Cứ như thế xoay mãi,
trôi lăn sanh tử, thật khó dứt trừ, duy chỉ có Phật pháp, dùng pháp từ bi,
tu giới, định, tuệ, công phá thành trì bệnh tật vô thỉ lại đây, hóa thành
bụi trần, thổi khắp bốn phương, trở về với chơn không diệu pháp.
Do đó, có quả khổ là
do nghiệp nhân đời trước, còn đời nay tạo nghiệp là do phiền não phát
khởi, nhưng phiền não là trạng thái bệnh tật tâm lý. Vậy muốn khỏi quả khổ
thì phải trị tâm bệnh, tâm bệnh đã trừ, nghiệp khổ vắng mặt; lý thì như
vậy, nhưng về hành sự thì thật không phải dễ, lý và sự phải sự phải viên
dung thì bệnh tâm mới khỏi.
Phàm phu chúng ta
thích lánh khổ cầu vui, nên vui với cái vui chứa đầy mầm móng khổ đau. Chư
Thiên có niềm vui vô thường, Thanh Văn có cái vui vắng lặng, Bồ Tát thì có
pháp lạc, chư Phật thì an trú trong Niết Bàn vô thượng. Do đó, người Phật
tử phải dùng cái lực nhạy bén, để phân biệt rõ ràng mà chọn con đường
hướng đến. Đức Phật dạy chúng ta, đừng nên ham hố chút đường trên lưỡi
dao, ngọt chỉ có trong chốc lát, nhưng đồng thời có cái họa đứt lưỡi.
Học lý nhân quả mà
không thấu triệt được thì dễ đưa người học đến chỗ ngờ vực. Bởi trong cuộc
sống không ít người làm nhiều điều xấu ác, không những không gặp quả báo,
ngược lại gia cảnh người ấy lại tốt đẹp, sự nghiệp phát đạt, tiền tài sung
túc; còn người bẩm tính lương thiện, làm người trung hậu, ưa làm phước
thiện, nhưng số mệnh long đong, gia cảnh thanh bần, sự nghiệp không thuận.
Muốn lãnh hội được
lý nhân quả thì cần phải quán xét nhân quả ba đời. Như người xưa nói:
"Muốn biết cái nhân đời quá khứ, thì hãy xem qủa báo đời nay. Còn muốn xem
quả báo vị lai thế nào thì hãy nhìn việc làm trong hiện tại". Đây là
câu nói bao hàm lý nhân quả ba đời. Thí như người ngu, thấy vò hết gạo,
biết ngày mai không có gạo nấu cơm, liền vội đem thóc xuống mạ, hy vọng
ngày mai gặt về nấu ăn, há chẳng làm trò cười thiên hạ sao?
Quy luật nhân quả
nghiệp báo, tuyệt không thể hoài nghi; song có điều, nó phải phụ thuộc vào
tính thời gian và nhân duyên của nó, một khi thời gian chưa đến, nhân
duyên không hòa hợp thì nghiệp báo không thể hiện hữu. Cho nên nói dùng
thần lực La Hán còn không thể thấy rốt ráo nhân quả nghiệp báo, chỉ có
Phật nhãn mới có thể thấy tột cội nguồn nghiệp báo.
Có lần Phật hỏi Ngài
A Nam: "Này A Nan! Có một người cả đời tu mười thiện nghiệp, nhưng khi
mạng chung lại sanh trong ác đạo". A Nan nghi ngờ liền bạch Phật:
"Tu tập thiện nghiệp, phải sanh lên cõi lành, hà cớ gì lại rơi vào ác
đạo?".
Phật nói: "Tuy tu
thiện nghiệp, nhưng nhân duyên thiện nghiệp vẫn chưa chín mùi, ngược lại
nhân duyên nghiệp báo đời quá khứ đã đến, nên phải trả ác báo trước".
Phật lại nói:
"Này A Nan! Có một người suốt đời làm ác, nhưng sau khi chết lại sanh vào
cõi lành".
A Nan hỏi Phật:
"Làm sao làm ác, mà lại được quả báo lành?
Phật dạy: "Tuy
làm nhiều điều xấu ác, nhưng khi chết, ác duyên chưa thuần thục, mà thiện
báo đời quá khứ đã đến, nên sanh vào cõi lành."
Nghiệp báo xoay
tròn, cũng giống như bánh xe xoay chuyển, không hề dừng nghỉ, tất cả chúng
sanh, rơi vào trong biển khổ, lặn hụp không thôi, khó tìm được phao nổi,
cho nên Đức Phật thường răn đệ tử: "May mắn được thân người, đừng đắm
mình trong vũng bùn dục lạc, khéo trì tịnh giới, tránh làm các điều ác".
Như đã nói một người suốt đời làm lành, nhưng khi chết lại sanh vào ác
đạo, ở đây chúng ta cần phải hiểu rằng, người đó là một kẻ sĩ hiền lương,
không phải là một người Phật tử quy y Tam Bảo, hành trì tịnh giới, nên khi
chết không thể ngăn che ác nghiệp quá khứ mà phải chịu rơi vào ba ác đạo.
Khế kinh kể rằng: Trên cung trời Đao Lợi có một vị Thiên tử khi mạng sắp
hết, có năm tướng hiện: Một là quần áo dơ bẩn, hai là đầu tóc rũ rượi, ba
là thân thể hôi thối nhơ nhớp, bốn là nách đổ mồ hôi, năm là không thích
bản tòa. Ông biết mạng mình không bao lâu, tâm trí không vui, sầu bi khổ
não. Vì muốn biết mình sẽ sanh nơi đâu, nên ông dùng thiên nhãn quan sát,
biết rằng sau khi mạng hết, sẽ sanh xuống Nam Diêm Phù Đề, làm thân con
heo, nhơ nhớp bẩn thỉu, toàn ăn đồ bất tịnh, lòng sanh áo não, gào thét
khóc than. Lúc bấy giờ có vị thiên tử khác biết được cớ sự, bèn đem chuyện
ấy nói với Đế Thích. Đế Thích dùng thiên nhãn, quán sát thấy rõ như thế,
bèn đến khuyên ông: "Ông sắp mệnh chung, sanh vào ác thú; ông hãy phát
tâm, quy y Tam Bảo, chí thành cầu xin Đức Phật từ bi cứu hộ". Vị Thiên
tử nghe xong, liền chí thành cung kính, quy y Tam Bảo, không bao lâu ông
mạng chung, Đế Thích lại quán sát, không thấy ông trong loài heo, bèn quán
khắp bốn châu cũng chẳng thấy, nhân đó xuống nhân gian đảnh lễ Đức Phật,
trình bày cớ sự. Phật quán sát thấy Thiên tử kia sau khi mạng chung liền
sanh lên cõi trời Đâu Suất (bởi vì, thiên nhãn chư Thiên chỉ quán sát hạ
giới, mà không thể quán sát ở các cõi trên; Đức Phật thì có thể quán sát
cùng khắp).
Có nhiều người nói
rằng: Phật giáo đã nói tất cả các pháp là không, tại sao lại nói có
nghiệp?
Phật giáo nói không,
chính là để phá chấp của chúng sanh. Bởi chúng sanh mê chấp hiện tượng thế
giới là thật có, cho nên trong 6 trần, tham đắm không bỏ, tạo ra các tội
lỗi, phải chịu khổ sanh tử. Đức Phật nói pháp, khiến chúng sanh ngộ lý
chơn không, thấy được các pháp là vô thường, như bọt nước, như ảo mộng,
không thật có, từ đó sanh tâm nhàm chán, dứt bỏ tâm tham đắm, quay về nẽo
giác. Trong Khế kinh Đức Phật đã nói: "Các pháp là không, nhưng nghiệp
quả thì không mất". Một khi hành giả đã ngộ được lý không, thì không
bị mê nơi các pháp, nếu không mê nơi các pháp thì không tạo nghiệp; do
không tạo nghiệp nên không trôi lăn trong đường sanh tử. Vì chúng sanh mê
chấp các pháp, tạo ra các nghiệp ác, nên sau khi chết phải theo nghiệp dắt
dẫn thọ sanh trong đường sanh tử.
Đã biết được cốt yếu
của nghiệp thì phải biết chữa trị như thế nào, và tránh quả khổ ra sao,
đồng thời cũng phải biết thế nào để khỏi rơi vào ba đường ác.
Đức Phật như lương
y, giáo pháp như thuốc trị, chúng sanh là người bệnh, lương y chẩn đoán ra
toa, người bệnh theo toa uống thuốc thì bệnh mới thuyên giảm.
Thân mệnh chúng sanh
khác nhau, tâm tánh cũng chẳng giống, quan niệm tư tưởng cũng sai khác,
nên tạo nghiệp không đồng, kết quả là quả báo có khác. Phật tánh chơn như
cũng như hư không, bình đẳng nhứt như; do vì không theo nơi tự tánh, vọng
động theo trần cảnh, bỏ giác theo trần, quên mất nguồn cội, tạo ra các
nghiệp ác, trôi lăn trong biển khổ sanh tử.
Vậy muốn thoát cái
khổ trong ba đường ác, trước hết phải phá trừ các ác nghiệp đời trước và
đây cũng là nét độc đáo của nhà Phật mà các tôn giáo khác không có.
Đức Phật là Thánh
trong các cõi Thánh, nên có thể dùng Phật nhãn soi thấu cội nguồn pháp
giới. Với trí tuệ phương tiện khéo léo Ngài giảng dạy phương pháp cứu vớt
chúng sanh ra khỏi khổ ách. Tổ Huệ Năng đã dạy: "Khi chưa ngộ thì cần
bậc thầy chỉ đường, nhưng khi tỏ ngộ thì tự mình thắp đuốc mà đi".
Dứt trừ ác nghiệp có
hai phương pháp: Một là phát khởi tâm hỗ thẹn, hai là phát tâm chí thành,
trước tượng Phật phô bày tội lỗi cầu xin sám hối. Trong Khế kinh có ghi:
"Tạo nghiệp địa ngục, sanh lòng sợ hãi, phát tâm tăng thượng, khởi tâm
hỗ thẹn, trừ bỏ tập khí, chí thành sám hối, không dám làm nữa" cho nên
trong văn sám hối nói rằng:
-"Xưa nay đã tạo các
nghiệp ác,
Đều do vô thỉ tham,
sân, si,
Từ thân, miệng, ý
phát sanh ra,
Tất cả con nay xin
sám hối."
- "Tội từ tâm khởi
đem tâm sám,
Tâm diệt rồi thời
tội cũng mất,
Tâm diệt tội mất cả
hai không,
Đó mới thật là chơn
sám hối."
Trong hai bài kệ
này, bài đầu nói về sự sám hối, tức là năm vóc sát đất, đối trước Tam Bảo,
phát tâm chí thành, tỏ bày tội lỗi, cầu xin sám hối, nguyện không phạm
nữa. Còn bài kệ thứ hai là nói về lý sám hối, tức là phải quán sát tâm
thức, thấy được thật tướng của chơn tâm, khi vọng tâm chấm dứt thì tội
cũng tiêu trừ. Quán tâm như thế, mới có thể nhổ sạch cội rễ tội lỗi. Nhưng
sám hối theo cách này, thật không phải dễ; thông thường thì mọi người dùng
cách sám hối về sự là chính.
1. Tâm hỗ thẹn:
Hỗ thẹn là một trạng
thái tâm lý tốt nhất để tịnh hóa nội tâm. Thông thường con người luôn lấy
mực thước đạo đức và quan niệm sống của con người làm tiêu chí sống; nhưng
trong một lúc hăm hở của ý chí, và những tâm lý phiền não dấy khởi thì bắt
đầu tạo nghiệp, sau đó người tạo nghiệp lại bị lương tâm dày vò, hoặc bị
xã hội phê phán, trách cứ, và lúc bấy giờ tâm lý hỗ thẹn xuất hiện. Hỗ là
xấu hỗ với các bậc Thánh, sợ bị quở phạt; thẹn là thẹn thùng với mọi
người, e sợ sự giận dữ khi dễ của xã hội. Nhờ tâm lý hỗ thẹn mà những tâm
lý xấu ác quay về với chơn giác, soi thấu những lỗi lầm trước nay, đau
lòng tự trách, bày tỏ sám hối, dứt tâm tương tục, cố gắng làm lành, nối
chí Thánh Hiền, vượt sông sanh tử, hướng đến Niết Bàn. Cho nên người xưa
có nói: "Người có tâm hỗ thẹn, không dám làm ác".
2. Sám hối:
Phương pháp sám hối
không những có thể diệt nghiệp hiện tại, mà còn có thể trừ bỏ được những
nghiệp quá khứ. Do đó, pháp sám hối được thành tựu là ở nơi tâm thành tha
thiết. Cho nên trong Khế kinh nói rằng: "Dùng tâm tăng thượng, chí
thành chí thiết mà sám hối".
Sám là nguyện trừ bỏ
những tội đã làm; hối là ăn năn chừa bỏ, không dám làm nữa. Vậy người Phật
tử sám hối, trước phải tâm tha thiết, chí thành chí kính, tắm rữa sạch sẽ,
mặc áo ngay ngắn, đốt hương dâng hoa, đối trước Tam Bảo, bày tỏ lỗi lầm,
tha thiết sám hối; có như vậy tội tướng mới tiêu trừ, đồng thời phát
nguyện suốt đời hành trì giới pháp, không phạm lại nữa.
Nói tóm lại, thuyết nhân
quả nghiệp báo là môn học căn bản mà người học Phật cần phải nắm rõ, kẻ sơ cơ
vào đạo phải có tín tâm vững chắc, học hỏi giáo pháp để trưởng thành, dùng giới
làm nền tảng để tu tập, trước trừ nghiệp chướng, đóng cửa ba đường ác, sau tiến
tu Tam vô lậu học, thành tựu con đường giải thoát. Đây chính là mục tiêu của
người học Phật và là tông chỉ cứu nhân độ thế của Phật giáo.