Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học Cơ Bản


 

 

 

 

PHẬT PHÁP

 

Minh Châu - Thiên Ân - Chơn Trí - Đức Tâm

Biên soạn

 

 

MỤC LỤC

A.- LỊCH SỬ

I. CÁC ĐỨC PHẬT

1. Đức Phật Thích Ca từ sơ sinh đến xuất gia

2. Đức Phật Thích Ca từ xuất gia đến nhập Niết bàn

3. Đức Phật A Di Đà

4. Đức Di Lặc

II. CÁC VỊ BỒ TÁT

1. Đức Quán Thế Âm

2. Ngài Văn Thù Sư Lợi

III. CÁC VỊ TỔ SƯ

1. Ngài Ma Ha Ca Diếp

2. Ngài A Nan

3. Ngài Nguyên Thiều

4. Ngài Liễu Quán

IV. CÁC NGÔI CHÙA

1. Chùa Quốc Ân

2. Chùa Thuyền Tôn

V. TRUYỀN BÁ

1. Đạo Phật Việt Nam từ thời đại du nhập đến nhà Lý

2. Đạo Phật Việt Nam từ đời Trần đến cận đại

 

B.- KINH ĐIỂN

1. Kinh Mười điều thiện

2. Tám điều giác ngộ của bậc Đại nhân

 

C.- GIÁO LÝ

1. Ba ngôi báu : Phật, Pháp, Tăng

2. Sáu hòa kính

3. Lý nhân duyên sinh

4. Lý nhân quả

5. Lý luân hồi

6. Bốn đế

7. Mười hai nhân duyên

8. Tám chánh đạo

9. Thiện ác nghiệp báo

D.- PHÁP HẠNH

1. Ba quy y

2. Ăn chạy

3. Niệm Phật

4. Năm giới

5. Mười điều thiện

6. Bốn ân

7. Bốn Nhiếp Pháp

8. An cư kiết hạ

9. Giới, Định, Huệ

10. Mục ngưu đồ

11. Quán tưởng niệm Phật

12. Tám Quan trai

13. Sáu độ

E.- NGHl THỨC

1. Bài sám hối

2. Nghi thức phổ thông

G.- CHUYỆN TlỀN THÂN VÀ CHUYỆN ĐẠO

I. CÁC CHUYỆN TIỀN THÂN

1. Cặp mắt Thái tử Cau Na La

2. Lòng hiếu chim oanh vũ

3. Thái hậu Đại Noa

4. Con sư tử trọng pháp

5. Quả báo làm mẹ đau khổ

II. CÁC MẨU CHUYỆN ĐẠO

1. Bà già cúng đèn

2. Lòng ngưỡng mộ Phật pháp của vua A Dục

3. Thầy Tỳ kheo với con ngỗng

4. Đức Phật với La Hầu La

5. Đức Phật độ cho người gánh phân

6. Những người mù rờ voi

7. Tràng hoa bong bóng

8. Gần Phật với xa Phật

9. Con dao trong tâm

10. Tại sao phải niệm Phật

H.- PHỤ LỤC

1. Châm ngôn và năm điều luật Gia đình Phật tử

2. Hoa sen và mục đích Gia đình Phật tử

3. Phương pháp dạy đạo Phật cho thiếu nhi.

 

(Toàn tập -pdf)

 

  

 

LỜI NÓI ĐẦU

Tập Phật Pháp này ra đời có một chủ đích: “Giới thiệu đạo Phật cho Thanh Thiếu nhi”. Chương trình gồm các mục lịch sử, giáo lý, pháp hạnh, nghi lễ, mẩu chuyện đạo, chuyện tiền thân, kinh điển ... soạn tuần tự theo bốn cấp bậc Hướng Thiện, Sơ Thiện, Trung Thiện, Chánh Thiện cho Thiếu niên, Thiếu nữ với sức học tương đương từ lớp 6 lên đến chuyên khoa. Một tập thứ II soạn sau, đành riêng cho nam nữ Phật tử sẽ bổ túc cho tập này.

Người dạy đạo Phật cho tuổi trẻ cần để ý:

1. Bậc Hướng Thiện, Sơ Thiện, bài dạy dễ hơn, vì các em mới ở đồng niên, đồng nữ lên, hước mới vào. Bậc Trung Thiện, Chánh Thiện có khó hơn vì các em đã ở hai năm sinh hoạt trong Gia đình Phật tứ, và để sửa soạn cho các em học chương trình nam nữ Phật tử.

2. Tùy theo trình độ các em, có thể soạn lược các bài (nếu các em còn nhỏ và trình độ học kém); hay bổ túc thêm với tài liệu ở ngoài (nếu các em lớn tuổi hay sức học khá).

3. Các bài làm thiên về đại cương. Người dạy cần tìm tài liệu ở ngoài để giảng giải thêm. Trong khi dạy, cần diễn giảng rõ hơn, tìm những ví dụ ở ngoài lấy trong hoàn cảnh các em hiện sống, tìm những đoạn kinh, những mẩu chuyện có quan hệ đến bài giảng, và tìm cách ứng dụng bài giảng trong đời sống hằng ngày của các em.

Cả tập Phật pháp này chỉ là những dòng chữ đen trắng phối hợp lại. Nghệ thuật của người dạy là làm thế nào cho những dòng chữ đen trắng này biến thành những sức mạnh khiến các em sống đúng theo năm hạnh TINH TẤN, HỶ XẢ, THANH TỊNH, TRÍ TUỆ, và TỪ BI, lợi ích cho các em, cho mọi người. Đó là sở nguyện chân thành và tha thiết của các tác giả.

CÁC TÁC GIẢ 

 

 

GIA ĐÌNH PHẬT TỬ PHẬT PHÁP

A.- BẬC HƯỚNG THIỆN

1/. Biết sự tích Đức Phật Thích Ca từ sơ sinh đến xuất gia.

2/. Biết hai chuyện tiền thân hay mẩu chuyện đạo.

3/. Thuộc và hiểu bài Sám hối.

4/. Hiểu châm ngôn và năm điều luật của Gia đình Phật tử.

5/. Hiểu ý nghĩa hoa sen và mục đích của đoàn.

B.- BẬC SƠ THIỆN

1/. Biết sự tích Đức Phật Thích Ca từ xuất gia đến thành đạo.

2/. Biết sự tích Đức Phật A Di Đà và Đức Quán Thế Âm.

3/. Biết ba chuyện tiền thân hay mẩu chuyện đạo.

4/. Biết ba ngôi báu, ba pháp quy y, sáu phép hòa kính.

5/. Hiểu ý nghĩa ăn chay niệm Phật.

6/. Hiểu và thuộc nghi thức thông thường.

C.- BẬC TRUNG THIỆN

1/. Sự tích Đức Phật Di Lặc.

2/. Sự tích Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

3/. Sự tích chùa Quốc Ân.

4/. Sự tích chùa Thuyền Tôn.

5/. Lý Nhân duyên sinh.

6/. Lý Nhân quả.

7/. Lý Luân hồi.

8/. Năm giới.

9/. Mười điều thiện.

10/. Bốn ân.

11/. Bốn Nhiếp pháp.

12/. Tám điều giác ngộ của bậc Đại nhân.

13/. An cư Kiết hạ.

14/. Lịch sử đạo Phật Việt Nam từ thời đại du nhập đến đời Lý.

15/. Biết năm mẩu chuyện đạo.

D.- BẬC CHÁNH THIỆN

1/. Sự tích Ngài Ma Ha Ca Diếp.

2/. Sự tích Ngài A Nan.

3/. Sự tích Ngài Nguyên Thiều.

4/. Sự tích Ngài Liễu Quán.

5/. Giới Định Huệ.

6/. Mục ngưu đồ.

7/. Bốn đế.

8/. Mười hai nhân duyên.

9/. Chánh Đạo.

10/. Kinh Mười điều thiện.

11/. Thiện ác nghiệp báo.

12/. Sáu độ.

13/. Quán tưởng và niệm Phật.

14/. Tám quan trai.

15/. Lịch sử đạo Phật từ đời Trần đến cận đại.

PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐẠO PHẬT CHO THIẾU NHI

A. LỜI NÓI ĐẦU

Đao Phật là đạo của mọi người, thì đạo Phật cũng phải là Đạo của Thiếu nhi, của tuổi trẻ. Gia đình Phật tử ra đời, các đoàn Thiếu nhi Phật tử hoạt động, mục đích áp dụng đạo Phật trong sự giáo dục Thiếu nhi, đào tạo các Thiếu nhi thành những Phật tử chân chính, sống đúng tinh than đạo Phật, sống lợi ích cho các em, cho gia đình, cho mọi người. Sự giáo dục ở nơi đây hoàn toàn chú trọng hướng dẫn các em sống theo các hạnh tinh tấn, hỷ xả, thanh tịnh, trí tuệ và từ bi.

B. VÌ SAO CẦN PHẢI DẠY ĐẠO PHẬT?

Chúng tôi chú trọng dạy các em hiểu biết về Phật pháp vì những lý do sau này :

1. Đạo Phật là đạo của giác ngộ, tôn trọng lý trí, thì một Phật tử nào dầu là Thiếu nhi, cũng phải có một sức học Phật pháp chắc chắn.

2. Đạo Phật dạy rằng, nguyên nhân đau khổ là vô minh, nghĩa là mê mờ không sáng suốt. Một em Phật tử muốn sống đúng tinh thần đạo Phật, cần phải hiểu giáo lý Phật dạy, hiểu những phương tiện hành trì. muốn hiểu thời phải học, phải tự mình chứng nghiệm.

3. Đạo Phật là Đạo của lý trí mà vì tín đồ thất học bị hiểu lầm là mê tín dị đoan. Muốn tránh các nạn thất học mù đạo rất đáng phàn nàn ấy, các em cần phải học ngay đạo Phật từ lúc nhỏ.

C. CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐẠO PHẬT

Nhưng Phật pháp là liều thuốc bổ trị tâm bệnh chúng sinh, nếu không hiểu phương tiện giảng dạy, có thể trở lại đầu độc các em. Những ai tự nhận lấy trách nhiệm cao quý đem đạo Phật đến với các em cần phải rất thận trọng.

I. CÁC PHƯƠNG CÁCH GIẢNG DẠY

Dạy Phật pháp cho các em thường dùng những phương cách sau đây :

1. Giảng dạy: Dạy từng bài một như bài cách trí, địa dư có bài mẫu nhỏ cho các em học và chép. Cách dạy này cần định nghĩa rõ ràng, cần bài mẫu dễ hiểu, rất có lợi cho các em sức học lớp sáu trở lên hay trên 12 tuổi, nhưng có phần khô khan và hay thiên về hiểu biết suông.

2. Nói chuyện và hỏi chuyện: Người dạy thành một người kể chuyện theo một dàn bài đã định trước. Vừa kể chuyện lại vừa hỏi cho các em trả lời và chú ý; các buổi học trở nên hoạt động vui vẻ thân mật; nếu khéo lựa câu hỏi, thời có thể phát triển sự nhận xét chú ý của các em. Cách dạy này có khó hơn, vì phải biết điều khiển, rất lợi cho các em nhỏ và các em thích quan sát tìm hiểu, nhưng có cái hại là dễ quên, vì không được ghi chép.

3. Gợi sự nhận xét, phát triển lý trí: Không cần bài học, không cần mẩu chuyện, người dạy tùy theo từng trường hợp hoàn cảnh, thuận tiện, mà tìm cách phát triển lý trí và sự nhận xét của các em, như đưa các em lên chùa chiêm ngưỡng tượng Phật, gợi cho các em tìm hiểu đôi mắt của Đức Phật là hình ảnh của từ bi vô lượng; toàn thân chói sáng hào quang là hình ảnh của Trí tuệ vô lượng v.v... Hay ở tại chùa chỉ cho các em thấy điện Phát trang nghiêm, nghe chuông ngân từ hòa, giọng tụng kinh đầy nhạc đạo; rồi để các em so sánh với cảnh đời náo nhiệt ồn ào các em thường ngày sống. Hoặc chỉ cho các em nhận xét đời sống đạm bạc uy nghi đức độ của vị Tăng già ở chùa để các em tìm hiểu và bắt chước. Cách dạy này cần nhiều nghệ thuật, giúp các em thâm nhập, lợi cho các em về phần nhận xét và lý giải.

4. Giúp các em thể nghiệm thâm nhập: Khác với sự lý giải cần nhiều lý trí và suy đoán, cách dạy này toàn dùng phương pháp trực nhận để các em thâm nhập chứng nghiệm những nghĩa lý sâu xa mầu nhiệm của đạo Phật. Trong đời sống tập đoàn của đạo Phật, như sáu hòa, bốn nhiếp pháp; trong đời sống cá nhân của mỗi em; người dạy giới thiệu những phương tiện như quy y ăn chay, niệm Phật, nghĩa là người dạy tìm tất cả phương tiện để đào tạo một hoàn cảnh, một đời sống, một bầu không khí thấm đượm chốn tinh thần đạo Phật để các em hít thở chung sống một cách tự nhiên. Ở đây nhiều khi không cần lời nói văn hoa mà chỉ là một nghệ thuật hướng dẫn khiến đạo Phật dần dần thâm nhập một cách sâu xa kín đáo trong tâm hồn các em. Phương pháp này rất khó áp dụng, cần phải tự mình thâm nhập đạo nhiều, lại cần phải gần các em, cần phải có một khung cảnh thuận tiện, cần phải nhiều thời gian, nhiều kinh nghiệm mới thành tựu.

Trong bốn phương cách kể trên, và vì vấn đề giáo dục. Thiếu nhi còn đương ấu trĩ về kinh nghiệm, người lãnh trách nhiệm dạy đạo Phật cho các em cần phải khéo léo, ứng dụng cả bốn cách, tùy theo trường hợp hoàn cảnh không nên thiên hẳn một phương pháp nào.

II. CÁCH DẠY ĐẠO PHẬT

Cần phải hợp pháp và hợp cơ.

1. Hợp pháp: là đúng với chân lý, chánh pháp; những bài dạy không được sai Phật pháp. Người dạy cần phải nghiên cứu nhiều, học hỏi nhiều. Chúng ta nên hiểu các em thông minh, nhận xét giỏi, hay hỏi nhiều câu thắc mắc, người dạy đạo Phật phải biết trả lời thông suốt để khỏi mất uy tín và làm thỏa sự đòi hỏi nghiên cứu, vì đạo Phật mênh mông như bể cả, căn cơ các em khó dò như bể sau. Có học nhiều, nghiên cứu nhiều mới tạm xứng đáng dạy các em về Phật pháp.

2. Hợp cơ: nghĩa là hợp tánh tình, căn cơ các em. Tành tình các em Thiếu niên, Thiếu nữ trái hẳn nhau, cách dạy đạo Phật không thể nhất luật được. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng trong năm hạnh: Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí tuệ, Từ bi, các em nam phần đông thích hạnh Tinh tấn, còn các em nữ chỉ thích hạnh Từ bi, nhưng các em thích hạnh Hỷ xả ngang nhau. Sự nhận xét trên cho chúng ta thấy rõ các em nam thích động, thích phấn đấu lấn lướt hơn người; các em nữ thích về tịnh, nhiều tình cảm và lòng thương, nhưng cả thiếu niên nam nữ đều thích vui vẻ Hỷ xả. Tuổi các em là tuổi của nụ cười, tuổi của muôn hoa. Lại riêng trong các em nam hay nữ, tâm trạng của các em rất phức tạp, tánh tình lại có thể thay đổi tùy theo tuổi, tùy theo sức học, tùy theo hoàn cảnh, người dạy Phật pháp phải tùy theo căn tánh mà dạy, chỉ bày, hợp với căn cơ với từng tính tình. Đừng ham dạy nhiều, cần dạy ít nhưng phải hợp với tâm lý của các em.

3. Nên mời các vi xuất gia giảng dạy: Trong những địa phương có các vị xuất gia hiểu Đạo, hiểu Thiếu nhi, thời nên mời các vị ấy dạy cho các em. Chính đời sống và hình ảnh tu hành của vị xuất gia giúp rất nhiều trong sự giáo dục của các em, nhất là giúp các em ưng học Phật pháp và chịu thực hành theo Phật pháp. Nhiều khi cũng một bài Phật pháp mà người có tu học dạy thế nào cũng có nhiều ảnh hưởng cho các em hơn là một người không tu học. Lại đạo Phật không phải là đạo dễ dàng, cần phải học nhiều mới thấu hiểu, cho nên dạy đạo Phật cần phải rất thận trọng.

4. Tạo một khung cảnh đặc biệt trong giờ học Phật pháp:

a/ Thì giờ. - Các em Thiếu nhi bậc Trung Thiện trở xuống thì chỉ dạy nửa giờ, các em bậc Chánh Thiện có thể dạy 45 phút hay một giờ, nên học Phật pháp về buổi sáng hay sau khi tụng kinh.

b/ An tịnh. - Đừng cho các em chơi những trò chơi mạnh trước giờ Phật pháp và lựa những chỗ thanh tịnh mà dạy.

c/ Khung cảnh. - Nên sắp các em ngồi vòng tròn để người dạy có thể nhìn khắp các em. Đừng sắp như lớp học vì khêu gợi các em hình ảnh một nhà trướng thứ hai. Rất có thể tổ chức những lớp học ngoài trời, dưới những cây cổ thụ có bóng mát.

d/ Nên dạy Thiếu niên nam, nữ riêng. - Nếu có đủ người dạy nên dạy nam nữ riêng. Tuy cũng một bài Phật pháp, nhưng dạy bên nam bên nữ khác nhau. Ví dụ trong một câu chuyện kể cho các em, nếu là nữ thời phải lựa những chuyện thiên về từ bi, thiên về tình cảm; nếu là nam thời phải lựa những chuyện dũng cảm, những cử chỉ siêu phàm. Còn các em nữ thiên về lòng tin và sự tịnh nhiều, các em nam thời thiên về lý trí và ưng hoạt động nhiều, nên dạy Phật pháp phải khác nhau.

Cho nên muốn buổi học Phạt pháp thiết thực, có lợi ích thời cần dạy riêng thiếu niên nam, nữ; nếu được một vị xuất gia Tỳ kheo dạy cho các em nam, một Ni cô dạy cho các em nữ mới thiệt có ích.

Trong khi dạy phải tránh những lỗi lầm sau đây:

III. NHỮNG LỖI LẦM PHẢI TRÁNH

1/. Đừng bắt các em tin một cách mù quáng. - Đạo Phật rất tôn trọng lý trí. Bắt các em nhắm mắt tin suông, tin mù quáng tức là trái chân tinh thần đạo Phật. Vẫn biết tuổi các em còn nhỏ chỉ biết tin mà thôi, nhưng lòng tin ấy phải được sự lý giải khai sáng.

2. Đừng nhồi sọ các em.- Nhồi sọ là chồng chất bài này trên bài khác, không để các em có thì giờ suy nghiệm, thâm nhập; các bài Phật pháp vô tình đã trở thành những món ăn tinh thần khó tiêu và vô tình chúng ta đã đè nén bộ óc non nớt của các em. Đạo Phải chỉ khác tôn giáo, các chủ nghĩa khác là ở nơi sự kính trọng quyền nhận xét cá nhân, tự do tư tưởng phát triển lý trí.

3. Đừng chuyên danh ngôn, phải chú trọng thực hành.- Có thực hành các em mới hiểu Phật pháp, các em có ăn chay mới hiểu lợi ích của ăn chay, có niệm Phật mới hiểu sự lợi ích của niệm Phật. Muốn đào tạo các em thành những Phật tử chân chính phải bày cho các em thực hành ngay đời sống trong hàng ngày của các em các hạnh Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí tuệ và Từ bi. Sự thực hành đi đôi với sự lý giải mới giúp các em sống đúng chân tinh thần đạo Phật.

4. Đừng nói suông, phải tụ mình làm gương cho các em.- Dạy các em ăn chay, người dạy phải ăn chay, dạy các em niệm Phật, người dạy phải niệm Phật, dạy các em Tinh tấn, Hỷ xả, v. v… người dạy phải Tinh tấn, Hỷ xả … Chính đời sống của người dạy Phật pháp rất có ảnh hưởng đến đời sống của các em, vì các em thường hay noi gương người lớn. những sớ hành của người dạy có phù hợp với những lời của mình dạy mới mong các em bắt chước thực hành noi theo. Và chỉ có vậy, sự giảng giải Phật pháp mới đem đến cho các em những kết quả thiết thực lợi ích.

5. Đừng trái với những lánh tình trong đẹp của các em.- Dạy cho các em quá nhiều những nỗi đau khổ của cuộc đời, trình bày một cách quá sống sượng có thể làm cho các em mất tin tưởng, phát sinh hoài nghi và chán nản; như vậy là đầu độc tinh thần của các em và trái ngược với tánh tình vui vẻ của tuổi trẻ. Dạy cho các em chớ nên tà dục, chớ nên uống rượu, nói cho các em rõ những tâm niệm độc ác của con người tức là đã vô tình làm hoen ố tâm hồn trong sạch, hồn nhiên của các em và phạm một điều tối kỵ trong nghệ thuật giáo đục, vì rằng các em chưa đến tuổi nghĩ đến những sự tà dục, những sự uống rượu v.v... mà nay nhắc các em đừng nên tà đục đừng nên uống rượu v.v... tức vô tình gợi cho các em nghĩ đến những điều ấy và vô tình làm những tà niệm xen lẫn trong tâm hồn trong trắng của tuổi trẻ.

D. KẾT LUẬN

Đức Phật có dạy: “Trong các sự bố thí, bố thí pháp công đức hơn tất cả”, chúng ta đem Phật pháp dẠy cho các em tức là chúng ta đem tung vãi những hột giống Phật pháp vào thửa ruộng xanh tươi đầy nhựa sống của tuổi Thiếu nhi trong sạch, đầy tin tưởng. Một cử chỉ bao hàm biết bao ý nghĩ tốt đẹp cao quý, chúng ta chỉ cần một chút thành tâm; và sung sướng cho chúng ta bao nhiêu khi chúng ta nhận thấy đôi mắt của các em đã in nét từ bi vô lượng của chư Phật, gương mặt trong đẹp tuổi trẻ ấy đã phản chiếu ánh hào quang trí tuệ cua các bậc Đại Giác trong mười phương. 

 

A.- BẬC HƯỚNG THIỆN

 

1.- BIẾT SỰ TÍCH ĐỨC THÍCH CA TỪ KHI SƠ SINH ĐẾN XUẤT GIA.

2.- BIẾT HAI CHUYỆN TIỀN THÂN, HAI MẨU CHUYỆN ĐẠO.

3.- THUỘC VÀ HIỂU BÀI SÁM HỐI.

4.- HIỂU CHÂM NGÔN VÀ NĂM ĐIỀU LUẬT CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ.

5.- HIỂU Ý NGHĨA HOA SEN VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐOÀN.

 

1.- LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA

(Từ sơ sinh đến xuất gia)

i. THÂN THẾ CỦA THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA

Đức Phật Thích Ca tên là Tất Đạt Đa, hiệu Thích Ca một nhánh của họ Kiều Tất La, một đại quý tộc ở Ấn Độ. Hợp cả tên lẫn họ là Kiều Tất La Thích Ca Tất Đạt Đa. Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca Tỳ La Vệ. Mẹ Ngài là Ma Gia Hoàng hậu. Nước Ca Tỳ Là Vệ ở Ấn Độ thời ấy là một nước rất phồn thịnh, nay tức là xứ Therai, ở phía Đông Bắc thành Bộ La Nại, phía nam nước Népal.

ii. NGÀY VÀ CHỖ ĐẢN SINH THÁI TỬ

Thái tử sinh lúc mặt trời mọc, ngày rằm tháng Hai Ấn Độ, tức là ngày rằm tháng Tư theo lịch Trung quốc, vào năm 544 năm trước Công nguyên. Như vậy đến năm 1962 là đúng với Phật lịch 2506. Ngài sinh dưới cây vô ưu, trong vườn Lâm Tỳ Ni trong khi bà Ma Gia đang dạo chơi vườn cảnh.

iii. TƯỚNG MẠO THÁI TỬ VÀ LỜI TIÊN ĐOÁN CỦA A TƯ ĐÀ.

Khi Thái tử sinh có nhiều điềm rất lạ, trời mưa hoa thơm, nhạc trời chúc tụng, quả đất rung động. Thái tử sinh ra có 32 tướng tốt. Ông tiên A Tư Đà đến đoán tướng ngài nói rằng: “Thái tử có đủ 32 tướng tốt, nếu làm vua thì làm vị Chuyển luân thánh vương; nếu xuất gia tu hành thì sẽ thành Phật”.

iv. SỰ GIÁO DỤC VÀ TÀI NĂNG CỦA THÁI TỬ

Sau khi sinh Thái tứ được 7 ngày thời bà Ma Gia từ trần. Vua Tịnh Phạn giao Thái tứ cho người dì tên là Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi nấng chăm sóc. Vua hết sức lo sự giáo dục cho Thái tử. Ngài cho mời những bậc giáo sư có tiếng nhất ở trong nước về văn cũng như về võ, Thái tử rất thông minh, chỉ học qua một lần đều thông hiểu, văn võ toàn tài không ai sánh kịp. Các vị giáo sư đều bái phục.

v. ĐỜI SỐNG CỦA THÁI TỬ

Thái tử được vua Tịnh Phạn yêu quý, ngày ngày sống trong cảnh phong lưu sung sướng. Vua xây cho Thái tử những toà lâu đài hợp với ba mùa của xứ Ấn độ. Mùa nóng có chỗ mát, mùa lạnh có chỗ ấm, mùa ôn hòa có chỗ không nóng không lạnh. Cung điện trang hoàng cực kỳ mỹ lệ, vườn cảnh có đủ hoa thơm cỏ lạ. Vua Tịnh Phạn lại ban cho 500 thể nữ kiều diễm đêm ngày ca múa đàn hát; các món vui chơi trong nước, không còn thiếu một món gì. Tuy Thái tử sống trong xa hoa lộng lẫy, nhưng ngài không bao giở say đắm, trên mặt luôn lộ một vẻ buồn kín đáo, thương người thương mọi vật. Tuy văn võ hơn người, Ngài vẫn khiêm tốn lễ độ, không kiêu căng tự đắc.

vi. THÁI TỬ LẬP GIA ĐÌNH

Đến 17 tuổi, ngài vâng theo lời của Phụ vương kết hôn với nàng Da Du Đà La. Theo tục quý phái xưa, Thái tứ đã chiến thắng tất cả thanh niên đến dự các buổi thi và lựa nàng Da Du là người tươi đẹp thuần thục nhất trong các Công chúa muốn được làm vợ Ngài. Thái tử sinh được một người con tên là La Hầu La.

vii. THÁI TỬ TIẾP XÚC VỚI ĐỜI

Vì có lời tiên đoán của ông A Tư Đà, nên vua Tịnh Phạn không cho Thái tử tiếp xúc với cảnh khổ; nhưng vì Thái tử khẩn khoản cầu xin, vua Tịnh Phần để cho Thái tử đi du ngoạn và tiếp xúc với thực trạng của cuộc đời.

1. Cảnh khổ thứ nhất: Sống là khổ. Một hôm Ngài theo Vua cha dự lễ cày cấy. Thấy người và vật vất vả, khố đau dưới ánh nắng thiêu đốt để đổi lấy bát cơm, chim chóc dành nhau mổ ăn các loài côn trùng giẫy giụa trên luống đất mới. Ngài thương xót buồn rầu vô hạn. ngài thương chúng sinh đau khổ vì sống, và vì món ăn phải giết lẫn nhau.

2. Ba cảnh khổ của cuộc đời: Già, bệnh, chết. Lần sau ngài lại xin phép Phụ vương ra của thành dạo chơi. Lần thứ nhất Ngài gặp một ông già tiều tụy, da nhăn, lưng còm, mắt lòa, tai điếc. Lầ thứ hai Ngài thấy một người tật bệnh bụng to cổ trướng rên la khổ sở. Lần thứ ba Ngài gặp một đám tang, thân nhân gào khóc thảm thiết. Ngài nhận hiểu được rằng: sống ở đời giàu nghèo sang hèn đều bị đau khổ doanh vây áp bức: già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ.

viii. TÂM TRẠNG CỦA THÁI TỬ SAU KHI TIẾP XÚC VỚI ĐỜI

Trước thực trạng đau khổ của kiếp người, Ngài bị xúc động mạnh mẽ. Sau khi thấy sự đau khổ của chúng sinh, ngồi luôn luôn tưởng nghĩ đến chúng sinh, nghĩ đến những nỗi đọa đày lầm than của chúng sinh, và ngài luôn luôn trù nghĩ suy tầm phương pháp cứu chúng sinh thoát khỏi biển trầm luân khổ ải. Mặt Ngài thường hiện vẻ lo buồn trầm mặc. Ngài lo buồn cho chúng sinh, Ngài trầm mặc để tìm phương pháp cứu độ chúng sinh thoát khỏi đau khổ.

ix. CẢNH GIẢI THOÁT VÀ THÁI TỬ XUẤT GIA.

1. Cảnh giải thoát: Lần thứ tư ra dạo chơi ngoài cửa thành, Ngài gặp một vị Sa môn thanh cao bình tĩnh, ngài hỏi rằng: “Ngài là ai?”. Vị Sa môn đáp: “Tôi là người đã thoát khỏi sự đau khổ của già, đau, chết”. Thái tử liền hiểu được rằng, chỉ có phương pháp cứu chúng sinh thoát khỏi bể khổ mênh mông là phải xuất gia tìm đạo.

2. Thái tử xuất gia: Một đêm kia, sau buổi yến tiệc linh đình, Ngài thừa lúc mọi người đang ngủ say, lặng lẽ ra khỏi cửa thành. Ngài định đánh thức bà Da Du Đà La ngỏ đôi lời từ biệt, nhưng sợ lòng nhi nữ hay bịn rịn có thể ngăn trở ý định, ngài Chỉ đành nhìn vợ con lần cuối cùng rồi gọi người hầu cận trung thành là Xa Nặc thắng ngựa Kiến Trắc, hai thầy trò ra đi, quân canh còn mải ngủ chẳng hay biết gì cả. Ngài ra đi lúc 19 tuổi, vào ngày trăng tròn tháng Hai.

x. KẾT LUẬN

Cử chỉ của Ngài xuất gia là một gương sáng cho mọi người soi chung. Vì lòng thương chúng sinh, lòng thương nhân loại, Ngài đã bỏ cung điện giàu sang, giường cao nệm ấm, cao lương mỹ vị và cả ngôi báu. Cho đến vợ đẹp con yêu ngài cũng đành từ giã để đi tìm hạnh phúc chân thật cho chúng sinh đang đau khổ. Cử chỉ của ngài ra đi nhắc nhủ cho muôn loài biết rằng hạnh phúc không thể tìm trong danh vọng tài sắc và những người thật thương yêu chúng sinh. Phải tìm chân lý để soi sáng cho chúng sinh. Cử chỉ của Ngài lúc ra đi là cả một sức mạnh quyết tìm chân lý, và chân lý chỉ đến với những tâm hồn cao cả thoát tục, tràn đầy một lòng vị tha không bờ bến.

2. HAI CHUYỆN TIỀN THÂN, HAI MẨU CHUYỆN ĐẠO

1). CẶP MẮT THÁI TỬ CÂU NA LA

Thuở Xưa ở Ấn Độ có một ông vua tên là A Dục trị dân rất công bình. Hồi còn trẻ, tính ngài hay giận dữ, nhưng dần dần Ngài trở nên hiền từ dịu dàng. Nhờ gương sáng của Ngài, nhờ huấn dụ đưa ra, ngài dạy cho dân tình nhã nhặn đối với mọi người và lòng bác ái đối với kẻ khổ sở. Ngài lập bệnh viện để chữa người bị bệnh, lập công viên để người và vật có chỗ nghỉ ngơi, sai đào giếng để khách bộ hành và vật khỏi khát nước, sai trồng hai bên đường những cây ăn quả và cây để làm thuốc.

Người con đầu của Ngài có cặp mắt đẹp hiền từ như chim “Câu Na La” vì thế người ta gọi chàng là Câu Na La. Đức vua rất đổi yêu mến Hoàng hậu Liên Hoa là mẹ của Thái tử. Hoàng hậu mất sớm, nhưng Thái tử rất được vua cha yêu dấu và tin dùng. Lòng từ ái, tính dịu dàng và khiêm nhượng của Ngài làm nhân dân rất yêu mến và kính trọng. Vợ Ngài rất dịu dàng, bao giờ cũng làm vừa lòng ngài, tên nàng là Ma Đa Vi.

Hoàng hậu mất, vua A Dục lấy một người vợ kế, lại kiêu căng, độc ác tên là Xích Di. Sau khi nàng sinh được một người con, nàng ước ao nó sẽ được nối ngôi thay Câu Na La, và tuy không để lộ một cử chỉ gì, lòng nàng rất ghét người con ghẻ.

Nhân khi vua mắc bệnh nặng, các thầy thuốc đành chịu bó tay, nàng Xích Di tìm cách chữa khỏi. Vua ngỏ ý muốn tạ ơn nàng. Nàng xin vua cho con nàng được nối ngôi.  Thật éo le cho vua A Dục. Ngài lấy làm buồn rầu vì không chiều lòng ân nhân, và Ngài lại nhắc lại lời hứa với Chánh hậu lúc lâm chung chỉ truyền ngôi cho Thái tử Câu Na La mà thôi. Ngài nói: “Ta có thể bỏ ngôi báu chứ không thể phụ lời hứa được”.

Thấy chuyện không thành, Xích Di xin vua được cầm quyền chính một ngày. Vua nghe lời, và nàng định sẽ nhân dịp ấy mà làm những việc ghê gớm.

Trong nước có một thành gọi là Đắc Xô Thi La nổi lên chống các quan cai trị của nhà vua. Chính Hoàng hậu Xích Di cũng dính líu vào việc ấy Thật thế, trước hết nàng cho các quan tiền rồi bảo lấy thuế dân thành ấy thật nặng, sau xúi dân nổi lên làm loạn. Hoàng hậu lại xúi dân nên yêu cầu vua cho Thái tử Câu Na La ra cai trị thành ấy, lấy cớ rằng chỉ có Thái tử là công bằng mới dẹp loạn được. Sáng hôm sau các đại biểu thành Đắc Xô Thi La đến để yêu cầu việc ấy, Xích Di tâu vua cho được tự tiện dùng ấn của Ngài, là cái ấn dùng để niêm phong những sứ mệnh gởi đi. Thế tức là nàng nắm được quyền hành trong ngày ấy.

Rồi các đại biểu đến. Hoàng hậu tán thành lời yêu cầu họ, tâu vua rằng chỉ có Hoàng tử được dân khâm phục và vì thế đưa dân đến chỗ bình an mà không có cuộc bạo động gì. Vua nghe lấy làm bối rối, vì Ngài nghi Hoàng hậu có manh tâm. Có gì nguy hiểm bằng sai Thái tử đến một thành phiến loạn.

Thấy vua lo âu, Hoàng hậu giả vờ đau đớn nói rằng: “Nếu nhà vua còn nghi ngờ lòng nàng thì từ nay nàng không nói gì nữa”. Rồi nàng giả bộ giận dỗi trả ấn lại cho vua, vì nàng biết thế nào vua cũng không nỡ lấy lại. Thật thế, vua A Dục trọng lời hứa không dám lấy ấn lại. Thái tử cũng một mực xin đi, Ngài phải bằng lòng, nhưng muốn chắc chắn, Ngài định cho một đội quân đi hộ tống, Hoàng tử từ chối việc ấy. Vì Ngài nghĩ muốn tránh sự đổ máu, phải hành động mau, nếu đi với đạo quân thì mất nhiều thì giờ. Ngài lại nói rằng: “Nào phải thấy gươm giáo như rừng, nghe tiếng ngựa hý, voi gầm, tiếng xe, tiếng trống, tiếng kèn, mà yên nhân tâm được đâu”.

Vua không nói gì nữa.Thái tử từ giã Ngài, từ giã nàng Ma Đa Vi rồi một mình cưỡi con ngựa Măng Đa La phi đi mau như gió. Chàng có ngờ đâu sau lưng chàng có con kỵ mã đang phóng nước đại. Đó là một người rất trung thành với Hoàng hậu, đương mang trong mình một sứ mạng có niêm ấn kỹ lưỡng.

Thái từ cưỡi bạch mã đi mau như bay. Hai bên đường làng mặc núi đồi đồng lúa rừng xanh như thụt lùi lại, nhưng cái tên chàng đến còn nhanh hơn, vì nhân gian mong Ngài đến lắm. Họ sửa soạn tiếp chàng. Kẻ thì rắc hoa xuống đường, kẻ thì hái quả để tiến, đâu đâu cũng nổi đầy tiếng hoan hô. Nhân dân xin Thái tử tha tội vì dân chúng không dám nổi lên chống vua, mà chỉ vì bọn tham quan ô lại. Nghe tiếng kêu van, Ngài lấy làm thương hại, tha lỗi và đi vào thành giữa tiếng nhạc vang lừng. Thái tử đặt lại thuế má, cho người công bình ra trị dân; dân lây làm mừng rỡ và phái đại biểu về tâu vua tỏ bụng trung thành và ca tụng Thái tử đã đưa lại cho họ sự yên ổn.

Thành Đắc Xô Thi La đang vui vẻ bỗng chiều ngày ấy người cưỡi ngựa theo Thái tử vừa đến, và giao cho công chức trong thành một cái dụ. Mở ra xem ai nấy sửng sốt sợ hãi vì đạo dụ ra lệnh “phải móc mắt Thái tứ Câu Na La kẻ thù lợi hại của nhà vua và là kẻ đã làm nhơ nhuốc nòi giống”. Đạo dụ lại nói rằng khi đã làm hình phạt ấy rồi, không người dân nào được cứu giúp Thái tử và cấm không được nói đến tên Ngài nữa.

Các viên chức không dám cho Thái tử biết đạo dụ vô nhân đạo ấy. Sau một đêm lo ngại, họ nói với nhau rằng: “Nếu ta không tuân lệnh sẽ bị nhiều nguy hiểm. Đến Thái tử là người tốt đối đãi với tới cả thiên hạ mà nhà vua còn bắt tội nữa là chúng ta”.

Ngày mai họ dâng đạo dụ lên cho Hoàng tử. Đọc xong, Ngài nói: “Đấy là chánh lệnh của vua, vì có niêm ấn rõ ràng. Các ngươi cứ thi hành theo lệnh ấy”.

Ngài cũng biết rằng vua cha chẳng bao giờ có lệnh hành hình con, đó là do Hoàng hậu, nhưng đã có niêm ấn thì phải tuân theo.

Dân gian được tin rằng mệnh lệnh sẽ thi hành tại một khoảng đất rộng, giữa thành phố. Đến giờ đao phủ được lệnh móc mắt Thái tử, nhưng bọn này chỉ cung kính chắp tay xin chịu: “Chúng tôi không đi đủ can đảm làm việc ấy”. Thái tứ tháo chuỗi ngọc mang trên đầu đưa cho đao phủ và nói rằng: “Đây là tiền thưởng cho các ngươi để làm tròn phận sự”. Chúng vẫn một mực từ chối. Sau cùng có một người hình thù quái gở, đến xin thay chân bọn đao phủ. Nhưng anh này cũng không có gan dùng tay móc mắt. Anh ta đến đống lửa lớn nung một thanh sắt đỏ lên rồi lại gần Thái tử. Thái tử ngồi tự nhiên để cho đâm vào cặp mắt.

Cảnh tượng bấy giờ thật là đau đớn đến nỗi hàng nghìn người chung quanh đều khóc vang lên.

Hành hình xong, Thái tử một tay chống trên người kia một tay ra hiệu bảo người chung quanh yên lặng. Thái tứ khuyên phải xa Ngài ra, không được cứu giúp Ngài và kêu tên Ngài, y như trong đạo lệnh. Họ cúi đầu vừa đi vừa khóc, trong khi ấy Thái tử nằm phục xuống đất. Nghe nắng dội nóng, Ngài mãi lê đến một chỗ có bóng im mát để nghỉ.

Lâu lắm chung quanh ngài yên tịnh không một tiếng động. Bỗng ngồi nghe tiếng chân ngựa giậm gần rồi có những tiếng kêu thảm thiết. Nhận là con ngựa Măng Đa La, Ngài nói: “Còn con nữa, con cũng nên bỏ thầy con”.

Con ngựa quanh quẩn vài lần rồi đi xa, ra khỏi thành phố, một mình lủi thủi trở lại con đường mà nó vui vẻ đưa Thái tử đi.

Mặt trời lặn. Một vài người động lòng muốn giúp Ngài. Song đã có lệnh cấm, họ đành đứng xa, nhìn nhau lắc đầu. Sau mãi một bà lão nghèo đi lại gần ngài lấy nước rửa chỗ đau và lấy cỏ băng lại; bà đỡ Ngài dậy, dìu ra khỏi cổng làng rồi đành thở dài trở về.

Trong lúc Thái tử đang đau đớn, thì đại biểu thành Đắc Xô Thi La được vua tiếp đãi ân cần. Thấy nói Thái tử được hoan hô tôn trọng lòng nàng Ma Đa Vi cũng bớt lo sợ, vì nghe chồng nàng phải đi dẹp loạn: lòng nâng cũng áy náy không yên.

Một ngày sau, sốt ruột, nàng đi đến chỗ nàng từ biệt chồng; qua ngày thứ ba, nàng bỗng thấy con ngựa Măng Đa La trở về một mình. Một ý nghĩ ghê gớm thoáng qua óc nàng; rồi như cây gỗ bị đốn gốc, nàng ngã xuống bất tỉnh.

Tỉnh dậy, nàng nghĩ rằng có lẽ chồng nàng bị dân nổi lên giết chết. “Sao ta lại không tin chồng ta còn sống? Nếu chưa tin được chắc chắn, sao không đi tìm chồng?”. Nghĩ vậy nàng không để mất một phút trở về cung, trút bỏ đồ trang sức. ăn vận như một người thường dân rồi trốn đi tìm chồng, nàng không dám cho vua biết, sợ vua vì thương mà cầm lại chăng.

Nàng lủi thủi đi về phía thành Đắc Xô Thi La, ruột đau như cắt. Dọc đường gặp ai nàng cũng hỏi có gặp Thái tử không?- Đi ngày này sang ngày khác chẳng được tin gì cả.

Một buổi sáng vừa ra khỏi chỗ trú đêm, nàng liền gặp một người nông phu đang gieo mạ. Người ấy nói lúc rạng đông, nhân đi qua cánh rừng nhỏ thấy một người trẻ tuổi mắt mù, mặc áo ra dáng ông hoàng; người nông phu liền cho người mấy quả cây hái ăn trong rừng và một chén nước lã.

Nàng Ma Đa Vi liền đến chỗ ấy thì nàng thấy Câu Na La một mình trên phiến đá. nhưng đau đớn thay, cặp nhỡn tuyến của chàng đã tắt hẳn. Nàng khóc nức lên và quỳ trước chàng nghẹn ngào, cầm lấy tay chàng, nghe nước mắt nhỏ xuống tay, Thái tứ cảm động, đoán là nàng Ma Đa Vi, nhưng chưa dám tin. Đến khi nghe rõ tiếng nàng không nghi ngờ gì nữa, chàng bảo nàng ngồi xuống, trong lúc đang đau khổ ấy được gặp người thân yêu, nỗi vui mừng khôn xiết.

Thái tử thuật lại cho vợ nghe những chuyện xảy ra. Rồi sau đó nàng đỡ chàng đứng dậy, đưa chàng cùng về ra mắt vua cha.

Về phần vua A Dục từ khi được tin con ngựa Măng Đa La về một mình và nàng Ma Đa Vi đi trốn, ngài rất lo ngại. Tức khắc sai sứ đến thành để hỏi tin Thái tử và tìm nàng Ma Đa Vi. Nhân dân trong thành, thấy vua lo ngại cho Thái tử liền hiểu họ bị cái dụ dầu tiên lừa. Sợ bị nghiêm trị họ liền tìm cách nói dối sứ giả rằng Thái tử đã một mình về triều. Dân chung quanh không dám hé răng: vì họ biết rằng nói ra sẽ bị trừng phạt. Sử gia nghi dân đã giết Thái tử nhưng không có chứng cớ gì, đành trở về.

Trong khi ấy, hỏi vợ chồng Thái tử cũng dắt nhau về kinh. Bấy giờ Thái tử đã trút bỏ bộ áo quần ông hoàng mà khoác đồ rách rưới vì trong tình cảnh ấy đồ trang sức chỉ làm thêm đau lòng. Đi qua làng hai vợ chồng cất tiếng hát trong trẻo dịu dàng, dân làng động lòng đưa cho đồ để ăn uống.

Một ngày kia hai người về đến cung điện vua. Lính canh cửa thấy người lam lũ nên không cho vào, nhưng thấy cảnh thương hại áo rách bùn lầy bụi bặm nên cho vào trú trong chỗ chứa xe. Mỏi mệt hai người ngủ thiếp. Ngày mai, vua A Dục còn buồn rầu nghĩ đến con thì ngài giật mình vì nghe tiếng hát quen tai, đó là tiếng Thái tử hát trong nhà chứa xe. Vua nhận ra là tiếng con, nhưng còn sợ lầm, Ngài sai ra hỏi xem ai hát. Cận thần tâu rằng: đó là tiếng của người ăn mày, mù, đi với một người vợ. Vua liền sai dẫn cặp vợ chồng kia đến sân rồng. Thoạt đầu thấy người ăn mặc rách rưới, vua còn nghi ngờ chưa dám nhận là con, nhưng bộ mặt hiền từ phúc hậu kia thật là của Thái tử còn lầm sao được. Hơn nữa nàng dâu Ma Đa Vi, áo quần thô kệch cũng còn dễ nhận. Vua đưa mắt nhìn dâu, nhìn con rồi ôm choàng cả hai mà nức nở.

Một hồi lâu vua mới định thần lại, hỏi Thái tử vì sao mắc nạn. khi hiểu nguyên do; vua nổi giận, nói rằng: “Đứa nào dám dùng ấn của trẫm để làm việc tày trời kia?”. Thái tử ngồi im vì chàng không muốn nói, sợ Hoàng hậu bị nghiêm phạt. Hỏi mãi nàng Ma Da Vi mới nhắc lại cho vua hay rằng Hoàng hậu Xích Di có được phép dùng riêng ấn vua một ngày. Đã nhiều lần vua nghĩ Hoàng hậu có bụng ác với Thái tử. Vì Ngài nghĩ rằng, Hoàng hậu muốn cho con được nối ngôi tức là muốn trở Hoàng tử Câu Na La; tuy nghĩ vậy Ngài vẫn không dám tin, nhưng bây giờ sự đã rõ ràng, Ngài liền truyền lệnh vời Hoàng hậu đến.

Về phần Hoàng hậu, từ khi thi hành thủ đoạn, mất ăn mất ngủ; hễ chớp mắt là thấy hiện ra cảnh Thái tử bị hành hình. Thế rồi vừa tỉnh dậy vừa lo, năng lo rằng tội nàng sẽ có ngày bị tiết lộ. Nàng tưởng tượng rằng từ vua chí dân, ai cũng nhìn thấu rõ tâm can mình. và nàng càng thêm khắc khoải lo sợ.

Khi có lệnh đòi, nàng đoán biết là việc bại lộ. Lúc thấy tất cả cái tội ác của mình. nàng hối hận, nhưng không nói ra tiếng nữa, chỉ cúi gầm mặt xuống, đợi giờ tuyên án. Thái độ ấy rõ ràng hơn lời thú tội.

Vua A Dục nổi giận mắng lớn và truyền rằng trước khi đưa Hoàng hậu ra chém còn bắt chịu nhiều cực hình đau đớn đã. Thái tử tâu xin vua mở lượng tư bi giảm tội cho nàng, nhưng vua vẫn không nghe, Thái tử bèn quỳ xuống nói rằng: “Tâu lạy phụ vương, nào phải một mình Hoàng hậu phạm tội đâu? Đó chỉ vì kiếp trước con có làm nhiều tội ác, nên nay bị nghiệp báo thôi. Đã từ lâu con cố nhớ xem lại kiếp trước con đã tạo nên tội ác gì nhưng mãi đến tối hôm qua, con mới nhớ rõ ...”.

Vua ngắt lời: “Như con thì có tội gì, con là người tốt nhất trên đời?”. Thái tứ cảm động đáp: “Một người hiền lương cũng chưa hẳn vô tội. Vì nếu kiếp này ăn ở hiền lành, nhưng kiếp trước bạc ác thì cứ chịu quả báo. Tâu phụ vương, thuở xưa, có một người săn, một hôm thấy năm chục con dê rừng trong núi, liền dùng lưới bắt hết.

Anh ta nghĩ rằng nếu giết hết thì tiêu thụ làm sao cho hết, chi bằng ta móc mắt chúng không trốn được, ta sẽ lần lượt đưa từng con tới tỉnh mà bán. Nghĩ thế anh ta không ngần ngại đưa tay móc mắt chúng đi rồi thả vào hang núi để bán dần dần. Người đi săn ấy là tiền kiếp của con. Người đi săn ấy làm khổ năm mươi chúng sinh, ngày nay chính là ngày người ấy trả nợ vậy”.

Vua nghe lấy làm cảm động, nhưng còn phân vân chưa tin thì Thái tử ngồi ngay ngắn lại, chắp tay trước ngực mà nói rằng: “Nếu lời tôi nói đúng sự thật, thì xin Phật chứng minh cho và mắt tôi sang lại”.

Lời nói vừa dứt; mắt Thái tứ bỗng sáng như thường, vua A Dục và nàng Ma Đa Vi xiết bao vui mừng.

Vua dẹp giận, ra lệnh ân xá cho nàng Xích Di, chỉ buộc nàng phải tìm chỗ yên tịnh để sám hối tội lỗi. Vua từ đó ngôi báu vững vàng, còn Thái tử chính thức được phong Đông cung để nối ngôi sau này và nàng Ma Đa Vi sẽ là Hoàng hậu.

2). LÒNG HIẾU THẢO CỦA CHIM OANH VŨ

Thuở xưa núi Tuyết Sơn có một con chim Oanh Vũ, cha mẹ đều mù, thường đi tìm trái cây thơm chín dâng cha mẹ dùng. Lúc bấy giờ có vị điền chủ mới cấy lúa bèn phát nguyện rằng: Lúa tôi đây xin nguyện cho chúng sinh ăn dùng”. Chim Oanh Vũ thấy vị điền chủ phát tâm bố thí như vậy, bèn thường bay xuống lấy lúa cúng dường cha mẹ. Người điền chủ đi xem lúa, thấy loài chim; loài trùng phá hoại lúa quá sức, bèn nổi giận đặt lưới bắt được chim Oanh Vũ. Chim Oanh Vũ thưa vị điền chủ rằng: “Trước đây ông có lòng tốt bố thí nên tôi mới dám lấy lúa của ông sao lại đặt lưới bắt tôi?”. Người điền chủ hỏi: “Ngươi lấy lúa làm gì?”. Chim Oanh Vũ đáp: “Tôi có cha mẹ mù, nên phải lấy lúa cúng dường”. Vị điền chủ nói rằng: “Từ nay về sau, ngươi cứ lấy lúa mà dùng, đừng e ngại gì cả”. Loài súc sinh còn biết hiếu thuận cha mẹ huống nữa là người.

Chim Oanh Vũ là tiền thân Đức Phật Thích Ca. Người điền chủ là tiền thân ông Xá Lợi Phất.

3). BÀ GIÀ NGHÈO CÚNG ĐÈN

Một thời Đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Xà Quật, lúc bấy giờ vua A Xà Thế thỉnh Đức Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung. Sau khi thọ trai, Đức Phật trở về Tinh xá Kỳ Hoàn, Vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?”. Kỳ Bà nói: “Ngài nên đem rất nhiều đèn để cúng dường Phật”. Vua liền sai chở mọt trăm thùng dầu về Tinh xá Kỳ Hoàn.

Có một bà già nhà rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền. Bà thấy vua A Xà Thế lam công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích. Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu. Chủ hàng hỏi: “Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?”. Bà già đáp rằng: “Tôi nghe ở đời gặp Đức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần. Tôi nay may mắn được sinh đời Phật, mà chưa có dịp cúng dường. Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau”. Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà già, liền đong cho thêm ba tiền thành được năm tiền dầu. Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm, bà phát nguyện rằng: “Nếu như sau này tôi được chứng đạo Vô thượng như Đức Phật thời ngọn đèn này sẽ đỏ suốt đêm và sáng tỏ khác thường”. Phát  nguyện xong bà lễ Phật rồi về.

Các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được châu toàn. Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

Trời sáng, Đức Phật bảo ngài Mục Kiền Liên rằng: “Trời đã sáng, hãy vào tắt các ngọn đèn”, ngài Mục Kiền Liên vâng lời thứ lớp tắt các ngọn đèn, nhưng riêng ngọn đèn của bà già thổi tắt ba lần cũng không được; sau lấy áo cà sa mà quạt, ngọn đèn lại đỏ rực rỡ hơn. Đức Phật bèn bảo rằng: “Hãy dừng lại, ngọn đèn ấy là hào quang công đức của một vị Phật tương lai, không thể lấy thần thông của ngươi mà trừ diệt được”.

Vua A Xà Thế nghe nói, liền hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta làm công đức rộng lớn như vậy mà Đức Phật không thọ ký cho ta thành Phật, còn bà già kia chỉ thắp một ngọn đèn mà được thọ ký là cớ làm sao?”. Kỳ Bà đáp rằng: “Ngài cúng đèn tuy nhiều mà tâm không chuyên nhất, không bằng được tâm thuận thành của bà kia đối với Đức Phật”.

(A Xà Thế Vương thọ quyết kinh)

4). THẦY TỲ KHEO VỚI CON NGỖNG

Có một vị Tỳ kheo đến khất thực tại một nhà khi được mời vào trong phòng ngồi một mình. Người chủ lên tiếp chuyện tay có đeo một chiếc nhẫn, vô ý đánh rơi mà không biết. Lúc ấy có con ngỗng đi ngang nuốt vào bụng. Vị Tỳ kheo thấy, nhưng không nói gì. Một lát, người chủ mới biết mất chiếc nhẫn bèn lên tìm hỏi. Vị Tỳ kheo im lặng không đáp, người chủ sinh nghi hỏi dồn, vị Tỳ kheo vẫn im lặng, không thể nén lòng tức giận, người chủ mắng chửi và đánh đập, nhưng vị Tỳ kheo vẫn cam chịu không nói một lời gì, lúc ấy có người nhà, chạy lên thưa với người chủ rằng: “Không biết vì sao con ngỗng của nhà tự nhiên ngã chết ngoài sân kia”. Nghe lời nói xong, vị Tỳ kheo mới thong thả trả lời: “Khi hồi tôi thấy con ngỗng nuốt chiếc nhẫn”. Người chủ liền bảo người nhà đem mổ bụng con ngỗng thì tìm được chiếc nhẫn.

Người chủ hối hận liền thưa với vị Tỳ kheo: “Bạch Thầy, sao khi hỏi Thầy lại không nói ngay cho con biết, để đến nỗi con sinh nghi, xúc phạm đền danh thể cua Thầy?”.

Vị Tỳ kheo trả lời: “Ông nghi cũng phải, nhưng nếu tôi nói ngay thì con ngỗng sẽ bị ông giết vì lời nói của tôi, việc ấy tôi không bao giờ dám làm cả, dẫu có hại đến tánh mạng của tôi cũng vậy”.

3. BÀI SÁM HỐI

Đệ tử kính lạy, Đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Thập phương chư Phật, vô thượng Phật pháp, cùng Thánh Hiền Tăng. Đệ tử lâu đời lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc, ngày nay nhờ Phật biết sự lỗi lầm, thành tâm sám hối, thề tránh điều dữ, nguyện làm việc lành, ngửa trông ơn Phật, từ bi gia hộ, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, hằng ngày an vui tu tập, phép Phật nhiệm mầu, để mau ra khỏi luân hồi, minh tâm kiến tánh, trí huệ sáng suốt, thần thông tự tại, đặng cứu độ các bậc tôn trưởng cha mẹ anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng tất cả chúng sinh, đồng thành Phật đạo.

GIẢI NGHĨA

Đại Ý: Bài này có ý chính:

i. Xin thú nhận những lỗi của mình đã làm.

ii. Nguyện làm các việc lành theo lời Phật dạy.

iii. Xin nguyện hồi hướng công đức cho cha mẹ anh em chị em, cùng tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo.

Dàn Bài: Bài này có thể chia làm ba phần:

i. Từ câu “Đệ tử kính lạy …” đến câu “... cùng Thánh, Hiền, Tăng”, đoạn này đệ tử xin kính lạy Phật, Pháp, Tăng.

ii. Từ câu “…Đệ tử lâu đời …” đến câu “... thần thông tự tại”, trong đoạn này, đệ tử xin sám hối những lỗi lầm đã làm, xin nguyện làm các việc kinh, xin nhờ ơn chư Phật gia hộ để vâng theo lời Phật dạy.

iii. Từ câu “… Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng ...” cho đến hết. Trong đoạn này, đệ tử xin hồi hướng công đức cho cha mẹ anh em cùng tất cả chúng sinh đồng thành Phật đao.

 Giảng Nghĩa:

i. Sám hối: Sám là xin thú nhận những lỗi đã làm. Hối là xin nguyện từ nay về sau

không phạm những lỗi ấy nữa. Bài này gọi là sám hối, chúng ta đối trước Phật, Pháp, Tăng, tỏ bày những lỗi lầm của mình đã phạm từ trước đến nay, rồi xin nguyện từ nay về sau không phạm một lần nữa.

ii. Đệ tử: Đệ là em, là học trò. Tử là con, là tiếng các Phật tử xưng đối với Đức Phật. Đức Phật là thầy, mình là học trò là con, vì nhờ Đức Phật làm tăng trưởng trí huệ và phước đức, và vì Đức Phật thương tất cả chúng sinh như con.

iii. Kính lạy: Kính là tôn kính, tôn là trọng, lạy là năm vóc gieo xuống đất. Kính lạy là cử chỉ tỏ lòng cung kính tôn trọng đối với Phật, Pháp, Tăng.

iv. Đức Phật Thích Ca: Đức Phật là một vị giác ngộ cho mọi loài, cho mình, hai giác hạnh đều hoàn toàn viên mãn. Thích Ca là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Giáo chủ ở cõi Ta bà, dịch nghĩa là Năng nhân Tịnh mặc: Năng nhân là có lòng nhân từ; Tịnh là trong sạch không có các tánh xấu: Mặc là an tịnh không có các phiền não nhiễu loạn.

v. Phật A Di Đà: Là Đức Phật làm Giáo chủ ở cõi Tịnh độ. A Di Đà có nghĩa là Vô lượng thọ nghĩa là sống lâu khôn lường và Vô lượng quang nghĩa là sáng suốt khôn lường.

vi. Thập phương chư Phật: Là các Đức Phật trong mười phương: phương Đông, Phương Tây, phương Nam, phương Bắc: phương Đông Nam, phương Tây Nam, phương Đông Bắc, phương Tây Bắc và phương trên, phương dưới. Đây chỉ phương nào cũng có rất nhiều Đức Phật, số nhiều như số cát sông Hằng không thể kể.

vii. Thánh Hiền Tăng:  Tăng là chỉ các vị Tăng già xuất gia theo đạo Phật. Thánh Hiền Tăng đây chỉ cho các vị Bồ tát, các vị A la hán từ trước đến nay đã tu hành chứng quả.

viii. Lâu đời lâu kiếp: Đời là khoảng thời gian từ khi sinh ra đến khi chết. Kiếp là gồm có nhiều đời. Ý nói đệ tử trải qua rất nhiều kiếp về trước.

x. Nghiệp chướng nặng nề: Nghiệp là sự hành động, có ba nghiệp là thân nghiệp nghĩa là những hành động về thân, khẩu nghiệp là những lời nói, ý nghiệp là những ý nghĩ tư tưởng. Chướng là chướng ngại trên đường chánh đạo, con đường giải thoát. Những nghiệp làm từ trước đến nay rất nặng nề, lam chướng ngại sự tu học, sự giải thoát của mình.

x. Tham giận kiêu căng: Đây là một tánh xấu thường của người. Tham là tham lam, ham muốn như tham tiền, tham ăn v.v... Giận là nóng nảy giận dữ. Kiêu căng là khoe khoang ỷ mình tài giỏi khinh người.

xi. Si mê lầm lạc: Đây là một tánh xấu nữa; u mê ngu dốt không biết phải trải, nên làm việc sai lạc. Bốn tánh xấu này là tánh cội gốc của con người, bao nhiêu tánh xấu khác đều do bốn tánh này mà ra.

xii. Ngày nay nhờ Phật, biết sự lỗi lầm: Ngày hôm nay nhờ Phật chỉ bày dạy bảo nên tự biết những điều sai lầm, những tánh xấu.

xiii. Thành tâm sám hối: Xin thành tâm sám hối tất cả những tội lỗi.

xiv. Thề tránh điều dữ, nguyện làm lành: nghĩa là đứng trước Phật, Pháp, Tăng, xin tự hứa chắc chắn bắt đầu từ nay bỏ tất cả điều dữ với người, làm tất cả việc lành lợi người.

xv. Ngửa trông ơn Phật từ bi gia hộ: Nghĩa là trông mong lòng từ bi của Đức Phật thương tưởng ủng hộ giúp đỡ.

xvi. Thân không tật bệnh, tâm không phiền não: (Phiền não là nung nấu não loạn), nghĩa là trông mong ơn Phật gia hộ cho thân thể khỏi các bệnh tật, tâm được an tịnh, khỏi những sự phiền não làm rối loạn.

xvii. Hằng ngày an vui tu tập: Tu là sửa tánh xấu; tập là làm theo những hạnh lành; nghĩa là thường thường được an tịnh vui vẻ, sửa đổi những tánh xấu tập làm hạnh lành.

xviii. Phép Phật nhiệm mầu: Tức là những phương pháp Phật dạy áp dụng theo, sẽ có nhiều kết quả rất nhiệm mầu, khó lường hiểu được.

xix. Minh tâm kiên tánh: Là sáng rõ chân tâm, thấy rõ thể tánh: tức là được giải thoát giác ngộ như Đức Phật sáng suốt, thấy rõ tâm tánh chân thật của mình và của mọi người.

xx. Trí huệ sáng suốt: Là không còn u mê tối tăm, trí não được sáng suốt, hiểu rõ mọi sự mọi vật.

xxi. Thần thông tự tại: Thần thông là những phép bí mật huyền diệu người thường làm không nổi, chỉ riêng các vị giác ngộ mới hiểu, mới làm được. Tự tại là tự do tự ý không bị hoàn cảnh xung quanh trở ngại, tùy theo ý muốn làm gì cũng được.

xxii. Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng cha mẹ anh em thân bằng quyến thuộc cùng tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo: Cứu độ là cứu giúp đưa từ đau khổ đến an vui, từ mê lầm đến giác ngộ; tôn trưởng là các vị trưởng lão nhiều tuổi nhiều đức đứng đầu trong một họ, một phái. Chúng sinh chỉ cho tất cả các loài có sinh mạng, có sống chết như các loài người, loài súc sinh, loài chư thiên ... Đây là lời nguyện của một Phật tử tu hành không phải mưu lợi riêng cho mình mà còn nguyện cứu độ tất cả mọi loài cũng được giác ngộ như mình.

 

Nỗi khổ bị thiêu trong ba đường dữ, nỗi khổ chở nặng của con lạc đà, con lừa, nỗi khổ đói khát của quỷ đói, chưa gọi là khổ. Si mê không học, không biết hướng đi mới gọi là khổ.

Kinh SA DI THẬP GIỚI.

 

 

 

4. CHÂM NGÔN VÀ NĂM ĐIỀU LUẬT CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

CHÂM NGÔN BI, TRÍ, DŨNG

BI: Là cho vui, cứu khổ, đem hạnh phúc đến cho mọi loài, cứu khổ diệt trừ mọi nỗi thống khổ cho chúng sinh. Đạo Phật là đạo Từ bi, Đức Phật là hiện thân của từ bi, nên Phật tử phải là người thực hành hạnh từ bi, đem vui cứu khổ cho mọi loài. Người Phật tử cố gắng không làm đau khổ một ai, dầu là đối với súc vật; người Phật tử không thản nhiên trước sự đau khổ của muôn loài, Phật tử phải ra tay cứu giúp. Phật tử đến đâu cần phải cố gắng diệt trừ đau khổ, đem hạnh phúc an vui gieo vãi cùng khắp.

TRÍ. - Là hiểu biết sáng suốt cùng khắp, nhận chân được sự thật. Đạo Phật là đạo Giác ngộ, Đức Phật là hiện thân của Giác ngộ, nên Phật tử phải là người thực hành Trí huệ, luôn luôn tìm hiểu, hướng tiến đến sự thật. Người Phật tử không cam tâm chịu dốt, chịu mê mờ, Phật tử phải tìm hiểu học hỏi, luôn luôn tìm chân lý, Phật tử khai sáng cho mình, còn có bổn phận khai sáng cho người, tự mình tìm hiểu để bày vẽ

cho mọi người tìm hiểu. Phật tử học Phật pháp tức là học pháp như Thật để tìm hiểu sự Thật, tức là học những phương pháp sống như Thật để hướng tiến đúng mục đích như Thật.

DŨNG. - Là dũng mãnh tinh tấn, không yếu đuối hèn nhát, luôn luôn quả cảm, không giải đãi, gián đoạn. Đạo Phật là đạo Hùng lực. Đức Phật là đấng Đại hùng Đại lực, nên Phật tử phải là người anh dũng quả cảm luôn luôn tiến đến giác ngộ, giải thoát của đạo Phật, luôn luôn đem vui cứu khổ cho muôn loài, luôn luôn tìm hiểu, học hỏi khai sáng trí huệ cho mình, cho mọi người. Người Phật tử cố gắng vượt qua mọi sự thử thách gian lao, mỉm cười trước nguy hiểm, tự tại trước thất bại, vững chí cương quyết, dũng tiến trên con đường đạo.

NĂM ĐIỀU LUẬT CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

1. Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện.

2. Phật tử mở rộng lòng thương tôn trọng sự sống.

3. Phật tử trau giồi trí huệ, tôn trọng sự thật.

4. Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.

5. Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường Đạo.

GIẢI THÍCH

1. Phật tử quy y Phật, Pháp Tăng là tôn Phật, Pháp, Tăng làm thầy, trọn đời quy ngưỡng, y chỉ Phật, Pháp, Tăng, lời nói, ý nghĩ, việc làm đều hướng về Phật, Pháp, Tăng, không theo tà sư, không theo ngoại đạo tà giáo, không theo bè đảng độc ác.

Giữ giới đã phát nguyện: Giới là những giới luật của Đức Phật chế như năm giới của người tại gia. Trong năm giới ấy, tùy nguyện tuy sức đã thọ lãnh giới nào, thời triệt để giữ giới ấy, không lúc nào trái phạm. Nếu tái phạm thời phải làm lễ sám hối rồi cầu xin giữ lại.

2. Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống. Phật tử thực hành hạnh Từ bi, mở rộng lòng thương cùng khắp mọi người, mọi loài là tôn trọng sự sống của tất cả sinh vật. Phật tử không thương riêng thân mình, riêng gia đình mình, mà phải mở rộng lòng thương cùng khắp mọi người, mọi gia đình. Phật tử không thương riêng loài người mà còn thương yêu các loài sinh vật nữa. Phật tử tôn trọng sự sống nghĩa là không giết hại mạng sống của bất cứ sinh vật nào, mà còn phải bảo tồn, tôn trọng tất cả sự sống, dầu là sự sống của những sinh vật nhỏ nhiệm. Phật tử giữ giới không sát hại và ăn chay cũng là giữ điều luật này.

3. Phật tử trau dồi trí huệ tôn trọng sự thật. Phật tử thực hành hạnh trí huệ bằng cách phát chiếu trí huệ và tôn trọng sự thật. Phật tử dùng trí huệ để tìm hiểu học hỏi, dùng lý trí để xét đoán, không mê tín dị đoan. Đối với các học thuyết Phật tử lấy trí phán đoán vô tư để tìm hiểu, nếu phải thì công nhận, nếu trái thì không tin theo. Đối với Phật pháp, Phật tử hết sức tìm hiểu chân nghĩa của Phật, dùng lý trí phân tích, thiệt nghiệm tìm hiểu để thực hành, để sống như lời Phật dạy, vì Phật tử nhận rõ rằng chỉ có sự thực hành mới phát sinh trí tuệ con người. Phật tử tôn trọng sự thật nghĩa là biết phụng sự lẽ phải và sự thật. Phật tử sẽ không nói láo là nói lời trái với sự thật. Phật tử không xuyên tạc sự thật để mưu cầu danh lợi hãy để bênh vực lòng tự ái của mình.

4. Phật tử trong sạch từ thể chất trên tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Phật tử thực hành hạnh Thanh tịnh, hạnh hoa sen trong trắng, giữ gìn thân thể, lời nói, ý nghĩ, việc làm cho tinh sạch trong sáng. Phật tử giữ y phục, thân thể, sách vở, nhà cứa, sạch sẽ. Phật tử chỉ nói lời chân thật, hòa giải, như thật, nhu hòa, Phật tử không nghĩ, không làm các điều ác, chỉ nghĩ, chỉ làm những điều thiện có lợi mình và lợi người.

5. Phật tử sống hỷ xả để vững tiến trên đường Đạo. Phật tử thực hành hạnh Hỷ xả và Tinh tấn. Phật tử sống hỷ xả là luôn luôn hoan hỷ vui vẻ, dầu gặp những nghịch cảnh, trở lực. Phật từ vui vẻ hỷ xả để giúp đỡ cứu khổ cho mọi loài không để tâm ganh ghét thù hằn một ai. Phật tử tinh tấn trên đường đạo không dừng nghỉ, không thoái thoát. Phàm làm việc gì thì làm đến kỳ cùng, cho đến khi thành tựu mới thôi. Dầu gặp nghịch cảnh trở lực, Phật tử phải luôn luôn gắng sức. Khi nào mục đích chưa thành tựu mỹ mãn người Phật tử vẫn phải hoan hỷ, xả bỏ tất cả, để dũng tiến trên đường đạo sáng.

 

Si là gốc tội lỗi, Huệ là gốc hạnh lành.

Kinh PHÁP CÚ THÍ DỤ

 

5. HIỂU MỤC ĐÍCH CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VÀ Ý NGHĨA HUY HIỆU HOA SEN

MỤC ĐÍCH CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

Mục đích của Gia đình Phật tử là đào tạo những Phật tử chân chính và cải tạo đời sống theo chân tinh thần Phật giáo.

ĐÀO TẠO NHỮNG PHẬT TỬ CHÂN CHÍNH

Một Phật tử chân chính là một Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng, giữ giới đã phát nguyện và thực hành năm hạnh Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi.

1). Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng là tôn Phật, Pháp, Tăng làm Thầy, trọn đời quy ngưỡng, y chỉ Phật, Pháp, Tăng, lời nói, ý nghĩ, việc làm đều hướng về Phật, Pháp, Tổng, không theo tà sư, ngoại đạo tà giáo, không theo bè đảng độc ác.

2). Giữ giới đã phát nguyện. Giới là những giới luật của Đức Phật chế, như năm giới của người tại gia. Trong năm giới ấy, tùy nguyện tùy sức đã thọ lãnh giới nào thời triệt để giữ giới ấy, lúc nào phạm, thời phải làm lễ sám hối rồi cầu xin giữ lại.

3). Sống theo năm hạnh. Tinh tấn, Hỷ xả,Thanh tịnh, Trí huệ, và Từ bi.

a. Tinh tấn: nghĩa là luôn luôn tiến trên con đ