Như chúng ta đã biết, người dân Việt
với lòng tự hào và yêu mến những truyền thống văn hóa dân tộc rất cao. Qua
hàng nghìn năm đô hộ giặc Tầu, và trăm năm đô hộ giặc Tây... như lời thống
kê của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng của dân
tộc Việt Nam cũng như sự cộng hưởng của các nền văn hóa khác thật dậm nét.
Như những phong tục tập quán, và nếp sống của dân Việt... bị ảnh hưởng bởi
nền văn hóa Trung Hoa qua quá trình 1000 năm thống trị. Cũng như kiến trúc
nhà cửa cũng lai theo Tây phương không ít. Mặc dù thế dân tộc Việt Nam dù
hòa nhập chứ không bao giờ hòa tan vào bất kỳ nền văn hóa nào. Chúng ta
biết học hỏi cái hay của các nền văn hóa khác trở thành cái riêng và độc
đáo của mình.
Điểm thay đổi đáng kể nhất có thể nhắc tới là hệ thống
chữ Hán Nôm được thay bằng hệ thống chữ quốc ngữ sử dụng các ký tự Latinh
do các linh mục người Pháp truyền bá. Với 24 chữ cái và các dấu sắc huyền
hỏi ngã nặng, đơn giản và mang tính phổ thông rất nhiều so với hệ thống
chữ Hán Nôm vốn khó học và chỉ có những giai cấp quan lại trí thức mới đọc
và viết được. Nên ngày nay mấy ai đọc và viết được chữ Hán Nôm nữa.
Những ngừơi yêu văn yêu chữ, tôn thờ đạo nghĩa không để
con chữ chỉ dừng lại ở chức năng duy trì và truyền bá thông tin...mà nâng
nó lên một bậc giá trị tầm cỡ hơn trở thành một nghệ thuật sống động và
mang tính chất tâm linh sâu sắc. Đó là nghệ thuât thư pháp. Nghệ thuật này
được biết đến tại Việt Nam rõ nét nhất là hình ảnh những ông đồ già bên
phố cùng những nét rồng bay uốn lượn.
Như nhà thơ Vũ Đình Liên đã viết:
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thăm
Mực đọng trong nghiêng sầu...
Theo dòng phát triển, và biến cố lớn của đất nước, người dân phải lo cho
và thích nghi cho một cuộc sống mới. Và cũng ít đi những người biết đọc và
hiểu được chữ Hán Nôm huống chi là thưởng thức nghệ thuật thư pháp.
Năm nay hoa đào nở
Chẳng thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ.
Một khỏang thời gian khá dài, người ta đã không còn
thấy hình ảnh ông đồ già bên phố xuân như ngày nào nữa. Nhưng hôm nay, thế
hệ con cháu rồng tiên không thể để mai một đi những truyền thống vốn cao
đẹp đó. Nối bước theo nhà thơ Đông Hồ (được xem là ông tổ của nghành thư
pháp Việt Nam) đã dùng cọ lông và mực Tầu đễ tạo nên linh hồn của những
con chữ nhưng không phải chữ Hán hay Nôm mà là chữ quốc ngữ ngày nay. và
được gọi là THƯ PHÁP VIỆT.
Vốn dựa trên những nguyên tắc của thư pháp Hán để áp
dụng cho thư pháp Việt mặc dù hai cấu trúc chữ Hán và Việt này hòan tòan
khác nhau cho nên việc áp dụng như vậy có vẽ khập khiễng. Những người chơi
thư pháp Việt tới nay cũng chỉ viết theo cảm tính và tự phát. mỗi người tự
tìm cho mình một đường lối thiếu bài bản và không thống nhất.
Qua bao nhiêu năm phát triển nền thư pháp Việt ngày nay
đã bắt đầu nên hình nên vóc, vậy tại sao chúng ta không tự thống nhất và
đưa ra những khái niêm và nguyên tắc riêng cho thư pháp Việt?
Địng nghĩa: Thư pháp Việt là một lọai hình nghệ thuật
chữ viết, xử dụng các ký tự Latinh với phương tiện cọ lông và mực Tầu để
thể hiện.
Được chia ra là hai lối viết chính: Lối trúc và lối Mai
LỐI TRÚC: là lối viết mạnh mẽ rắn chắc các nét được
viết to, mang thần sắc vốn dĩ của thư pháp Hán nhưng cũng không kém phần
mềm mại uyển chuyển.
LỐI MAI: các nét chữ được viết mảnh mai từng nét chữ
mềm mại thích hợp với cấu trúc của các ký tự Latinh đa số là những nét
cong uốn lượng chứ không góc cạnh như chữ Hán.
Có người sử dụng cả hai lối này vào trong một tác phẩm, Lối Trúc được dùng
cho chữ đại tự và lối Mai được dùng cho câu văn viết kèm.
Mỗi thư pháp gia có mỗi phong cánh và nét chữ hòan tòan khác nhau, mỗi
người một vẻ. Nhưng được chia vào các thể chính như sau:
Điền , Họa , Thủy , Mộc , Phong , Dị .
ĐIỀN THỂ: là lối viết chữ Việt được xắp sếp thành từng
khối vuông hay tròn, được ưa chuộng và khắc trạm trên các bức phù điêu...
thường dùng cho những câu đôi trong đền chùa...
HỌA THỂ: là một nghệ thuật viết chữ khéo léo có xắp sếp tinh tóan sao cho
từng đường nét chữ phối hợp thành những hình dạng mang ý nghĩa nhất định.
THỦY THỂ: là lối viết chữ nhái theo lối viết chữ Hán,
chữ viết không ngang hàng mà được viết dọc xuống như nứơc đổ.
MỘC THỂ: là lối viết mộc mạc giản dị ngay hàng thẳng
lối dể đọc và dễ cảm nhận nhưng không kém phần bay bướm. Lối này được
nhiều người ưa thích và thể hiện.
PHONG THỂ: là lối chữ viết nhanh trôi chảy. Khi đặt bút
xuống là như một cơn bão quét qua không phút ngập ngừng. Nét chữ tuôn ra
theo cảm hứng và quán tính vì thế đôi khi nét chữ không hòan chỉnh và hơi
khó đọc nhưng vẫn dễ đọc hơn Dị thể.
DỊ THỂ: là lối viết chữ cá tính ngọn bút xuất phát từ cảm hứng cao độ,
đường nét không theo chuẩn mực mà phóng bút tự do. Nét chữ không rõ ràng
mà chỉ mang dáng dấp chính của con chữ, người thưởng ngoạn đôi khi cũng
phải đóan để hiểu được nội dung.
-Có Hai thể chữ cũng nên nói tới
THỂ LONG PHỤNG: là dạng chữ rong được viết bằng một bản
gỗ nhỏ có răn cưa. Mỗi chữ được viết vẽ kèm theo những hình ảnh lạ mắt như
rồng phụng hoặc các ông Phúc Lộc Thọ...
THỂ ÂM DƯƠNG: là dạng chữ ngược, nhìn vào trông như chũ
Hán, muốn dọc thì phải quen lối viết và tưởng tượng ngựơc lại, hoặc nhìn
ngược từ mặt sau tờ giấy không thì nhìn vào hình ảnh phản chiếu từ một tấm
gương.
Kỹ thuật vân cọ cũng theo phong cách Hán như:
Ức (nhấn mạnh xuống), Đôn (dè dặt), Tỏa ( sổ hạ xuống), Trì ( viết nét
chậm lại), Tốc (viết nhanh), Hòan ( thả lại, hồi đầu), Khẩn (vung bút đột
ngột), Khinh ( nhẹ nhàng lã lướt bay bỗng), Trọng ( nhấn điểm xuyến).
Một nét cọ căng bản được chia là các bước sau
Khởi bút, Hành bút và Thu bút.
Thường thì phần giữa sẽ nhỏ hơn hai phần đầu. và một
nét chữ đã viết thì không được đồ đi đồ lại....
Thư pháp Việt chia làm các đường nét chính sau
NÉT TRỤ: là nét kéo thẳng đầy mạnh mẽ.
NÉT TẤN: là nét kéo ngang cũng đầy uy lực.
NÉT PHÁC: gồm các nét phác ngang, dọc, xéo...Khi viết
thì khởi bút , hành bút nhưng không có nét dừng bút mà được kéo đi luôn.

NÉT VÒNG: là những nét khởi đầu và được kéo lại thành vòng nét cuối hướng
về nét khởi đầu.

NÉT MÓC: là những nét được khởi bút móc vòng xuống nhưng cuối nét không
hướng về nét khởi, và khi thu bút không dừng lại mà kéo bút lên tạo ra một
đường nhọn cuối nét.
NÉT KÉO: là những nét mỏng kéo dài theo hướng ngang , dọc hoặc vòng.
NÉT LƯỢN: là ngững nét vòng gọp lại theo đường gợn
sóng.
NÉT XƯỚT: là những khỏang trống trong một nét chữ được tạo ra từ những sớ
cọ. có hai lọai nét xướt: nét xướt ngọn và nét xướt bụng.
.Nét xướt ngọn được tạo ra khi kéo ngang bằng ngọn bút
và ngọn cọ được tách ra rõ ràng tạo nên nét xướt cũng rõ nét.
.Nét xướt bụng khi nét kéo ngang bằng bụng của ngọn bút .
Khi thưởng lãm một tác phẩm trước khi xét về đường nét
và nội dung thì điểm đặc biệt thu hút và có bắt mắt người xem hay không là
ở phần trang trí và bố cục tác phẩm. Bố cục thư pháp Việt không trình bày
từng chữ từ trên xuống và từng cột như thư pháp Hán, ngọai trừ viết theo
dạng đối.
một tác phẩm viết tràn lan đại hải không ý tứ thì không được xem là một bố
cục đẹp. Các chữ viết không được quá khít và cũng đừng quá thưa thớt lõng
lẽo. nét này phải tương quan và bổ xung cho nét kia tránh trùng lập lên
nhau gây khó đọc. Các chữ thường liên kết với nhau và tạo thành những khối
có kết cấu.
Các dạng bố cục thường gặp như sau.
DẠNG THÁP: bố cục phần trên nhỏ và to ra phần chân nhu một ngon tháp tạo
cảm giác bền vững.
DẠNG GIÁO: bố cục có dạng một mũi giáo, phần thân to và
phần đầu và chân thì nhỏ.

DẠNG TRỤ: là viết theo lối thông thường các chữ cái đầu tiên xếp thành một
hành thẳng
DẠNG CỤM: bố cục chia ra thành từng cụm từng khối nhỏ.
DẠNG ĐỐI: là dạng chữ viết từng chữ xếp thành một hàng
thẳng xuống theo dạng liển đối tiếng Hán.
ẤN CHƯƠNG: gồm ba lọai Nhân chương , Yêu chương, và
Danh chương.
NHÂN CHƯƠNG: được nằm ở vị trí trên cùng của tác phẩm.
Thường đại diện cho tên của một hội nhóm mà tác giả tham gia hoặc những
biểu trưng đặc biệt. công thêm điểm mốc thời gian của tác phẩm.
YÊU CHƯƠNG: được đóng vào giữa tác phẩm
DANH CHƯƠNG: Được đóng ở cuối tác phẩm ngay chữ ký của tác giả.
Tùy theo bố cục của tác phẩm mà ấn chương được đóng ở
đâu cho hỡp lý nhất
CÁCH CẦM CỌ
Sao cho ngọn bút vuông góc với mặt phắng của giấy. Theo
lối viết chữ Hán ngày xưa thì họ viết chữ từ bên phải sang trái cho nên họ
không được chạm tay vào giấy nếu không những nét chử chưa khô sẽ bị lem
khi tay quẹt vào. Nhưng chữ Việt thì không gặp vấn đề đó, cho nên cách cầm
cọ thế nào chỉ thể hiên kiểu cách và công phu của người viết. Nhưng không
bắt buộc phải nhấc tay hổng lên trên mặt giấy. có ba cách cầm cọ thường
gặp:
ĐIỂM THỦ: người viết chống một ngón tay út chạm vào mặt giấy lấy điểm tựa.
TÌ THỦ: cạnh bàn tay tiếp xúc với mặt giấy như cách viết chữ bình thường
BỔNG THỦ: tay nhấc bổng lên theo lối thư pháp Hán.
Đây là những thống kê mạo muội căn bản ban đầu cho thư pháp Việt. mong các
bạn cho ý kiến đóng góp thêm để bộ môn thư pháp Việt ngày càng hòan thiện
và thống nhất.
Trân trọng
ĐĂNG HỌC