Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


......... .

 

 

Những mùa Vu Lan

Thích Đức Niệm

---o0o---

 

Thay Lời Tựa

Ta hiện hữu trên cõi đời này do nghiệp duyên đưa đẩy. Nghiệp là năng lực dẫn dắt ta đi theo nghiệp nhân mà ta đã tạo để rồi kết hợp với người hữu duyên hình thành thân này trong hoàn cảnh xứng hợp.

Thân này có và được tồn tại phải nhờ đến nhiều yếu tố của thế gian, mà trực tiếp là cha mẹ cưu mang chắt chiu chăm sóc.  Mà phải nào chỉ có săn sóc hình hài ta thôi đâu, đến cả tâm trí hiểu biết cũng thường hằng trực tiếp nhờ cha mẹ giáo dưỡng mà thành.  Đích thực cha mẹ là nơi đã tạo ra chúng ta.  Không có cha mẹ thì không có ta.  Nếu cha mẹ không muốn ta ra đời, không có thiện tâm để ta sống, thì ta cũng không thể tồn tại hiện hữu được.  Thế nên cha mẹ là đấng nắn tạo ra đời con, là giòng suối ngọt để con giải khát, là bóng mát trời nắng hạ, là bát cơm thơm ngon, và còn biết bao chất liệu ân tình chứa chan qua tiếng hát lời khuyên bằng dòng nước mắt yêu thương, bằng nụ cười hiền dịu an ủi vỗ về trải dài tháng năm, bằng tâm tình tha thiết trao trọn cho con.

Do vậy, các bậc thánh hiền cổ đức mà nhứt là đức Phật Thích-Ca đều khuyên ta phải ghi nhớ ân cha mẹ để lo báo đền.  Bất cứ đạo lý nhân bản nào cũng đề cao đạo hiếu, phụng thờ cha mẹ.  Kinh sách Thánh Hiền nói: “Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên”.  Bởi lẽ, có hiếu là có nghĩa, có trung, có tín, có thành.  Nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ thì là bất hiếu.   Bất hiếu sẽ đưa đến bất nghĩa, bất trung, bất tín, bất thành!

Sống ở đời muốn được an lành hạnh phúc, thành danh vinh hiển mà không lấy hiếu đạo làm đầu để làm nền tảng tiến thân thì tự đào sâu hố thẳm bất hạnh, ô danh tiếng đồn.  Người còn có lương tâm không thể nào phủ nhận ân đức sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.  Thực tế và rõ ràng là mẹ mang nặng đẻ đau cưu mang ẵm bồng săn sóc.  Cha ngày ngày làm việc cực nhọc để kiếm tiền nuôi con khôn lớn.  Cha mẹ đã kiên nhẫn cực khổ ngày đêm nuôi dưỡng dạy dỗ vỗ về khuyên nhủ trải suốt bao tháng năm, con mới được lớn khôn hiểu đời.  Điều hiển nhiên thế đó!  Ấy vậy mà có kẻ cuồng tín cho rằng thần linh thượng đế sanh tạo ra mình, nên chẳng cần phụng thờ cha mẹ.  Lại có kẻ điên rồ mê dại nghe theo tà nhơn ác đảng đem cha mẹ ra tố khổ, cho đó là hành động theo tư tưởng tiến bộ, đỉnh cao trí tuệ của loài người!  Thảo nào Đức Phật huyền ký: Vào thời mạt pháp cách Như Lai diệt độ lâu xa, có hạng tà nhơn giả chánh nhơn thuyết chánh pháp, mạo xưng là Phật, Bồ Tát hiện thân để mê hoặc lòng người.  Lại có kẻ tự xưng là tăng, nhưng không thọ trì giới pháp, thích làm những điều danh lợi thế gian.  Trong hàng Phật tử có những kẻ hình người tâm ma thích phá rối Tam Bảo, mưu toan chiếm đoạt quyền hành thao túng cửa Phật. Nhân gian phát sanh nhiều thứ đạo tặc lập bè kết đảng phá hại chánh pháp, hãm hại người hiền, huỷ hoại Phật tượng, chùa viện, luân thường đạo lý, ưa thích tạo hận thù hãm hại lẫn nhau, lấy đó làm vui.  Đồng thời xuất hiện những bệnh hoạn ngặt nghèo, tai ương khủng khiếp, mà con người vẫn thản nhiên vui với kiếp sống mong manh bất ổn đó.!

Ta thử định thần lắng lòng tự hỏi lời Phật huyền ký có đúng chăng?  Và vì đâu nhân loại ngày một phát minh tiến bộ mà lòng người không được an lành theo nhịp độ của sự tiến bộ văn minh đó?  Trái lại càng lúc đời sống con người càng bất ổn, tâm thần nhiều lo âu, vẻ đẹp thiên nhiên mất dần và thu hẹp.  Phải chăng con người chỉ dong ruổi theo vật chất mà quên mất phần tinh thần trau dồi đạo đức?

Đức Phật dạy: “Lấy ân báo oán, oán tự tiêu diệt. Lấy oán báo oán, oán thêm chất chồng”.  Đối với bổn Phật, đức Phật dạy: “Trên đền trả bốn ân lớn, dưới cứu giúp ba đường khổ”.  Bất cứ người Phật tử chân chánh nào cũng ghi tâm tạc dạ điều này, mà đặc biệt là hiếu kính cha mẹ.

Như vậy, Phật giáo tuy hướng đạo con người tiến lên Phật đạo giác ngộ giải thoát để được sống an vui trong cảnh giới Cực-Lạc Niết-Bàn, nhưng đồng thời ngay trong hiện đời, đức Phật dạy phải hoàn thành nhân đạo hiếu nghĩa.

Sách đây ghi lại dấu vết cõi lòng cảm xúc của người con không còn gần cha mẹ, người dân xa quê hương trong hoàn cảnh đau thương của đất nước, dòng tâm tư xúc động mỗi độ Vu Lan về.

            Hoa Kỳ, Vu Lan 2540-1996

            THÍCH ĐỨC NIỆM

 

 

Những Mùa Vu Lan

Nay nhân mùa Vu Lan thắng hội, tôi có đôi dòng cảm nghĩ về người con hiếu hạnh trong ý nghĩa Vu Lan.

Khi tôi còn nhỏ ở cái tuổi mười một mười hai, mỗi lần gần đến rằm tháng bảy, tôi nghe thấy bà con xóm làng bảo nhau, rủ nhau mua sắm nhang đèn hoa quả mang lên chùa cúng lễ Vu-Lan, cúng dường Tam-Bảo, cầu siêu độ mẹ cha ông bà quá cố, cửu huyền thất tổ siêu thăng.  Tôi còn nhớ câu ca dao khi còn ở lớp tiểu học: “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.  Lúc đó, tôi chỉ biết thế thôi, chứ không biết ý nghĩa sâu xa tại sao lại tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân.  Đến khi vào chùa xuống tóc xuất gia theo thầy học đạo, tôi mới thật sự hiểu ý nghĩa thâm sâu về Vu-Lan, tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân.

Vu-Lan phiên âm từ tiếng Phạn Ullambana, người Trung-Hoa dịch là giải-đảo-huyền.  Có nghĩa là cởi mở giải thoát cho tội nhân bị hành hạ treo ngược.  Lễ Vu-Lan hay nói cho đúng ý nghĩa của nó là Pháp hội Vu-Lan hay Vu-Lan thắng hội, tức là tăng tục câu hội y như Phật Pháp mà cử hành lễ để cầu nguyện cho những chúng sanh đang bị tội khổ trong ba đường ác được giải thoát.  Chúng sanh trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thống khổ vô cùng như người bị treo ngược hành hạ thì lễ Vu-Lan chính là cứu khổ giải thoát cho những vong hồn thoát ly khỏi chốn đọa đày trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Đức Phật nói, chư Tăng mỗi năm tịnh tâm chuyên ròng tinh tấn tu niệm suốt ba tháng an cư.  Thời gian an cư kiết hạ bắt đầu từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy.  Trong suốt thời gian ba tháng này, chư Tăng cấm túc an trụ một nơi, kiết giới ngày đêm chuyên ròng tu tập, thân tâm thanh tịnh.  Do chuyên ròng tu tập mà giới đức tăng trưởng tròn đầy.  Đến ngày rằm tháng bảy là ngày chư Tăng tự tứ, ngày thêm được hạ lạp, nghĩa là thọ lãnh thêm một tuổi đạo.  Ngày ấy là ngày chư Phật mười phương hoan hỷ, vì thấy hàng đệ tử nghiêm trì giới luật, giới thể châu viên, thân tâm thanh tịnh, bước đến gần thêm đạo quả giác ngộ giải thoát.

Tuân theo lời đức Phật chỉ dạy, Mục-Kiền-Liên tôn-giả cũng trong dịp Vu-Lan thắng hội này, đã thiết lễ trai tăng cúng dường, chư Tăng hoan hỷ thọ dùng, thành tâm chú nguyện cho mẹ tôn-giả.  Nhờ lòng hiếu thảo, nhờ công đức cúng dường trai tăng, nhờ sức thành tâm chú nguyện của chư đại-đức Tăng tạo thành năng lực thù thắng đã khiến bà Thanh-Đề, mẹ của Ngài Mục-Kiền-Liên tôn-giả nhờ đó mà tâm được chuyển hoá thoát khỏi kiếp ngạ quỷ đói khổ.  Đây là mở đầu kỷ nguyên Vu-Lan hiếu hạnh cho ngàn đời về sau:

Rồi cứ năm năm rằm tháng bảy

Hồn con nương tựa bóng từ bi

 

***

 

Chư Tăng trọn chín mươi ngày

Cát tường bảo tọa trải bày tâm can

Bao nhiêu nghiệp hải chướng san

Đây ngày tự tứ sạch ngàn ác duyên

Từ đấy trở đi, mỗi độ thu sang rằm tháng Bảy, đó đây những người con thảo cháu hiền đều thành tâm nghiêng mình trước đấng từ bi Phật-Đà, nguyện noi theo hiếu hạnh của tôn-giả Mục-Kiền-Liên, sắm sửa trai diên cúng dường Tam-Bảo, cúng dường trai tăng, đem công đức hồi hướng cầu nguyện cho ông bà cha mẹ thân nhân quá cố sớm thoát khỏi cảnh u đồ đày đọa khổ đau đen tối nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Dù cho ai đó có dong ruổi theo công danh sự nghiệp, mưu kế sanh nhai, hay mê dại đắm đuối trong ái tình danh lợi đến đâu đi nữa, thì mỗi độ thu sang rằm tháng bảy, tiết thu mát lạnh khắp người, gió thu hiu hắt lá vàng nhẹ rơi, chắc cũng phải chạnh lòng trong giây phút nào đó, hồi tâm tưởng nhớ đến đấng sanh thành, nhớ lại thân bằng quyến thuộc, nhớ nơi chôn nhau cắt rún của mình.

Lòng hiếu kính là nền tảng vững chắc của tình gia tộc, là nguồn sống an lành hạnh phúc thiêng liêng của gia đình, là nguồn sống tinh thần của cả một dân tộc.  Nên những đứa con học Tây học Mỹ có bằng cấp nọ kia, nếu không thấm nhuần tư tưởng hiếu hạnh Đông phương, truyền thống của tổ tiên ngàn đời, thì những đứa con đó sẽ là những đứa con mất gốc, sẽ bỏ cha mẹ sống trong cô đơn hiu quạnh lạnh lẽo không người săn sóc, không biết thân gần an ủi cha mẹ khi tuổi già.  Với những kẻ bất hiếu bất nhân vong bản tất nhiên mang lại cho cha mẹ cảnh sống bơ vơ, thiếu sự đầm ấm của gia đình khi cha mẹ còn sanh tiền, và một khi cha mẹ trăm tuổi già qua đời thì tất phải rơi vào cảnh nhang tàn khói lạnh.  Đối với quốc gia xã hội, những đứa con bất hiếu bất nghĩa này trở thành những người con mất gốc, những người dân vong bản, quên hẳn truyền thống của ông cha tiên tổ, chỉ biết ích kỷ hưởng thụ, cúi đầu vọng ngoại, tôn sùng những tín điều chủ nghĩa lý thuyết ngoại lai, mang lại không biết bao là tai hại cho gia đình, dân tộc xứ sở.  Bằng chứng hiển nhiên cho ta thấy, tiếng khóc của đồng loại kéo dài suốt cả trăm năm chưa dứt, cũng do những con người vong bản vọng ngoại thiếu tinh thần hiếu hạnh tạo ra.

Đồng bào đã và đang mang tâm trạng hoài nghi đố kỵ hận thù hãm hại nhau, gây đau thương tang tóc cho nhau, đầu giây mối nhợ, cũng bắt nguồn từ những kẻ thiếu lòng hiếu hạnh, quên đạo truyền thống của ông cha thời đại Lý, Trần, thiếu mất tâm đạo đức, thiếu ý thức trách nhiệm lương tâm với tiền đồ dân tộc, chỉ biết cúi đầu rập theo danh lợi cặn bã của tà giáo ngoại lai, giáo điều chủ nghĩa, lập bè lập đảng phản dân hại nước, chỉ biết làm bồi bút viết lên những điều vô luân vô đạo, tạo nên sự đầu độc tâm trí người nhẹ dạ, hoặc lớp trẻ thơ, gây ra hoang mang nghi ngờ đối với tư tưởng niềm tin chánh tông truyền thống của dân tộc giống nòi, để được thỏa mãn tham vọng của ngoại bang và hả dạ ích kỷ hận thù riêng tư.  Thảm trạng tan nhà, mất nước, đồng bào triền miên trong cảnh chết chóc đọa đày dày xéo lên nhau, đạo Phật, đạo ông bà bị áp bức nghiệt ngã, dân tình nghi nhau hại nhau, nguyên nhân từ những kẻ thiếu lòng hiếu thảo, thiếu ý thức đạo đức truyền thống của ông cha, vô minh chạy theo tà thuyết tà đạo, mù quáng tin theo chủ nghĩa phi nhân, để được chút quyền lợi cặn bã, mặc tình phá nước hại dân.

Nhà Nho dạy rằng: “Muốn cho gia đình hạnh phúc, quốc gia hưng thạnh, dân tộc thái bình, trước hết phải tu thân”.  Kinh sách của Khổng-Mạnh còn dạy: “Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên”.  Lời dạy này bao hàm ý nghĩa: “Dù cho thông thái đến đâu, chức tước đến bậc công hầu khanh tướng đi nữa, thì vẫn phải lấy hiếu đạo làm đầu”.  Cổ đức tiên hiền nói: “Hiếu vi vạn hạnh vi tiên”.  Nghĩa là, hiếu là đầu trong muôn hạnh.  Cha mẹ sinh ta ra, nuôi ta lớn, cho ta ăn học nên người, giúp ta lập thành gia thất, tạo nên công danh sự nghiệp.  Công lao sanh dưỡng suốt đời tận tụy khổ cực nuôi con, ân đức của cha mẹ to lớn sâu dày như trời cao bể rộng sông dài vậy đó, thế mà ta không nghĩ nhớ thương kính tỏ lòng biết ơn, thì thử hỏi còn tôn kính biết ơn ai!?

Những hạng người không có lòng hiếu thảo cha mẹ thì đối với vợ không có thành thật, đối với con không có thâm tình, đối với bạn bè xã hội không có thành tín, đối với vua với nước không có trung nghĩa.  Người không có đức tánh thành, tín, trung, nghĩa, chân tình, nếu là thường dân thì gian xảo đạo tặc, còn làm vua quan thì tham nhũng, phản tặc, nuôi dưỡng ý đồ vong nô thừa dịp rước ngoại nhân về dày xéo mã tổ, hãm hại đồng bào.  Còn nếu làm văn hoá thì bồi bút, đầu độc tư tưởng, chụp mũ vu khống, nhằm hướng dẫn dư luận quần chúng đến chỗ hoài nghi, phá sản niềm tin đạo đức truyền thống của dân tộc, không có tâm kính trọng đạo đức, khiêm nhường bậc tiền bối, tôn trưởng.  Nếu bất hiếu thì sẽ đưa đến bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất tín.  Bởi vì ông bà cha mẹ mà còn không kính trọng phụng thờ thì thử hỏi còn biết kính trọng ơn nghĩa ai!

Dân tộc Việt-Nam nói riêng, dân tộc Á-Đông nói chung, nhờ tinh thần hiếu kính, mà duy trì tình dân tộc, nghĩa đồng bào, lòng yêu tổ quốc, mồ mả núi sông, hồn thiêng tiên tổ đất nước vững vàng trải suốt bao ngàn năm.  Có hiếu thảo, dù cho cuộc sống kém về phần vật chất, nhưng đời sống tinh thần thật là phong phú êm đềm.  Trọng đạo hiếu thì ít xảy ra cảnh loạn luân bội tín, phụ bạc thay trắng đổi đen, quê hương dân tộc giống nòi không nghẹt thở bởi thứ văn hoá đạo giáo chủ thuyết sắt máu phi nhân, ép ngặt bức bách mê hoặc vô luân phi lý, tạo sự mất chủ quyền xứ sở, xáo trộn luân thường đạo lý.

Đạo truyền thống của dân tộc là đạo từ bi trí tuệ, bình đẳng lợi tha, nhân bản hiếu nghĩa trung tín tình người, nên đã tạo thành người dân Việt cái tinh thần trọng đạo nghĩa, tuy sống trong nghèo bạc nghèo tiền, chớ không nghèo tình thương, không nghèo lòng nhân đạo, không nghèo lòng hiều thảo.  Vợ chồng tuy sống vất vả, nhưng tình nghĩa vợ chồng nương nhau, thương nhau, trinh thuận sống không có cảnh tan rã, đầu năm cưới ở, cuối năm ly dị ly hôn.  Quê hương Việt-Nam tuy nghèo, cuộc sống vẫn bình thản, không có dập dồn xô bồ ích kỷ, hấp tấp tranh đua, hại người để mình được lợi.  Những đứa con Việt-Nam vì vô minh tham vọng bắt bóng lợi danh mà vong bản vọng ngoại đã mang lại cho mẹ Việt-Nam lắm nỗi điêu đứng, văn hoá đồi trụy, tôn giáo vô luân vô đạo, chủ nghĩa lý thuyết phi nhân phi dân tộc, dồn dập đao binh khói lửa làm cho mẹ Việt-Nam rách nát, con mẹ Việt-Nam điêu linh, tinh thần lúc nào cũng căng thẳng tạo thành tâm trí mát điên lừng khừng.

Tất cả những hậu quả tốt xấu, thành bại của con người hầu hết bắt đầu từ nền tảng hiếu.  Có hiếu thì có lòng nhân.  Bất hiếu thì bất thành nhân.  Nên Thái tử Tất-Đạt-Đa sau khi tu hành thành đạo giác ngộ hiệu là Phật Thích-Ca Mâu-Ni, Ngài trở lại hoàng thành thăm viếng hoàng tộc, và an ủi thuyết pháp cho phụ vương nghe, nhờ đó mà vua Tịnh-Phạn giác ngộ đạo lý vô thường, trước khi nhắm mắt lìa đời.  Không những thế, Ngài đã nghiêng vai khiêng quan tài vua cha đến nơi an nghỉ cuối cùng.  Tôn-giả Mục-Kiền-Liên vô cùng xúc động, khi thấy mẹ sa đọa làm loài ngạ quỷ, đã đích thân bưng cơm dâng mẹ, đã bán hết tài sản để lo cúng dường trai tăng siêu độ mẹ:

Đây bát cơm đầy nặng ước mong

Mẹ ơi! Đây ngọc với đây lòng

Đây còn tình nặng trong tha thiết

Ơn nghĩa sanh thành chưa trả xong

***

Đôi mắt long lanh lệ ướt đầm

Khắp tìm từ mẫu cõi xa xăm

Lỗi niềm nuôi dưỡng bao năm tháng

Phụ đức sanh thành biết mấy năm

Tác dạ báo đền ơn nghĩa nặng

Tấm lòng mong nguyện hiếu tình thâm

Vì chân Phật dạy Vu Lan hội

Luống để cho ai những khóc thầm.

Kẻ viết bài này đã khóc thầm mỗi lần thấy gió thu hiu hắt, lá vàng nhẹ rơi, hơi nước khói hương bàng bạc của tiết trời thu Vu-Lan tháng bảy.  Lòng tự xót xa thầm khóc cho thân phận mình không còn mẹ từ thuở lên bốn:

Mẹ ơi! Mẹ ở nơi nào

Trần gian lẻ bóng con sầu nhớ thương

Lòng thành dâng trọn nén hương

Cầu xin Phật tổ chỉ đường con đi

Khấn nguyền đức Phật từ bi

Mẹ cha sớm được thoát ly luân hồi

Thấy người ở lứa tuổi mình còn mẹ còn cha để phụng dưỡng, đưa cha mẹ đi chùa lễ Phật nghe kinh thuyết pháp, điều đó nó ấm cúng làm sao! Lòng thật thèm được cái cảnh có mẹ có cha để ngày ngày vào ra thấy mẹ.  Nên ai đó có phước còn cha mẹ là còn nguồn vui bất tận:

Sung sướng nhỉ! Những người còn mẹ

Còn mẹ, em còn cả đất trời

Đau đớn nhỉ, những người mất mẹ

Mất mẹ là mất hết em ơi!

Còn riêng tôi, khi tôi xuất gia thì mẹ đã qua đời.  Mẹ tôi qua đời khi tôi còn quá ngây thơ khờ dại không biết gì.  Người trút hơi thở cuối cùng vào một buổi mai trời tiết thu, nhằm ngày vía đức Quán-Thế-Âm-Bồ-Tát. Mẹ tôi vĩnh biệt cõi trần một cách bất ngờ.  Bất ngờ đến nỗi đôi má của bà còn hồng nhuận như người sống.  Bất ngờ đến nỗi bà tắt thở lúc nào mà cả nhà không hay biết, trên tay bà vẫn còn ôm chặt người em gái út của tôi trong lòng.  Em ngo ngoe miệng vẫn ngậm lấy vú bú sữa khi mẹ tôi tắt thở từ giã cuộc đời.  Hình ảnh thảm đạm xót xa này, tuy đã hơn nửa thế kỷ rồi, nhưng mỗi lần tiết thu sang, Vu-Lan đến là mỗi lần tôi nhớ mẹ vô cùng! Nối tiếp hình ảnh mẹ tôi qua đời bất ngờ là hình ảnh cha tôi ra người thiên cổ.  Hình ảnh này, cảnh huống này cứ mồn một hiện rõ về trong trí óc tôi.

Mẹ tôi chết, chúng tôi mất hết tất cả sự vỗ về an ủi.  Mất hết tất cả sự thương yêu ngọt bùi trên đời của tình mẹ dành cho!  Chỉ còn lại người cha lẻ bóng, sống với chị em chúng tôi, như gà trống nuôi con.  Cha tôi lại theo bạn bè đi buôn xa.  Ông lại thích làm quan, thích danh vọng, thích hoạt động xã hội, thích giúp đời, nên chúng tôi lại càng thấm thía cái thân phận mồ côi:

Mồ côi cha ăn cơm với cá

Mồ côi mẹ lót lá mà nằm

Ca dao ngạn ngữ Việt-Nam thật là chí lý, nói lên được sự thật của tình đời, của kiếp người. Ca dao ngạn ngữ Việt-Nam không khác gì kinh thi Trung-Quốc, nói lên tất cả sự thật bằng kinh nghiệm kiếp sống nhân sinh qua những câu thơ đơn giản mà nội dung vô cùng hàm xúc.  Hai câu trên đây đã làm cho tôi xúc động mỗi lần tôi đọc đến, nhất là vào dịp Vu-Lan tôi không cầm được nước mắt, dù nay tôi đã lớn rồi!

Ở vào cái thời ly loạn Nhật, Tây xâm chiếm đất nước, cha tôi thường đi lo việc dân việc nước hơn ở nhà, vì vậy mà ông đã bị Tây bắt và Việt Minh giam tù suýt chết. Chị hai tôi chỉ mới mười sáu tuổi, đã phải đảm đang trách nhiệm cả cha lẫn mẹ lo việc nhà dạy em.  Có những đêm tối trời mọi người đang lúc chìm sâu trong giấc ngủ hoang dại, đột nhiên lính Tây ập vào nhà lục soát hung bạo, phá hại đồ đạc, chị em chúng tôi ngồi ôm nhau ngơ ngác, hoảng hồn thất kinh run sợ.  Cái cảnh mất mẹ, thiếu cha, cái cảnh lính Tây, lính mã tà ngày đêm bố ráp, làm cho tinh thần chúng tôi khủng hoảng hãi hùng!  Rồi đêm về, lại đến nạn du kích Việt Minh lùng bắt bịt mắt dẫn đi thủ tiêu chôn sống những người bị tình nghi là Việt gian hay những người giàu sang có tiền.  Tình trạng này lại càng tăng thêm cái cảnh thê lương ảm đạm lạnh lùng hãi hùng của lòng con trẻ sống trong cảnh côi cút, thiếu nơi nương tựa tinh thần, thiếu vắng tình thương của đấng sanh thành dưỡng dục:

Năm xưa em còn nhỏ

Mẹ em đã qua đời

Lần đầu tiên em hiểu

Thân phận trẻ mồ côi

Quanh tôi ai cũng khóc

Yên lặng tôi sầu thôi

Để dòng nước mắt chảy

Là bớt khổ đi rồi

Hoàng hôn phủ lên mộ

Chuông chùa lạnh rơi rơi

Em thấy em mất mẹ

Là mất cả bầu trời

Cha mẹ cho tôi cái thân này.  Sau mấy mươi năm gắng công đèn sách, chuyên tâm nghiên tầm tu học, một lòng hướng theo con đường giác ngộ của đức Phật, nay tôi đã thành người thì cha mẹ không còn nữa:

Mẹ bỏ con đi thật không ngờ

Khi con còn ở tuổi bé thơ

Khăn tang con đội chưa biết khóc

Con trẻ bơ vơ luống dại khờ

Giờ đây quê hương tôi tuy vẫn còn đó, nhưng đã quá rách nát đói nghèo tang thương khủng khiếp do loài quỷ đỏ thời đại man dại làm kiếp vong nô ngoại bang gây nên cảnh áp bức kinh hoàng, chúng tôi đành phải nghẹn ngào tức tưởi bỏ nước ra đi lang thang đem thân sống trên đất khách quê người.

Nhớ lại cha mẹ tôi hồi còn sanh tiền chưa từng được nghe tôi nói lên một lời hiếu thảo tha thiết, mặc dù lúc đó lòng tôi đã chứa đầy tình thương cha kính mẹ, nhưng cổ họng thốt không ra lời thương kính đối với song thân.  Không biết tại sao nữa!  Phải chăng vì tuổi còn thơ ấu dại khờ hay vì mắc cỡ?  Rồi vừa lên cái tuổi mười hai mười ba, tôi trốn nhà xuất gia đầu Phật, đi khắp các tự viện thiền lâm danh tiếng để tầm thầy học đạo.  Từ đấy ngày say sưa với lý tưởng cầu đạo giác ngộ, sáng chiều chuyên tâm kinh kệ, miệt mài đèn sách, phần để theo kịp chúng bạn, phần sợ lộ tông tích phải bị gia đình bắt về, nên đã hơn suốt tám năm trời, tôi giữ bặt tăm hơi thơ tín, không một lời gửi về thăm nhà.  Cha, cậu, dì, chị em tôi nước mắt chảy ròng và đã đi khắp nơi tìm kiếm, mong được tin tức về tôi.  Nhưng suốt thời gian tám năm biền biệt tăm hơi, chẳng một lời nhắn gửi, không tìm thấy tôi đang ở nơi nào.  Sau bao tháng năm dò thăm tìm kiếm chỗ tôi tu đều vô hiệu quả.  Ở cái thời buổi 1946-1952 giặc dã loạn lạc khắp non sông, thực dân Pháp và Việt Minh tự do tàn sát đốt phá, người dân khó tránh lằn tên mũi đạn của loài quỷ dữ bạo tàn mang hình người.  Khắp non sông, mọi người đang sống trong cảnh bom đạn khói lửa tự do tàn sát dân lành.  Lúc đó tất cả bà con xóm làng đều nghĩ rằng, thân tôi cũng đã tan nát hoặc gửi vào lòng đất lạnh ở một nơi nào đó, không có nhang khói mồ mả, đã thành hồn ma vô chủ vô y rồi!

Sau khi thọ giới xuất gia xong, trên con đường tìm đến Phật-Học-Đường Nam-Việt chùa Ấn-Quang Sàigòn cầu thầy học đạo, lần đầu tiên tôi ghé lại quê nhà thăm cha già em dại.  Người nhà ai nấy đều ngạc nhiên trước sự xuất hiện bất ngờ của tôi trong hình thức hoàn toàn đổi khác. – Hình thức cung cách của một người xuất gia.  Ngạc nhiên, bởi vì trước đó hơn tám năm, ngày trốn nhà đi tu, tôi chỉ là cậu bé mới mười ba tuổi thơ.  – Tôi buớc vào nhà, mặt trời đã khuất núi, hoàng hôn sắp nhường cho bóng tối của đêm về.  Dưới ánh đèn dầu mờ ảo, tôi thấy cha già đôi mắt ngấn lệ nhìn con, đôi môi run run một hồi mới nói nên lời xúc động: “Đã bao năm bặt tin tức, tưởng con đã chết bụi chết bờ không ai thờ cúng, nên cha đã thiết bài vị cho con, không ngờ nay con còn sống trở về, vậy con hãy vào rút bài vị đốt đi!”

Nghe chị tôi kể lại, khi tôi trốn nhà ra đi xuất gia, cha tôi đã lo buồn nhiều ngày.  Mặc dù lúc tôi còn ở nhà, ông thường hay la rầy tôi.  Cậu tôi thì đã khóc sưng đôi mắt, vì cậu tôi thương tôi lắm.  Ông thương, vì tôi là đứa cháu mồ côi mẹ, hay tánh tình của tôi hạp với ông, cho đến giờ đây tôi vẫn chưa rõ.  Dì Tám tôi đã lặn lội khắp nơi tìm kiếm.  Từ sự lo âu cho mạng sống của tôi ở vào thời chiến tranh bom đạn loạn lạc.  Bởi tôi bỏ nhà ra đi khi tuổi còn quá nhỏ dại, để rồi đưa đến sự buồn giận nguyền rủa, nhớ thương!  Nhưng tôi thì đã tìm đến được cửa Phật.  Từ đấy ngày ngày tôi nương tựa bóng Từ-Bi.  Trong cảnh thanh tịnh thiền môn, tôi đã được đào luyện trong dòng suối tình thương mát lành của nhà Phật.  Và ngày nay tôi đang đi trên con đường đức Phật đã đi.  Tôi không ngừng cố gắng làm những gì những bậc Thầy tôi đã dạy, những điều đức Phật đã làm.  Khi tôi nhận thức ý nghĩa xuất gia thật là cao cả, thì kể từ đó tôi tự nguyện dân trọn đời mình cho đạo pháp, cho công cuộc hoằng pháp lợi sanh, hầu báo đền công ơn sanh dưỡng của cha mẹ trong muôn một.

Ngày xưa Thái-tử Tất-Đạt-Đa cũng đã trốn đi tu, bỏ lại sau lưng hoàng thành Ca-Tỳ-La, với bao nỗi nhớ niềm thương, làm cho biết bao người vì thương mà sanh bất bình, giận tức.  Nhưng Thái-tử đã quyết chí tu và thành đạo, đã vượt ngoài phiền lụy thị phi, giải thoát sanh tử luân hồi, đã hoá đạo độ sanh, đã khai mở kỷ nguyên từ bi trí huệ vị tha bình đẳng cho nhân loại.  Tôn-giả Mục-Kiền-Liên cũng đã hành động chống trái với ý muốn của gia tộc, khi bỏ ngoại đạo theo Phật xuất gia để lại sự buồn phiền thương tiếc của mẹ cha trong gia đình.  Nhưng tôn-giả Mục-Kiền-Liên tu thành chánh quả, đã cứu độ được mẹ thoát khỏi cảnh khổ của loài ngạ quỷ, mở kỷ nguyên hiếu hạnh ngàn đời.  Còn tôi, tự xét lại mình, nghĩ càng thêm chua xót cho thân phận!  Đã trên bốn mươi năm hành đạo rồi, không lúc nào dám giải đãi thối tâm, thế mà vẫn chưa kiến tánh đắc đạo.  Tôi tự nghĩ thật là hổ thẹn với Phật, thật là bất hiếu với mẹ cha, thật không xứng đáng lòng tin cậy của sư trưởng và đàn na thí chủ.  Thái-tử Tất-Đạt-Đa, tôn-giả Mục-Kiền-Liên và biết bao đệ tử Phật trốn nhà đi tu làm cho cha mẹ thương nhớ buồn phiền, nhưng đã chứng đạo, có cơ duyên đền đáp bốn ân nặng.  Còn tôi đi xuất gia cũng đã làm cho cha già buồn phiền, dì cậu thương nhớ, chị em trông chờ, mà đến giờ vẫn chưa thành đạo quả, chưa có đền đáp được gì cho bốn ân!

Thật tình mà nói, tôi chưa có dịp bưng cho cha già một tách nước trà thơm, dâng một mâm cơm tươm tất, một lời nói thật hiếu kính với cha mẹ.  Mẹ qua đời khi tôi còn thơ dại đã đành.  Còn đối với cha tôi cũng chưa!  Trong lúc đó, tôi đã biết bao lần bưng nước mời Phật tử, niềm nở mời mọi người, ân cần thăm hỏi tất cả không luận thân sơ, thế mà vẫn tránh không khỏi những lời trách móc của người tín chủ!  Làm như thế, nào phải tôi chiều chuộng để kiếm tiền hưởng thụ riêng tư, hay cất chùa to Phật lớn để tự hào tự mãn, rồi xem chùa như nhà riêng tư của mình, sống với vài mươi người bổn đạo cho qua ngày, khoanh tay ngồi an nhiên tọa thị để thời gian vô ích trôi qua, mặc cho đạo pháp thế nhân thăng trầm ra sao chẳng cần biết đâu!  Sự thật, tôi không muốn có chùa miếu gì hết.  Tôi quan niệm chùa là chung của thập phương bá tánh, để bá tánh có chỗ dựa tinh thần cùng tu tập, là nơi để thập phương tăng hành đạo, là nơi cầu nguyện trưởng dưỡng thân tâm tu bồi đạo đức, là nơi duy trì phát triển văn hóa, giảng dạy giáo lý tu học, hoằng pháp lợi sanh, là nơi đào tạo tăng ni tài đức giúp đời.  Chùa viện như thế mới có ý nghĩa.  Đó là tâm nguyện tôi.

Nếu tôi không trốn nhà đi tu, thì không chắc gì tôi xuất gia theo chân Phật như ngày nay.  Bởi lẽ thường tình cha mẹ nào cũng muốn nuôi con ăn học khôn lớn để rồi dựng vợ gả chồng cho con.  Muốn cho con lập thành gia thất, có đôi có bạn ở đời làm ăn lập nghiệp, nối dòng nối giống.  Tuy biết có gia đình thì bị ràng buộc khổ lụy, nước mắt luôn chảy vì buồn thương, phải hệ lụy vợ vợ, chồng chồng, con con suốt đời, cho đến hơi thở cuối cùng.  Nhưng cha mẹ lúc nào cũng muốn con theo con đường cha mẹ, tức là có vợ có chồng.  Cái thương của cha mẹ là cái thương tục lụy, cái tình ái ân, cái thương dẫn đến buộc ràng con cháu vào đường ái nhiễm phiền não khổ lụy tử sanh, nổi chìm xoay quanh trong lục đạo luân hồi.  Cha mẹ vẫn biết tu là cội phước, tình là dây oan.  Cha mẹ vẫn biết tu là giải thoát phiền lụy, thanh nhàn an vui ngay hiện đời và đời sau.  Cha mẹ vẫn biết quý kính người tu hành và đạo đức.  Ấy thế mà không mấy khi cha mẹ khuyên con cái phát tâm xuất gia tu hành để được an lành giải thoát.  Chẳng những không khuyến khích con cháu phát tâm tu học đạo giác ngộ để thoát ly phiền não sanh tử mà con ngăn cản cấm đoán nữa là khác.  Từ cái quan niệm lạ lùng kỳ quặc mâu thuẫn chung chung của những bậc cha mẹ đó, nên tôi bắt chước Thái-tử Tất-Đạt-Đa quyết trốn nhà ra đi tầm thầy học đạo hầu tạo phước đức, để còn có dịp đền đáp trọn vẹn ơn nghĩa sanh thành dưỡng dục của mẹ cha.  Nhờ xuất gia tu hành mà tôi có hoàn cảnh tu tâm sửa tánh gắng công bồi đức, thực hành hạnh lợi tha giải thoát.  Sự xuất gia của thái tử Tất-Đạt-Đa đã cho tôi ý thức “xuất gia là phải trốn nhà ra đi mới hy vọng đạt thành đại nguyện xuất trần thượng sĩ”.  Không trốn nhà xuất gia thì không mấy khi cha mẹ khuyến khích đi tu.

Tôi sớm tự nghĩ, ở đời có vợ con nhiều lúc không giúp đỡ được cha mẹ, không làm cho cha mẹ được vui lòng khi tuổi già, mà còn bắt cha mẹ giúp đỡ, nhờ vả cha mẹ, làm phiền cha mẹ nữa là khác.  Bởi vợ con trói buộc đâu còn hoàn cảnh tự do, thời gian tự tại, tinh thần thoải mái để phụng dưỡng mẹ cha chu toàn!  Thân xác cha mẹ đã không yên mà cả về phần tinh thần,  mình cũng chẳng cứu giúp tế độ được.  Nên chỉ con đường xuất gia là thượng sách cho những ai muốn đền đáp ơn nghĩa sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.

Xuất gia còn là con đường tốt cho những ai muốn tiến thân trên đường thánh thiện giác ngộ.  Xuất gia là môi trường tốt cho những ai muốn làm việc đại nghĩa giúp đời.  Như lời học giả Nghiêm-Xuất-Hồng đã tỏ bày với bút giả trong một dịp đàm đạo ở Phật-Học-Viện: “Tất cả sự thành công danh vọng ở đời chỉ là huyễn mộng, không ích lợi gì cho mình.  Sự thành công đó không thể nào báo đền được công ơn cha mẹ.  Chỉ có con đường xuất gia.  Tôi đem tuổi đời còn lại, hy vọng thuận duyên sẽ xuống tóc xuất gia trong một tương lai gần.  Làm như thế mới hầu mong báo đáp được ân đức sâu dầy của cha mẹ.”

Dù cho ai đó có nói yêu nước, yêu dân, trương cờ, to miệng huênh hoang la làng làm văn hóa, khôi phục cơ đồ, đưa dân tộc nhân loại đến vinh quang tiến bộ gì đi nữa, nếu không có lòng hiếu kính mẹ cha, thì những cách nói hay, những lời hứa đẹp đó chẳng qua là kẻ rao bán thuốc cao đơn hoàn tán, có khác nào tiếng lá vàng rơi xào xạc cuối thu, tiếng thân cây khô nứt nẻ giữa mùa đông giá buốt, tiếng quạ cú kêu trong buổi hoàng hôn!  Không có lòng hiếu thảo là kẻ có xác không hồn, chẳng khác nào loài trùng dòi trong đống phân:

Những người bất hiếu tử

Nhung nhúc sống bằng thừa

Không nghĩ ơn cha mẹ

Khác nào thân cây khô…

Từ ngày nằm trong bụng mẹ cho đến ngày lập thành gia thất, không lúc nào cha mẹ ngơi nghỉ chăm sóc lo lắng cho con.  Có những lúc vì muốn con nên người mà cha mẹ tha thiết khuyên dạy con, khuyên dạy từng lời ăn tiếng nói, cung cách làm người.  Lắm lúc cha mẹ dạy con trong nước mắt bằng lời tha thiết như van nài, với lòng hy vọng con vâng lời!  Nhưng con nào có biết lúc đó lòng mẹ quặn đau vì thương con!  Vậy mà con trở lại trách hờn cha mẹ.  Cha mẹ âm thầm nước mắt trào dâng, chẳng dám có lời than, chỉ sợ làm phật lòng con, con sẽ buồn trách.  Tâm hồn mẹ không rời săn sóc con trong mọi hoàn cảnh:

Ngày xưa mẹ dắt con chơi

Mẹ ru con ngủ, mẹ ngồi nhìn con.

Bây giờ con đã lớn khôn

Mẹ mua sách vở dẫn con đến trường

Ngày kia con sẽ thành nhơn

Mẹ lo gia thất cho con vui đời.

Mẹ thương dặn con một lời:

“Giàu sang bất chánh, con đừng có ham

Lợi đời, lợi đạo con làm

Vong ơn, vong bản chớ tham dự vào”

Mấy lời tâm huyết mẹ trao

Mong con ghi nhớ truyền nhau cho đời.

Suốt trọn đời mẹ lo cho con.  Tất cả những gì quý giá của cõi đời, cha mẹ không tiếc, đều trọn trao cho con:

Nâng niu con lúc dỗi hờn

Dịu dàng mắt mẹ khuyên lơn ngọt ngào

Một đời vốn liếng mẹ trao

Cho con tất cả mẹ nào giữ riêng

Mẹ hiền như một bà tiên

Mẹ theo con suốt hành trình con đi.

Mẹ hy sinh tất cả cho con. Mẹ nhường nhịn cho con tất cả.  Mẹ lo lắng cho con tất cả.  Hy sinh, nhịn nhục, lo lắng suốt cả cuộc đời của mẹ đều vì con và cho con.  Cha mẹ là đóa hoa trời tươi đẹp muôn thuở.  Đóa hoa tô điểm vẻ đẹp suốt trọn đời con.  Mẹ là bóng cây, là nguồn suối, là nải chuối buồng cau, là tiếng hát nhiệm màu.  Mẹ là nguồn an vui bất tận, nguồn an vui không tìm được ở trần gian:

Ai bảo em cuộc đời không đẹp

Khi nhân gian còn phiếm xuân cầm

Ai bảo em cuộc đời không đẹp

Khi em còn có mẹ trong tâm

Mẹ cha là hương hoa đất trời thơm đẹp, là nguồn an ủi vô biên của con.  Con dù có khôn lớn đến đâu, hễ ngày nào cha mẹ còn trên cõi trần gian này là còn săn sóc con, còn lo lắng cho con.  Nên hương sắc hoa hồng là tượng trưng cho tình mẹ.  Tình mẹ thắm tươi thơm đẹp mềm dịu mát lành như đóa hoa hồng, đóa hoa hồng tươi thơm trong ngày rằm tháng bảy:

Ôi! Những cánh hoa hồng của mẹ

Của ngày rằm tháng bảy Vu-Lan

Ngày mẹ đấy nhớ về em nhé!

Và nhớ cài hoa nhé, nghe em.

Hoa hồng thắm là tượng trưng cho lòng mẹ thơm tươi mát dịu yêu mến ngọt  ngào.  Dù cho ngày nào đó mẹ có ra người thiên cổ thì tình mẹ vẫn trinh nguyên như đóa hoa hồng trắng.  Nghĩ nhớ đến mẹ thắp nén hương tưởng niệm, ngồi thật yên tĩnh nhìn theo làn khói hương quyện tỏa, chiêm nghiệm suy tư về mẹ cũng đủ thấy lòng sưởi ấm trong tình thương của mẹ:

Mẹ là cả một trời thương

Mẹ là cả một thiên đường trần gian…

***

Ai bảo em cuộc đời không đẹp

Khi em còn có mẹ trong tâm..

Tuy nhiên đôi khi có vài trường hợp gặp phải những bậc cha mẹ quá nghiêm khắc, khó tánh, cố chấp, thiếu sáng suốt mà trở nên hẹp hòi làm trở ngại tương lai, bước tiến hóa đạo đức của con, làm cho con cháu giảm thiếu niềm vui hạnh phúc, thì bổn phận làm con phải sáng suốt khéo léo chớ nên chiều thuận theo lòng ích kỷ cố chấp của cha mẹ.  Trong trường hợp này, người con cũng chớ nên phiền trách, trái lại phải cố gắng tìm cơ hội dùng lời dịu ngọt khuyên cha mẹ thức thời, tin Tam-Bảo, tin nhân quả luân hồi, nghiệp báo, làm lành, tránh xa ác tri thức.  Đem chuyện nhân quả luân hồi, đem chuyện Mục-Liên Thanh-Để mà hết lòng khéo léo khuyên nhắc mẹ cha.  Nếu cha mẹ nghiệp chướng quá nặng, thiếu thiện duyên với Phật Pháp, thì bổn phận làm con cố gắng học Phật, tu tâm, âm thầm cầu nguyện cho cha mẹ sớm hồi tâm giác ngộ.

Báo hiếu cha mẹ là làm cho cha mẹ hiểu biết Phật pháp, quy y Tam-Bảo, tin sâu nhân quả luân hồi, tu tâm tạo phước, đó mới đích thật là báo hiếu cao thượng cứu cánh nhất.

Báo đáp ân đức cha mẹ bằng cung phụng đầy đủ vật chất đã là khó, nhưng vẫn chưa đầy đủ.  Muốn hiếu kính trọn vẹn, ngoài phần vật chất ra, còn phải khuyên cha mẹ hồi tâm hướng thiện, mà phần này mới là quan trọng và đầy đủ ý nghĩa hiếu kính.

Bổn phận làm con phải làm sao sống đời sống có ý thức chánh tà, hướng tâm vun bồi phước đức, sống có ý nghĩa lợi mình lợi người, để cho tiếng thơm, lời khen tặng của người đời đồn đến tai cha mẹ.  Được như thế là cha mẹ an ủi vui lòng đẹp dạ.  Ngày nào người con đạt được công thành danh thơm là ngày ấy cha mẹ cảm thấy hãnh diện với làng nước.  Bao nhiêu công lao cực nhọc của cha mẹ dành cho con cũng chỉ kỳ vọng thế thôi.  Và lúc đó là cơ hội tốt để khuyên cha mẹ hồi tâm giác tỉnh tu tâm dưỡng tánh hành thiện.

Nay tính đã tám mùa Vu-Lan, tôi vẫn còn sống kiếp lang thang trên đất khách quê người.  Hướng vọng về nơi chôn nhau cắt rún vạn dặm xa xăm trong khói lửa mịt mù, người con thảo cháu hiền lòng mang nỗi u hoài thương nhớ đấng sanh thành.  Nơi đây, tôi xin chắp hai tay thành tâm khấn nguyện song thân được vạn điều an lành nơi trần thế cũng như nơi cảnh Phật Tây phương chín phẩm sen vàng ngát hương giải thoát.  Nguyện cầu những đấng anh hồn tử sĩ, những vị hy sinh vì đại nghĩa hòa đồng với hồn thiêng đất nước, những oan hồn uổng tử vô chủ vô y, tất cả đều được an lành trong cảnh tịnh.  Nguyện cho quê hương dân tộc sớm được phước duyên, sống trong hào quang thanh bình, thạnh vượng tự do no ấm trong một đất nước Việt-Nam độc lập thái bình.

 

 

Vu Lan Tha Hương

Mỗi năm cứ vào tiết thu, trời cao xanh ngắt, cỏ cây đổi màu, lá vàng lìa cành lác đác nhẹ rơi.  Người con thảo cháu hiền không thốt nên lời xúc cảm nỗi nhớ niềm thương, chạnh lòng tưởng nhớ đến bậc thương thân cha mẹ.  Tiếng chuông chùa chiều thu ngân nga từ xa vang vọng, hình bóng cha già mẹ yếu, hình ảnh người con hiếu hạnh muôn thuở Mục-Kiền-Liên lại rạng rỡ hiện về trong mùa Vu-Lan.  Đó đây phảng phất khói trầm hương nghi ngút quyện lấy lời cầu nguyện của chư Tăng, âm vang lan dần cao ngất tỏa khắp mười phương thấm nhập vào các cõi hư không pháp giới.

Vu-Lan năm nay đã là mười ba mùa Vu-Lan tha hương đầy đau thương và nước mắt.  Nhìn vào thực trạng kiếp người Việt-Nam đó đây vẫn còn dẫy đầy ngập trời đau thương khổ nhục dưới chế độ được tung hô là giải phóng, là độc lập, là xã hội chủ nghĩa!

Thật là mỉa mai, tung hô cách mạng giải phóng, độc lập, thế mà tài sản người dân một sớm một chiều tan nát, bị tịch thâu, bị tù đày tập thể.  Nhà tù nhiều người chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc!  Người dân bỏ nước vượt biển cả thập tử nhất sanh để tìm cuộc sống tự do mà phải đành đoạn lòng đau ruột thắt cho thân phận mang kiếp sống tha hương!

Xót thương cho nghiệp dân vận nước quá đỗi điêu linh thống khổ, bởi do mê hoặc danh từ hoa mỹ giải phóng, cách mạng, tự do, hạnh phúc!  Chẳng khác nào cô bé ngây thơ mê lời đường mật của tên sở khanh để phải tan tành kiếp trinh nữ!  Tiếng than khóc của trinh nữ vụng dại nào có khác tiếng khóc thương tủi hận của người Việt khắp nơi từ biển cả cho đến rừng sâu!?  Nghiệp dân vẫn mãi đeo đuổi những chuỗi ngày tủi nhục cực khổ lầm than.  Tiếng rên xiết của trên năm mươi triệu người con dân nước Việt da vàng máu đỏ hoạn nạn khổ nhất trần gian mà chẳng có mấy ai màng đến.  Những kẻ đã từng giành giựt lên ngai ngự trị muôn dân, dành độc quyền lèo lái con thuyền quốc gia đã sớm vơ vét tiền của lén bỏ nước ra đi từ trước, giờ đây họ hưởng dục lạc trên đống vàng bạc đã được bí mật chuyển sang nước ngoài từ trước, để mặc cho sinh dân thống khổ ngày sống cũng như đêm, lủi thủi dẫy dụa trong kềm kẹp của chủ nghĩa vô thần phi nhân lửa đỏ, chủ nghĩa cằn cỗi sắt máu ác nghiệt theo chỉ thị của ngoại lai, như những con trâu già gầy ốm mệt mỏi nằm nhơi giữa trời nắng hạ đồng khô cỏ cháy.

Đó đây trên khắp các nước tự do lân bang dựng nên những trại tỵ nạn ngày đêm khắc khoải.  Khắp non sông đất Việt, thay vì kiến thiết cơ sở văn hóa kinh tế xã hội từ thiện để phát triển quốc gia, cứu tế dân chúng bệnh tật đói nghèo thời hậu chiến, thì trái lại nhan nhản những trại tâp trung cải tạo ngày đêm bị hành hạ đọa đày khắp cả đất nước, dân chúng dẫy dụa trong cảnh lầm than cơ cực.  Đất nước tiếp tục lụn bại suy tàn, chẳng khác con thuyền nan mục gỗ, lủng khoang không sửa chữa, đang bồng bềnh giữa biển cả đầy sóng gió, mà kẻ có trách nhiệm lèo lái ngồi trên đó tay không có địa bàn, lại vênh váo tự hào tự mãn chẳng biết ngước nhìn ánh sáng trăng sao của thế giới để tìm phương định hướng.  Do vậy mà con thuyền nan đất nước càng thêm mục riệu vô định bềnh bồng giữa biển cả mêng mông của cộng đồng nhân loại tiến bộ không biết chừng nào tìm ra bến đỗ, để cho con thuyền Việt-Nam thoát khỏi cảnh đổ nát lạc hậu, người dân thoát khỏi cảnh ngộp thở cơ cực đọa đày.

Đã mười ba mùa Vu-Lan ly hương rồi, mà ngày ngày người dân lành vẫn phải tức tưởi lìa bỏ đất mẹ ra đi, , vẫn phải chấp nhận “thà chết trên biển cả, trong rừng sâu” để tìm đời sống tự do chứ không có cách nào sống được trên đất mẹ!  Đất mẹ dẫy đầy các ngục tù trại giam trá hình là trại cải tạo vẫn ngày ngày tiếp tục đày đọa bao kiếp người vì lý tưởng dân chủ tự do.   Trong lúc đó, người được cái may mắn ra nước ngoài có hoàn cảnh tự do, cơm no áo ấm lại không lo đùm bọc lấy nhau mà cứ lo mưu mô quỷ kế lợi đường riêng tư, gây thù tạo oán dấy bùn phun bọt làm phiền khổ cho nhau, khiến cho người bản xứ khinh chê.  Điều này làm đau lòng người đã nằm xuống vì đại nghĩa, làm hư hỏng đại cuộc đoàn kết khôi phục quê hương.

Hôm nay nhân mùa Vu-Lan, trong kiếp sống tha hương đau lòng tủi phận thương than trên đất khách quê người, con hồi tưởng lại những mùa Vu-Lan khi còn ở quê hương, nó chan chứa tình thương, nồng hậu tình tự dân tộc đầm ấm làm sao!

Dòng tâm thức con miên man hướng về dĩ vãng hai ngàn năm trước đây:  Cũng trong dịp Vu-Lan này, vua Ba-Tư-Nặc thỉnh đức Phật và chư Tăng vào cung để cúng dường trai tăng cầu siêu độ cho phụ hoàng.  Nơi đó, con học được bài học quý giá qua sự bị nạn nghiệp tình của tôn giả A-Nan được đức Phật cứu thoát ra khỏi vòng ái nghiệp.  Nhân dịp này, đức Phật đã bảy lần khai thị và A-Nan cũng đã bảy lần hồi quang phản chiếu trở về bản tánh tự tâm.  Nhờ đức Phật bảy lần khai thị, A-Nan mới hồi quy trực diện thể nhập chơn tâm của mình.  Bảy lần Phật khai thị cho A-Nan giá trị như bảy hạt ngọc kim cương kết thành xâu chuỗi tràng kinh Thủ-Lăng-Nghiêm vô giá, có hiệu năng phá tan màn vô minh nghiệp thức từ bao đời.  Tràng chuỗi ngọc Thủ-Lăng-Nghiêm có hiệu năng khai thị chỉ thẳng vào tâm thức, khơi đèn trí tuệ cho những chúng sanh có chí hướng vượt thoát sông mê bể khổ luân hồi tử sanh.  Ngay đó, kinh Thủ-Lăng-Nghiêm đã trở thành bộ triết lý của đạo Phật, bí quyết giải triệt lộ tuyến vô minh, để thể nhập chân tâm tuệ giác cho những hành giả thiết tha trực diện Phật tánh, tránh nẻo luân hồi.

Rằm tháng bảy là ngày lễ Vu-Lan báo hiếu, ngày chư Phật mười phương hoan hỷ, khi các Ngài thấy chư Tăng, hàng trưởng tử Như-Lai đã tròn đầy ba tháng an cư chuyên ròng tịnh tu thân tâm thanh tịnh.  Ngày rằm tháng Bảy cũng là ngày chư Tăng tự tứ, nghĩa là các thầy một dạ chí thành giải bày tâm can phát lồ sám hối tất cả lỗi lầm của mình, đồng thời thỉnh cầu thầy bạn mở lòng từ bi hoan hỷ chỉ cho những lỗi lầm của mình giùm để được sám hối, và nguyện không bao giờ tái phạm, để cho thân tâm được thanh tịnh, ngõ hầu tiến gần đến đạo quả giác ngộ giải thoát.  Rằm tháng bảy, ngày lễ Vu-Lan, chư Tăng mãn hạ, cũng là ngày chư Tăng được thêm một tuổi đạo của đời người xuất gia tu hành.

Trong đạo Phật mỗi năm từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy, thời gian này các thầy tỳ-kheo an cư kiết hạ, chuyên ròng tu tập, tròn đầy ba tháng thì được một tuổi đạo.  Trong cửa Phật, đời sống tăng đoàn mỗi năm có an cư kiết hạ nghiêm chỉnh tịnh tu tròn mãn, thường gọi là hạ lạp.  Hạ lạp càng nhiều, tuổi đạo càng cao, đức hạnh càng sâu dày, thì ngày tiến đến quả vị giác ngộ càng mau chóng.  Ngược với người thế gian, mỗi năm đến ngày mùng một Tết là ngày tăng thêm tuổi thọ.  Tuổi đời càng cao mà không biết đạo đức tu hành thì cuộc sống lâu dài chỉ đào sâu thêm hố tội lỗi đọa lạc, càng xa với cảnh giới Niết-Bàn giải thoát.  Đức Phật nói: “Người sống một trăm năm mà không có đạo đức, không biết tỉnh thức tu tâm dưỡng tánh cải thiện đời sống, thì chẳng bằng người sống một ngày mà có tu hành đạo đức”.  Ngạn ngữ có câu: “Đa thọ đa nhục”.  Có nghĩa là, kẻ sống không đạo đức, chỉ thêm tội lỗi khổ nhục chứ chẳng lợi ích gì.  Do vậy mà bậc cổ đức đã từng dạy: “Triêu văn đạo tịch tử khả hỷ”.  Nghĩa là, sáng được nghe đạo, chiều chết cũng cảm thấy an vui.  Hiền nhân quý đạo đức hơn tiền bạc.  Ác nhân quý tiền bạc hơn đạo đức.

Trong đạo Phật nhất là hàng xuất gia, không đặt trọng về tuổi đời mà tôn trọng về tuổi đạo.  Dù vị đó tuổi đời có lớn bao nhiêu đi nữa, nhưng khi xuất gia nhập đạo mới là bắt đầu cuộc sống đạo hạnh, mới cất bước trên đường giải thoát, mới tập sự hành đạo giác ngộ, mới bước lên quang lộ Niết-Bàn, nên phải hết sức khiêm cung kiên nhẫn, dẹp bỏ tự ái danh vị thế gian để đem lòng kính nhường những vị có tuổi đạo cao, dù cho vị nầy còn trẻ.  Cũng trong tinh thần đạo đức đó, đức Phật có dạy rằng: “Dù cho người có tuổi lớn, hoặc xuất gia thọ giới trước, nhưng một khi đã phá trai phạm giới hoặc sống đời đắm nhiễm thế tục mà không biết khởi tâm tàm quý, thành tâm sám hối ăn năn cầu tiến, thì chẳng khác nào như cây dừa chặt đọt, như trái dừa thúi mọng không sao còn sống được.  Người phạm giới cũng giống như thế, không còn giới thể, không được kể là tỳ-kheo.  Đã phạm trai phá giới sống như người thế tục thì không còn tư cách theo sống trong hàng tăng đoàn trưởng tử Như-Lai, trừ phi biết ăn năn cầu sám hối phục giới.  Nếu ai còn tin theo, cúng dường giúp đỡ hạng tỳ-kheo thất hạnh phá giới này, thì chẳng khác nào bón phân tưới nước vào cỏ gai, làm hư hại vườn hoa đạo pháp, đắc tội không khác tỳ-kheo phá giới kia.  Như kinh Hoa-Nghiêm phẩm Phổ-Hiền sớ giải nói: “Hoặc mình làm, hoặc bảo người làm, hoặc thấy người làm mà vui mừng theo; hoặc biết người phạm mà vẫn tin theo thì đắc phải tội như nhau”. 

Trong kinh điển Phật giáo còn ghi đậm nét rằng, người tu học theo hạnh Phật, ngoài sự đền đáp ân nghĩa sanh thành của cha mẹ còn phải đem lòng báo đền ân nghĩa khắp cả chúng sanh, bằng hữu, sư trưởng và chư Phật.  Bởi tất cả chúng sanh đều là ân nhân quyến thuộc của ta hoặc đời nầy hoặc nhiều đời trước.  Bởi thế cho nên kinh Đại-Báo- Ân dạy rằng: “Cứu giúp chúng sanh tức là cúng dường chư Phật”.  Hiếu hạnh có nghĩa là làm cho người khác được an vui và tiến bộ trong chiều hướng thánh thiện hóa, thăng hoa đời sống.  Như thế mới là chân thật hiếu hạnh, chơn chánh hành đạo và hộ đạo.

Sau khi Mục-Kiền-Liên tôn-giả tu chứng được đạo quả, Ngài dùng huệ nhãn quán sát khắp pháp giới chúng sanh, thấy mẹ là bà Thanh- Đề đang đọa trong loài ngạ quỷ đói khát, bụng to như trống, cổ nhỏ như kim, da bọc lấy xương, ngày đêm lửa nghiệp thiêu đốt khổ sở vô ngần.  Tôn-giả Mục-Kiền-Liên rất đỗi xót thương không cầm lòng được, liền dùng thần thông đem bát cơm đến dâng cho mẹ.  Nhưng khi bà Thanh- Đề vừa thấy cơm lòng tham bộc phát, nên cơm vừa để vào miệng thì hóa thành lửa cháy cả miệng, mặt, tay, khiến cho bà đau đớn không lời tả xiết.  Mục-Kiền-Liên thấy cảnh bi ai như vậy điếng trân cả người, cổ họng nghẹn ngào không thốt nên lời, lệ rơi như suối, cúi đầu chào mẹ, liền vội trở về ra mắt Phật đảnh lễ, bày tỏ đầu đuôi tự sự, mong Phật từ bi chỉ bày phương pháp cứu độ.

Nghe xong, đức Phật nói với Mục-Kiền-Liên rằng: “Mẹ ông do lòng tham sân, bỏn sẻn, ích kỷ, đố kỵ, khinh khi Tam-Bảo, hủy báng các bậc chân Tăng, chẳng tin nhân quả luân hồi nghiệp báo, gây nên tội ác nặng nề, phước đức một mình ông không thể cứu độ được, dù lòng hiếu thảo của ông cảm động đến đất trời, thiên thần địa quỷ.  Vậy, nhân ngày rằm tháng Bảy, ngày chư Tăng tròn đầy ba tháng an cư chuyên rằm thúc liễm thân tâm thanh tịnh, giới thể châu viên, ngày chư Tăng tự tứ, ngày chư Phật mười phương hoan hỷ, ông nên nhân ngày ấy thiết lập trai đàn, cung thỉnh các bậc chân Tăng tu nơi rừng núi, am chùa, tịnh thất, vân tập về mà thành tâm thiết lễ trai đàn để cúng dường.  Hy vọng nhờ công đức cúng dường, nhờ giới hạnh thanh tịnh đạo đức của các vị chân Tăng đạo cao đức trọng đồng tâm nhất niệm nguyện cầu, chắc sẽ cảm hóa được tâm tánh mẹ ông, cảm thông đến mười phương pháp giới chư Phật hộ niệm, như thế mới mong giải thoát được tội khổ.  Đức Phật nói tiếp: “Mẹ ông tội căn sâu nặng như tảng đá to lớn, mà công đức tu hành của ông chỉ mới như thuyền nan không thể nào chở nổi, mà phải cần nhiều chiếc thuyền kết lại thành bè mới có thể nhẹ nhàng đưa tảng đá to nặng kia qua sông ngạ quỷ, thoát vòng trầm luân”.

Mục-Kiền-Liên tôn-giả tuân lời Phật dạy, đem hết tất cả gia sản của bà Thanh- Đề để lại bán đi, để tập trung tài lực lo việc đàn chay trai tăng cúng dường.  Khi việc cúng dường trai tăng vừa xong, bà Thanh- Đề liền thoát khỏi cảnh ngạ quỷ sanh lên cõi trời hưởng phước.  Thấy mẹ được sanh lên cõi trời, Mục-Kiền-Liên rất đỗi vui mừng liền đảnh lễ Phật, quỳ thưa: “Bạch đức Thế-Tôn, trong đời sau, nếu có những người con hiếu thảo muốn siêu độ mẹ cha, ông bà có thể thiết lễ trai tăng cúng dường như con được không?”

Đức Phật đáp: “Hay thay!  Hay thay!  Mục-Kiền-Liên, ông đúng là đệ tử lớn của ta.  Ông quả là người con hiếu thảo nêu cao gương sáng hiếu hạnh muôn đời.  Lời hỏi của ông đích thực khai mở kỷ nguyên hiếu hạnh cho chúng sanh đời sau.  Nầy Mục-Kiền-Liên, sau khi Như-Lai nhập Niết-Bàn, nếu có những chúng sanh nào muốn làm tròn hiếu hạnh người con thảo cháu hiền báo đền ân sâu nghĩa nặng, siêu độ mẹ cha ông bà thân quyến, mà khéo biết theo khả năng hoàn cảnh của mình, thành tâm thiết lễ cúng dường trai tăng, thì cũng được công đức thù thắng chẳng khác gì ông làm ngày hôm nay”.  Từ độ ấy đến nay, mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, những người con thảo cháu hiền làm sống lại ý nghĩa Vu-Lan từ thế hệ nầy đến thế hệ khác, trải qua bao ngàn năm vẫn chưa phai mờ.

Nhưng tại sao ơn nghĩa cha mẹ lại sâu nặng mà hầu hết tất cả mọi người, mọi chủng tộc, mọi tôn giáo của thế giới nhân loại, ngoại trừ người cộng sản phi nhân, kẻ cuồng tín thần linh thượng đế, thì đều tôn trọng thuận hành?  Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, qua sách sử nhân loại, qua kinh điển thánh hiền đã diễn tả thuyết minh về tình mẫu tử, ơn nghĩa sanh thành dưỡng dục của mẹ cha, đạo làm con hiếu kính, tính ra đến vạn triệu quyển, văn từ về lòng mẹ, ngôn ngữ về hiếu thảo của con vẫn bất tuyệt.  Kinh Thi của Trung-Hoa, ca dao của Việt-Nam v.v… bàn bạc về tình mẹ, về lòng hiếu thảo đã chiếm hết một phần tư kho tàng văn hóa tư tưởng của dân tộc mỗi xứ.  Văn từ nói về tình mẹ, ngữ ngôn diễn tả về lòng hiếu thảo của con hết sức đơn giản nhẹ nhàng như áng mây trôi, như bức tranh thủy mặc, như bóng trăng non rung rinh trong làn gió nhẹ thoảng qua cửa sổ, như mặt nước hồ thu gợn sóng, nhưng lại cũng rất sâu sắc thâm thúy như những pho triết lý cổ mà bao bộ óc thông minh xuất chúng của nhân loại đã phải dày công trải bao thế hệ khô mực cùn bút cũng vẫn chưa diễn tả giải thích hết tình mẫu tử.

Tình thương của mẹ là suối nguồn hạnh phúc của con, là chất liệu mát dịu ngọt ngào cho lẽ sống còn của nhân loại.  Cũng như mặt trời là nguồn sáng của vạn vật, là hơi ấm khởi sắc cho muôn loài chúng sanh.  Mặt trời và không khí cần thiết cho sự sống loài người bao nhiêu, thì tình mẹ lại cần thiết cho sự sống vui lớn khôn hạnh phúc của con cái gấp trăm ngàn lần hơn:

Mẹ  là cả một trời thương

Mẹ là cả một thiên đường trần gian

Tiếng ru mẹ ấm vô vàn

Nuôi con trong tiếng tơ đàn văn chương

Ngày còn cắp sách đến trường

Chắt chiu cặp sách khăn choàng mẹ lo

Mẹ đã dùng hết năng lực, thời gian quãng đời son trẻ để lo cho con.  Mẹ hy sinh cho con không còn biển trời nào mà không thấm mát tình thương, không có nẻo đường nào trên cõi đời in vết chân của con mà mẹ không trải tình thương đến, không có chân trời góc bể nào mà mẹ không ngóng trông bónh hình của con:

Mẹ hy sinh tất cả

Hết quãng đời tuổi xanh

Cả thương yêu dịu ngọt

Rộng hơn biển trời thanh

Mẹ  là gió mát tinh anh

Là cây tiên dịu, là cành thùy dương

Mẹ  là hoa, mẹ là hương

Mẹ là nguồn cội tình thương nhiệm mầu

Bây giờ bóng mẹ còn đâu

Chỉ còn non nước một màu xanh xanh

Ngay từ buổi đầu khi con mới gá vào thai mẹ, thì kể từ giờ phút đó trở đi, mẹ đã vì con mà kiêng cữ từ sự nói năng ăn ngủ cho đến việc đứng đi nằm ngồi suốt mười tháng trời đằng đẵng.  Đến ngày con ra chào đời thì mẹ đau đớn banh da xé thịt, như dao cắt, ruột thắt, đau thốn đến tủy xương.  Tiếng khóc chào đời của con vừa ré lên thì cùng lúc đó mẹ mới thoát khỏi sự mang nặng như đá trì hông bụng, còn phải đớn đau hao mòn thân thể, có lúc mẹ tưởng chừng như chết theo hơi thở nhau rún của con.  Khi được nghe tiếng khóc chào đời của con, mẹ mừng như được thoát qua một lần chết.  Tiếng khóc chào đời của con kết chặt với tâm trí suy tư và đồng thời dính liền với sự vui khổ thăng trầm vinh nhục suốt cuộc đời của mẹ.  Mỗi tiếng khóc của con làm cho lòng mẹ xót xa, đau nhức như dao cắt tim, như ruột thắt thành từng đoạn.  Mỗi nụ cười của con là nguồn an ủi vơi nhẹ đi não phiền của mẹ.

Vì con mà mẹ phải buôn tảo bán tần.  Vì con mà mẹ phải bao lần chịu cha rầy la đánh mắng.  Vì con mà mẹ phải bị nội ngoại miệt thị khinh chê v.v… nhưng mẹ vẫn cam lòng nhẫn chịu không biết thở than bày tỏ cùng ai, miễn sao cho con được an vui mạnh khỏe.  Vì con mà mẹ phải dãi nắng dầm mưa, đi sớm về trưa, một nắng hai sương.  Vì con mà mẹ phải chịu nhục luồn cúi để cho con được công ăn việc làm, no cơm ấm áo, học thi đỗ đạt, thăng quan tiến chức.  Mẹ đã suốt đời tần tảo đắng cay cực khổ vì con:

Ôi! Chiếc lưng của mẹ

Đã còm bởi thương đau

Ôi! Cuộc đời của mẹ

Trăm năm nối chuyện sầu

Tất cả những gì tươi đẹp nhất cuộc đời, tất cả những gì ngọt bùi của trần thế, tất cả những gì quý giá nhất của đời mẹ, mẹ đều dành dụm trao trọn cho con:

Một đời vốn liếng mẹ trao

Mẹ cho tất cả mẹ nào giữ riêng

Mẹ hiền như một bà tiên

Mẹ theo con suốt hành trình con đi.

Bởi tình thương của mẹ bao la không biên giới, tình thương của cha rộng lớn không bến bờ, nên cha mẹ không những là trụ cột yên vui gia đình, mà còn là suối nguồn sinh động duy trì dòng tộc và phát triển giống nòi của nhân loại từ thế hệ này đến thế hệ khác.  Tình mẹ là nước nguồn trong mát xúc tác gây nên cảm hứng bất tuyệt cho biết bao thi nhân, văn sĩ, triết gia viết ra thành văn, sáng tác thành thơ, nói nên thành lời, tạo cho đời những cung đàn, điệu nhạc êm đềm thâm thúy, tươi mát ngát thơm, hình thành những kiệt tác sáng giá muôn đời.  Bởi ý nghĩa thiêng liêng nhiệm mầu như vậy, nên xưa nay tình mẹ được ví như hương hoa của đất trời, như bình minh xuân mát, như lời nhạc muôn điệu:

Ai bảo em cuộc đời không đẹp

Khi nhân gian còn phiếm xuân cầm

Ai bảo em cuộc đời không đẹp

Khi em còn có mẹ trong tâm

Bởi cái tính chất thiêng liêng huyền diệu đó, nên cho dù người có được quyền uy, chức trọng, danh vọng, giàu sang trong xã hội, mà không có lòng hiếu kính mẹ cha, thì cũng chỉ là kẻ vong ơn bội nghĩa bị đời mỉa mai chê cười ngao ngán!  Hạng người này chỉ gây tai họa cho đời, làm bia xấu miệng đời, làm cho làng nước nhân loại khổ đau, và họ chẳng khác nào loài trùng giòi, củi mục, đất đá, gai sỏi ở xó cầu đầu ngõ:

Những người bất hiếu tử

Nhung nhúc sống bằng thừa

Không nghĩ ơn cha mẹ

Khác nào thân cây khô…

Nên cho dù ở đâu, hoàn cảnh nào, thời đại chuyển biến ra sao đi nữa, thì hiếu hạnh vẫn làm đầu.  Cổ đức nói: “Hiếu vi vạn hạnh vi tiên”.  Nghĩa là, hiếu đứng đầu trong muôn hạnh lành.  Khi Thi nói: “Vô phụ hà hổ, vô mẫu hà thị”.  Nghĩa là, không cha thì ta cậy ai, không mẹ thì ta nhờ ai.

Trên đường luân lạc, vào một chiều thu, gió thu hiu hắt, lá thu úa vàng lác đác nhẹ rơi.  Thúy-Kiều lòng bâng khuâng miên man nhớ đến cha mẹ:

Duyên hội ngô, đức cù lao

Bên tình, bên hiếu, bên nào nặng hơn?

Để lời thệ hải minh sơn

Làm con trước phải đền ơn sanh thành.

Ngọc-Hân công chúa, con vua Lê-Thánh-Tôn, vợ của vua Quang-Trung Nguyễn-Huệ, sau khi nhà Tây-Sơn bị Gia-Long tiêu diệt, Ngọc-Hân công chúa cảm thấy bơ vơ chạnh lòng thương nhớ đến mẹ cha và chồng:

Chữ tình nghĩa trời cao đất rộng

Nỗi đoạn trường còn sống còn đau

Mấy lời tâm sự trước sau

Đôi vầng nhựt nguyệt trên đầu chứng cho.

Ơn cha mẹ đối với con như trời cao bể rộng. Con mà không biết hiếu thảo báo đền thì đắc phải tội to lớn, quả báo không lường.  Cho nên dù tuổi đời có cao, có cháu có chắt đi nữa, hễ mỗi lần nhắc đến mẹ cha là chạnh lòng thương nhớ.  Tình mẹ nghĩa cha thâm sâu lạ lùng.  Người có nhân đạo dù ở hoàn cảnh nào, ở tuổi tác nào rồi cũng tưởng nhớ mẹ cha. Ân đức mẹ cha rộng sâu vô tận như vậy.  Nên kinh Nhẫn-Nhục nói: “Thiện chi cực mạc đại ư hiếu, ác chi cực bất hiếu giả”.  Nghĩa là, không điều lành thiện to lớn bằng hiếu, không điều ác nào to lớn bằng bất hiếu.  Hiếu quan trọng như vậy, nên kinh Đại-Tập nói: “Thế nhược vô Phật thiện sự phụ mẫu, sự phụ mẫu tức thị sự Phật”.  Nghĩa là, sanh ra đời nếu không gặp Phật mà chúng ta khéo phụng dưỡng kính thờ cha mẹ thì cũng như kính thờ Phật.

Muốn thoát nợ ân nghĩa trả vay, muốn thoát kiếp đọa đày trong sáu nẻo luân hồi, muốn chóng đạt thành đạo quả Vô-thượng Bồ-đề Chánh-giác, thì trước phải hiếu đạo phải tròn đầy.  Nhưng muốn hiếu hạnh được trọn vẹn thì không phải chỉ cung cấp vật chất cho cha mẹ là đủ, mà điều quan trọng hơn hết là khuyến khích cha mẹ phát tâm quy y Tam-Bảo, tu tâm dưỡng tánh, tin sâu nhân quả luân hồi, nghiệp báo tinh tấn làm việc từ thiện.  Như thế là cung dưỡng cha mẹ vật chất đầy đủ, tinh thần an vui, hiếu đạo mới vẹn toàn.  Cổ đức nói: “Phụ mẫu đắc ly trần, hiếu đạo phương thành tựu”.  Nghĩa là, cha mẹ được siêu thoát phàm trần an vui trong cảnh tĩnh, thì hiếu đạo của người con mới trọn thành.

Hôm nay nhân ngày Vu-Lan báo hiếu, với nỗi u hoài khắc khoải thâm sâu nơi lòng, hướng vọng quê hương nguyện cầu hồn thiêng đất nước, anh linh tử sĩ phò trì cho quê hương dân tộc Việt-Nam sớm thoát khỏi cảnh điêu linh đổ nát lạc hậu đọa đày, để cho dân Việt sớm có ngày được sống thanh bình tự do trên đất mẹ thân yêu.  Đồng thời, nơi đất khách quê người, nguyện đem quãng đời còn lại noi gương hiếu hạnh Mục-Kiền-Liên tôn-giả, theo gót chân Phật Đà Từ-Phụ Thích-Ca, học theo đời sống vị tha để báo đền ơn nghĩa sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và nguyện đền đáp bốn ân sâu nặng, để hồi hướng khắp cùng pháp giới chúng sanh đồng tu chánh giác, sớm thành đạo quả giải thoát Vô-thượng Bồ-đề.

 

Ý Nghĩa Vu Lan

Vu-Lan lại về.  Vu-Lan về với người con Phật.  Đặc biệt với người con Phật tha hương, những người con thảo cháu hiền còn nghĩ đến ân sâu nghĩa nặng của mẹ cha, thì nỗi nhớ niềm thương trong mùa Vu-Lan lại càng thắm thiết hơn bao giờ!  Nhưng Vu-Lan mang ý nghĩa gì?  Tại sao mỗi độ Vu-Lan về những người con thảo cháu hiền cảm thấy bồi hồi với những kỷ niệm cùng người khuất bóng, mà mình đã từng sống, từng quen thân, từng chịu ân?  Có những cõi lòng cảm thấy trơ trọi cô đơn mỗi lần khói trầm hương Vu-Lan quyện tỏa, hòa với lời kinh nguyện cầu trong ngày rằm tháng bảy Vu-Lan thắng hội.

Vu-Lan còn gọi là Vu-Lan thắng hội.  Vu-Lan phiên âm từ tiếng Phạn Ullambana, người Trung-Hoa dịch là giải-đảo-huyền.  Giải là cởi mở.  Đảo là lộn ngược.  Huyền là treo.  Nói trọn nghĩa chữ Vu-Lan là giải cứu những người đã lỡ lầm thất đức tạo những tội lỗi nặng nề phải bị các hình phạt đớn đau như người bị treo ngược, đói khát thống khổ suốt ngày đêm không ngừng.

Nhớ lại khi đức Phật Thích-Ca còn tại thế, một trong những người đệ tử lớn của Ngài là tôn-giả Mục-Kiền-Liên, sau khi nhận chân đâu là chánh pháp giác ngộ, đâu là tà đạo, đã bỏ tà về chánh quy y Phật, được Phật nhận làm đệ tử cho thọ giới mặc áo cà-sa, nhập hàng tăng chúng.  Từ đó, Mục-Kiền-Liên đã dốc lòng chuyên tâm tinh tấn tu học không giây phút giải đãi.  Chẳng bao lâu, tôn-giả chứng được thánh quả đắc pháp thần thông, trở thành một trong số mười người đệ tử lớn của đức Phật, đặc biệt sở đắc về thần thông đệ nhất.

Nhưng sự đời trái ngược, không thuận như gió thoảng nhẹ, như nước chảy xuôi dòng!  Mục-Kiền-Liên tôn-giả sau khi qui đầu theo Phật, tinh tấn tu học, niềm tin thâm sâu vào đạo giải thoát.  Tôn-giả nhiều lần khuyên mẹ là bà Thanh-Đề nên cùng phát tâm tu học đạo giác ngộ của đức Phật để được giải thoát sanh tử luân hồi.  Nhưng bà Thanh-Đề nghiệp chướng tham sân chấp ngã, bỏn sẻn keo rít, ác tâm quá nặng.  Tâm bỏn sẻn, lòng ích kỷ của bà đã thành định tánh.  Lại hay cố chấp, bo bo giữ của, nên tánh nào tật nấy, không mấy nghe theo lời khuyên khẩn thiết của tôn-giả Mục-Kiền-Liên.  Tánh tình chập hẹp của Bà chẳng thay đổi.  Tuy Mục-Kiền-Liên tôn-giả hết lòng thương mẹ, lo âu cho tâm tánh nghiệp chướng của mẹ, đã nhiều lần thống thiết khuyên mẹ hồi tâm phản tỉnh quy y Tam-Bảo, tin sâu nhân quả nghiệp báo luân hồi, buông xả tham chấp.  Nhưng lời khuyên thành khẩn của người con hiếu hạnh Mục-Kiền-Liên không lay chuyển được người mẹ, tâm dạ nặng nghiệp tham chấp.  Năm tháng lặng lẽ trôi đi, người con hiếu hạnh Mục-Kiền-Liên quyết chí tu hành được đắc thánh quả A-la-hán.

Ngày tháng như thoi đưa.  Bốn mùa luân lưu thay đổi.  Người mẹ cố chấp tham tâm ác tính theo định luật vô thường rồi phải bỏ thân tứ đại mộng huyễn, theo nghiệp ác đọa vào ngạ quỷ, bụng to như trống, cần cổ như cây kim, đứng trên lửa đỏ, ngồi trên bàn chông, đói khát khổ sở vô cùng không sao tả xiết!

Mục-Kiền-Liên tôn-giả khi chứng được đạo quả, thường bên cạnh đức Phật Thích-Ca trợ lực giáo hóa thuyết pháp độ sanh.  Lắm lúc tôn-giả nhớ thương đấng sanh thành dưỡng dục vô ngần.  Thế rồi một ngày nọ, tôn-giả dùng huệ nhãn quan sát khắp trong sáu nẻo luân hồi, thấy cha mình nhờ khi sanh tiền biết quy y Tam-Bảo, tu thiện nghiệp, nên khi chết được sanh lên cõi trời hưởng phước báo an vui.  Còn mẹ là bà Thanh-Đề do tham sân cố chấp tạo ác nghiệp, nên phải sanh vào loại ngạ quỷ đói khát rên xiết thảm não.  Tôn-giả hết sức đau lòng xót thương.  Ngài liền đem bình bát cơm vận dụng phép thần thông đến chỗ bà Thanh-Đề, để dâng cơm lên cho người mẹ khốn kiếp đọa đày, ăn cho đỡ dạ.  Nào ngờ bà Thanh-Đề vừa thấy bát cơm, lòng tham lam ích kỷ lại khởi lên, sợ các quỷ khác xúm lại xin ăn, nên bà liền lấy tay trái che bát cơm, tay phải bốc ăn.  Nhưng đau đớn thay, cơm hóa thành lửa, không thể nhai nuốt được nữa!  Mục-Kiền-Liên xót xa rơi lệ, biết mẹ mình nghiệp chướng quá nặng, không thể cứu được. Tôn-giả xót xa rơi lệ, chào từ biệt mẹ, vội vã trở về bạch mọi sự việc đau lòng vừa xảy ra, cầu mong đức Phật từ bi chỉ dạy phương pháp giải cứu mẹ.

Đức Phật bảo tôn-giả Mục-Kiền-Liên rằng: Mẹ ông khi còn sống ở đời, thường ỷ mình đep khỏe giàu có, không biết làm phước bố thí cúng dường.  Không chịu phát tâm quy y Tam-Bảo, khinh thường nhân quả nghiệp báo luân hồi.  Lại do lòng tham lam bỏn sẻn gồm thâu gom góp tiền của mà tạo nhiều tội lỗi.  Hay khinh chê mỉa mai người có nhiệt tâm hăng hái làm việc thiện.  Thiếu từ tâm hoan hỷ khuyến khích người tu học, làm việc nghĩa.  Suốt ngày nói chuyện thị phi, chê bai tăng ni, khi dễ người hiền, bỏn sẻn keo kiết, gom góp tiền của không biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ.  Mẹ ông đã tạo nên bao nhiêu điều ác đức tổn phước như vậy, nên phải chịu lấy ác quả.  Các tội ác đó kiếp kiếp ở trong ba ác đạo, cho dù lòng hiếu thảo của ông có to lớn cảm động đến cả thiên địa, nhưng phước đức một mình ông không thể cứu nổi cái tội nặng nề của mẹ ông, dù ông ngày nay đã chứng quả A-la-hán.  Muốn cứu thoát mẹ ông khỏi kiếp ngạ quỷ, chỉ còn phương pháp duy nhất là nhân dịp rằm tháng Bảy chư tăng tự tứ.  Ngày đó chư tăng tự tứ cũng là ngày chư Phật Bồ-Tát mười phương hoan hỷ, chư thiên đều tán thán và chư thiện thần đều gia tâm hộ trì.  Bởi vì, ngày rằm tháng bảy là ngày chư tăng đã tròn đủ ba tháng an cư kiết hạ, giới luật tinh nghiêm, tâm niệm thanh tịnh, tăng thêm tuổi đạo, công đức cao dày.  Ngày này cũng là ngày trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, được dừng nghỉ hành hạ, để cho chúng sanh nào biết hồi tâm hướng thiện niệm Phật, hồi tâm giác tỉnh theo tiếng chuông u minh, theo lời cầu kinh của chư tăng thì liền đó đức Địa-Tạng Bồ-Tát đến phóng quang tiếp độ, cứu thoát khỏi cảnh khổ.

Phật lại dạy tôn-giả Mục-Kiền-Liên: Vậy nhân ngày rằm tháng Bảy chư Tăng tự tứ, ngày công đức cao dày của thập phương Tăng, ông nên sắm sửa trai diên, đồ ăn vật dụng hằng ngày mỗi phần đầy đủ để trong bồn.  Ông phải thành tâm đi thỉnh các vị thanh tịnh tăng khắp đó đây về để thiết lễ dâng cúng dường trai tăng.  Nhân dịp nầy, ông thành tâm khẩn bạch rõ tâm nguyện hiếu thảo để chư Tăng thành tâm cầu nguyện. Mẹ ông sẽ nhờ công đức cúng dường do lòng thành hiếu thảo của  ông, đồng thời nhờ công đức thanh tịnh của chư Tăng tinh tấn tu hành trong ba tháng an cư, cùng sức chú nguyện khác miệng cùng một lòng thanh tịnh của chư Tăng, tạo thành năng lực bất khả tư nghì có thể hoán cải được tâm thức ác nghiệp của mẹ ông, thì mẹ ông nhất định thoát kiếp quỷ đói.  Tội của mẹ ông to nặng chẳng khác nào như tảng đá to rớt trong vũng sình lầy.  Phải nhờ sức nhiều người mới khiêng đẩy lên được.

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên nghe Phật dạy xong, nức nở thương xót cho số kiếp của người mẹ mê mờ tham lam cố chấp, nhưng Ngài cũng lại rất vui mừng được Phật chỉ dạy phương pháp cứu mẹ thù thắng viên mãn.  Ngay khi tôn-giả Mục-Kiền-Liên chí thành thực hành lễ trai tăng xong, với công đức chú nguyện của chư Tăng tạo thành thần lực vạn năng, chuyển đổi tâm địa của bà Thanh-Đề ngay khi đó được thoát kiếp ngạ quỷ.

Thấy mẹ được thoát kiếp đọa đày thống khổ, ngài Mục-Kiền-Liên vô cùng mừng rỡ vội trở về đảnh lễ đền đáp ân Phật.  Đức Phật dạy tôn-giả Mục-Kiền-Liên rằng: “Ân cha mẹ cao rộng như trời như biển.  Dù cho người con có vai trái mang cha, vai phải mang mẹ đi khắp quả địa cầu nầy nhiều lần như số cát sông Hằng cũng không thể đền đáp được ân sanh thành dưỡng dục rộng sâu như trời biển đó.  Chỉ cần phát tâm Bồ-đề học đạo giác ngộ giải thoát và khuyên cha mẹ cũng làm được như thế tức là có thể báo đền ân đức sanh dưỡng của cha mẹ.  Ngược lại, nếu người con chẳng biết đạo đức, thiếu tu học đạo giác ngộ, không tin nhân quả tội phước nghiệp báo luân hồi, tự mình tội lỗi đọa đày, điều nầy không khéo lại làm cho cha mẹ tăng lòng tham đắm ngũ dục lạc, vậy là tự tạo ác nghiệp cho mình và vô tình làm duyên tạo thêm tội lỗi cho cha mẹ.  Việc làm hiếu kính của ông vừa rồi để cứu mẹ ông đã có kết quả nhiệm mầu.  Đấy là phương pháp báo hiếu hiệu quả nhất, nhiệm mầu nhất cho những người con hiếu thảo.  Đời sau những người con thảo cháu hiền nào muốn thực hành để báo đền ân nghĩa cha mẹ thì nên làm như ông”.

Từ ấy đến nay, suốt dòng lịch sử truyền bá đạo Phật, trải hơn hai ngàn năm trăm năm, người Phật tử khắp năm châu bốn biển, hễ mỗi độ thu về, rằm tháng bảy đến, thì biết đó là mùa báo hiếu.  Hình ảnh Mục-Kiền-Liên, người con hiếu hạnh muôn thuở lại sống dậy cùng với hình ảnh đức Phật từ bi hóa độ chúng sanh.  Đặc biệt hình ảnh đức Phật mừng cho chư Tăng, những người con được Ngài mệnh danh là trưởng tử Như-Lai, Đạo Phật tuyên dương chánh pháp, đã tròn đầy ba tháng an cư chuyên ròng tịnh tâm tu học, xứng đáng nhận thêm một tuổi đạo.  Người xuất gia hồi hướng công đức tu hành của mình đến cha mẹ và chúng sanh hiện còn được an lành, quá vãng được giải-đảo-huyền.  Kinh Phật dạy rằng: “Phụ mẫu đắc ly trần, tu hành phương thành tựu”.  Nghĩa là cha mẹ có thoát khỏi được cảnh đọa đày thống khổ thì sự tu hành của người con mới chứng tròn đạo quả.

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên mở đầu kỷ nguyên hiếu hạnh cho hậu thế vạn kỷ nhân loại noi theo.  Hôm nay ngày Vu-Lan, mời các bạn phát nguyện noi gương hiếu hạnh của tôn-giả Mục-Kiền-Liên, để cha mẹ được an vui nơi cảnh tịnh:

Hôm nay gặp lễ giải đảo huyền

Con nguyền theo gót Mục-Kiền-Liên

Chư tăng tự tứ con cầu nguyện

Mười phương phụ mẫu giải đảo huyền

 

Rằm Tháng Bảy

Rằm tháng bảy đối với đạo Phật mang ý nghĩa đặc thù, tưởng cũng nên lược nêu ra đây vài đặc điểm:

1) Ngày tự tứ: Khi đức Phật còn ở đời, ngày ngày Ngài đi hoằng pháp khắp đó đây, nhưng đến mùa mưa từ khoảng rằm tháng tư đến rằm tháng bảy, trong suốt thời gian ba tháng mùa hạ nầy, đức Phật và hàng đệ tử xuất gia đều tập trung ở một chỗ chuyên tâm tu học không ra ngoài, việc làm nầy ngoài ý nghĩa tránh sự giẫm đạp trùng kiến và mầm non cỏ cây, còn là thời gian để tăng chúng thúc liễm, thân tâm tinh tấn tu tập, gọi là thời gian kiết hạ an cư.  Kiết hạ an cư tức là kiết giới an trú một chỗ tịnh tu suốt ba tháng mùa hạ, nên cũng gọi là cấm túc.

Ở Ấn-Độ, vào mùa hạ trời thường mưa ẩm ướt, côn trùng sanh sản, cỏ cây nẩy mầm, nên đức Phật khuyên hàng đệ tử tốt nhứt tập trung ở một chỗ để chuyên tâm tịnh tu. Trong suốt thời gian ba tháng hạ, đức Phật ròng rã thuyết pháp, chư Tăng tĩnh tâm chuyên cần ngày đêm tinh tấn tu học không ngừng, đồng thời cũng là dịp trình giải sở đắc, trao đổi kinh nghiệm tu học và hoằng pháp.  Thời gian ba tháng an cư nầy, chư Tăng ngày đêm gia công chuyên ròng tu tập gấp bội ngày thường, nên giới hạnh công đức cũng theo đó mà tăng trưởng cao dày.  Do ý nghĩa đặc thù nầy, hằng năm chư Tăng đều y theo lời Phật chế định mà hành trì.  Tuy đức Phật đã niết-bàn từ lâu, nhưng ở bất cứ quốc độ nào, có đạo Phật, có thanh tịnh tăng chánh truyền, vẫn thực hiện thời gian an cư kiết hạ tinh tấn tu tập như khi Phật còn ở đời.  Thời gian kiết hạ an cư chính là thời gian trưởng dưỡng đạo hạnh, tài bồi công đức, giới hạnh tinh nghiêm, đạo tâm kiên cố.  Chư Tăng giới hạnh thanh tịnh là trang nghiêm mạng mạch đạo pháp vững mạnh trường tồn.  Thế nên, trước giờ nhập Niết-Bàn, đức Phật ân cần nói: “Giới luật còn thì đạo pháp còn”.  Có nghĩa là hàng đệ tử Phật còn biết tôn trọng giữ gìn giới luật thì sức sống của đạo pháp còn.  Phật Pháp thịnh suy tùy theo sự hành trì giới pháp.

Chư Tăng kiết hạ từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy là thời gian tròn đủ ba tháng, do đó rằm tháng bảy cũng thường gọi là ngày mãn hạ.  Ngày mãn hạ còn gọi là ngày giải hạ.  Ngày nầy chư Tăng hội họp để làm pháp tự tứ, nghĩa là mỗi người tự trình bày những điều mình thấy, nghe, hay, biết và chỗ sở đắc, đồng thời thành tâm thỉnh các bậc trưởng lão và đại chúng hoan hỷ nêu chỉ những điều nghi là có lầm lỗi qua sự thấy, nghe, hay, biết, mà chính mình không hay biết để được sám hối và sửa đổi.  Thế nên, khi tự tứ, mỗi vị tăng ở giữa đại chúng, quỳ lạy trước vị trưởng lão thành tâm thưa: “Bạch Đại-Đức, chúng Tăng ngày nay tự tứ, con tỳ-kheo là (xưng tên mình) cũng xin được tự-tứ, nếu thấy tội, nghe tội, nghi có tội, xin Đại-Đức thương xót chỉ bảo cho con.  Nếu con thấy có tội sẽ y như pháp mà sám hối”.  Phải ba lần thưa như vậy.  Tự mình đem hết cõi lòng chân thành hoan hỷ trình bày chỗ thấy nghe hay biết rồi đồng thời thỉnh trưởng lão và đại chúng hoan hỷ chỉ giáo, trong tinh thần từ mẫn tương thân tương kính tương sám để tự và tha đều hoan hỷ chân tình cởi mở hết cõi lòng đồng hỗ tương sách tấn bằng cách chỉ nhắc cho nhau khi mãn hạ trong ngày rằm tháng bảy, nên nhà Phật gọi là ngày tự tứ.

2) Ngày tăng-trưởng hạ lạp, tức là ngày được thêm tuổi đạo. Người đời, cứ mỗi năm đến ngày mùng một Tết là thêm một tuổi thọ.  Và bao nhiêu lần Tết là được bao nhiêu tuổi thọ.  Nhưng nhà Phật thì không như thế.  Nhà Phật tính theo tuổi đạo mà không tính theo tuổi đời.  Tuổi đạo là tuổi căn cứ đạo hạnh, tức là thọ tỳ-kheo giới, thực hành kiết hạ an cư mới có hạ lạp, tức là mới được có tuổi đạo.  Thế nên người đó cho dù có năm bảy chục tuổi đời mà không có thọ giới tỳ-kheo, không theo đại chúng làm pháp an cư kiết hạ, hoặc không thỉnh giới nơi bậc trưởng lão chứng pháp để tự tứ an cư tức là an cư kiết hạ chỗ mình đang ở, thì vẫn không có tuổi đạo.  Dù có cạo tóc ở chùa thọ giới đi chăng nữa mà không có tâm thức và ý nghĩa an cư, không có ý thiết tha cầu học nơi bậc trưởng thượng để kiết giới an cư, cũng chẳng có tâm niệm thành thiết nghĩ đến kiết hạ an cư, thì đó là hạng người hình đồng xuất gia, danh tướng tỳ-kheo, chỉ được giới tướng, mà giới thể tâm đức vẫn bất khả nhập, dĩ nhiên không có hạ lạp, không có tuổi đạo.  Người có thọ giới mà không an cư kiết hạ còn thế, huống chi là kẻ không thọ giới mà mặc áo cà-sa làm tăng!

Kinh Di-Giáo, trước giờ vào Niết-Bàn, Đức Phật dạy: “Nầy các Tỳ-kheo, hãy giữ tịnh giới đừng để thiếu sót hủy phạm, giữ tịnh giới thì có thiện pháp.  Không có tịnh giới thì mọi thứ công đức không phát sanh”.  Thời mạt pháp có kẻ cạo tóc mặc áo làm tăng mà chẳng cần thọ giới tu hạ, lại tư xưng là thầy tăng.  Đạo-Tuyên Luật-Sư nói: “Kẻ ngụy tăng cạo tóc đắp y thì chẳng cần thọ giới!  Giới không có, thì định huệ sao thành, cữa ngõ nào để vào đạo, đức hạnh từ đâu sanh?”  Ngài Đ