Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học Cơ Bản


 

 

TRUNG TÂM HỌC LIỆU PHẬT GIÁO
 

PHẬT GIÁO TỔNG QUAN 

600 câu hỏi và trả lời liên quan đến giáo lý, hành trì,

sự phát triển của Phật Giáo; đến lịch sử, văn hóa của các nước thọ nhận Phật Giáo;

đến các vấn đề văn hóa, xã hội, chính trị thời đại.

 

 TRẦN QUANG THUẬN

 

---o0o---

 

 

PHẦN IV: PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

1.      Hiện tình Phật Giáo tại Úc và Tân Tây Lan (New Zealand) như thế nào?

-         Tại cách thành phố lớn ở Úc và Tân Tây Lan đều có cơ sở Phật Giáo, điển hình như Viện Phật Học Quán Thế Âm (Chenrezig Institute) tại Queensland, Nhà Như Lai (Bhuddha House) ở Adelaine, Viện Phật Học Dorje ở Auckland, Viện Phật Học Vajrayana ở Sydney, Viện Phật Học Tara, Viện Phật Học De Tong Linh…

-         Trung tâm Chandrakirti ở Nelsondo, Tân Tây Lan, Viện Phật Học Dorje Chang…

-         Phật Giáo Việt Nam tích cực đóng góp vào gia tài hoằng hóa Phật Pháp tại Úc và Tân Tây Lan.

 

2.      Em là một Phật Tử người Việt, nhưng em không rõ lắm về Phật Giáo Việt Nam.  Trước khi nói đến Phật Giáo Việt Nam, có thể cho em biết sơ qua về lịch sử Việt Nam?

-         Để dễ hiểu, chúng ta có thể chia lịch sử Việt Nam thành nhiều thời kỳ: thời kỳ tiền sử, thời kỳ sơ sử độc lập, thời kỳ lệ thuộc Trung Quốc, thời kỳ độc lập, tự chủ và thời kỳ trung cổ, cận đại.

 

3.      Xin cho biết vài nét chính về thời kỳ tiền sử của Việt Nam.

-         Việt Nam thời tiền sử kéo dài cách đây từ năm 300,000 đến năm 2,500. Tại Hang Thẩm Hai và Thẩm Khuyên, nay thuộc huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, các nhà khảo cổ tìm thấy những chiếc răng người vượn cách đây 300,000 năm. Tại hang Thẩm Ôn, tỉnh Nghệ An, người ta khám phá những chiếc răng giữa người vượn và người hiện đại. Tại hang Hùm, xã Tân Lập, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, người ta khám phá ra những chiếc răng của người hiện đại.

-         Tại Núi Đọ, xã Thiệu Khánh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; tại Quan Yên, Núi Nuông Thanh Hóa; tại Hàng Gòn, Dầu Giây, quận Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai người ta khám phá dụng cụ thời đại đồ đá cũ (Thời đại cổ thạch).

-         Tại hang Kéo Lèng và hang Thung Lang, người ta khám phá ra dụng cụ thời hậu đồ đá cũ. Văn hóa Sơn Vi trải dài từ miền bắc đến bắc trung phần, cách đây 11,000 năm. Văn hóa Hòa Bình kết thúc cách đây 9,000 năm, tiếp theo là văn hóa Bắc Sơn với rìu mài và đồ gốm.

-         Văn hóa Quỳnh Văn, Nghệ An vào thời đồ đá mới cách đây 6,000 năm với những di vật như cưa đá, khoan đá, bàn xoay chế tạo đồ gốm tại Gò Trùng, Cồn Cổ Ngựa, Thanh Hóa.

-         Văn Hóa Phùng Nguyên, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ vào thời đồ đồng cách đây 4,000 năm. Tiếp theo là văn hóa Đồng Đậu, tỉnh Vĩnh Phúc cách đây 3,000 năm; văn hóa Gò Mun tỉnh Phú Thọ cách đây 3,000 năm; văn hóa Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa cách đây 2,800 năm.

 

Trong suốt thời gian dài hàng chục nghìn năm, dân Việt nguyên thỉ trên đất Việt sống bằng nghề săn bắn, bắt hải sản, lượm hái, đến trồng trọt, canh nông, sử dụng đồ đá rồi đồ đồng, phần nhiều theo chế độ mẫu hệ.

 

4.      Xin cho biết về thời đại sơ sử, độc lập cổ đại.

-         Việt Nam thời sơ sử, độc lập kép dài từ năm 2,800 tkn đến năm 179 tkn, gồm thời Tiền Văn Lang, thời Văn Lang – Âu Lạc, từ thời văn hóa Đông Sơn (thời đại đồ đồng) mà thường thường gọi là thời đại Hùng Vương.

-         Vào thời kỳ đồ đá, xã hội Việt Nam theo mẫu hệ, được thành hình bằng công xã thị tộc gồm 15 bộ lạc, nhưng vào thời đại đồ đồng, chế độ phụ hệ thay thế mẫu hệ, công xã thị tộc dần dần được thay thế bằng công xã nông thôn.

-         Các nhà nghiên cứu cho trống đồng Đông Sơn là sản phẩm của một nền văn minh có chữ viết. Mặc dầu chưa có những tài liệu khảo cổ chứng minh chữ viết vào thời kỳ này, nhưng có nhiều di vật cho thấy tập quán, tín ngưỡng liên hệ đến nông nghiệp đã lan rộng.

-         Trong 15 bộ lạc ở gian đoạn cuối của thời đại đồ đồng, Văn Lang là bộ lạc mạnh nhất ở tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc ngày nay. Qua quá trình thu phục, nhà nước Văn Lang hình thành, phía bắc giáp hồ Động Đình, phía tây giáp nước Ba Thục, phía đông giáp biển Nam Hải, phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành). Phải chăng vùng đất rộng lớn này là vùng cư trú của nhóm Bách Việt chứ không phải lãnh thổ của nước Văn Lang? Trung tâm chính trị của Văn Lang là Phong Châu, tỉnh Phú Thọ ngày nay.

-         Niên đại của nước Văn Lang có thuyết cho khởi đầu vào năm 2879 tkn và kết thúc năm 258 tkn, từ thời đại đồ đồng Đông Sơn và kết thúc năm 258 tkn hay năm 208 tkn.

 

5.      Nước Văn Lang có phải là nước Việt Nam thời Hùng Vương?

-         Đúng vậy.

-         Nước Văn Lang do 18 đời Hùng Vương cai trị gồm 18 bộ tộc địa phương, mỗi bộ tộc địa phương do Lạc Tướng (Bộ Chúa, Bộ Tướng, Bộ Đạo) quản trị. Khi nhà Hán cai trị nước ta, các bộ đổi thành Huyện, các Lạc Tướng đổi thành Huyện Lệnh.

-         Sau Văn Lang là Âu Lạc do An Dương Vương (Thục Phán) cai trị. Âu Lạc là liên minh giữa Âu Việt hay Tây Âu và Lạc Việt để đối phó trước sự tấn công của quân đội Tần Thủy Hoàng năm 214 tkn. Vua Hùng Vương tỏ ra bất lực, Thục Phán kiên cường chiến đấu từ năm 214 đến năm 208 tkn, giết tướng giặc là Đồ Thư được tôn vinh lên làm vua thay cho Hùng Vương. Thục Phán xưng là An Dương Vương, đặt quốc hiệu là Âu Lạc, năm 208 tkn, thủ phủ đặt tại thành Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

-         Trong đạo quân nam chinh của Tần Thủy Hoàng năm 214 tkn có hai viên tướng là Nhâm Ngạo và Triệu Đà. Sau khi Tần Thủy Hoàng băng hà năm 210 tkn, chính tình Trung Hoa rối loạn, Triệu Đà năm 206 tkn đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, nhập chung với Nam Hải và Hợp Phố lập nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Võ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu, Trung Quốc hiện nay), cắt hẳn mối quan hệ quân thần với nhà Hán năm 183 tkn cho đến năm 111 tkn.

 

 

PHẬT GIÁO THỜI HÙNG VƯƠNG

 

6.      Phật Giáo truyền vào Việt Nam vào thời kỳ nào?

-         Có nhiều ý kiến về niên đại Phật Giáo truyền vào Việt Nam: Theo Trần Văn Giáp trong cuốn Le Boddhisme en Annam, Phật Giáo truyền đến Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ hai. Theo Thượng Tọa Thích Mật Thể trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược Phật Giáo có thể đến Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ nhất sau kỷ nguyên. Theo Nguyễn Lang (Nhất Hạnh) trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, quyển I, Phật Giáo truyền đến Việt Nam khỏang đầu kỷ nguyên Tây Lịch với trung tâm Luy Lâu tọa lạc tại phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh được thành hình do các tăng sĩ, thương gia Ấn Độ. Theo Nguyễn Duy Hinh trong  Tư Tưởng Phật Giáo Việt Nam, Phật Giáo đến miền trung Đông Dương vào những thế kỷ đầu sau Công Nguyên. Theo Lê Mạnh Thát, trong cuốn Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, tập I, Phật Giáo đến Việt Nam vào thế kỷ thứ 3, thứ 2 trước kỷ nguyên.

-         Tất cả đều đồng ý Phật Giáo Việt Nam vào thời kỳ này được chư tăng Ấn Độ trực tiếp truyền thừa.

 

7.      Dựa vào tài liệu nào mà Gs Lê Mạnh Thát cho rằng Phật Giáo đến Việt Nam vào thế kỷ thứ hai, thứ ba trước kỷ nguyên?

-         Dựa vào chuyện Nhất Dạ Trạch trong bộ Lĩnh Nam Trích Quái kể lại việc Chữ Đồng Tử học đạo với nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên tại cửa Sót, thời Hùng Nghị Vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ thứ 2, thứ 3 trước kỷ nguyên.

 

8.      Sư Phật Quang là vị sư đầu tiên tại Việt Nam và Chữ Đồng Tử là người Phật Tử Việt Nam đầu tiên?

-         Đúng vậy. Sư Phật Quang cư trú tại núi Quỳnh Viên tại Cửa Sót và Chữ Đồng Tử là người Phật Tử Việt Nam tên tuổi đầu tiên thọ pháp với Ngài Phật Quang, người Thiên Trúc (Ấn Độ).

 

9.      Núi Quỳnh Viên tại Cửa Sót phải chăng là địa điểm Phật Giáo đầu tiên? Núi Quỳnh Viên và Cửa Sót tọa lạc tại đâu?

-         Đúng vậy. Sư Phật Quang cư trú tại núi Quỳnh Viên.

-         Núi Quỳnh Viên và Cửa Sót có lẽ nằm tại tỉnh Nghệ An. Cửa Sót thời Hùng Vương có lẽ là địa đầu miền nam của nước Việt Nam giáp ranh giới vương quốc Chiêm Thành.

 

10.  Ngoài ra còn có tài liệu gì nói về niên đại Phật Giáo truyền vào Việt Nam trước kỷ nguyên?

-         Thiền sư Chân Nguyên (1647-1728) trong Thiên Nam Ngữ Lục đề cập đến chùa Trúc Viên, thời Lữ Gia, tức khoảng 110 năm trước kỷ nguyên, tại Núi Thấy (Sài Sơn) ở Sơn Tây.

-         Trong số tướng tá của Hai Bà Trưng, sau khi bị Mã Viện đánh bại (năm 43), một số đã mai danh ẩn tích trong chùa, trong đó có Bát Nàn Phu Nhân xuất gia, vị ni cô nổi tiếng đầu tiên của Việt Nam. Nếu đã có chùa để tu, Phật Giáo hiển nhiên đã đến Việt Nam trước năm 43.

-         Trong Giao Châu Ký của Lưu Hân Kỳ có nói đến thành Nê Lê ở phía đông nam huyện Định An, cách sông 7 dặm, tháp và giảng đường do vua A Dục dựng vẫn còn: Thành Nê Lê có nghĩa là thành bùn đen, ở vùng Đồ Sơn, Hải Phòng. Nên nhớ vào thời vua A Dục, thế kỷ thứ 3 trước kỷ nguyên, đại sư Moggalitutta, dưới sự bảo trợ của vua A Dục, gửi 9 phái đoàn Phật Giáo ra nước ngoài hoằng pháp, trong đó có phái đoàn (phái đoàn thứ 8) do đại sư Sona và Uttara lãnh đạo đến vùng Kim Địa (Suvannabhùmi) Đông Nam Á. Phải chăng Phật Giáo đã truyền đến Việt Nam vào thế kỷ thứ 3 trước kỷ nguyên do phái đoàn Sona và Uttara?

-         Tại vùng Tam Đảo có ba ngọn núi cao gọi là Thạch Bàn, Phù Nghĩa và Thiên Kỳ, dưới chân núi Thạch Bàn, tại làng Sơn Định, có ngôi chùa Tây Thiên, tương truyền liên hệ với vua Hùng. Chùa Tây Thiên có tên nôm là chùa Địa Ngục, như vậy có liên hệ với thành Nê Lê (Naraka: Địa Ngục) chăng?

 

11.  Kinh sách gì lưu hành tại Việt Nam thời bấy giờ?

-         Lục Độ Tập Kinh, Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh, Lục Độ Tập Kinh là kinh văn đầu tiên và xưa nhất của Việt Nam, ngoài bài Việt Ca, được ngài Khương Tăng Hội dịch từ chữ Việt ra chữ Hán vào thời Tam Quốc, gồm 91 truyện trong đó có truyện (truyện 23, quyển 3) về truyền thuyết Trăm Con Trong Bọc Trứng (Trăm Trứng: Noãn Bách Mai), xây dựng thành trì văn hóa chống lại chính sách diệt chủng, đồng hóa của nhà Hán. Trong 91 truyện ít nhất là 7 truyện lưu hành vào thời Hùng Vương. Một số truyện khác xuất hiện sau thời Hai Bà Trưng. Cựu Tạp Thí Dụ Kinh gồm 61 truyện, cũng do ngài Khương Tăng Hội dịch từ chữ Việt ra chữ Hán, đề cao vai trò giới luật, khai triển cách hành xử của từng cá nhân và trong tập thể xã hội, áp dụng năm giới mười lành (Ngũ Giới, Thập Thiện) làm quốc chính, biến hệ thống giới luật Phật Giáo, hành trì Phật đạo thành hệ thống pháp luật quốc gia, thể hiện một thái độ chính trị đối đầu với hệ thống luật pháp Trung Quốc đã được Mã Viện áp dụng sau khi đánh bại Hai Bà Trưng năm 43 sau kỷ nguyên. Tạp Thí Dụ Kinh cũng gọi là Bồ Tát Độ Nhân Kinh, gồm 2 quyển, 32 truyện, nguyên bản tiếng Việt đã mất chỉ còn dịch bản Trung Hoa do một người Việt (không để tên) dịch.

 

 

PHẬT GIÁO THỜI BẮC THUỘC

 

12.  Trong thời kỳ Bắc thuộc từ năm 111 trước Công Nguyên đến 905, tình hình chính trị và Phật Giáo như thế nào?

-         Việt Nam dưới quyền cai trị của Trung Quốc trải qua nhiều thời đại: Thời Tiền Hán hay Tây Hán do Lưu Bang (Hán Cao Tổ) thành lập năm 206 tkn cho đến năm 8, đô hộ nước ta 119 năm. Nhà Tiền Hán áp dụng chính sách đồng bằng hóa bằng cách đưa di dân Trung Hoa đến định cư ở nước ta, thiết lập đội ngũ quý tộc Âu Lạc thân Hán. Nho và Lão giáo được truyền đến Việt Nam vào thời kỳ này.

-         Phật Giáo trước đây được các thương gia và chư tăng Ấn Độ trực tiếp truyền vào với sự hiện diện của sư Phật Quang, bổn sư của Chữ Đồng Tử, nỗ lực duy trì bản tính dân tộc: Hạnh nguyện Bồ Tát trong truyện số 68 của Lục Độ Tập Kinh được khai triển: “Bồ Tát thấy dân kêu ca, đành gạt lệ, xông mình vào nơi chính trị hà khắc để cứu dân khỏi cảnh lầm than.” Trên bình diện văn hóa, Phật Giáo Việt Nam không để cho văn hóa Hán Nho ngự trị, đồng hóa. Truyện 49 trong Lục Độ Tập Kinh nhận định về quan điểm nhân đức của hàng Nho sĩ: “Tôi ở đời lâu năm, tuy thấy Nho Sĩ chứa đức làm lành, hà có bằng được để tử của Phật quên mình, cứu người, âm thầm không phô trương tên tuổi.” Phê bình quan điểm hiếu để của Hán Nho không hủy hoại râu tóc cha mẹ sinh ra, làm rạng danh tổ tiên, giữ gìn huyết thống, Lục Độ Tập Kinh, truyện thứ 3 viết: “Ta muốn cái đạo vô dục. Đem đạo truyền cho thần, đem đạo trao cho thánh, thần thánh truyền nhau giáo hóa, rộng lớn không bao giờ hủy hoại, đó mới là thừa tự tốt. Bây giờ các ngươi ngăn nguồn đạo, chặt gốc đức, phải chăng đó mới là vô hậu.” Muốn giữ nước phải thương dân, lấy nhân trị quốc. Truyện 70 trong Lục Độ Tập Kinh viết: “Theo trời làm điều nhân, không hại nhân mạng, không tham lam làm khổ dân, kính người già như cha mẹ, thương dân như con, cẩn thận thực hành giới răn của Phật, giữ đạo cho đến chết.”

-         Muốn tồn tại phải đùm bọc lẫn nhau, trên dưới một lòng, trong ngoài một chí. Truyện 23 trong Lục Độ Tập Kinh khai triển tinh thần Trăm Con Trong Bọc Trứng. Con trai, con gái, ở vùng sơn cước hay nơi duyên hải đều cùng một bọc trứng mà ra, phải yêu thương nhau, đùm bọc lẫn nhau trước hiểm họa đồng hóa của chính sách nhà Hán. Nói tóm lại, Phật Giáo vào thời Tiền Hán ngoài sứ mệnh hướng dẫn đời sống tâm linh, còn lãnh đạo dân chúng duy trì ý chí tự lập, tự cường, chuẩn bị cho một tương lai sáng lạn hơn.

 

13.  Sau thời Tiền Hán nước ta bị triều đại Trung Hoa nào cai trị?

-         Nước ta dưới sự đô hộ của nhà Tấn do Vương Mãng cướp ngôi thành lập, từ năm 8 đến năm 25, rồi dưới quyền nhà Hậu Hán hay Đông Hán do Lưu Vũ (Hán Quang Võ) lập ra, đô hộ nước ta 195 năm.

 

14.  Vào thời kỳ này chính tình Việt Nam và Phật Giáo như thế nào?

-         Vào thời kỳ này tại Việt Nam có hai cuộc chính biến quan trọng, đó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40, dành độc lập, trị vì được 4 năm (từ năm 40 đến 43) sau bị quân Mã Viện của Hán Quang Võ đến xâm chiến, Hai Bà Trưng tử trận, một trong các nữ tướng, Bát Nàn phu nhân vào chùa tu.

-         Vào hậu bán thế kỷ thứ 2, chư tăng ngoại quốc tiếp tục đến Việt Nam hoằng pháp, trong đó có ngài Khâu Đà La (Kaudra) từ tây Thiên Trúc đến Giao Châu năm 189. Trong số Phật tử nổi danh bấy giờ là Tu Đinh và Man Nương.

-         Man Nương người Mèn sau trở thành Phật Mẫu, được thờ tại chùa Phúc Nghiêm, làng Mân Xá, huyện Siêu Loại gần thành Luy Lâu.

-         Nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nữa bùng nổ, trong đó có cuộc khởi nghĩa của người Chàm, thành lập vương quốc Chàm năm 192.

 

15.  Xin khai triển them về đặc tính Phật Giáo Việt Nam thời Hậu Hán.

-         Ngoài vận động văn hóa chống chính sách đồng hóa, ngoài thần thoại Trăm Con Trong Bọc Trứng đùm bọc nhau để sống, để tồn tại, Phật Giáo vận dụng khả năng bản địa hóa giáo lý, bản địa hóa tự viện, thần tượng, khiến cho đức Phật lịch sử Ấn Độ trở thành đức Phật Việt Nam, gần gũi hơn, biến Thần Mây, Thần Mưa, Thần Sấm, Thần Sét thành Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi và Phật Pháp Điện, na ná như mô hình hoằng pháp của Đại sư Padmasambhava ở Tây Tạng, biến thổ thần Tây Tạng thành Phật Tây Tạng, thành thần hộ pháp.

-         Trong bốn vị Phật này, qua lịch sử chỉ có Phật Pháp Vân còn được tôn thờ cho đến ngày nay, vì Pháp Vân là chủ yếu, không có mây thì không có mưa, không có sấm, không có sét. Ngôi chùa thờ Phật Pháp Vân này vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng, chứng kiến sự ra đời của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi được đệ tử là ngài Pháp Hiển khai triển vào thế kỷ thứ 6, nên cũng gọi là dòng thiền Pháp Vân.

 

16.  Sau thời Hậu Hán, Việt Nam dưới ách thống trị Trung Hoa vào triều đại nào? Tình hình chính trị và Phật Giáo thời kỳ này như thế nào?

-         Dưới thời Đông Ngô 60 năm từ năm 220 đến năm 280. Trong giai đoạn này Bà Triệu khởi nghĩa tại núi Tùng, Thanh Hóa, năm 248, Lã Hưng khởi nghĩa năm 262.

-         Tình hình chính trị Việt Nam sau cái chết của Sĩ Nhiếp năm 226 có những biến động sâu xa. Tôn Quyền sau khi chiếm cứ miền nam Trung Quốc (thời Tam Quốc), để tranh hùng với Tào Tháo và Lưu Bị, nhân cái chết của Sĩ Nhiếp muốn thôn tính đất Việt, tiếp tục ách thống trị của Trung Quốc tại Việt Nam, Bà Triệu (248-257) đã tử trận chống lại quân Ngô xâm lăng năm 257.

-         Phật Giáo sau quá trình bản địa hóa giáo lý, tư tưởng, Phật điện, Phật tượng với sự ra đời của Lục Độ Tập Kinh, Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, Thí Dụ Kinh và các vị Phật Việt Nam như Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, là sự xuất hiện của Mâu Bác với tác phẩm Lý Hoặc Luận vào khoảng năm 198. Mâu Bác sinh năm 160, có tên là Dung, tự Tử Bác, người Thương Ngô, đến cư trú tại Việt Nam, viết Lý Hoặc Luận khoảng năm 198 và qua đời năm 230.

-         Lý Hoặc Luận gồm có 37 điều giải thích Phật lý, khai triển tinh thần bình đẳng, bình đẳng giữa người và người, giữa quốc gia này với quốc gia khác, khai triển tinh thần bao dung, không cực đoan, nêu rõ tinh thần hạn cuộc, cục bộ sai lầm của Khổng, Lão, cổ võ tinh thần độc lập văn hóa với chủ trương: “Thi Thư chưa hẳn là lời thánh hiền”, ” Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất”.

 

17.  Sau Mâu Tử có những nhân vật Phật Giáo thượng thặng nào?

-         Ngài Khương Tăng Hội, tổ tiên người Khương Cư (Sogdian), mấy đời ở Thiên Trúc, phụ thân là một thương gia, đến Giao Chỉ làm ăn buôn bán. Năm 10 tuổi song thân đều mất, Khương Tăng Hội xuất gia tu Phật. Sau khi đã thọ Cụ Túc Giới, học đạo tinh thông, năm 247 Khương Tăng Hội đến Kiến Nghiệp, thời Ngô Tôn Quyền, ở chùa Kiến Sơ, dịch kinh A Nan Niệm, kinh Diện Nương, Sát Vi Vương, Phạm Hoàng, kinh Tiểu Phẩm, dịch Lục Độ Tập Kinh năm 251 và Cựu Tạp Thí Dụ Kinh từ tiếng Việt ra tiếng Trung Hoa, chú thích và viết lời Tựa cho 3 bộ kinh An Ban Thủ Ý, Pháp Kinh và Đạo Thọ v.v…, sáng tác Nê Hoàn Bối, tập nhạc nổi danh lúc bấy giờ. Năm 280 ngài viên tịch, đó là năm Thái Khương thứ nhất nhà Tấn.

-         Khương Tăng Hội sinh đẻ tại Việt Nam, trưởng thành tại Việt Nam, yêu thương nước Việt, khai triển tinh thần Trăm Con Trong Bọc Trứng, một truyện trong Lục Độ Tập Kinh.

-         Khương Tăng Hội hấp thụ nền giáo dục Phật Giáo Việt Nam, ngoài Tam Tạng kinh điển, còn học sáu kinh của Khổng Giáo, thiên văn, đồ vĩ, xu cơ (khoa luận lý), văn hàn (viết văn).

-         Nền giáo dục Phật Giáo thời bấy giờ không những chỉ đào tạo tăng sĩ trong nhiệm vụ hoằng pháp mà còn cung cấp kiến thức văn minh thời đại, ngay cả âm nhạc, khác hẳn nền giáo dục nô dịch Trung Quốc lúc bấy giờ.

-         Lễ nhạc Phật Giáo Việt Nam bắt đầu vào thế kỷ thứ 2, hay ít nhất bắt đầu với Nê Hoàn Bối của Khương Tăng Hội.

-         Nhà sư kiêm dịch giả Việt Nam đầu tiên xuất hiện, đó là ngài Đạo Thanh hay Đạo Hinh, cộng tác với ngài Chi Lương Cương Tiếp (Kakyànasìva), người Nhục Chi (Scythian) năm 256 dịch bộ Pháp Hoa Tam Muội Kinh (thất truyền) từ chữ Phạn ra chữ Hán. Đạo Thanh vào khoảng năm 220, có thể thọ giáo với Khương Tăng Hội, Trần Huệ, Văn Nghiệp (Bì Nghiệp) và Hàn Lâm, có thể học chữ Phạn với Khâu Đà La (Kaudra) người tây Thiên Trúc. Đạo Thanh có thể sống những năm cuối cùng của đời mình vào giai đoạn đất nước đang bị giành giật giữa những thế lực cát cứ của Trung Quốc, tức khoảng năm 270-300.

 

18.  Sau Đông Ngô, Việt Nam bị triều đại Trung Hoa nào cai trị?

-         Sau Đông Ngô Việt Nam dưới ách thống trị của nhà Tấn gồm Tây Tấn và Đông Tấn, kéo dài 140 năm, từ năm 280 đến năm 420. Vào thời kỳ này vào năm 299 một cuộc chính biến do Triệu Chi cầm đầu đã nổ ra tại Cửu Chân và cuộc khởi nghĩa do Lý Dịch và Lý Thoát cầm đầu.

-         Vào khoảng năm 300 Ma Ha Kỳ Vực (Mahàjivaka) người Thiên Trúc đến Trung Quốc rồi đến Giao Châu hoằng đạo, ở chùa Pháp Vân.

-         Sau Khâu Đà La là Vu Pháp Lan và Vu Đạo Thúy từ Trung Quốc đến Việt Nam trên đường đi Thiên Trúc.

 

19.  Mẫu người lý tưởng của Phật Giáo thời Hùng Vương thế kỷ thứ hai, thứ ba trước kỷ nguyên cho đến thời Mâu Tử, thế kỷ thứ hai sau kỷ nguyên là gì?  Là A La Hán Bồ Tát, Phật?

-         Là vị A La Hán-Bồ Tát: “Lòng sạch, chứng đắc tứ thiền, theo ý tự do, nhẹ nhàng bay nhảy, đạp nước mà đi, phân thân tán thể, biến hóa muôn hình, ra vào không hở, còn mất tự do, rờ mó trời trăng, chấn động đất trời, trông suốt nghe khắp, thấy nghe trọn vẹn, lòng sạch thấy sang, được nhất thiết trí.”

 

20.  Trong bối cảnh lịch sử và văn hóa ấy, Mâu Tử định nghĩa Phật như thế nào?

-         Mâu Tử trong Lý Hoặc Luận, điều 2, viết: “Phật là nguyên tố của đạo đức, là đầu mối của thần minh. Phật có nghĩa là Giác, biến hóa nhanh chóng, phân thân tận thế, hoặc còn, hoặc mất, nhỏ được, lớn được, tròn được, vuông được, già được, trẻ được, ẩn được, hiện được, đạp lửa không phỏng, đi trên dao không đau, ở dơ không bẩn, gặp họa không mắc, muốn bay thì bay, ngồi thì lóe sáng, nên gọi là Phật.”

-         Mẫu người lý tưởng, định nghĩa về Phật, Ma Ha Kỳ Vực thi thố thần thông, cho ta thấy xu hướng Phật Giáo quyền năng thịnh hành vào thời ấy.

 

21.  Sau nhà Tấn, nước Việt Nam dưới ách thống trị của triều đại Trung Hoa nào?  Tình hình chính trị và Phật Giáo vào thời điểm này ra làm sao?

-         Từ năm 420 Trung Quốc chia thành hai miền Nam Bắc, sử gọi là thời Nam Bắc Triều. Nam Triều thay nhà Tấn cai trị nước ta 122 năm, từ năm 420 đến năm 542.

-         Năm 542 Lý Bí (Lý Bôn) khởi nghĩa thành công, lên ngôi năm 544, xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, kinh đô tại Hà Nội, xây dựng chùa Khai Quốc. Nước Vạn Xuân độc lập từ năm 542 đến năm 602.

-         Vào thế kỷ thứ 5, Phật Giáo Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng, thể hiện qua 6 bức thư trao đổi giữa Lý Miễu, quân vương Giao Chỉ với đại sư Đạo Cao và Pháp Minh vào khoảng năm 453. Nho giáo bành trướng tại Việt Nam, cảnh bút chiến giữa Nho Phật bùng nổ. Cuốn Quân Thiện Luận hay Bạch Hắc Luận của nhà sư Huệ Lâm, người Hán mà Hà Thượng Chi trong lá thư viết cho Tống Văn Đế năm 435 nói Huệ Lâm mặc áo thầy tu mà hủy báng giáo pháp Phật, được vua Tống Văn Đế kính trọng và hỏi bàn việc nước, quyển Minh Phật Luận của Thái tử Trung Xa Nhân Tôn Bính biện minh, làm sáng tỏ giáo lý Phật.

-         Trong thời điểm này Vương Diệm, một nhân sĩ Trung Hoa, đã đến Việt Nam xuất gia theo ngài Pháp Hiền. Vương Diệm, tác giả cuốn Minh Tường Ký xác định niềm tin Phật Giáo quyền năng Việt Nam. Phật Giáo vào thời điểm này phải đương đầu với xu thế văn hoá thời đại: văn hóa cai trị Trung Hoa.

-         Năm 580 ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), đệ tử của đệ tam tổ Tăng Xán, người Ấn Độ đến Trung Quốc rồi đến Việt Nam hoằng hóa, cư trú tại chùa Pháp Vân, dịch bộ kinh Tổng Trì, thành lập thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, truyền tâm pháp cho ngài Pháp Hiền, viên tịch năm 594. Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền được 19 đời, từ năm 580 đến năm 1216, đời Y Sơn Thiền Sư.

 

22.  Ở trên có đề cập đến lãnh vực âm nhạc Phật Giáo Việt Nam xuất hiện vào thế kỷ thứ hai hay thứ ba. Mỹ nghệ Phật Giáo được phát tirển như thế nào?

-         Trên lãnh vực mỹ nghệ, mỹ thuật Gandhàra chưa thấy phổ cập tại Việt Nam. Nghệ thuật Tiên Sơn vào tiền bán thế kỷ thứ 5, đức Phật chưa được nhân cách hóa mà được tượng trưng bằng cánh hoa sen đặt giữa lá cây bồ đề, vì đức Phật không phải là người, không thể đem hình tượng người tượng trưng cho Phật. Nghệ thuật này rất phổ cập tại các nước Phật Giáo trước khi nghệ thuật Gandhàra thịnh hành.

-         Về âm nhạc, lễ nhạc Phật Giáo Việt Nam bắt đầu với Nê Hoàn Bối của Khương Tăng Hội, đến thế kỷ thứ 5 đã phát triển thành ca hát, ngâm vịnh, đọc tụng, tán bối, văn tế, trường ca. Bối hay Tán Bối là đem vận mà phổ vào đồ ống, đồ dây. Dân ta ưa đánh trống, thổi kèn. Nhạc cụ của nền nghệ thuật Tiện Sơn về trống có trống cơm, trống đồng, trống da; về đàn có hồ cầm, kim, tỳ bà, đàn nguyệt, ngoài ra còn có chuông, mõ, khánh.

 

23.  Sau thời gian độc lập 60 năm, Việt Nam lại bị Trung Quốc tái xâm chiếm, dưới ách thống trị của triều đại Trung Hoa nào?  Chính tình và tình hình Phật Giáo Việt Nam vào thời điểm này ra làm sao?

-         Sau nước Vạn Xuân độc lập, nhà Tùy đến xâm chiếm, đặt nền đô hộ nước ta 16 năm từ năm 602 đến năm 618, tiếp theo là nhà Đường cai trị nước ta 287 năm, từ năm 618 đến năm 905.

-         Trong thời điểm này, năm 722 Mai Thúc Loan (sử nhà Đường chép là Mai Huyền Thành) phất cờ khởi nghĩa, lập căn cứ địa dọc theo bờ sông Lam, Nghệ An, xây thành Vạn An, được làm hoàng đế gọi là Mai Hắc Đế. Mai Thúc Loan sinh tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc huyện Nam đàn, tỉnh Nghệ An), người tóc quăn, da đen, nên gọi là Mai Hắc Đế, sau bị quân nhà Đường, do Dương Tư Húc chỉ huy đánh dẹp.

-         Vào khoảng năm 766-769, Phùng Hưng và em là Phùng Hải nổi dậy giành độc lập. Năm 791 con của Phùng Hưng là Phùng An đầu hàng Triệu Xương, tướng nhà Đường.

-         Dương Thanh cùng em là Dương Chí Liệt đứng lên khởi nghĩa, đến năm 820 nghĩa quân của Dương Thanh bị tiêu diệt.

-         Dưới nhà Đường có 3 phái đoàn Phật Giáo từ Trung Quốc đến Việt Nam hoằng hóa. Đoàn thứ nhất do 3 vị sư người Trung Hoa là Minh Viễn, Huệ Mạnh và Vô Hành. Đoàn thứ hai gồm 2 vị sư người Trung Hoa và một vị sư người Trung Á là Đàm Nhuận, Trí Hoằng và Tăng Già Bạt Ma (Sanghavarma), người Khương Cư. Đoàn thứ ba gồm 6 vị sư Việt Nam, 4 vị gốc Giao Châu (Hà Nội, Nam Định) là Vân Kỳ, Mộc Xoa Đề Bà, Khuy Sung tên chữ Phạn là Citradeva, Huệ Diệm; 2 vị người Ái Châu (Thanh Hóa) là Trí Hành, tên chữ Phạn Bát Nhã Đề Bà (Prajnadeva) và Đại Thặng Đăng, tên chữ Phạn là Ma Ha Già Na Bát Địa Dĩ Ba (Mahayàna Pradipa). Những vị sư Việt Nam đều biết tiếng Phạn, đều đã đi Thiên Trúc, Tích Lan học đạo.

-         Cũng trong thời gian này có những nhà sư Việt Nam như Nhật Nam Tăng, Vô Ngại Thượng Nhân, Phụng Đình, Duy Giám, đến Trung Quốc hoằng đạo, được vua Đường mời vào cung giảng kinh.

-         Vào thời Đường Đức Tông (780-836) ngài Vô Ngôn Thông quê ở Quảng Châu đến Giang Tây học đạo với ngài Bách Trượng, năm 820 đến Việt Nam ở chùa Kiến Sơn, Bắc ninh, suốt ngày xây mặt vào vách tu thiền, nhiếp độ Cảm Thành thiền sư, lập phái thiền thứ hai tại Việt Nam gọi là phái thiền Vô Ngôn thông, viên tịch năm 826. Dòng Vô Ngôn Thông truyền được 15 đời, đến đời cư sĩ Ứng Thuận là vị cuối cùng (1221)

 

PHẬT GIÁO THỜI ĐỘC LẬP

 

24.  Từ năm 905 đến năm 1009 là thời kỳ thiết lập kỷ nguyên độcd lập, tự chủ của Việt Nam.  Xin cho biết sơ qua chính tình Trung Hoa, Việt Nam vào thời kỳ ấy.

-         Từ cuối thế kỷ thứ 9 trở đi, triều đại nhà Đường bắt đầu tan rã, hoạn quan hoành hành, kinh tế kiệt quệ, dân tình đói khổ. Trung Quốc bước vào thời loạn lạc, đó là thời Ngũ Đại Thập Quốc (Năm Đời Mười Nước). Khúc Thừa Dụ lợi dụng cơ hội này hành xử quyền bính có tính cách độc lập, được Đường Ái Tông (904-907) phong làm Đông Bình Chương Sự năm 906. Sauk hi Khúc Thừa Dụ qua đời con là Khúc Hạo lên thay cha làm Tiết Độ Sứ năm 907. Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay. Từ năm 930 đến năm 938 quân Nam Hán (Trung Hoa) tấn công Việt Nam hai lần, lần thứ nhất năm 931 bị Dương Đình Nghệ đánh bại, lần thứ hai năm 939 bị Ngô Quyền trong trận Bạch Đằng nổi tiếng đánh bại. Ngô Quyền lên ngôi vua (938) đóng đô tại thành Cổ Loa. Sau khi Ngô Quyền qua đời năm 944, loạn Mười Hai Sứ Quân xảy ra, Đinh Bộ Lĩnh có công bình định, năm 968 được tôn lên ngôi vua tức là Đinh Tiên Hoàng (Hoàng Đế đầu tiên họ Đinh), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.

-         Mối quan hệ giữa Đại Cồ Việt và nhà Tống Trung Hoa tương đối tốt đẹp.

-         Chẳng bao lâu Đinh Tiên Hoàng say mê hưởng lạc, xung đột cung đình nổi dậy, con cái tranh dành ngôi thứ, quân Chiêm Thành, nhân cơ hội này xuất chiến thuyền định tấn công Đại Cồ Việt nhưng bị bão lớn làm đắm thuyền.

-         Sau khi Đinh Tiên Hoàng qua đời năm 980, quân Tống chia làm hai ngả tấn công Đại Cồ Việt. Trước nguy cơ có thể mất nước, mùa thu năm 980 Thái Hậu Dương Vân Nga trao long cổn cho tướng Lê Hoàn, tôn làm vua (Lê Đại Hành). Năm 981 Lê Hoàn đánh tan quân Tống xâm lược. Nhà Lê do vua Lê Hoàn xây dựng, vẫn đóng đô tại Hoa Lư. Năm 982 Lê Hoàn cho quân đánh Chiêm Thành, vua Chiêm bị giết.

-         Sau khi Lê Hoàn qua đời năm 1005, các con chém giết nhau tranh dành ngôi vị. Lê Long Tích bị giết tại Thạnh Hà (Hà Tĩnh), Lê Long Kính bị giết ở Phù Lan (Hưng Yên), Lê Long Việt (Lê Long Tôn) lên ngôi được 3 ngày cũng bị giết. Cuối cùng Lê Long Đỉnh, kẻ tàn ác nhất lên cầm quyền cuối năm 1005.

 

25.  Xin cho biết tình hình Phật Giáo Việt Nam vào kỷ nguyên xây dựng độc lập, tự chủ.

-         Dưới thời Đinh Tiên Hoàng Phật Giáo được xem là quốc giáo, địa vị các nhà sư trong xã hội được đề cao, cấp bậc tăng lữ do triều đình qui định. Ngài Ngô Chân Lưu được mời làm Tăng Thống, được phong hiệu là Khuông Việt Đại Sư (Đại sư khuông phò nước Việt) tham dự triều chính với uy quyền của một Tể Tướng.

-         Chư Tăng được triều đình cấp ruộng đất. Tam Giáo sống hài hòa.

-         Lê Long Đỉnh khinh mạn chư tăng, triều thần, đam mê tửu sắc, thường nằm trên giường, kể cả khi thiết triều, nên sử gọi là Lê Ngọa Triều. Khi Lê Long Đỉnh mất năm 1009, đại diện cho chư tăng là sư Vạn Hạnh, đại diện cho quan lại là Đào Cam Mộc, đồng lòng tôn Lý Công Uẩn lên ngôi.

-         Chư tăng là hàng trí thức đông đảo nhất trong xã hội, ngoài Khuông Việt Thái Sư, còn có Pháp Thuận Thiền Sư, nhà ngoại giao nổi tiếng, Vạn Hạnh Thiền Sư, uy tín bậc nhất của Giáo Hội Tăng Già thời bấy giờ.

 

26.  Theo sử sách, thời Lý, Trần là thời đại hoàng kim của Phật Giáo.  Xin cho biết sơ qua về tình hình chính trị vào thời kỳ này.

-         Đời nhà Lý có 8 ông vua: Lý Thái Tổ (1010-1028), Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054-1072), Lý Nhân Tông (1072-1127), Lý Thần Tông (1128-1138), Lý Anh Tông (1138-1175), Lý Cao Tông (1176-1210), Lý Huệ Tông (1211-1225).

-         Sau khi Lý Công Uẩn, con nuôi của nhà sư Lý Khánh Vân chùa Cổ Pháp, thọ giới với ngài Vạn Hạnh làm quan Tả Thân Vệ Điện Tiền đời Lê, được Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc suy cử làm hoàng đế, hiệu Lý Thái Tổ. Khi lên ngôi, Lý Thái Tổ thi hành một số biện pháp cấp bách để đối phó với tình trạng kinh tế, xã hội thời Lê Ngọa Triều: Vua ra lệnh xóa nợ thuế cũ cho những người mồ côi, góa bụa, già yếu, tàn tật; miễn thuế 3 năm cho dân; hủy bỏ chài lưới, cung nỏ; bãi bỏ ngục tụng, dân được trực tiếp khiếu nại oan ức với triều đình; đại xá cho kẻ tù tội, giúp họ quần áo, tiền bạc, thuốc men để họ có thể trở về quê quán; dời đô về Thăng Long (Hà Nội); củng cố lực lượng quân sự; thi hành chính sách đại đoàn kết dân tộc, phủ dụ dân tộc thiểu số.

-         Vào đời Lý một số biện pháp khác được thực hiện: cải cách ruộng đất, phát triển tiểu công nghệ, xây dựng Văn Miếu (1070), tổ chức thi cử để chọn người tài giúp nước (1075), phát triển nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, củng cố và tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết, xây dựng chùa tháp.

-         Thành công phá hủy căn cứ quân sự tại Châu Ưng, Châu Khâm, Châu Liêm do vua Tống thiết lập, chuẩn bị tấn công Đại Việt. Xây dựng chiến tuyến sông Cầu. Dưới sự chỉ huy của hoàng đế Lý Thánh Tông và đại tướng Lý Thường Kiệt, nhằm mục đích tự vệ (vì nhà Tống liên kết với Chiêm Thành tấn công Việt Nam hai mặt, phía bắc do quân Tống, phía nam quân Chiêm Thành), quân Đại Việt tấn công kinh đô Chiêm Thành là Thành Phật Thệ (Bình Định). Năm 1069, dưới quyền chỉ huy của Lý Thường Kiệt, động viên tinh thần binh sĩ bằng bài Nam Quốc Sơn Hà, như bản tuyên ngôn độc lập, quân ta tiêu diệt đạo quân Tống xâm lăng năm 1076-1077.

-         Sau chiến thắng, nhà Lý đã khôn ngoan vận dụng ngoại giao nối giây liên hữu giữa hai quốc gia Trung - Việt.

 

27.  Xin cho biết tình hình Phật Giáo dưới thời nhà Lý.

-         Phật Giáo thời nhà Lý có thể nói là hưng thịnh nhất trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam, với những bậc cao tăng như Vạn Hạnh, Đa Bảo, Cửu Chi, Bảo Tánh, Minh Tâm, Huệ Sinh, Định Hương, Thiền Lão, Khô Đầu, Viên Chiếu, Ngộ Ấn, Minh Không, Ni sư Diệu Nhân, Bảo Giám, Thông Biện, v.v…

-         Tất cả 8 nhà vua đời Lý đều là Phật Tử thuần thành, hành trì thiền quán.

-         Lễ dâng y (ban phẩm phục) cho hàng Tăng Sĩ được thành hình.

-         Sang Trung Quốc thỉnh đại tạng (1019)

-         Thiết lập đạo tràng giảng dạy Phật Pháp, cử chư tăng đi các nơi giảng truyền chánh pháp.

-         Chư tăng ngoài thông hiểu Tam Tạng, kinh sử, chuyên tu tập thiền quán Tam Ma Địa, còn giỏi sấm ngữ, độn số.

-         Chùa Một Cột (Chùa Diên Hựu) được xây dựng năm 1049 dưới thời Lý Thái Tông (1028-1054).

-         Thiền phái Thảo Đường do một nhà sư Trung Hoa hiệu Thảo Đường thành lập, được vua Thánh Tông mời làm quốc sư. Vua Thánh Tông (1054-1072) là đệ tử đầu tiên của phái Thảo Đường, truyền được 5 đời từ năm 1055 đến 1205, từ Lý Thánh Tông đến Lý Cao Tông (1176-1210).

-         Văn Miếu thờ đức Khổng Tử và 72 vị tiền hiền được xây dựng năm 1069 dưới thời Lý Thánh Tông.

-         Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) mời Khô Đầu Thiền Sư làm quốc sư với quyền hành của một tể tướng.

-         Thiên Phật Hội (Hội một nghìn đức Phật) được thiết lập thành lễ hội Phật Giáo.

-         Lễ Hội Láng được thiết lập còn được duy trì cho đến ngày nay.

-         Vua Lý Thần Tông (1128-1138) mời Minh Không thiền sư, dùng phép thần thông chữa bệnh điên cho vua, được vua mời làm quốc sư.

-         Vua Lý Cao Tông (1176-1210) mở kỳ thi Tam Giáo năm 1169, chọn nhân tài giúp việc triều chính.

-         Vua Lý Huệ Tông (1211-1225) năm 1224 truyền ngôi cho con gái là công chúa Phật Kim, tức là Lý Chiêu Hoàng, rồi xuất gia tu ở chùa Chân Giáo, đạo hiệu là Huệ Quang.

-         Lý Chiêu Hoàng sau truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh chấm dứt thời nhà Lý (215 năm, 8 đời vua) bước qua nhà Trần.

 

28.  Xin cho biết về Hội Láng còn được duy trì cho đến ngày nay tại Hà Nội.

-         Vào thời Lý Nhân Tông có vị thiền sư tên là Đạo Hạnh, tục danh là Từ Lộ, thân phụ là Từ Vinh làm chức Tăng Quan Đô Án, mẹ là Đặng Thị. Từ Vinh dùng tà thuật làm mếch lòng Duyên Thành Hầu, vị này nhờ Đại Điên pháp sư dùng pháp thuật đánh chết Từ Vinh, quăng thây xuống sông Tô Lịch trôi đến Quyết Kiều bên nhà Duyên Thành Hầu. Đến đây thây Từ Vinh bỗng nhiên đứng dậy chỉ tay vào nhà Duyên Thành Hầu suốt ngày. Duyên Thành Hầu mời Đại Điên pháp sư đến trị, thây ngã xuống sông trôi đi nơi khác. Từ Lộ, con của Từ Vinh muốn báo thù cha vào Từ Sơn ẩn tu, rèn luyện pháp thuật, lấy đạo hiệu là Đạo Hạnh. Sau khi thành đạt thuật pháp, trở về báo thù cho cha, ném cây gậy xuống sông Tô Lịch, gậy bơi ngược giòng sông, qua nhà Dương Thành Hầu thì đứng lại, chỉ vào nhà. Vương Thành Hầu cầu cứu Đại Điên pháp sư, Đại Điên đến bị Đạo Hạnh giết ngay tức khắc. Dương Thành Hầu mời Giác Hoàng đại pháp sư giúp đỡ. Hai bên (Giác Hoàng và Đạo Hạnh) đấu phép với nhau nhiều lần, sau Đạo Hạnh bị thua, được Sùng Hiền Hầu, em vua Lý Nhân Tông cứu, về ẩn ở Sài Sơn. Để trả ơn cứu sống, Đạo Hạnh nguyện đầu thai làm con Sùng Hiền Hầu. Con của Sùng Hiền Hầu sau này là vua Lý Thần Tông (Lý Nhân Tông không có con, lập con của Hoàng đệ Sùng Hiền Hầu làm Thái Tử). Tại làng Láng hiện nay (gần Hà Nội) có chùa thờ ngài Đạo Hạnh họ Từ, nên gọi là Từ Đạo Hạnh và pháp sư Đại Điên. Tại Sài Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây cũng có chùa thờ ngài Đạo Hạnh.

-         Lễ Hội Láng kỷ niệm pháp thuật thi thố giữa Đạo Hạnh và Đại Điên. Vào Lễ Hội Láng dân làng diễn tích Đạo Hạnh đánh nhau với Đại Điên.

-         Câu chuyện trên có mầu sắc na ná câu chuyện ngài Padmasambhava và ngài Naropa đến hoằng đạo tại Tây Tạng, cũng dùng quyền thuật trừ ma, khử ác. Ảnh hưởng Mật Giáo vào thời điểm này đã khá mạnh tại Việt Nam.

 

29.  Xin cho biết thêm về Minh Không thiền sư chữa bệnh tâm thần cho vua Lý Thần Tông.

-         Minh Không thiền sư tục danh Nguyễn Chí Thành, thọ giáo với ngài Đạo Hạnh ở chùa Thiên Phúc, được Đạo Hạnh truyền hết bí pháp. Trước khi viên tịch ngài Đạo Hạnh cho Minh Không biết là ngài sẽ tái sinh làm con của Sùng Hiền Hầu và sẽ là Lý Thần Tông sau này, vì nghiệp chướng (giết Đại Điên, đánh nhau với Giác Hoàng) nên sẽ bị quái bệnh, yêu cầu Minh Không giúp trị. Đạo Hạnh đầu thai làm con của Sùng Hiền Hầu, rồi được truyền ngôi hiệu Lý Thần Tông. Năm 1136 vua Thần Tông bị mắc bệnh tâm thần, suốt ngày gầm thét, toàn thân mọc lông như lông hổ, các lương y trong nước bó tay không thể chữa trị. Triều đình nghe tiếng Minh Không mời vào cung chữa trị. Minh Không gặp vua hét lớn: Đại trượng phu đứng đầu muôn dân, trị vì bốn bể, sao lại cuồng loạn như thế này. Vua Thần Tông nghe tiếng giật mình, tâm thần ổn định. Sau khi lành bệnh, vua phong cho Minh Không làm quốc sư…

-         Câu chuyện này giống chuyện Sakya Pandita Tây Tạnh chữa bệnh cho hoàng tử Mông Cổ, chuyện Hốt Tất Liệt phong cho Bát Tư Ba là Đế Sư (Thầy Vua) rồi Quốc Sư, nói lên ảnh hưởng Mật Giáo tại Việt Nam thời bấy giờ.

 

30.  Xin cho biết thêm yếu tố Mật Tông vào thời kỳ này.

-         Câu chuyện về ngài Từ Đạo Hạnh, con của Từ Vinh làm chức Tăng Quan Đô Án, một nhà sư với chức quan lớn. Nhà sư có gia đình, có vợ có con, giống như nhà sư của phái Mũ Đỏ Tây Tạng.

-         Huệ Sinh thiền sư thường vào núi nhập định, tu thiền, tác giả của bộ Pháp Sự Trai Nghi, Đại Tràng Khánh Tản Văn. Viên Chiếu thiền sư, tác giả cuốn Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn, Thập Nhị Hạnh Bồ Tát Tu Chứng Đạo Tràng, Tham Đồ Biểu Quyết, chủ trương thuyết Tam Ban, lấy thân làm Phật, lấy miệng làm Pháp, lấy tâm làm thiền. Bảo Giám thiền sư, tác giả bộ Chư Phật Tích Duyên Sự, Hồng Chung Văn Bi Ký v.v… Đây là những hành hoạt giống như chư Tăng Mật Giáo Tây Tạng.

 

31.  Tình hình chính trị thời Trần (1226-1400) như thế nào.

-         Vào cuối thời Lý các hoàng đế lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi: Lý Anh Tông (1138-1175) lên ngôi lúc 2 tuổi, Lý Cao Tông (1175-1210) lên ngôi lúc 2 tuổi, Lý Huệ Tông (1210-1224) lên ngôi lúc 16 tuổi, Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) lên ngôi lúc 6 tuổi. Quan lại xu nịnh, hoàng cung đầy rẫy những chuyện phi luân bại lý, thiền môn không mấy thanh tịnh đến nỗi năm 1198, Lý Cao Tông buộc phải thải hồi một số nhà sư. Kinh tế suy sập, nông dân nổi loạn qua cuộc khởi nghĩa của Lê Văn (1192), Thâm Lợi (1140), Phí Lãng (1152-1214). Năm 1224 bệnh tâm thần của Lý Huệ Tông trở nên trầm trọng, truyền ngôi cho con gái thứ hai là Lý Phật Kim lúc ấy mới 6 tuổi, xuất gia tu ở chùa Chân Giáo, pháp hiệu Huệ Quang. Lý Chiêu Hoàng do sự bố trí của Trần Thủ Độ, kết hôn với Trần Cảnh năm 1225 rồi truyền ngôi cho Trần Cảnh tức vua Trần Thái Tông năm 1226.

-         Nhà Trần trong giai đoạn đầu qua Trần Thủ Độ, trấn áp các thế lực chống đối, củng cố quyền lực: giết chết Lý Huệ Tông mặc dù lúc ấy vua Lý Huệ Tông đang bị bệnh và đang đi tu, giáng hoàng hậu Lý Huệ Tông, bà Trần Thụ Dung làm Thiên Cực Công Chúa và Trần Thủ Độ lấy bà làm vợ, truất phế địa vị hoàng hậu của Lý Chiêu Hoàng, và bắt vua Trần Thái Tông phải lấy vợ của Trần Liễu, anh ruột của Trần Cảnh (Trần Thái Tông) là Thuận Thiên Công Chúa, chị ruột của Lý Chiêu Hoàng, lúc đó đã có thai 3 tháng với Trần Liễu, qui định con trai triều đình nhà Trần chỉ được lấy con gái họ Trần để tránh ngoại tộc xâm nhập cướp ngôi, đề phòng các hoàng tử tranh dành ngôi báu, các hoàng đế nhà Trần sớm nhường ngôi cho con làm Thái Thượng Hoàng.

-         Giai đoạn kế tiếp nhà Trần cải tổ hành chính, quân sự, chủ trương quân đội cốt tinh nhuệ không cần nhiều, vũ trang nhân dân, kiện toàn pháp luật, cải cách nông nghiệp.

-         Về luật pháp, nhà Trần san định bộ Hình Thư đời Lý. Về xã hội thực hiện đoàn kết thượng từng, qua Hội Nghị Bình Than, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương năm 1282; đại đoàn kết quốc dân qua Hội Nghị Diên Hồng năm 1285 tại điện Diên Hồng, kinh thành Thăng Long.

-         Về quân sự nhà Trần đã đẩy lui được 3 cuộc tấn công của Nhà Nguyên (Mông Cổ) Trung Quốc. Lần đầu vào năm 1258 dưới quyền chỉ huy của vua Trần Thái Tông. Lần thứ hai năm 1285 dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đại thắng tại Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp. Lần thứ ba năm 1287 do Thoát Hoan, Ái Lỗ, Ô Mã Nhi chỉ huy tấn công ba mặt bị quân nhà Trần dưới quyền chỉ huy của Trần Hưng Đạo đánh bại tại trận Bạch Đằng năm 1288.

-         Về mặt văn hóa: Văn hóa thời Trần có một vị trí rất đặc biệt trong văn hóa Lý Trần nói riêng và trong lịch sử văn hóa dân tộc nói chung. Văn hóa thời Trần là văn hóa của hào khí Đông A (trong Hán tự, chữ Trần gồm có chữ Đông bên phải ghép với chữ A bên trái), văn hóa có quá trình phát triển gắn chặt với những chiến công xâm lăng hiển hách của dân tộc.

-         Nhà Trần tổ chức nhiều khoa thi cử chọn người hiền giúp việc nước.

-         Văn học đời Trần phong phú với những ngôi sao sáng như Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngãn, Phạm Sư Mạnh… với Lý Tế Xuyên soạn giả Việt Điện U Linh Tập.

-         Ngành sử học cũng được phát triển với bộ Đại Việt Sử Ký gồm 30 quyển của Lê Văn Hưu (1230-1322). Ngành y học, thiên văn học, khoa học quân sự (Binh Thư Yếu Lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn), nghệ thuật ca múa, kiến trúc, điêu khắc đượm tinh thần Phật Giáo và dân tộc phát triển mạnh.

-         Nhà Trần cai trị Việt Nam 174 năm từ năm 1226 đến 1400.

 

32.  Xin cho biết tình hình Phật Giáo dưới thời Trần.

-         Phật Giáo vào thời Trần cung cấp chất lượng tư duy, chi phối hầu hết đời sống tinh thần của dân.

-         Chùa tháp nhiều, các bậc cao tăng đông đảo. Một số vua nhà Trần xuất gia tu đạo. Năm 1231 vua Trần Thái Tông sắc cho nhân gian lập bàn thờ Phật khắp nơi công quán. Trần Thái Tông là tác giả của bộ Thiền Tông Chỉ NamKhóa Hư (giáo lý Phật). Trần Nhân Tông chuyên tu thiền quán, tham học thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ, năm 1299 vào tu ở núi Yên Tử, hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, thành lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Khi vua Nhân Tông vào núi Yên Tử tu hành thì Khâm Từ Hoàng Hậu cũng xuất gia làm ni.

-         Vào thời này có những bậc cao tăng như Pháp Loa, đệ tử của Hương Vân (Trần Nhân Tông), truyền giới xuất gia cho Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu và Thiên Trinh Trưởng công chúa, tác giả bộ Đoạn Sách Lục Tham Thiền Yếu Chỉ; như Huyền Quang, đỗ trạng nguyên năm 20 tuổi, làm quan ở viện Hàn Lâm, đi sứ Trung Hoa, xuất gia làm đệ tử của ngài Pháp Loa, là đệ tam tổ của phái Trúc Lâm.

-         Vào khoảng năm 1299 bộ Phật Giáo Pháp Sự Đạo Tràng Công Văn Cách Thức được ấn hành. Năm 1311 vua Anh Tông thâu nạp người con gái của một vị sư Tây Tạng tên là Dụ Chi Ba Lam vào cung, vị này có thần thông đi trên nước.

-         Phật Giáo vào cuối thời Trần xuống dốc. Năm 1321 vua Trần Hiến Tông mở kỳ thi khảo hạch Tăng sĩ. Năm 1381 vua Phế Đế sắc Đại Nam Thiền Sư thống suất tăng chúng trong nước đi đánh Chiêm Thành. Năm 1396 vua Trần Thuận Tông mở kỳ thi sát hạnh tăng chúng, người nào trúng tuyển được bổ làm Tri Cung (săn sóc các cung), Tri Quán (săn sóc các đền), Tri Tự (săn sóc việc chùa).

-         Vào cuối đời Trần, Nho học chiếm địa vị độc tôn. Lê Quí Ly sắp xếp cho một Đạo sĩ vào cung, xúi vua Thuận Tông nhường ngôi cho con để đi tu tiên. Thuận Tông nhường ngôi cho con mới 3 tuổi thường gọi là Trần Thiếu Đế. Quí Ly tiếm ngôi lập ra nhà Hồ.

 

33.  Xin cho biết thêm về tình hình chính trị thời Hậu Trần và thời Lê Quý Ly cướp ngôi nhà Trần lập nên nhà Hồ năm 1400.

-         Vào cuối đời Trần chiến tranh, hỗn loạn triền mien: Năm lần tấn công Lào (1290, 1291, 1294, 1334, 1335), ba lần bị Lào tấn công (1297, 1301, 1346), tám lần tấn công Chiêm Thành (1312, 1318, 1326, 1353, 1377, 1383, 1389), tám lần bị Chiêm Thành tấn công (1361, 1366, 1371, 1378, 1380, 1382, 1389), tám lần nổi loạn lớn: 1344-1360 ở vùng Hải Dương, 1354 ở vùng Lạng Sơn, 1378 ở vùng Bắc Giang, 1381 ở vùng Nghệ An, 1389 ở vùng Thanh Hóa do Nguyễn Thanh, 1389 ở vùng Thanh Hóa do Nguyễn Kỳ, 1389 ở vùng Hà Tây do Phạm Sư Ôn, 1389 ở vùng Hòa Bình do Nguyễn Nhữ Cái.

-         Để đối phó với tình hình bên trong và bên ngoài nhà Trần thực hiện chế độ hôn nhân ngoại tộc, thay đổi chủ trương lúc ban đầu chỉ được lập gia thất cùng họ.

-         Hồ Quí Ly người gốc Chiết Giang (Trung Quốc) tổ tiên di cư sang nước ta vào khoảng thế kỷ thứ 10, đã có mối quan hệ khá phức tạp với nhà Trần: hai cô ruột của Hồ Quí Ly là hoàng phi của Trần Minh Tông (1314-1329), một bà sinh ra hoàng đế Trần Hiến Tông (1329-1341) và hoàng đế Trần Nghệ Tông (1370-1371), một bà sinh ra hoàng đế Trần Duệ Tông (1372-1377); con gái của Hồ Quí Ly là hoàng hậu của Trần Thuận Tông (1388-1398); Hồ Quí Ly lấy công chúa Huy Ninh, con của hoàng đế Trần Nghệ Tông; em họ của Hồ Quí Ly lấy Trần Duệ Tông sinh ra Đế Hiện tức là Trần Phế Đế (1377-1388). Hồ Quí Ly làm quan được thăng chức liên tục từ chức Khu Mật Viện Đại Sứ năm 1371 đến Tuyên Trung Vệ Quốc Đại Vương năm 1395.

-         Năm 1397 Hồ Quí Ly vận động dời đô vào Thanh Hóa, cô lập nhà Trần.

-         Năm 1398 Hồ Quí Ly ép Trần Thuận Tông nhường ngôi cho Trần An tức là Trần Thiếu Đế (vua Trần còn bé, lúc ấy mới 2 tuổi). Trần Thuận Tông đi tu.

-         Năm 1398 Hồ Quí Ly giết Trần Thuận Tông mặc dù đã xuất gia (giống như Trần Thủ Độ giết Lý Huệ Tông đã đi tu năm 1226) và giết thêm 370 người cho là thuộc phe đối nghịch.

-         Tháng 3 năm 1400 Hồ Quí Ly cướp ngôi Trần Thiếu Đế, lập nên nhà Hồ, đổi quốc hiệu là Đại Ngu. Sau khi lên làm vua mấy tháng, truyền ngôi lại cho con thứ là Hồ Hán Thương, giữ ngôi Thái Thượng Hoàng.

-         Nhà Hồ nối tiếp chính sách của nhà Trần bành trướng lãnh thổ về hướng nam, 3 lần đánh Chiêm Thành (1400, 1402, 1404) chiếm bốn châu của Chiêm Thành là Thăng, Hoa (nay thuộc Quảng Nam), Tư, Nghĩa (nay thuộc Quảng Ngãi).

-         Nhà Hồ đề cao chữ Nôm, đã dịch thiên Vô Dật trong Kinh Thư và toàn bộ Kinh Thi ra chữ Nôm, cải tổ chế độ thi cử, mục đích kiếm người có khả năng giải quyết những vấn đề thực tế.

-         Nhà Minh xâm lược nước ta năm 1406. Tháng 6 năm 1407 toàn bộ triều đình nhà Hồ đều bị quân Minh bắt. Triều đại nhà Hồ chỉ được 7 năm, quốc hiệu Đại Ngu cũng chỉ tồn tại 7 năm.

 

34.  Tình trạng Phật giáo dưới nhà Hồ như thế nào?

-         Hồ Quí Ly bắt tất cả các nhà sư dưới 50 tuổi phải hoàn tục.

 

PHẬT GIÁO DƯỚI THỜI NHÀ MINH TRUNG HOA

 

35.  Tình hình Việt Nam và Phật Giáo dưới ách cai trị của nhà Minh Trung Hoa như thế nào?

-         Nhà Minh thiết lập nền đô hộ tại nước ta năm 1407, cướp 235,900 voi, ngựa, trâu, bò, 13,600,000 thạch lúa, 8,670 chiếc thuyền, 2,539,800 vũ khí các loại, bắt 9,000 Nho sĩ, thầy thuốc giỏi, thợ thủ công nghệ lành nghề đem về Trung Quốc; bắt dân theo phong tục tập quán Trung Hoa trong chính sách đồng hóa.

-         Năm 1419 quan nhà Minh tịch thu hết các sách vở trong nước, các kinh điển nhà Phật đem về Kim Lăng, đốt phá chùa chiền rất nhiều, phát triển Nho học.

-         Trong thời kỳ lệ thuộc nhà Minh (1407-1420) nhân dân Việt Nam liên tục nổi dậy đấu tranh: Khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Kháng (1407-1414), khởi nghĩa của Lê Ngã (1419-1420), khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa của Lê Lợi (1418-1427) được Nguyễn Trãi phù tá, được Ai Lao giúp đỡ một giai đoạn, đã thành công trong trận thư hùng cuối cùng tại Chi Lăng – Xương Giang tháng 10 năm 1427. Tháng 4 năm 1428 Lê Lợi lên làm vua lập nhà Lê, tồn tại 360 năm (1428-1788).

 

PHẬT GIÁO TỪ THẾ KỶ 15 ĐẾN THẾ KỶ 17

 

36.  Xin cho biết tình hình chính trị Việt Nam thời Lê sau khi Lê Lợi dẹp tan quân Minh lên làm vua năm 1428.

-         Nhà Lê kể cả Tiền Lê (trước khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi và Hậu Lê (sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, Nguyễn Kim tôn phò được Lê Trang Tông (1533-1548) lên ngôi tiếp tục giòng họ nhà Lê, chống lại nhà Mạc.

-         Trong giai đoạn đầu (Tiền Lê) kéo dào 100 năm, từ năm 1428 đến 1527, giai đoạn cực thịnh của nhà Lê, các vua như Lê Lợi, Lê Thánh Tông (1460-1497) xây dựng và hoàn chỉnh guồng máy nhà nước, kiện toàn quân đội. Năm 1466 Lê Thánh Tông chia nước thành 12 đạo: Thuận Hóa, Nghệ An, Thanh Hóa, Thiên Trường, Quốc Oai, Hưng Hóa, Nam Sách, Bắc Giang, An Bang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, và Lạng Sơn. Đến năm 1471 Lê Thánh Tôn sau khi chiếm đất Chiêm Thành, lập đạo thứ 13, đạo Quảng Nam.

-         Về lãnh vực pháp luật, bộ Lê Triều Hình Luật ra đời năm 1483.

-         Về mặt ngoại giao, Việt Nam bang giao thân thiện với Chiêm Thành, Lào, Bồn Man (vùng tây Thanh Hóa, Nghệ An), La La Tư Điện (vương quốc Lô Lô, tỉnh Quí Châu, Trung Quốc), Xiêm La và nhà Minh Trung Hoa.

-         Năm 1447 Bổn Man xin sáp nhập với Đại Việt trở thành Châu Qui Hợp, phủ Lâm An, sau phủ Lâm An đổi thành phủ Trấn Ninh. Năm 1471 Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, chiếm từ cực nam tỉnh Quảng Ngãi đến đèo Cù Mông. Năm 1479 Lê Thánh Tông đánh Lào đuổi đến biên giới Miến Điện.

-         Nho giáo ở địa vị độc tôn. Nho giáo thời Hậu Lê chịu ảnh hưởng Tống Nho. Thi cử được tổ chức khắp nơi. Quốc Tử Giám sau đổi thành Thái Học Viện được xây dựng tại thủ đô. Văn học chữ Hán chiếm ưu thế, lực lượng sáng tác chủ yếu là Nho sĩ. Chữ Nôm cũng được phát triển, Lê Thánh Tông là người đứng đầu Hội Tao Đàn gồm 28 thành viên gọi là Nhị Thập Bát Tú. Lĩnh Nam Trích , Việt Âm Thi Tập, Trích Diễm Thi Tập, Quần Hiền Phù Tập v.v... ra đời. Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tôn là những cự phách. Nguyễn Trãi với những tác phẩm như Quân Trung Từ Mệnh Tập, Lam Sơn Thực Lục, Đại Địa Chí. Ngoài ra còn nhiều tác phẩm của nhiều tác giả về mọi ngành như Sử, địa lý, đồ bản, y học, toán học.

-         Sau thời kỳ hưng thịnh 100 năm, nhà Hậu Lê bước vào giai đoạn suy thoái từ đầu thế kỷ thứ 16 đến giữa thế kỷ thứ 17. Lê Thánh Tông qua đời năm 1497 mở đầu mức suy thoái. Lê Hiến Tông (1497-1504) cố duy trì tình thế nhưng không được bao lâu. Lê Túc Tông chỉ tại vị 6 tháng rồi băng hà. Lê Uy Mục (1505-1509) là một hôn quân, bạo chúa đầu tiên của nhà Hậu Lê, đã giết bà nội và nhiều người trong hoàng tộc rồi bị triều thần đồng lòng phế bỏ. Lê Oanh tức Lê Tương Dục (1510-1516) được đưa lên ngôi lại là ông vua tham lam, tàn ác, đam mê tửu sắc, bị Trịnh Duy Sản giết năm 1516, Lê Quang Trị lên ngôi được 3 ngày thì bị giết. Lê Y 10 tuổi lên ngôi, đó là Lê Chiêu Tông (1516-1522) bị Mạc Đăng Dung giết năm 1527.

-         Trong thời Lê Tương Dục có nhiều vụ khởi nghĩa, đáng kể là khởi nghĩa năm 1511 tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, khởi nghĩa năm 1511 tại Hà Tây sau lan rộng đến Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, khởi nghĩa năm 1512 tại Nghệ An, khởi nghĩa năm 1516 tại Vĩnh Phúc, khởi nghĩa năm 1516 tại Hải Phòng do Trần Cao lãnh đạo, giết chết Trịnh Duy Sản. Lúc này triều đình nhà Hậu Lê phân hóa, hỗn loạn, giết hại lẫn nhau. Mạc Đăng Dung trong âm mưu chiếm đoạt ngôi vàng, năm 1522 đưa Lê Xuân lên ngôi thay thế Lê Chiêu Tông đang trốn tránh tại Sơn Tây. Năm 1527 Mạc Đăng Dung ép Lê Xuân nhường ngôi. Nhà Mạc được dựng lên từ đó.

 

37.  Xin cho biết tình hình chính trị nhà Mạc và Hậu Lê.

-         Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, lên làm vua năm 1527. Nhà Mạc trị vì được 65 năm, qua 5 đời từ Mạc Đăng Dung (1527-1529), Mạc Đăng Doanh (1530-1540), Mạc Phúc Hải (1541-1546), Mạc Phúc Nguyên (1546-1561) đến Mạc Mậu Hợp (1562-1592).

-         Mạc Đăng Dung sợ nhà Minh can thiệp vào nội tình đã tự trói mình ở cửa Nam Quan, nộp sổ điền thổ và sổ dân đinh cho tướng nhà Minh, dâng 5 động Tề Phù, Kim Lạc, Cổ Xung, Liễu Cát, La Phù và đất Khâm Châu cùng vàng bạc châu báu cho nhà Minh, được nhà Minh phong quan hàm nhị phẩm.

-         Mạc Mậu Hộp làm vua được 30 năm, bị Trịnh Tùng bắt đem về chém ở Thăng Long và đem đầu bêu ở Thanh Hóa.

 

38.  Chính tình Việt Nam thời Nam Bắc Triều như thế nào?

-         Khi Mạc Đăng Dung lên ngôi, bề tôi nhà Lê nổi lên chống đối khắp nơi, người có lực lượng đáng kể nhất là Nguyễn Kim, đưa Lê Ninh (Lê Trang Tông) lên ngôi (1533-1648) bắt đầu thời Hậu Lê, ở đất Cẩm Châu (Lào) phất cờ khởi nghĩa, chiếm Thanh Hóa, Nghệ An, năm 1545 bắt đầu tấn công Sơn Nam nhưng chẳng may bị hàng tướng của Mạc Đăng Dung là Dương Chấp Nhất bí mật dùng thuốc độc giết chết. Lực lượng của Nguyễn Kim giờ đây nằm trong tay của Trịnh Kiểm, con rể của Nguyễn Kim và hậu duệ của Trịnh Kiểm tiếp tục phò Lê chống Mạc, gọi là Thời Nam Bắc Triều, triều Mạc đóng đô tại Thăng Long gọi là Bắc Triều, triều Lê đóng đô ở Thanh Hóa gọi là Nam Triều, hai bên đánh nhau 38 trận lớn, ròng rã gần 60 năm, từ năm 1533 đến 1592.

-         Tại Nam Triều, trên danh nghĩa vua Lê trị vì, trên thực tế họ Trịnh cai quản.

-         Nhà Hậu Lê gồm có vua Lê Trang Tông (1533-1548), Lê Trung Tông (1548-1556), Lê Anh Tông (1556-1573) bị Trịnh Tùng bắt giết, Lê Thế Tông (1573-1599), Lê Kính Tông (1600-1619), bị Trịnh Tùng bắt thắt cổ tự tử, Lê Thần Tông (1619-1643), Lê Chân Tông (1634-1649), Lê Thần Tông (1649-1662), Lê Huyền Tông (1663-1671), thông sứ với nhà Thanh, cấm đạo Gia Tô, Lê Gia Tông (1672-1675), Lê Hy Tông (1676-1705), Lê Dụ Tông (1706-1729), Lê Đế Duy Phương (1729-1732) bị Trịnh Giang vu cho tư thông với vợ Trịnh Cương, phế vương vị và bị giết năm 1732, Lê Thuần Tông (1732-1735), Lê Ý Tông (1735-1740), Lê Hiền Tông (1740-1786), Lê Mẫn Đế (vua Chiêu Thống 1787-1788).

-         Họ Trịnh gồm có Trịnh Kiểm (1545-1570), Trịnh tùng (1570-1620), Trịnh Tráng (1623-1657), Trịnh Tạc (1657-1682), Trịnh Căn (1682-1709), Trịnh Cương (1709-1729), Trịnh Giang (1729-1740), Trịnh Doanh (1740-1767), Trịnh Sâm (1767-1782), Trịnh Cán (2 tháng), Trịnh Khải (1783-1786), Trịnh Bồng (1786) sau đi tu.

-         Sau năm 1592, họ Trịnh xem như làm chủ tình hình miền bắc, nắm mọi quyền bính trong tay, vua Lê chỉ có danh không có thực quyền. Trịnh Tùng cấp bổng lộc cho vua Lê thu thuế 1,000 xã gọi là lộc thượng tiến, cấp cho vua 5,000 lính làm quân túc vệ, chỉ khi nào thiết triều hay tiếp sứ mới cần đến vua, không khác gì chế độ quân chủ lập hiến trong đó chúa Trịnh là Thủ Tướng và vua Lê là quốc trưởng.

 

39.  Xin cho biết tình hình chính trị thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

-         Nguyễn Hoàng, con của Nguyễn Kim, sợ Trịnh Kiểm diệt trừ như Trịnh Kiểm đã giết Nguyễn Uông, anh của Nguyễn Hoàng trước đây, nên tìm cách vào nam giữ chức Trấn Thủ xứ Thuận Hóa năm 1558 (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) rồi kiêm luôn Trấn Thủ Quảng Nam năm 1570.

-         Năm 1613 Nguyễn Hoàng mất, con là Nguyễn Phúc Nguyên lên thay, được hiền tài như Nguyễn Hữu Dật, Đào Duy Từ giúp đỡ, thấy họ Trịnh chuyên quyền ở miền bắc, không chịu nộp thuế cho họ Trịnh, nên năm 1623 Trịnh Tráng, con trưởng của Trịnh Tùng (nối ngôi chúa năm 1623-1657) đem quân vào nam hăm dọa. Nguyễn Phúc Nguyên lấy cớ này đoạn giao với họ Trịnh. Năm 1627 Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên, mở đầu cuộc chiến tranh nam bắc, sử gọi là Thời Kỳ Trịnh Nguyễn Phân Tranh, kéo dài từ năm 1627 đến 1672 với 7 trận đụng độ lớn xảy ra vào năm 1627, 1633, 1643, 1648, 1655-1660, 1661-1662 và 1672.

-         Vì không thể phân chia thắng bại nên năm 1672, hai bên Trịnh Nguyễn lấy sông Gianh làm giới tuyến, chia cắt lãnh thổ làm hai. Từ sông Gianh trở ra bắc do họ Trịnh vua Lê cai quản gọi là Đàng Ngoài, từ sông Gianh trở vào nam do họ Nguyễn điều hành gọi là Đàng Trong.

-         Họ Nguyễn vừa chiến đấu chống họ Trịnh, vừa bành trướng thế lực ở miền nam: Năm 1611 Nguyễn Hoàng đánh Chiêm Thành chiếm vùng đất lớn từ cực nam Bình Định đến Phú Yên ngày nay. Năm 1693 Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) sai Nguyễn Hữu Cảnh đánh Chiêm Thành chiếm toàn vùng còn lại của Chiêm Thành. Vương quốc Chiêm Thành sau 15 thế kỷ tồn tại giờ đây hoàn toàn bị diệt vong. Năm 1698 Nguyễn Phúc Chu lại sai Nguyễn Hữu Cảnh chiếm Thủy Chân Lạp. Năm 1714 Mặc Cửu đem toàn bộ đất Hà Tiên qui thuận Xứ Đàng Trong. Năm 1757 Nguyễn Phúc Khoát chiếm hết vùng đất còn lại của Thủy Chân Lạp và chiếm thêm các châu khác là Sài Mạt, Linh Quỳnh, Cần Bộ, Hương Úc và Chân Sum, nhưng vào năm 1848 vua Tự Đức đã giao trả lại 5 châu này cho Chân Lạp.

 

40.  Xin cho biết sự nghiệp của các Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

-         Sự nghiệp họ Trịnh ở miền bắc có thể chia thành 3 thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất vào thời Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, phải đánh nhau với nhà Mạc ở phía bắc, chống nhà Nguyễn ở phía nam nên việc xây dựng đất nước không có gì đáng kể. Thời kỳ thứ hai vào thời Trịnh Tạc, Trịnh Căn, và Trịnh Cương có những thành quả đáng kể ngoài việc sửa đổi luật pháp, còn lập trường võ bị. Việt Sử Toàn thư, Quốc Sử Thực Lục ra đời. Thời kỳ thứ ba vào thời Trịnh Giang, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm những mỏ đồng ở Tu Long, Tuyên Quang, ở Trinh Lan và Ngọc Uyển, Hưng Hoa, ở Sàng Mộc, Yên Hân, Liêm Tuyền, Tống Sinh, Vũ Nông, Thái Nguyên, ở Hoài Viễn, Lạng Sơn; mỏ bạc ở Nam Xương và Ngọc Uyển, Tuyên Quang; mỏ vàng ở Kim Mã, Tam Lộn; mõ kẽm ở Cồn Minh dần dần vào tay người Trung Hoa. Vào thời kỳ thứ ba giặc giã nổi lên khắp nơi, dân nghèo nước yếu nên chẳng bao lâu họ Trịnh đổ, nhà Lê cũng mất luôn.

-         Họ Trịnh bắt đầu xuống dốc từ ngày Trịnh Sâm lên nắm quyền. Họ Trịnh giúp nhà Lê, rồi giữ lấy quyền chính, lập ra nghiệp Chúa, lưu truyền từ Trịnh Tùng đến Trịnh Khải được 216 năm, từ năm 1570 đến 1786.

 

41.  Xin cho biết sự nghiệp của các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

-         Phát triển thương nghiệp, lấy đất Chiêm Thành (Lâm Ấp) mở đất Nam Việt, bảo hộ Chân Lạp, dung hợp với các sắc tộc thiểu số, nhất là đồng bào miền thượng du.

-         Các chúa Nguyễn tại Đàng Trong gặp khó khăn từ khi chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu Vũ Vương, lập cung điện ở Phú Xuân qua đời năm 1765, bị Trương Phúc Loan chuyên quyền, lòng người ly tán, nhân cơ hội ấy họ Trịnh xua quân chiếm Phú Xuân, Tây Sơn dấy binh tại Bình Định.

 

42.  Trong tình hình chính trị phức tạp, chiến tranh liên miên này tình hình Phật Giáo như thế nào?

-         Như trên đã nói nhà Hậu Lê làm vua đến đời Chiêu Tông (1516-1527) thì bị Mạc Đăng Dung soán ngôi. Nhà Lê nhờ họ Trịnh dứt được nhà Mạc, nhưng nhà vua chỉ là kẻ làm vì mọi quyền hành nằm trong tay họ Trịnh. Nam Bắc Phân Tranh rồi Trịnh Nguyễn Phân Tranh. Phật Giáo cuối đời Hậu Lê đã suy thoái, cao tăng Việt vắng bóng, Nho Giáo thịnh hành, nhưng qua những năm dài chiến tranh, dân chúng ngay cả hàng Nho sĩ mất niềm tin vào hệ thống tư duy chỉ đạo của Tống Nho, Phật Giáo vì vậy có cơ hội phục hưng, nhưng phần nhiều dựa vào sự nghiệp hoằng hóa của cao tăng Trung Hoa.

 

43.  Tình trạng Phật Giáo ở Đàng Ngoài.

-         Vào đời vua Lê Thế Tông (1573-1599) ở Bắc có phái Tào Động do cao tăng Tri Giáo Nhất Cú, người Trung Hoa truyền vào. Chùa Hòa Giai, Hàm Long, Trấn Quốc ở Hà Nội đều theo phái Tào Động.

-         Vào đời vua Lê Hy Tông (1676-1705) cao tăng Chiết Công người Trung Hoa lập pháp Liên Tông, chi nhánh của Lâm Tế. Chùa Hàm Long ở Bắc Ninh, chùa Nguyệt Quang ở Kiến An, chùa Bà Đá ở Hà Nội thuộc Liên Tông, chi nhánh của Lâm Tế.

-         Ngoài ra còn có thiền sư người Trung Hoa như thiền sư Chuyết Chuyết người Phúc Kiến, thiền sư Minh Hành người Giang Tây hoằng hóa tại miền bắc.

-         Tại miền bắc chỉ có một nhà sư Việt Nam nổi tiếng, đó là ngài Chân Nguyên, người tỉnh Hải Dương, có công phục hồi Phật Giáo Trúc Lâm.

-         Các chúa Trịnh có công xây dựng chùa trùng tu chùa chiền, bảo tháp. Chúa Trịnh Tráng học đạo với thiền sư Chuyết Chuyết, chúa Trịnh Bồng xuất gia tu Phật. Các Chúa Trịnh có công xây chùa, trùng tu chùa, nhưng cũng tịch thu chuông các chùa để đúc binh khí vào năm 1740 và năm 1787.

 

44.  Tình trạng Phật Giáo ở Đàng Trong.

-         Tại miền nam cũng vậy, đa số những cao tăng danh tiếng thời bấy giờ đều là người Trung Hoa bỏ Trung Quốc vào buổi giao thời Minh-Thanh đến Việt Nam hoằng hóa như ngài Viên Cảnh, Viên Khoan, thiền sư Nguyên Thiều người Quảng Đông, lập chùa Thập Tháp, Bình Định, chùa Quốc Ân, Huế, chùa Hà Trung huyện Phú Lộc, Thừa Thiên, thành lập phái Nguyên Thiều; thiền sư Thạnh Liêm người Quảng Đông, chúa Nguyễn Phúc Chu thọ Bồ Tát giới với ngài Thạch Liêm; thiền sư Giác Phong, thành lập chùa Báo Quốc Huế; thiền sư Tử Dung, người Quảng Đông xây dựng chùa Ấn Tôn tức là chùa Từ Đàm, Huế; thiền sư Từ Lâm dựng chùa Từ Lâm, Huế; thiền sư Pháp Bảo, người Phúc Kiến, khai sơn chùa Chúc Thánh, Quảng Nam, thiền sư Hưng Liên trú trì chùa Tam Thai, Quảng Nam, sang Đại Việt vào đời chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691) đem thiền phái Tào Động đến miền nam, thiền sư Pháp Hóa người Phúc Kiến, khai sơn chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi, thiền sư Tế Viên khai sơn chùa Hội Tôn, Phú Yên.

-         Tại miền nam, ngài Liễu Quán, người Phú Yên là vị cao tăng, có công phục hưng Phật Giáo Việt Nam ở Đàng Trong, giống như ngài Chân Nguyên, phục hưng Phật Giáo Trúc Lâm ở Đàng Ngoài. Thiền sư Liễu quán khai sơn chùa Thuyền Tôn, Viên Thông Huế, chùa Hội Tông, Cổ Lâm, Bảo Tịnh ở Phú Yên, thành lập phái Liễu Quán, Việt hóa thiền phái Lâm Tế Trung Hoa.

-         Các chúa Nguyễn có công xây dựng chùa, tháp như chùa Linh Mụ tại Huế v.v... dùng giáo nghĩa Đại Thừa dung hòa tín ngưỡng, phong tục tập quán của các sắc dân Đàng Trong.

 

45.  Trong thời kỳ này sự liên hệ giữa Việt Nam – Đàng Ngoài cũng như đàng Trong - với ngoại quốc như thế nào?

-         Sau khi Columbus khám phá Mỹ Châu, sau khi Vasco de Gama đến Ấn Độ, sau khi Magellan đến Phi Luật Tân, năm 1563 Bồ Đào Nha (Portugal) chiếm Áo Môn (Macao), năm 1568 Tây Ban Nha (Spain) chiếm Phi Luật Tân, năm 1596 Hòa Lan (Holland) chiếm Java (Nam Dương), Anh Quốc chiếm Mã Lai, Tích Lan, Ấn Độ, Miến Điện. Tại Việt Nam năm 1614 Jean de la Croix, người Bồ Đào Nha đến lập lò đúc súng tại Phường Đức, Huế. Người Bồ Đào Nha, Nhật, Trung Hoa đến Hội An, Quảng Nam buôn bán, người Hòa Lan, Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan mở cửa hàng ở Phố Hiến, Hưng Yên. Ngoài ra người Pháp, Anh cũng đến nước ta buôn bán.

-         Các giáo sĩ đạo Thiên Chúa theo thương thuyền đến Việt Nam truyền giáo. Ở Đàng Trong năm 1596 giáo sĩ Tây Ban Nha Diego Adverte, năm 1615 giáo sĩ P. Busomi, năm 1624 giáo sĩ Jean Rhodes người Pháp. Ở Đàng Ngoài năm 1584 một phái đoàn truyền giáo người Bồ Đào Nha được nhà Mạc tiếp đón tử tế, năm 1626 giáo sĩ Baldinoti, giáo sĩ Jean Rhodes từ nam ra bắc truyền đạo. Năm 1668 Hội Truyền Giáo Nước Ngoài của Pháp được thành lập với nhiệm vụ truyền giáo tại Đông Nam Á, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam.

-         Vì sợ ảnh hưởng và vì phong tục tập quán bất đồng, Đàng Trong thi hành chính sách cấm đạo năm 1631, 1644, Đàng Ngoài thi hành chính sách cấm đạo năm 1663, 1696, 1712, 1754, giết hại nhiều thừa sai và tín đồ Công Giáo.

 

46.  Chữ Việt được La Tinh hóa vào thời kỳ nào?

-         Để công tác truyền đạo dễ dàng, các giáo sĩ phương Tây học tiếng Việt dùng mẫu tự Latin để ghi âm. Hai giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Gaspar de Amaral soạn bộ Từ Điển Việt Bồ, Antoine de Barbosa soạn bộ Từ Điển Bồ Việt. Năm 1651 giáo sĩ người xứ Avignon (nhập vào