rồi bệnh tật,không có đầy đủ thức ăn,rồi sấm sét,núi lửa,bão,lụt.Sống trong tình trạng bất an.Họ phải bám vào cái gì để được thỏa đáng khi sung túc,được can đảm khi nguy khốn, được an ủi khi bất an?Ngay hiện đại ta thấy con người trở nên thuần kính hơn khi gặp tai họa,họ nói tin tưởng ở Ðấng Tối Cao cho họ sức mạnh đối phó với đời.Họ nói nhờ cầu nguyện Ðấng Bề Trên mà họ được an bình.Những điều này chứng minh lời dạy của Phật là con người tạo ra Ðấng Bề Trên để đối phó với sự sợ hãi,sự hoang mang. Ðức Phật khuyên ta phải tìm hiểu cội nguồn sợ hãi,rồi can đảm,bình thản đối phó;thay thế sự sợ hãi không bằng lòng tin mù quáng mà bằng trí tuệ hiểu biết sự thật.

- Lý do thứ hai Phật Tử không tin vào Ðấng Tối Cao vì không có bằng chứng cụ thể nào để chứng minh quan điểm này.Ngoài ra nhiều tôn giáo cho chỉ có Ðức Tối Cao của mình mới thật còn những Ðấng Tối Cao khác là ngụy tạo, để rồi gây ra không biết bao nhiêu tai họa.Người Phật Tử không vướng vào những tranh chấp ấy.Người Phật Tử dành sự phán đoán của mình khi được chứng minh cụ thể.

- Lý do thứ ba Phật Tử không tin vào Ðấng Tối Cao,Chúa Tể của muôn loài,vì cho lòng tin ấy không cần thiết.Có người cho rằng nếu không có Ðấng Tối Cao thì làm sao có thế giới này.Khoa học cho ta thấy rõ sự hiện hữu của vũ trụ không cần phải có quan niệm Ðấng Tạo Hóa.Có người cho rằng tin tưởng ở Ðấng Tối Cao làm cho đời thêm ý nghĩa và hạnh phúc. Ðiều này lại càng không đúng vì Phật Tử và những người không tin vào Ðấng Tạo Hóa vẫn có cuộc đời hạnh phúc và đầy ý nghĩa.Có người cho rằng tin ở quyền năng của Ðấng Tạo Hóa giúp cho người có thể đương đầu với mọi oan trái,bi lụy.Lòng tin này có thể có khả năng làm thuốc dán ngoài da nhưng không làm sao tận trừ được mọi bi lụy của cuộc sống.Có người cho rằng nhờ Ðấng Tạo Hóa mà con người được cứu rỗi.Phật dạy muốn được cứu rỗi phải do chính mình.Con người có đầy đủ khả năng tạo dựng số phận cho chính họ.

 

240. Nếu không có đấng Tạo Hóa thì thế giới, vũ trụ, con người, vạn vật từ đâu mà có?

- Nhiều tôn giáo,tín ngưỡng dùng thần thoại để trả lời nhan đề này.Người Việt Nam cho rằng mình là Con Rồng Cháu Tiên.Người Tây Tạng tin tổ tiên của họ là con khỉ v.v…Vào thế kỷ thứ 20 vật lý học,thiên văn học, địa chất học đã thay thế thần thoại bằng dự kiện khoa học.

 

241. Đức Phật giải thích sự hiện hữu của vũ trụ như thế nào?

- Cách giải thích của Phật mà gần đây khoa học càng ngày càng thấy gần gũi.Trong Kinh Aganna Sutta đức Phật nói sự thành hình của vũ trụ biến chuyển qua muôn ngàn yếu tố chằng chịt,qua hàng triệu triệu năm.Mạng sống của sinh vật thành hình trên mặt nước và qua hàng triệu năm trở thành sinh tố phức tạp.Trong diễn trình tiến hóa thật là vô thỉ,vô chung như được trình bày ở thuyết Thập Nhị Nhân Duyên ở trên.

 

242. Không có dấu hiệu của Đáng Tạo Hóa, vậy thì những phép lạ xuất hiện phải giải thích ra làm sao?

- Nhiều người cho rằng phép lạ là bằng chứng nói lên sự hiện hữu của Ðấng Tối Cao.

- Hàng tuần vào sáng chủ nhật,chúng ta thấy trên đài TV nói về phép lạ trị bệnh nhưng không bao giờ thấy khảo nghiệm độc lập về y khoa.Chúng ta nghe tin đồn về những hiện tượng cứu rỗi,nhưng không thấy tường thuật trực tiếp mắt thấy tai nghe.Chúng ta cũng nghe nhiều về phép lạ chữa chân què,thân còm nhưng không thấy bằng chứng chụp quang tuyến của bác sĩ.

- Tin đồn,báo cáo gián tiếp không thể thay thế bằng chứng thật sự.Tuy nhiên cũng có những chuyện khó giải thích xảy ra nhưng vì khả năng chúng ta còn kém nên chưa giải thích được,điều đó không có nghĩa đó là bằng chứng hiện hữu của Ðấng Tối Cao.

- Ở Việt Nam trước đây có người bị đứng tim chết,ta thường nói bị trúng gió, đau đầu sổ mũi vì ma quỷ trù yểm.Không rõ nguyên nhân,chưa có khả năng giải thích không có nghĩa là có quỷ thần trù yểm,có gió làm đứng tim.

 

243. Trên thế giới có rất nhiều người tin ở Đáng Bề Trên như vậy chắc chắn phải có Đấng Bề Trên ở hình tướng này hay hình tướng khác?

- Không phải như vậy.Có một độ hầu hết người ta tin quả đất là dẹp,như vậy không có nghĩa là quả đất dẹp.

 

244. Nếu Phật Tử không tin ở đấng Tạo Hóa thì họ tin gì?

- Chúng ta không tin ở Ðấng Tạo Hóa vì chúng ta tin ở người,con người quý giá,có khả năng phát triển thành Phật-một con người trọn vẹn.

- Chúng ta tin tưởng con người có thể vượt qua những ngu muội,phi lý để có thể nhìn được chân tướng của sự vật.

- Chúng ta tin rằng hận thù,ganh ghét,sân hận có thể được thay thế bằng từ bi,khoan dung,độ lượng.

- Chúng ta tin tưởng những đức tính này con người có thể đạt được nếu ra công tập luyện,được sự yểm trợ của người đồng đạo,được sự hướng dẫn của Chánh Pháp, được cảm hóa qua đời sống gương mẫu của Phật. Ðức Thế Tôn nói:“Không ai có thể cứu ta chỉ có ta tự cứu ta.Chúng ta là kẻ đi trên con đường giải thoát,đức Phật chỉ là kẻ chỉ đường.”

 

245. Nếu không có Đấng Bề Trên thì làm sao ta biết được điều gì là thiện, điều gì là ác? Ai là quan tòa xét cho hoạt động gọi là thiện, ác?

- Trong lịch sử ta thấy nhiều tội phạm đã xảy ra nhân danh tôn giáo.Ngay bây giờ cũng vậy,nhiều phần tử cực đoan dùng chiêu bài tôn giáo cổ võ,thúc đẩy dân làm nhiều điều tàn ác,gây hận thù,chia rẽ,bạo động.Chủ nghĩa tôn thờ cá nhân cũng mang lại nhiều thảm họa.Nhân loại sẽ được an bình hơn nếu không có những quan điểm cực đoan này.

 

246. Người ta lợi dụng tôn giáo chứ tôn giáo có bảo họ làm như vậy đâu?

- Ðúng vậy.Ngày xưa các ông vua cho mình là con trời(Thiên Tử),vâng mệnh trời(Thiên Mệnh)muốn làm gì thì làm.Trời ở đâu mà có người con như vậy và trời ở đâu để ra lệnh như vậy?

- Con người có khuynh hướng hợp lý hóa tham vọng của họ,rồi đồng nghĩa tham vọng với ý trời.

 

247. Làm sao em biết phải theo tôn giáo nào hay bậc thầy nào?

- Em nên lắng nghe lời Phật trao đổi với Kalamas về vấn đề này,Phật dạy:“Nếu chưa dứt khoát phải theo đạo nào,cần phải do dự,có quyền để do dự, đừng vì truyền thống,lời đồn mà tin theo;đừng vì kinh sách chưa được kiểm chứng mà tin theo; đừng vì người ta tin theo mà mình tin theo;đừng vì ý kiến của người chuyên môn mà tin theo;đừng vì sự kính trọng về vị nào đó rồi tin theo,mà cần phải tìm hiểu,chiêm nghiệm,gạn lọc,rồi mới tin theo.”

 

248. Như vậy quá khó. Em nhỏ, chưa có kinh nghiệm, học vấn tháp kém, làm sao quan sát, kiểm chứng, gạn lọc?

- Nếu vậy em nghe câu kinh sau đây: Ðừng làm những điều ác,hại mình,hại người(Chư ác mạc tác).Làm các điều lành,lợi mình,lợi người(Chúng thiện phụng hành).Thanh tịnh hóa,làm trong sạch ý tưởng,tâm trí của mình(Tự tịnh kỳ ý).

- Theo Phật Giáo,hành động ác phát xuất từ tham,sân,si, ích kỷ,hại mình,hại người.Hành động thiện phát xuất từ lòng từ bi,thương mình,thương người,khoan dung,hòa nhã.Luôn luôn kiểm điểm tâm trí mình,không dối mình,dối người,đi theo đường thiện,đường chánh.

- “Chư ác mạc tác,chúng thiện phụng hành,tự tịnh kỳ ý”là Phật Giáo,là châm ngôn cho cuộc sống.

 

249. Ở trên có đề cập đến đạo lý Thập Nhị Nhân Duyên với yếu tố đầu tiên là Vô Minh. Như vậy phải chăng vô minh là nguyên nhân đầu của hiện hữu, của sự khổ đau?

- Trong thuyết Nhân Quả của Phật Giáo,không chủ trương có nguyên nhân đầu tiên,vì thực sự không có nguyên nhân đầu tiên.Vì nếu có nguyên nhân đầu tiên thì cái gì trước nguyên nhân đầu tiên ấy?Và cứ như vậy hoài ta vẫn không tìm ra nguyên nhân đầu tiên.

- Tiến trình hiện hữu như được trình bày trong Thập Nhị Nhân Duyên,không phải là tiến trình hàng dọc qua thời gian và không gian,vì thời gian hay không gian chỉ là quan niệm tương đối,trong quá khứ có hiện tại,trong hiện tại có vị lai,trong vị lai có quá khứ.Ðông Tây Nam Bắc,trên dưới là những vị thế tương đối trong không gian.Theo luận lý này thì Vô Minh là Hành…là Ái…Thủ,Hữu là Vô Minh.Do đó Vô Minh không phải là yếu tố đầu tiên.

- Ðạo Lý Duyên Khởi phải được trình bày bằng một vòng tròn chứ không phải bằng đường ngang hay đường thẳng.Ngay cả khái niệm vòng tròn cũng là khái niệm tương đối.

- Vô Minh là nhân của Hành mà Hành cũng là nhân của Vô Minh.Hành là Duyên của Vô Minh mà Vô Minh cũng là Duyên của Hành v.v…

- Khi Vô Minh được chấm dứt thì Ái cũng dứt.Khi Ái dứt thì Vô Minh cũng dứt.Nhân Duyên quận xoáy vào nhau,không ai là đầu,không ai là thứ.

- Ta hãy lấy một thí dụ điển hình để giải thích tiến trình duyên khởi:chiếc đồng hồ đeo tay.Thông thường ta nói chiếc đồng hồ do người thợ đồng hồ làm ra.Nhưng ta quên hỏi người thợ ấy từ đâu mà có,rồi cha mẹ người thợ ấy từ đâu mà ra.Chiếc đồng hồ làm bằng kim loại,kim loại ấy đã trải qua tiến trình nào?Có người làm đồng hồ,có kim loại,thế thì dụng cụ làm đồng hồ ở chỗ nào và v.v…Như vậy ta thấy chiếc đồng hồ là thành quả của nhiều yếu tố tụ tập,trong đó không yếu tố nào bắt đầu,không có yếu tố nào là phụ thuộc.

 

250. Trong đạo lý Thập Nhị Nhân Duyên, ở duyên thứ 12 là Lão Tử (già, chết) nói chết không phải là chấm dứt sự sống, chấm dứt nguồn sinh lực, mà chỉ là kết thúc một hình thức sống, một giai đoạn sống. Em muốn biết tại sao có người sống lâu, có người chết yểu?

- Ðiểm này được cắt nghĩa trong Luật Nhân Quả,trong thuyết Nghiệp Báo và Luân Hồi(Kamma-samsàra)của Phật Giáo.

- Nghiệp(Kamma,Karma)thường thường được hiểu là hành động có tác ý.Hành động đem lại hậu quả.Ðó là luật Nhân Quả hay Nghiệp Báo.Ðời sống chúng sinh liên miên từ vô thỉ.Mỗi giai đoạn của cuộc sống(thọ mạng)mở đầu bằng sự sinh và kết thúc bằng sự chết.Sinh tử nối tiếp nhau triền miên gọi là Luân Hồi(Samsara).

- Nghiệp,Tái Sinh,Luân Hồi vốn là tin tưởng có trước thời Ðức Phật.Thông thường người ta tin con người có một chủ thể gọi là linh hồn,tái sinh nhiều lần qua nhiều cảnh giới,do hành động quá khứ của mình.Sau đó do sự trả báo,hay do tu tập,chủ thể ấy được gột sạch những ô nhiễm,xấu ác và được giải thoát nơi vĩnh cửu.

- Ðức Phật cũng dạy về Nghiệp,Tái Sinh,Luân Hồi,nhưng lại chủ trương Vô Ngã.Ở đây chỉ có nghiệp,nghiệp báo,chứ không có một ngã thể gọi là linh hồn chịu nghiệp báo.

- Nghiệp được Ái nuôi dưỡng.Do Ái mà có Thủ nên Thủ cũng là biểu hiện của Nghiệp.Nghiệp không do ai làm ra và không làm ra ai cả.Nghiệp là sự vận hành của chính nó.Nghiệp là một hiện hữu và cũng do duyên khởi mà sinh.

 

251. Em vẫn còn hoang mang. Em muốn được trả lời ngắn gọn, con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu?

- Một vấn đề trọng đại như thế này,câu hỏi con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu mà trả lời ngắn gọn,thì làm sao trả lời được.Tốt hơn hết là ngậm câm.Có lẽ ngậm câm là câu trả lời thỏa đáng nhất.

- Nhưng thôi,dù nông cạn,tôi vẫn cố gắng trả lời.Có ba cách trả lời cho câu hỏi này. 1/Những người tin rằng ở Ðấng Tạo Hóa cho rằng trước khi Tạo Hóa sinh ra người,con người không có hiện hữu chỉ nhờ Ðấng Tạo Hóa sinh ra mới có.Con người đó sống hết đời mình theo sự sắp đặt của Ðấng Tạo Hóa,rồi hoặc lên thiên đường vĩnh cửu,hoặc xuống địa ngục đời đời. 2/Các nhà nhân bản,khoa học gia cho rằng con người sinh ra do những nguyên nhân thiên nhiên,sống hết cuộc đời của mình,rồi trở về thiên nhiên. 3/Phật Giáo không chấp thuận hai thuyết ấy.Thuyết thứ nhất đặt cho chúng ta nhiều vấn đề có tính cách đạo đức.Nếu Ðấng Tạo Hóa thánh thiện tạo sinh chúng ta,làm sao lại để cho một số người bị đui què,sứt mẻ khi mới sinh?Làm sao lại để cho những em bé phải sẩy thai?Hay thai chết trong bụng mẹ?Những kẻ bất hạnh này đã làm gì nên tội mà chịu đọa đày?Hành hoạt của con người trong khoảng thời gian 70,80 năm ngắn ngủi của cuộc đời mà phải đọa địa ngục chịu khổ mãi mãi?Mà được hưởng phước đời đời?Cách giải thích thứ hai có vẻ khoa học hơn nhưng vẫn không trả lời được những nan đề.Làm thế nào một hiện tượng rất phức tạp như tâm linh lại phát sinh từ sự gặp gỡ của tinh trùng?Khoa tâm lý thần giao cách cảm bây giờ được công nhận là một ngành khoa học,làm sao cắt nghĩa thần giao cách cảm trong một mô hình vât lý.

- Phật Giáo cho chúng ta đáp số thỏa đáng hơn về câu hỏi con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu.Khi ta chết tâm thức của chúng ta với những khả năng,khuynh hướng, đặc tính riêng biệt đã được phát triển, được điều kiện hóa khi còn sống(Nghiệp),tái xây dựng trong cái trứng nhận tinh khí.Cá thể này phát triển,tái sinh và phát triển cá tính được điều kiện hóa bằng những đặc tính tâm thức từ trước chuyển đến môi trường mới(Tái Sinh).Cá tính sẽ thay đổi,sẽ biến dạng do nỗ lực có dụng ý(Nghiệp)và do những yếu tố điều kiện hóa như giáo dục, ảnh hưởng cha mẹ,gia đình,xã hội và rồi đến khi chết,(Sinh Tử Luân Hồi)tái lập trong quả trứng nhận tinh khí.Diễn trình sống chết,chết sống tiếp tục mãi mãi cho đến khi những nguyên nhân phát sinh ra nó-ý chí muốn sống,lòng tham ái,mê hoặc-bị diệt trừ,khi chứng đạt cảnh giới niết bàn,thoát vòng sinh tử.

 

252. Làm thế nào tâm thức có thể chuyển từ thân này đến thân khác?

- Hãy nghĩ tâm thức như luồng sóng điện radio.Những luồng sóng điện này không phải do lời và nhạc làm thành mà là năng lượng ở những tầng sóng khác nhau được chuyển đi,bay qua không gian,bị lôi cuốn và thâu nhận bởi đài thâu rồi phát ra thành nhạc,thành lời.Tâm thức của chúng ta cũng như vậy.Khi chết năng lực tâm thức chạy qua không gian,bị lôi cuốn và thâu nhận bởi cái trứng(của mẹ)nhận tinh khí(của cha).Nhau trứng phát triển,đi vào não trạng rồi từ đó “phát nhanh”thành một nhân cách mới.

 

253. Phải chăng con người mãi mãi tái sinh làm người?

- Không.Có nhiều thế giới tái sinh vào.Có người tái sinh lên trời,có người xuống địa ngục,người sinh làm ngạ quỹ,A Tu La,súc sinh hay làm người.Thuật ngữ Phật Giáo gọi là Lục Ðạo.Thế giới trời,người,ngạ quỹ v.v…cho những người cùng cảnh ngộ,danh từ Phật Học gọi là Cộng Nghiệp.Có người cùng sinh ở môt cõi,như cõi người chẳng hạn,nhưng cảnh ngộ khác nhau,danh từ Phật Học gọi là Biệt Nghiệp.Trong trạng thái này Thiên Ðường,ngạ quỹ không phải là cảnh giới riêng biệt mà là cảnh trạng nơi thân hình,tâm thức hưởng cảnh an vui hay khổ sở,buồn phiền,lo âu.Cảnh trạng an lạc là thế giới thiên đường của kiếp người.Cảnh trạng khổ đau là thế giới địa ngục của kiếp người.Cảnh trạng luôn luôn cảm thấy bất mãn,luôn luôn ham muốn là thế giới ngạ quỷ của kiếp người.

- Ðời sống ngắn ngủi của kiếp người không trường cửu.Cảnh trạng kiếp người không trường cửu. Ðời sống và cảnh trạng của thiên giới,địa ngục giới,ngạ quỷ giới v.v…cũng như vậy.Không vĩnh cửu,không thường hằng.Không có thiên đường vĩnh cửu,không có địa ngục đời đời.Tất cả đều thay đổi theo ý chí và hành động,Phật Học gọi là Nghiệp Báo.

 

254. Yếu tố gì quyết định ta sẽ sinh vào thế giới nào?

- Yếu tố quan trọng nhất,nhưng không phải là yếu tố duy nhất, ảnh hưởng đến việc chúng ta sẽ sinh vào đâu và đời sống tương lai của chúng ta như thế nào là Nghiệp(Karma,Kamma)như đã được giải thích ở trên.

 

255. Ta có thể thay đổi nghiệp?

- Lẽ dĩ nhiên.Nhưng thay đổi được hay không còn tùy vào ý chí kiên quyết,lòng thành khẩn của chúng ta.Bát Chánh Ðạo là tư lương giúp ta thay đổi Nghiệp hay nói theo danh từ phổ thông,giúp ta thay đổi vận mệnh.

- Thông thường chúng ta sống trong dòng đời chịu ảnh hưởng của nghiệp lực quá khứ,không cố gắng thay đổi, để trở thành nạn nhân của kết quả bất hạnh.Chúng ta vì vậy sẽ tiếp tục chịu khổ đau trừ phi chúng ta quyết tâm thay đổi nghiệp lực,thay đổi thói quen,tập quán.

- Trong Bát Chánh Ðạo có Chánh Ðịnh,một trong những kỹ thuật giúp ta hoán chuyển nếp sống tư duy,hoán chuyển thói quen về thân,về khẩu.Ðời sống của người Phật tử là cốt thanh tịnh hoá tư duy,thanh tịnh hóa tâm thức.Nếu thân,khẩu, ý được thanh tịnh hóa,ta có thể thay đổi nghiệp lực.Thí dụ vì nghiệp tiền kiếp,tính tình ta hay gắt gỏng,hay giận hờn,làm đời ta và những người chung quanh ta khổ sở.Ta quyết tâm thay đổi,thay thế những tính tình ấy bằng từ bi,hỷ xả.Mội lần ta sắp sửa sân giận,thù oán,ta phân tích,chiêm nghiệm,thay thế chúng bằng từ bi,hỷ xả.Nếu kiên trì và tùy theo mức độ ý chí thành khẩn,tính nóng giận,gắt gỏng sẽ được thay đổi.Ta dần dần chuyển nghiệp.

 

256. Nói về luân hồi, em không thấy có bằng chúng gì sau khi chết em sẽ tái sinh.

- Không những bằng chứng khoa học mà còn nhiều câu chuyện về kiếp trước chứng minh giáo lý Nghiệp Báo,Luân Hồi của Phật Giáo là đúng.Thí dụ tại nước Anh có một em gái 5 tuổi,có thể nhớ nhiều chi tiết về kiếp trước.Em nhớ kiếp trước ở đâu,tên tuổi của những người láng giềng.Em nhớ em bị tai nạn xe hơi,bị thương tích nặng và chết sau hai ngày.Khi người ta kiểm chứng lại những điều này,mới biết những điều em nói đều là sự thật.Có một căn nhà trên con đường, ở một làng bên Tây Ban Nha như em diễn tả,tại đó,trước đó 5 năm,một phụ nữ 23 tuổi sống trong ngôi nhà ấy đã bị xe đụng chết.Làm thế nào một em bé 5 tuổi sống ở Anh có thể diễn tả những gì xảy ra ở Tây Ban Nha cách đó 5 năm một cách chính xác như vậy?

- Còn nữa.Giáo sư Ian Stevenson,thuộc trường Ðại Học Virginia,Khoa Tâm Lý,tả hàng chục trường hợp thuộc loại này trong những quyển sách của ông.Giáo sư Stevenson là một nhà khoa học có tiếng,suốt 25 năm dành thì giờ nghiên cứu về những câu chuyện của những người nhớ đến kiếp trước của mình.

 

257. Ngoài giáo sư Stevenson, còn có nhà khoa học nào tin ở thuyết Nhân Quả, Luân Hồi?

- Vâng,rất nhiều.Như ông Thomas Huxley,nhà khoa học gia Anh,người đã đưa môn khoa học vào chương trình giáo dục Anh,tác giả của quyển sách danh tiếng Evolution and Ethics(Tiến hóa và Ðạo đức),người đã biện hộ cho thuyết Tiến Hóa của Darwin;Giáo sư Gustaf Stromberg,nhà vật lý,thiên văn nổi tiếng người Thụy Ðiển;Giáo sư Julian Huxley,nhà khoa học Anh,Tổng Giám Ðốc UNESCO;ngay cả ông Henry Ford,nhà kỷ nghệ gia nổi tiếng Hoa Kỳ cũng đều tin vào thuyết Nhân Quả,Luân Hồi.

 

258. Sau đạo lý Thập Nhị Nhân Duyên, Luân Hồi, Nghiệp Báo, Phật dạy gì thêm cho 5 ông Kiều Trần Như?

- Vài ngày sau khi thuyết giảng Kinh Chuyển Pháp Luân,tại Vườn Lộc Uyển, đức Phật nói về đặc tính của cuộc đời,trong bài Kinh Vô Ngã(Anatta-Lakkhana Sutta),cho biết mọi hiện tượng luôn luôn chuyển biến,không thường trụ(Vô Thường:Anicca),mọi hiện tượng đều sinh diệt, đều khổ đau(Khổ:Dukkha),mọi hiện tượng đều không thực, đều giả hợp(Vô Ngã:Anatta).

 

259. Xin cắt nghĩa thêm cho em về giáo lý Vô Thuờng và Vô Ngã.

- Sinh mệnh hay đời sống con người do Phật giảng dạy cho 5 ông Kiều Trần Như,trong bài pháp thứ hai tại Vườn Lộc Uyển có thể tóm tắt trong hai câu:

            Những gì có sinh thì có diệt.

  Vạn vật đều vô thường,biến đổi, đều khổ đau và

                     Không có chủ thể.

- Vô Ngã.Giáo Lý Duyên Khởi là nền tảng,bác bỏ sự tin tưởng vào một linh hồn bất tử,hữu ngã, độc lập. Ðạo lý Vô Ngã phân tích cái mà ta gọi là “con người”,hay cái “ta”dưới khía cạnh vật lý và tâm lý qua không gian.Con người do 5 uẩn là sắc,thọ,tưởng,hành,thức,kết hợp tinh thần và tâm thức mà thành,không có một cái “ta” độc lập,không khác gì những giọt nước tạo thành dòng sông mà không có một dòng sông độc lập.

- Trong Kinh Na Tiên Tỳ Kheo(Milinda-Panha),đại sư Nagasena lấy chiếc xe làm thí dụ để giải thích đạo lý vô ngã cho vua Milinda:chiếc xe không phải bánh xe,chấu xe hay bất kỳ bộ phận riêng biệt nào khác mà là sự tập hợp của nhiều bộ phận,nhiều yếu tố.

-René Descartes nói “Tôi suy nghĩ vì vậy tôi hiện hữu”(Cotigo ergo sum).Câu này theo giáo lý Vô Ngã phải được đổi thành: “Tôi hiện hữu vì tôi nghĩ là tôi hiện hữu”.

- Vô Thường.Trong khi giáo lý Vô Ngã phân tích hiện tượng qua không gian,giáo lý Vô Thường phân tích qua thời gian.Cuộc đời được ví như dòng thác đổ,thay đổi không ngừng,không có cái bất động,thường hằng mà chỉ có cái trở thành(becoming).Phật đã làm sáng tỏ đạo lý vô thường trong bài Kinh ở bộ Anguttaranikaya(An.III,70): “Cuộc đời ngắn ngủi,giới hạn,phù du, đầy khổ não,giống như giọt sương buổi sáng tan đi khi mặt trời vừa mọc;như bọt nước,như đường vạch trên nước,như dòng thác cuốn trôi đi những gì nó gặp phải và trôi chảy mãi không ngừng;như con vật tại lò sát sinh,sợ sệt đương đầu với sự chết.”

- Giáo lý Vô Ngã,Vô Thường không những nói rõ thực tính của vạn hữu mà còn có giá trị đạo đức:Xác nhận một cách hùng hồn con người không có tự ngã,đức Phật muốn con người thấy rõ thực tại để không còn kiêu căng.

 

260. Những giáo lý đề cập ở trên có thể gọi là giáo lý căn bản, phổ cập trong Phật Giáo Nam Tông cũng như Phật Giáo Bắc Tông. Trong những đề tài căn bản ấy, em muốn biết cách nhìn của các giáo phái Phật Giáo.

- Ðề tài quán chiếu thật không thể kể xiết.Lấy một thí dụ về Phật.Các giáo phái quan niệm về Phật khác nhau,từ đức Phật lịch sử,một đạo sư thánh thiện dẫn đường,dần dần biến thành thánh nhân,rồi siêu nhân;từ một đức Phật nhập diệt tại Kusinagara trở thành đức Phật vô sinh,vô tử,vô khứ lai.Ðức Phật lịch sử chỉ là hóa thân trong đạo lý Tam Thân,đức Phật lịch sử chỉ là một trong vố số Phật.

 

261. Thế nào là đạo lý Tam Thân?

- Phật là đấng giác ngộ,diệt trừ vô minh,chứng đắc niết bàn,hòa nhập bản thể uyên nguyên, đó là Phật Tính,đó là Pháp Thân Phật(Dharma-kaya),thường hằng,vô tận,không hình tướng. Ðức Phật có 32 tướng tốt,thanh tịnh,trang nghiêm,chịu mọi báo ứng sinh lão bệnh tử như Phật Thích Ca,đó là Báo Thân Phật(Sambhoga-kaya). đức Phật vì hạnh nguyện độ sinh,thị hiện mọi hình tượng,khi làm Bồ Tát,khi làm chim,làm thú,hóa độ chúng sinh thoát cảnh sinh tử,luân hồi,đó là Ứng Thân Phật hay Hóa Thân Phật(Rupa-kaya hay Nirmanakaya).

 

262. Trong vô số Phật, em thường nghe đề cập đến năm vị Phật cùng Bồ Tát và thánh Tara trong Mật Giáo. Xin giải thích về điểm này.

- Như trong đạo lý Tam Thân Phật nói trên,thì Ðức Phật Thích ca chỉ là hiện thân của Phật Tính Thanh Tịnh.Phật tính thanh tịnh là bản thể,là Pháp Thân,là Tối Thượng Phật,là A Ðề Phật(Adi-Buddha).Từ Pháp Thân Phật,từ A Ðề Phật thị hiện nhiều hình tướng để phục vụ chúng sinh trong nhiều thế giới,thế giới chính giữa có Ðại Nhật Phật hay Tỳ Lô Giá Na Phật(vairocara)tức Thường Trụ Tam Thế Diệu Pháp Thân;thế giới phương Ðông có đức Bất Ðộng Như Lai hay A Súc Phật(Aksobhya),tức Kim Cang Kiên Cố Tự Tánh Thân;thế giới phương Nam có Ðức Bảo Sinh Phật(Ratanasambhava)tức là Phước Ðức Trang Nghiêm Thân;thế giới phương tây có Ðức Vô Lượng Thọ Phật(Amitiyus)tức là Thọ Dụng Trí Huệ Thân;thế giới phương bắc có đức Bất Không Thành Tựu Phật(Amoghasiddhi)tức là Tác Biến Hóa Thân.

- Ðức Tối Thắng Phật hay Adi Buddha thống lãnh tất cả Thiền Na Phật(Dhyani Buddhas)và chư Thiền Na Bồ Tát(Dhyani Bodhisattvas)cùng thánh Tara,vì tất cả đều là sự hoá hiện của Adi Buddha.

 

263. Em thấy sự hóa hiện của chư Phật, chư Bồ Tát có vẻ thần bí, xa dần hình ảnh quen thuộc của Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni.

- Phật là Giác,là ánh sáng giác ngộ.Ánh sáng chan hòa khắp nơi,khắp tam thiên đại thiên thế giới,vì vậy tam thiên đại thiên thế giới đều có Phật.Tam thiên đại thiên thế giới được thu gọn trong năm hướng: đông,tây,nam,bắc và chính giữa.

- Ánh sáng được nhân cách hóa hay đúng hơn Phật hoá,nên có 5 vị Phật và vô số Phật.

- Hàng Bồ Tát là những vị Phật nhưng chưa thành Phật vì muốn dấn thân cứu độ chúng sinh.Hạnh nguyện cứu độ chúng sinh được Bồ Tát Hóa thành các vị Bồ Tát,vây quanh chư Phật,giúp Phật cứu độ quần sinh.

- Hạnh nguyện đại bi được nhân cách hóa hay Bồ Tát Hoá trong hình ảnh đức Quán Thế Âm, Ánh sáng trí tuệ trong hình hài của Bồ Tát Văn Thù v.v…

 

264. Giáo lý Phật Giáo bao la, lien quan đến nhân sinh quan, vũ trụ quan, đến phương thức hành trì. Có cách nào tóm gọn cho em hiểu sơ qua được không?

- Thật rất khó,nhất là trong hình thức vấn đáp.

- Giáo lý Phật liên quan đến nhiều vấn đề như sáng thế luận,vũ trụ luận;về thực tại luận,về mạt luận(tận thế luận);về tâm thức luận,về trung đạo luận,về biện chứng luận(luận lý học,nhân minh luận);về kiến đạo,về tu đạo v.v…

- Tuy nhiên ta có thể tóm thâu giáo nghĩa qua 11 tông phái chính, đó là Câu Xá Tông,Thành Thật Tông,Pháp Tướng Tông,Tam Luận Tông,Hoa Nghiêm Tông,Thiên Thai Tông,Chân Ngôn Tông,Thiền Tông,Tịnh Ðộ Tông,Nhật Liên Tông,Luật Tông.

 

265. Cho em biết qua về Câu Xá Tông.

- Câu Xá Tông được thành lập tại Trung Quốc,dựa vào Bộ Luận Câu Xá(Abhidhamma-Kosa)của Thế Thân(Vasibandhu).

- Trong khi Thượng Tọa Bộ(Theravada)phát triển ở phương Nam, đặc biệt tại Tích Lan,thì một trường phái khác,phái Vaibhasika(Tỳ Bà Sa Phận Biệt Thuyết),một bộ phái của Tiểu Thừa Nhất Thiết Hữu Bộ(Sarvastivada),thịnh hành tại phương Bắc,nhất là tại Kashmir,thời vua A Dục,thế kỷ thứ ba trước kỷ nguyên.

- Phái Vaibhasika dùng danh xưng Vaibhasika được Kàtyayàniputra(Ca Ða Diễn Ni Tử)biên soạn vào thế kỷ thứ hai sau kỷ nguyên.những luận sư nổi danh của giáo phái là: 1/Ngài Asvaghosa(Mã Minh)thế kỷ thứ nhất hay thứ hai sau kỷ nguyên,người đã dùng văn tự sanscrit biên soạn bộ Tỳ Bà Sa. 2/Ngài Vasubhandhu(Thế Thân),thế kỷ thứ năm,tác giả bộ Abhidhammakoso(A Tỳ Ðạt Ma Câu Xá Luận)xiển dương giáo nghĩa Tỳ Bà Sa và bác bỏ hệ thống Sankhya(Số Luận,Nhị Nguyên Luận,một nền triết học tối cổ Ấn Ðộ). 3/Gunaprabha,thế kỷ thứ bảy,quốc sư của vua Harsha.

- Bộ Luận Tỳ Bà Sa được dịch ra tiếng Trung Hoa vào năm 383-434.Bộ A Tỳ Ðạt Ma Câu Xá và Luận Sớ được dịch ra tiếng Trung Hoa vào năm 563-567 và 651-654.

- Nhất Thiết Hữu Bộ(Sarvastivada)lúc đầu liên hệ chặt chẽ với Thượng Tọa Bộ,sau tách rời khỏi Thượng Tọa Bộ trong Kỳ Kết tập III,chủ trương các pháp thực hữu, đều hiện thực.

 

266. Nội dung của bộ luận Câu Xá như thế nào?

- Luận Câu Xá theo bản dịch Trung Hoa gồm có 9 phần,giải thích,khai triển: 1/Về các pháp(phân biệt giới). 2/Về các quan năng(phân biệt căn). 3/Về thế giới(Phân biệt thế gian). 4/Về các nghiệp(phân biệt nghiệp). 5/Về các phiền não(phân biệt thùy miên). 6/Về thánh và đạo(phân biệt hiền thánh). 7/Về tri thức(Phân biệt trí). 8/Về tư duy(phân biệt định). 9/Về Ngã(phá ngã).

 

267. Cho em biết đại cương giáo nghĩa của Câu Xá Tông.

- Tông Câu Xá,thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ,thuộc Thượng Tọa Bộ,thuộc Phật Giáo Tiểu Thừa, được Chân Ðế thành lập tại Trung Quốc thay thế cho Tỳ Ðàm Tông, đã có tại Trung Quốc vào cuối thế kỷ thứ tư, đến thế kỷ thứ năm.

- Bộ Câu Xá Luận của Thế Thân được Chân Ðế(Paramartha)dịch năm 563-567 và lại do Huyền Trang dịch năm 651-654.

- Tại Nhật,tông phái này được gọi là Kusha,do Trí Thông (Chitsu)và Trí đạt(Chitasu)người Nhật theo học với Huyền Trang,trở về nước thành lập năm 658.Về sau tông phái này lại được truyền vào Nhật Bản lần thứ hai,năm 735 do Huyền Phương(Gembo), đồ đệ của Trí Châu(đồ đệ đời thứ ba của Khuy Cơ(đồ đệ của Huyền Trang)).Câu xá Tông không được xem như là một tông phái độc lập tại Nhật Bản mà liên hệ với Pháp Tướng Tông.

- Luận Câu Xá được Jinamitra dịch ra Tạng ngữ.

- Bản liệt kê các pháp của Luận Câu Xá tương tự như trong Thắng Pháp Thập Yếu Luận của Anuridha,thế kỷ thứ 8,A Tỳ Ðàm Tâm Luận của Dharmottara(Hán dịch năm 391) và của Dharmatrata(Hán dịch 426)và Thành Thật Luận của Harivarman,thế kỷ thứ ba,thứ tư.

- Câu Xá Tông chủ trương các pháp gồm cả tâm và vật là thực hữu,thừa nhận thực tại tính của các pháp ,tuy không có tự thể,không thường hằng,không phúc lạc trừ Niết Bàn,khai triển đạo lý Vô Thường,Vô Ngã,Khổ và Niết Bàn.

 

268. Cho em biết về Thành Thật Tông.

- Thành Thật Tông thuộc Nhất Thiết Không Tông(Sarvasunyavada),thuộc Kinh Lượng Bộ,thuộc Hư Vô Luận,thuộc Tiểu Thừa Không Tông.

- Kinh Lượng Bộ(Sautranika)tách rời khỏi Nhất Thiết Hữu Bộ vào hậu bán thế kỷ 1 trước kỷ nguyên,phát triển mạnh khi Bộ Thành Thật Luận(Satyyasiddhi-sastra)của ngài Harivarman(Ma Lê Bạt Ma)ra đời vào thế kỷ thứ ba.

 

269. Cho em biết về bộ Thành Thật Luận và giáo nghĩa Thành Thật Luận.

- Bộ Thành Thật Luận(Satyasiddhi) được Cưu Ma La Thập(Kumaràjiva)dịch sang tiếng Trung Hoa vào năm411-412, được nghiên cứu tỉ mỉ qua 12 sớ giải từ năm 411 đến 498.

- Thành Thật Tông được Huệ Quán(Ekwan)người Cao Ly truyền vào Nhật Bản năm 625.Vị này được mời làm Tăng Thống đầu tiên tại Nhật Bản.Thành Thật Tông được nghiên cứu tỉ mỉ tại các trường Phật Học và Ðại Học nhưng không được xem là một tông phái độc lập mà liên hệ với Tam Luận Tông.

- Bộ Luận Thành Thật chia vạn pháp thành 84 thay vì 75 của Câu Xá Tông.Thành Thật Tông chống lại quan điểm của hữu bộ,của câu xá cho quá khứ,hiện tại,vị lai là thực hữu,các pháp đều thực hữu.Thành Thật Tông chủ trương chỉ có hiện tại là thực hữu,quá khứ và vị lai là vô thể;chủ trương chân đế,tục đế.

- Trong 18 bộ phái tại Ấn Ðộ,Thành Thật Tông thuộc kinh Lượng Bộ,lấy Kinh Tạng làm điểm tựa,chống lại thực hữu luận của Hữu Bộ(Sarvastivada), đối lập với Câu Xá Tông,chủ trương không có gì hiện hữu,kể cả tâm và vật. Ðây là phái Tiểu Thừa không luận hay hư vô luận.Thành Thật Tông trên phương diện này gần với Phật Giáo Nguyên Thỉ hơn Hữu Bộ,chủ trương Vô Ngã,Vô Thường,Khổ và Niết Bàn tịch tịnh.

 

270. Cho em biết về Pháp Tướng Tông.

- Pháp Tướng Tông thuộc Duy Thức Tông(Vijnaptimatrata,thuộc Du Già Tông(Yogacara)),quyền Ðại Thừa.

- Phái Yogacara(Du Già)do ngài Vô Trước(Asanga)anh ruột của Thế Nhân(Vasubandhu),tác giả bộ Du Già Sư Ðịa Luận(Yogacara-Bhùmi)thành lập vào thế kỷ thứ ba hay thứ tư,bác bỏ quan điểm thực hữu của Tiểu Thừa Phật Giáo.Phái Yogacara còn có danh xưng khác là Vijnanavada(Duy Thức Tông hay Pháp Tư