
Sau ngày cha mất, lũ con chợt khám phá ra tình mẹ dành cho cha
quá đậm. Như cây cổ thụ xum xuê một ngày bật gốc, để lại người
nép bóng phận đời chới với. Ngày ngày đưa tay quơ tìm giữa
khoảng không còn lại.
"Má bầy trẻ" và "ba thằng Đ" là cách xưng hô hàng ngày. Có lần
giữa bữa ăn, em gái út tinh nghịch hỏi: Hồi mới gặp, ba má gọi
nhau bằng gì? Có bao giờ ngọt ngào qua hai tiếng anh em? Rồi khi
mới cưới, chưa có con để trở thành má bầy trẻ hay ba thằng cu,
thì gọi bằng gì? Anh em tôi bật cười, và câu hỏi vẫn còn là nỗi
thắc mắc - ít ra với em tôi. Mẹ tôi giải thích, mà như không
giải thích được gì, qua câu: "Chưa cưới về đã bao giờ gặp nhau
đâu mà nói chuyện, xưng hô". Bé út la lên. Trời ơi! Không ai bạo
như Má, dám lấy người chỉ thấy một lần. Không nói chuyện, không
biết người ta ra sao mà dám nhắm mắt gởi phận. Mẹ cười, thì
phước ai nấy hưởng. Vậy thôi. Có gặp, có hiểu, có tìm thì cũng
lầm cũng lẫn như thường. Tụi mày nay được tự do chọn lựa, mà
nhiều cuộc hôn nhân có đi đến nơi về đến chốn đâu..
Dù gia đình khá giả để cha tôi có cơ hội được học chữ quốc ngữ
cùng chữ Nho. Nhưng dường như ông không hưởng được hồn nhiên của
tuổi thơ. Nhìn cảnh nhà trên đà phá sản vì sự vung tay quá trớn
của ông tôi, đứa con trai duy nhất là cha nhận ra cả một thê
lương sắp chụp xuống đời ông. Có lẽ nghĩ mình không thể chôn
cuộc đời nơi cánh đồng trơ trọi ở quê nghèo, cha tôi lặng lẽ
theo đoàn người trong nhóm mộ phu vào Nam. Vùng trời thăm thẳm,
xa xôi chưa biết là đâu. Chỉ nghe người ta nói nơi đó đất trời
êm dịu, hiền hòa. Khí hậu không khắc nghiệt, đất đai trù phú.
Con trai tôi, dẫu đã 15 tuổi, vẫn còn được mẹ làm thức ăn trao
tận tay. Mẹ nhắc đã quá giờ rồi phải lo tắt máy, nhớ đánh răng
rồi đi ngủ. Mẹ hớt tóc, lo từ tấm áo tới miếng thuốc rữa mặt.
Vậy đó. Cho nên làm sao mà không ngậm ngùi khi biết không là trẻ
mồ côi mà cha tôi nếm mùi sương gió vào năm tuổi mới 15. Có lẽ
mảnh đất cằn với đời này tiếp nối đời kia với bao nước mắt mồ
hôi đổ xuống vẫn không thể nào làm đất thêm mầu mỡ. Những bàn
tay nhỏ nhoi, bất lực, làm được gì cho thoát kiếp nghèo. Đất
nhẫn chịu nuôi người nhẫn chịu, để thêm gì ngoài cảnh sống càng
ngày càng lầm than.
Giã từ quê nội Thái Bình, cha tôi trở thành ngưòi phu đồn điền
nhỏ tuổi xuôi Nam, nhưng mang ý chí dù chưa bao giờ nếm mùi nhọc
nhằn. Khi những rừng cao su bạt ngàn lớn vội, cũng là khi cha đủ
ngấm sâu những tủi cực lầm than. Ông không còn e ngại cuộc đời
bên ngoài, len lỏi tách mình ra khỏi những giòng sữa trắng ,chảy
từ thân cây có hòa chung nước mắt, mồ hôi của đám người tha
phương. Ông xin vào học nghề thợ máy ở một ga ra sửa xe nơi tỉnh
nhỏ. Học nghề không phải tới trường, không đóng học phí nên phải
đổi lại bằng muôn ngàn cay đắng. Được chủ nuôi cơm và sai vặt
suốt ngày đêm, từ chuyện có liên quan tới nghề cho tới chuyện
của tên đầy tớ, kèm theo những mắng chưởi không ngừng. Đôi khi
được kèm theo bằng những cái tát tai, những cú đấm như người ta
đấm kẻ thù. Cho tới khi cha tôi làm có tiền lương và có dịp xuôi
ngược tới vùng quê nghèo bên ngoại. Tính thâm trầm, điềm đạm
thêm ảnh huởng của nho gia nên cho dù có dáng vẽ của một người
khắc khổ, cha tôi có lẽ hơi đặc biệt trong đám người chân lấm,
tay bùn. Khi nghe chị em tôi ca cẩm, ba độc tài, vô lý gì đâu!
Cấm lũ con hát xướng đàn ca. Anh chị tôi thường phải trốn sang
nhà hàng xóm để hát ca với bạn bè cho đỡ phần nào ấm ức trong
lòng. Mẹ tôi cười cười, tiết lộ điều này. Hồi đó ổng cũng đờn ca
hát xướng như ai. Dân Bắc kỳ mà đờn vọng cổ thiệt mùi, đến nỗi
chinh phục được luôn người đẹp. Tưởng là có kết cuộc vui. Ai dè
nhà gái hồi hôn vì chê ông phiêu bạt ngheo nàn, không xứng với
người ta. Từ đó ông quăng đàn không ca hát nữa. Anh em tôi xúc
động, bùi ngùi. Thì ra không phải vì câu "xướng ca vô loại".
Tôi không ngạc nhiên khi nghe chuyện kể không thứ tự, về cuộc
đời của cha tôi những lúc mẹ vui. Thừa hưởng từ cha tính nhẫn
nhịn, siêng năng, chừng mực, có pha chút dí dõm, nên dù có hay
không dáng dấp, phong lưu các anh em trai của tôi dường như
thường thu phục cảm tình của người khác phái dễ dàng. Phải nói
cha tôi là một người đàn ông chẳng đẹp trai. Lại là người đàn
ông "Bắc kỳ" duy nhất trôi giạt về vùng quê ngoại. Trong khi mẹ
tôi là con nhà nghèo, nhưng được bao người, theo đuổi ước mơ vì
đức hạnh và dịu dàng cùng xinh xắn. Khi cha hỏi cưới mẹ, đã nhờ
người mà mẹ tôi từ chối làm dâu đứng ra đại diện nhà trai. Bà
nhận lời nhưng xa xót thở than. Tưởng con dâu của mình, ai ngờ
giờ lại đứng ra hỏi cưới về làm dâu người khác. Nghe chuyện hấp
dẫn, ly kỳ chị em tôi hỏi tới thêm. Bà mẹ có vẻ là người nhân
hậu. Còn ông đó là ai? Lý do nào người ta đi dạm má lại chối từ?
Mẹ tôi bùi ngùi. Ông ta là công tử con nhà giàu, đi học ở
Saigon. Cứ 3 tháng hè về quê, mặc bộ pyjama, xách cây đờn lủi
thủi đi theo sau những buổi má gánh hàng đi bán. Bán ế trở về
ông chận đường nài nỉ đòi mua cho bằng hết. Má thấy người ta
giàu lại học hành cao. Mình nghèo quá không chữ nghĩa làm sao
xứng, nên từ chối. Má lấy chồng, làng quê có tiếng xì xào. Đúng
là già kén, chẹn hom. Chê làm dâu nhà giàu, tưởng lấy ai, hoá ra
là tên Bắc kỳ nghèo xác xơ.
Người mẹ nhân từ, đức độ thuở xưa, đã trở thành bà nội của anh
em tôi khi nối lại liên lạc sau này. Cậu công tử nhà giàu thương
mẹ ngày xưa đã lập gia đình và đem người mẹ về phụng dưỡng ở
Saigon. Bà mẹ ấy đã thuyết phục ba mẹ tôi đưa anh trai lớn của
tôi về Saigon để học trường lớn và kết làm anh em với cháu nội
của bà. Anh trai tôi được thương yêu, nuông chiều như cậu ấm con
nhà giàu, nên lơ là chuyện học hành. Vài năm sau anh bị cha tôi
triệu hồi về mái nhà xưa. Ngày "bà nội" qua đời, cũng như ngày
người cha không duyên nợ với mẹ tôi vĩnh viễn ra đi, ba mẹ tôi
từ tỉnh nhỏ về Saigon đưa tiễn như tiển đưa một người thân. Khi
đủ tuổi để hiểu rõ về sự liên hệ giữa ba mẹ tôi với người bà nội
nhân từ, thương từ mẹ tôi cho tới ba tôi và luôn cả đàn con,
chưa kể mối tình si ngày cũ biến thành tình thương bất diệt, chỉ
biết cho đi mà không so đo người nhận là ai. Anh em tôi vừa cảm
phục , vừa biết mình có phước nhiều. Chợt nhận ra tình của người
xưa cao cả quá.
Mẹ về với cha chưa được bao lâu, khi anh trai lớn nhất ra đời
cũng là lúc bà ngoại tôi mất đi để lại đàn con nhỏ mồ côi. 19
tuổi mẹ tôi vừa làm mẹ, vừa thay bà ngoại cùng cha tôi bảo bọc
đàn em 4 đứa, bởi sau đó không lâu ông ngoại tôi cùng người cậu
lớn tham gia chống Pháp, đã bị hành hình quăng xác xuống giòng
sông nơi quê ngoại. Vì lẽ đó mà người em trai ông ngoại, đã mang
nỗi hờn riêng theo tiếng gọi non sông. Tình yêu nuớc thương nhà
bị dẫn dắt lạc đường. Phải đến mấy mươi năm sau ông mới trở về
gặp lại gia đình, và mẹ tôi ra sức báo hiếu như báo hiếu người
cha vắng bóng, mà khi sinh tiền mẹ quá đỗi nghèo không cách gì
đáp đền ơn dưỡng dục sinh thành. Quê ngoại không còn là nơi êm ả
thái bình, cha tôi dắt díu vợ con và đàn em nhỏ tha phương tiếp
tục. Với vốn liếng nghề nghiệp sẵn có, cha tôi xin vào làm tài
xế cho chủ đồn điền người Pháp. Một người dì của tôi cũng được
cha dẫn dắt đi cạo mủ cao su. Thời chiến tranh Pháp Nhật sinh
mệnh người dân nghĩ quá mong manh. Một lần sau cuộc càn quét,
chém giết điên cuồng của Nhật, cha tôi thất thểu, lang thang đi
tìm xác người dì vắn số, trong những xác ngập đầy nơi gốc cao
su. Nghĩ là chỉ còn biết vác xác đứa em gái nhỏ mang về, cùng mẹ
tôi đào đất lấp chôn. Nhưng cha tôi bỗng giật bắn người, bởi lúc
ông vừa cúi xuống thì dì tôi ngồi bật dậy. Anh Hai ơi, em còn
sống đây mà. Thấy họ chém, em sợ quá giả bộ nằm xấp, nín thở như
đã chết, úp lên chiếc nón lá cho đỡ sợ, đỡ run. Nhờ vậy mà họ
tưởng em đã chết cho nên mới thoát. Hai anh em đưa nhau trở về
nhà, cũng chỉ là tiếp tục sống quãng đời tăm tối cũ. Trãi qua
thời sinh tử cận kề, cha tôi như cây đại thụ tỏa bóng mát che
đời mưa nắng. Dì tôi đôi khi bày tỏ niềm thương kính dành cho
cha tôi nhiều hơn cả với mẹ tôi. Tiếng anh Hai ngọt ngào trân
trọng, như nói lên tấm lòng của dì đối với nguời anh rễ, không
khác một người cha. Khi dì lớn khôn cũng chính cha tôi gã chồng
cho một người đàn ông từ đất Bắc vào Nam.
Mẹ tôi kể đám chủ Tây luôn cho mình là giai cấp cao sang. Tất cả
tài xế, bồi bếp và nhân viên phục vụ dưới mái nhà bị đối xử như
hàng nô lệ thấp hèn. Sau bữa cơm tối của hai vợ chồng người chủ
đồn điền, đám bồi bếp cùng cha tôi và tất cả vợ con dọn xuống
nhà sau, đèn tắt hết mọi người ăn trong bóng tối. Mẹ nói cha
thiện lành đến dường nào mà đã bật lên tiếng chửi oán than. Sáng
hôm sau ông bỏ việc dắt díu gia đình tha phương cầu thực. Trước
khi rời ngôi nhà tủi nhục ê chề, ngưòi chủ Tây đã lục xét hành
lý từng người. Cha tôi nghĩ quyết định của mình thật đúng, dù
trước mặt là khoảng tối đen đời chưa biết sẽ về đâu. Để tránh
những nơi chiến tranh loạn lạc, cha đem vợ con về Saigon, chen
chân vào xóm Bàn Cờ. Ở đó cha đi làm tài xế, rồi dành dụm mua
một chiếc taxi. Cũng vì cảnh khó nghèo không nương tựa được vào
ai. Người anh cả của tôi qua đời năm lên 10 tuổi vì bị bệnh
thương hàn, không có tiền chạy chữa thuốc thang. Mẹ tôi đem chôn
anh ở nghĩa trang Gò Vấp. Sau này khi thoát ra khỏi cảnh hàn vi.
Mẹ xa xót, quặn lòng nhắc chuyện anh tôi. Nó thông minh lắm. Còn
nhỏ mà đã biết giang tay bảo bọc, lo lắng cho em từng chút. Nó
dặn dò má để ý khi con đi học, đừng cho em ra chơi với những đứa
hàng xóm gần nhà. Tụi nó không đi học nên chơi tệ lắm. Nó sẽ
đánh em, không có con ở nhà làm sao bênh vực cho em. Đôi khi anh
tôi nói thèm ăn kem ở hãng gần nhà. Nhưng thôi má đừng mua vì ở
đó bán mắc hơn ông bán dạo. Nhà mình nghèo con nhịn cũng không
sao.
Có lẽ chán cảnh bon chen nơi đô hội, cha tôi quyết định đem gia
đình về vùng cao su đất đỏ miền Đông. Tôi và 4 đứa em sau ra đời
ở nơi này. Cũng ở nơi đây cha tôi tạo nên sự nghiệp và phủi tay
gởi lại như chưa từng đến và đi. Dù vậy những tháng năm tôi ra
đời và dần khôn lớn nơi này, đã để lại những dấu ấn sâu đậm
chuyển đổi cuộc đời cha từ đó
Không còn đường để quay về khi đã có khả năng bảo bọc người thân,
cha tôi đau xót ngập lòng ngày nhận tấm bưu thiếp lần đầu cũng
là lần cuối vì Bắc nam không còn liên lạc thông thương. Bà tôi
mất trong trận đói năm Ất Dậu. Ông tôi kéo lê chuỗi ngày tàn
trong khó nghèo không một nguời thân ruột thịt ở cạnh bên, bởi
cha là đứa con duy nhất đã lìa xa. Dù có thể ngồi nhà để điều
hành công việc kinh doanh với mẹ tôi, đồng thời vẫn coi sóc được
những chiếc xe hàng và xe chở khách có thuê tài xế, nhưng cha
tôi vẫn miệt mài làm việc không ngừng. Ông như sợ phải đối diện
với những giờ phút thảnh thơi, nhàn rỗi. Dù cực nhọc, dù hằng
ngày vẫn giao tiếp với đủ hạng người bao gồm những nguời không
mấy hiền lành, nhưng trước sau cha tôi vẫn là người trầm lặng
như thuở trước. Ông kể thuở còn ở Saigon, những buổi trưa mướn
ghế bố nằm nghĩ chờ đến chuyến của mình, từ phòng bên cạnh là
tiếng kêu dọc tẩu của những bàn đèn thuốc phiện mà dân ghiền lui
tới mỗi ngày. Trên vách, những con thằn lằn kéo ra hít khói vì
hình như chúng cũng nghiện theo, trong khi cha tôi thản nhiên
nằm đếm thời gian. Sòng bạc là nơi ông xa lánh, bởi nỗi đau thầm
lặng ngày xua, chưa kịp lớn đã chứng kiến điều bi thảm mà lẽ ra
không xãy tới, nếu như ông tôi không có máu đỏ đen, bán hết gia
sản ông cha để lại nơi sòng bạc. Cha tôi dạy con rất đỗi nghiêm.
Không chấp nhận bất cứ lời nói khiếm nhã nào, sẽ phạt rất nặng
chẳng chừa ai, nếu như một trong mười anh em tôi phạm lỗi. Không
muốn bất cứ đứa con trai nào bén mãng đến gần những lá bài, dù
chỉ là trò chơi đánh bài, đặt bằng những cọng dây thung hay bao
thuốc lá không.
Căn nhà mới cất nằm trên con dốc, có ngôi tịnh xá thật gần. Hình
ảnh những vị sư đầu đội trần, chân đạp đất xếp hàng dài đi khất
thực trong ánh nắng như thiêu đốt trên con đường nhựa, đã làm
cha tôi xúc động, bồi hồi. Từ đó luật lệ dành cho anh em tôi
bỗng như thắt chặt thêm, sau khi cha tôi tìm đến ngôi tịnh xá
tìm hiểu và học Phật từ nơi những vị sư thường lặng lẽ khép mắt
bước đi trên những con dốc có nắng vàng và bụi đỏ ngập đầy. Cho
mãi đến mấy mươi năm sau tôi mới nhận ra, từ thuở nhỏ anh em tôi
đã được cha dạy hạnh nhẫn nhục từ nơi cách sống của ông và áp
dụng luôn cho cả đàn con. Không nhìn lỗi người, chỉ ráng thấy
lỗi mình. Nhịn mà không thấy nhục vì đó là cách mình chọn để
sống với mọi nguời, những người cũng có niềm vui, nỗi khổ như
mình, chỉ vì nghiệp quả khác nên hình tướng khác. Còn lại ai ai
cũng ước mong được hạnh phúc, bình an. Đã mong hạnh phúc thì
đừng bao giờ gieo đau khổ cho ai, dù họ đối với mình có ra sao
đi nữa. Anh em tôi đã một thời uất ức tủi buồn. Nghĩ cha bất
công, chỉ biết lo cho con đầy đủ ấm no mà thiếu tình thương, bởi
quá nghiêm khắc, đòi hỏi con phải làm người lớn khi tuổi còn thơ
dại. Chỉ cần người anh nghịch ngợm nhất nhà phạm lỗi, là cả đám
anh em bị nằm xếp hàng nhận lãnh những ngọn roi từ một cọng mây.
Cha bảo nếu như anh tôi không chơi chung với đám nghịch phá thì
hàng xóm không tới phiền hà, dù sự thật lần đó anh không góp mặt.
Người ta tức bực những người bao che, bênh vực con hư nên tìm
tới cha tôi cho hả dạ , vì biết cha sẽ xử tội anh tôi không cần
biết những lời cáo buộc kia có đúng như sự thật hay không. Lần
đó, tôi chưa đủ tuổi để lãnh quả chung với anh tôi nên ngơ ngác
kêu lên khiến chị tôi điếng hồn luôn. Chị vốn sợ đòn roi nên
ráng thật ngoan. Vậy mà vẫn bị cha tôi ra lệnh tất cả chịu đòn
chung như luật lệ đã ra. Chị cuống quýt tuột ngồi thụp xuống
cạnh bên chiếc đi văng. Chụp cái giỏ đi chợ của mẹ treo gần đó
lên đầu mong cho cha tôi không để ý. Sau lần đó, cha tôi tội
nghiệp, đã tha không bắt lũ con gái chịu đòn chung .
Còn rất nhỏ đã được huấn luyện thật nghiêm như trong quân đội,
cho nên tính ra anh em tôi ít bị đòn roi. Người nào cũng lo giữ
thân mình, cũng chính là giữ gìn cho người vô tội khác trong nhà.
Phải có đàn con đông, phải gánh oằn vai trách nhiệm vật chất lẫn
tinh thần và luyện rèn đạo đức cho con, mới thấu hiểu tấm lòng
của người cha yêu kính nhất trên đời ngày đó. Bên cạnh việc để
mắt uốn nắn và dạy dỗ khắt khe, cha tôi không nói gì về tâm từ,
nhưng chúng tôi học hai chữ từ bi, bằng chính cách sống của cha
và mẹ mỗi ngày ở trong đời. Cha cho thiếu hoặc không lấy tiền vé
xe đò với đám học sinh con nhà nghèo đi trọ học xa nhà. Cha đem
về cho ngủ qua đêm những người thiếu nữ hoặc đàn bà lỡ đuờng
không có người thân. Một trong những người thiếu nữ lạc loài,
hoạn nạn đã trở thành con dâu của cha mấy năm sau, dù lúc đó anh
trai tôi đã vào quân ngủ lâu rồi, không có mặt trong đêm định
mệnh. Đúng là duyên và nợ buộc vào nhau. Qua đêm tá túc ở nhà
tôi, người thiếu nữ trở về miền Tây và tìm gặp anh tôi sau khi
biết anh đang đóng ở đây. Mẹ tôi nhiều lần xót dạ, vì sau một
đêm khách lạ ra đi mang theo quần áo hay một vài món đồ quý giá
của mẹ tôi. Cha tôi nghe phàn nàn chỉ cười trừ. Thì họ lâm cảnh
khốn cùng coi như mình bố thí. Mà đã bố thí thì đâu còn màng đến
việc cho và nhận ra sao. Cha tôi bắt đầu ăn chay niệm Phật và
thỉnh về những bộ kinh để tụng hằng đêm. Căn gác nhỏ trở thành
giang san riêng biệt. Mỗi tối và khuya, giờ chuông mõ tụng kinh,
trong nhà là tôi một khoảng vắng im. Tiếng nói chuyện thì thào.
Radio, tivi vặn nhỏ xuống hay tắt hẳn, dường như không có âm
thanh nào trong căn nhà rất nhiều người. Có lẽ không chịu nỗi
không khí u trầm tĩnh lặng, nên những chị hai giúp việc sau một
thời gian, lặng lẽ rút lui với cùng một lý do. Ở đây buồn quá,
dù con được đối xử như các em trong nhà, hơn bất cứ nơi nào con
đã vào làm. Mẹ tôi cực nhọc nhiều hơn mỗi lúc "mất" chị hai.
Nhưng dù mẹ tôi có người phụ việc hay không, cả hai đấng sinh
thành vẫn đều đặn đón tiếp và lưu lại vô thời hạn những người bà
con xa gần, tới ở chơi hay chữa bệnh dài ngày. Khi về ai cũng có
quà là bánh trái, thuốc men kèm với ít tiền.
Không tranh cãi hơn thua, cho rằng mình đúng người sai. Không để
mắt vào chuyện người khác và lặng lẽ rút lui khi người gây hấn.
Đám anh em tôi đã đi vào đời bằng những bước nhẹ nhàng. Một đôi
khi người anh hiền nhất thở than. Sống chân thật, nhường nhịn
không hơn thua với bất cứ ai, đôi khi mình giống như ngu khờ
dưới mắt mọi người. Tôi an ủi anh tôi. Khờ mà ăn ngon, ngủ yên.
Thêm bạn, bớt thù cũng hạnh phúc rồi. Hãy nói cho em nghe, xưa
nay anh có kẻ thù không? Anh tôi cười hiền, bỡi thừa hiểu những
gì nhận được qua cách sống của cha tôi. Không cần nói gì nhiều,
vẫn làm cho người giao tiếp thân cận cảm nhận sự tin tưởng, bình
an. Anh có thêm nhiều những người anh, người chị trong đời bên
cạnh gia đình vốn lớn sẵn rồi. Đó là những người khách hàng, cảm
mến và mở rộng vòng tay đón nhận anh như một người thân.
Tôi nhớ thời trung học ở Saigon, có nhiều buổi sáng trước sân
trường tôi bỗng dưng ao ước tình cha. Hình ảnh cô bạn học ngồi
vòng tay ôm người cha trên chiếc vespa, ngó sao ngọt ngào, đầm
ấm, dễ thương. Xe dừng lại trước cổng trường. Cô nhỏ bước xuống
ôm vai cha và nhận lại gói quà sáng người cha đặt vào tay con
gái, xiết nhẹ và ân cần dặn nhỏ điều gì. Tôi thường được Tuyết
Dung bạn tôi chia chung quà sáng của cha. Là chiếc bánh bao còn
nóng, hoặc gói xôi, khúc bánh mì.... mua đâu đó trên đường chở
con đi học. Một lần, tôi đến nhà Dung. Hết sức ngạc nhiên khi
nhìn thấy bạn tôi- cô tiểu thư xinh đẹp, hiền ngoan và học giỏi
đang trãi tình thương cho lũ heo con. Căn nhà ở ngoại ô thành
phố với khu vườn cây ăn trái, đất rộng mênh mông, phía sau còn
có một chuồng heo. Nhìn bạn tôi vừa tắm cho lũ heo con, vừa nâng
niu đùa giỡn như đang chơi đùa với lũ em thơ. Tôi nhận ra những
gì Dung đón nhận từ cha, cô đem chia lại cho đàn heo mọi đen
thui, bé bỏng. Chợt biết, mình hay khao khát được thương yêu
nhưng dường như quá ích kỷ. Chỉ mong đón nhận hơn là cho ra
những gì mình có thể, dù đó là thứ càng cho đi, càng thấy giàu
thêm. Những bài học từ bi cha tôi một đời không ngừng dạy bằng
ngay cách sống của người. Vậy mà tôi cứ thấy cha là cha và tôi
là tôi, cho nên vẫn luôn thầm khao khát tình cha.
Cha tôi ra đi đã 4 năm. Mẹ tôi vẫn hụt hẫng sau khi đã nép bóng
bên người 61 năm dài. Riêng tôi luôn cảm nhận cha hiện diện mọi
lúc mọi nơi, quanh tôi. Cha ở trên khuôn mặt chị tôi với những
vết đồi mồi. Cha ở trên vầng trán cao cương nghị, trong giọng
nói hiền ấm của những người anh. Cha ở trong tình thương mà mẹ
tôi tiếp tục trải dài từ quê hương mới bên này tới quê hương bên
kia. Từ ngôi chùa lớn cho tới mái lá nghèo nuôi trẻ mồ côi ở
Việt Nam. Cha còn mãi qua lời an ủi, trong những giờ phút sau
cùng tôi quanh quẩn cạnh cha ở nhà thương. Con ơi, không phải
chỉ người dư giả, giàu sang mới có cơ hội bố thí, cúng dường.
Nếu biết cho ra không suy tính đắn đo những gì đang có sẵn nơi
con, là tình thương và sự hiểu biết, thì hạnh phúc của người
cũng là hạnh phúc của con. Gia tài cha để lại, không thấy gì
nhưng trùm khắp quanh đây, chở che từng bước. Vậy mà ngày xưa
tôi đã ngây ngô ao ước tình cha.