2. Các vị sư Ấn Độ và
Trung Hoa tìm trong kinh sách Phật giáo những điều liên quan về Hiếu để viết ra
một số kinh sách mới ca tụng về Hiếu hạnh và lợi lạc cho cha mẹ tổ tiên.
3. Phương cách thứ ba là
làm sao biểu dương việc Hiếu đạo trong nhà Phật còn cao siêu hơn, như: Chữ hiếu
của người dân Á Đông chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình như cha mẹ ông bà. Chữ
Hiếu của nhà Phật rộng hơn cho người sống đối với: người của gia đình chết bảy
đời, những người chết vất vưởng không ai cúng quảy, tóm lại là tất cả mọi vong
hồn. Vì nhà Phật chủ trương tất cả chúng sinh ai cũng có thể là cha mẹ của ta từ
các kiếp trước. Vậy nên chữ Hiếu của đạo Phật là nhớ ân báo ân tất cả chúng sanh
chung, bao trùm cả vũ trụ không gian và chiều sâu của thời gian.
Phật giáo du nhập Trung
Quốc tỏ ta không đối lập với đời sống gia đình, cô tiểu, chú tiểu, nhà Sư vẫn có
thể làm tròn rất nhiều bổn phận con cháu, hằng ngày cầu nguyện cho gia đình, góp
nhặt công đức hồi hướng phúc ấm cho gia đình, tổ tiên, cầu siêu cho vong linh tổ
tiên.
Cho nên ta thấy đời
Hậu Hán, An Thế Cao (An Shik Kao) dịch hai bộ kinh liên hệ chữ
Hiếu: "Kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ", "Kinh Phụ Mẫu Ân Nan
Báo". Đại sư Tân Pháp Tư đời Ngũ Đại dịch bộ kinh "Phật Thuyết
Thiện Sinh tử", "Kinh Trường A Hàm", "Trung A Hàm" dịch
từ thế kỷ thứ tư và năm cũng luôn nhắc lời Phật dạy về chữ Hiếu.
Nhưng hai quyển kinh
"Bồ Tát Thiện Tử" và "Vu Lan Bồn" đề cập chữ Hiếu nhiều nhất
do Đại sư Pháp Phong dịch đời Tây Tấn.
Kinh "Bồ Tát
Thiện Tử" thật ra trích từ truyện Tiền Thân Đức Phật. Thiện Tử (tên
chữ Sanskrit là Syama, chữ Pali là Sama) là một vị lập hạnh Bồ tát tình
nguyện đầu thai làm con cho một cặp vợ chồng mù, vì muốn thuận lợi tu
hành, đã đem cha mẹ vào ở trong một hang núi để săn sóc báo đền hiếu đạo
và tu tập. Một hôm nhà vua đi săn, thấy từ xa Thiện Tử đội chiếc áo da nai
đang khom sau lưng lấy nước ở suối, tưởng lầm là con thú, nhà vua bắn
trúng mũi tên độc. Thiện Tử gục xuống chờ chết, nhưng không oán hận nhà
vua, chỉ nghĩ mình phải trả nghiệp, đau khổ nghĩ cha mẹ già không ai nuôi
dưỡng làm sao? Ông bà cụ lần mò đến xác Thiện Tử. Người cha làm hô hấp
truyền hơi thở cho con, người mẹ đặt miệng vào vết thương cố hút chất độc
ra. Trong cơn đau khổ họ nguyện cầu Đức Phật cứu độ. Tức thời Đức Phật
Quán Thế Âm hiện ra, chữa lành vết thương cứu sống Thiện Tử, đồng thời cứu
cha mẹ Thiện Tử khỏi mù lòa. Phần kết luận quyển kinh bằng lời dạy của Đức
Phật là: "Hiếu để sẽ thắng mọi điều khổ ải". Trong hai quyển kinh
"Lục Độ Tập Kinh" và "Pháp Uyển Châu Lâm" cũng có nhắc đến
chuyện Thiện Tử. Ngài Huyền Trang Đường Tam Tạng cũng có viết lại chuyện
Thiện Tử trong sách "Đại Đường Tây Vực Ký".
Sau này, chuyện
"Nhị Thập Tứ Hiếu" cũng có phỏng theo chuyện Thiện Tử đổi tên thành
nhân vật Yến Tử, câu chuyện được đặt vào hoàn cảnh địa phương Trung Quốc
vào đời nhà Tống.
Riêng kinh "Vu
Lan Bồn" nói về chuyện Hiếu của Mục Kiền Liên được phổ biến rộng rãi ở
Trung Quốc và các nước Á Đông theo Phật giáo Bắc Tông, do Đại sư Pháp
Phong (Dharmaraksha -Đàm Ma La Sát) người Ấn Độ dịch cuối đời Tây Tấn. Đại
sư Tông Mật ở phủ Khai Phong xuất thân gia đình vọng tộc, từ nhỏ đã học và
rất uyên thâm về Khổng giáo, sau trở thành một bậc chân tu đạo Phật, ngài
dựa vào Kinh Vu Lan để viết ra một quyển Luận so sánh chữ Hiếu giữa đạo
Khổng và đạo Phật. Ngài nói đạo Phật, đạo Khổng không khác nhau, đều đặt
vấn đề hiếu đạo lên hàng đầu. Như Nho giáo dạy chúng ta sống xứng đáng để
thanh danh lại cho con cháu, nhưng chính Phật giáo lại dạy ta điều nhập
thế là truyền bá lòng từ bi nhân ái cho thế hệ hiện tại đang sống chung
quanh ta. Nho giáo dạy lễ nghi, như ngày giỗ, ngày Tết phải sát sanh để
cúng giỗ tổ tiên; đạo Phật hiếu sinh hơn, dạy cho ta cầu nguyện nhưng
không sát sanh vì lòng Từ. Và ngài Tông Mật còn đi xa hơn, để quyết là Đức
Phật ngày xưa bõ ngôi đi tu chính là vì "muốn báo hiếu cho cha mẹ,
không muốn cha mẹ kiếp kiếp bị trầm luân".
Lập luận dựa trên
Kinh Vu Lan để trình bày quan điểm của đạo Phật đối với chữ Hiếu, như ngài
Tông Mật và các nhà học Phật thời bấy giờ chắc chắn đã tháo gỡ được rất
nhiều các mối dè dặt của giới Nho sĩ đối với đạo của Thích Ca. Quan niệm
xuất thế của đạo Phật, bỏ nhà đi tu, không trọn hiếu đạo với cha mẹ, được
giải tỏa. Người Trung Hoa cùng với các dân tộc khác ở Á Đông đã nồng nhiệt
chấp nhận phương cách giải thích như vậy. Ngày đó sự tích Mục Kiền Liên
được phổ cập quanh năm trong nhân gian, không những trong các chùa mà ở
khắp mọi nơi, trong nhà được phổ thành câu hát ru em, ngoài chợ thành bài
vè cho người hát xẩm, tạo nên một loại văn chương gọi là biền văn. Khi
khám phá ra các động thờ Phật tại Đôn Hoàng (Tân Cương) vào đầu thế kỷ thứ
hai mươi, người ta tìm được nhiều bổn biền văn nầy, như là "Mục Kiền
Liên Biền văn", "Mục Kiền Liên Lục Khởi", bộ "Đại Mục Kiền
Liên Minh Cứu Mẫu Kiến Văn Tịnh Độ". Các biền văn này cùng tài liệu
Phật giáo khác tìm được ở Đôn Hoàng nay đang tàng trữ tại thư viện
Bibliothèque National de Paris (Pháp), bảo tàng British Museum (London Anh
Quốc). Trung Quốc, Đài Loan, Nhật… tư liệu này có trong sách "Đôn Hoàng
trích yếu lục" được chính phủ Trung Hoa in tại Bắc Kinh năm 1931.
Có một điều rất khâm
phục, các Đại sư Phật giáo Bắc Tông thời đó kết hợp Lễ Trung Nguyên của
đạo Lão Trung Quốc tạo ra một Lễ hội lớn của Phật giáo, sở dĩ chọn ngày
rằm tháng 7, lúc đó thời tiết toàn Trung Quốc quang đãng, hết mưa bão, vì
mưa bão thời gian này đã xuống hoạt động ở vùng biển Nam Hải, trời nắng
ấm, cũng chưa đến mùa lạnh có tuyết rơi làm ảnh hưởng đến lễ hội, hướng
mọi hoạt động nhân sinh về thiên nhiên, thuận lợi cho mọi người đi từ làng
này sang thôn khác thăm viếng họ hàng, bạn bè, biếu xén quà cáp, đi chùa,
viếng núi đồi, vãng cảnh, thành một cơ hội thắt chặt đời sống gia tộc,
cộng đồng và tín ngưỡng. Các chùa ngày đó cũng sung túc lên, dễ dàng xây
dựng tạo ra cảnh quang văn hóa đẹp đẽ, giúp cho mọi người hưởng được sinh
thái vui mát làm an lạc lòng người. Chùa chiền Tự viện dần trở nên những
trung tâm đời sống xã hội, và Lễ hội đó đặt tên là Vu Lan Bồn.
Các nước văn minh Ấn
Độ và Nguyên Thủy Phật giáo như: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia,
Lào, Inđônêxia… Không có ngày lễ Vu Lan, mặc dầu có thờ cúng ông bà, báo
hiếu.
Phật giáo du nhập
vào Trung Quốc từ thời Hán Minh Đế (58-75 TL). Truyền rằng một hôm vua nằm
mơ thấy các quan Chiêm Tinh hoàng cung, kiệu một người bằng vàng, nhìn kỹ
là Đức Phật. Vua bèn cử một phái đoàn sang miền Tây Bắc Ấn Độ thỉnh kinh
và mời các nhà sư qua Trung Quốc. Vì trước đó các nhà sư Phật giáo và tín
đồ đạo Phật đã đến Trung Quốc nên biết được đạo Phật.
Nhưng Lễ Vu Lan bắt
đầu tổ chức ở Trung Quốc từ năm nào thì không có ghi lại chính xác, chỉ
tìm thấy trong "Phật Tổ Thống Chí" ghi Lễ Vu Lan rằm tháng 7 âm
lịch năm 538 TL, vua Lương Võ Đế cùng hoàng tộc đến cúng dường và dự lễ
tại Đông Đài Tự. Lễ Vu Lan năm 766 TL dưới triều Đường Thái Tôn có ghi rõ
trong "Thích Thị ký cổ" ngày Vu Lan có lễ rước kiệu Phật vào đại
nội, nhà vua cho đem trưng bày Ngọc Xá lợi Phật tại Quảng An Môn để dân
chúng lễ bái chiêm ngưỡng. Những năm tiếp sau đó ngoài việc các chùa làm
lễ trai đàn chẩn tế. Trước cúng Phật sau cúng cầu siêu độ cho cha mẹ tổ
tiên bổn đạo, cầu siêu các vong hồn đã chết vì loạn lạc chiến tranh, chết
không có con cái thờ tự, chết vì nghèo đói, tai nạn, các vong hồn ở các
cõi địa ngục, ngạ quỷ. Các tư gia cũng làm cơm chay cúng ông bà trong nhà,
cúng vong hồn ngoài trời. Các chùa lớn còn tổ chức trưng bày các bảo vật
thờ tự, di tích của Đức Phật như: Ngọc Xá lợi, răng, tóc, móng tay Phật,
đựng trong các bình ngọc, bình đá, tảng đá khắc chân Phật, các bổn kinh
chép bằng chữ Sanskrist, chữ Pali khắc trên đá, trên gỗ, trên lá bối, lá
cót… đem về từ Ấn Độ. Đồng thời nhà chùa còn khuyến khích các gia đình
giàu có tham gia cuộc triển lãm bằng cách đem đến trưng bày các báu vật
trân châu dị bảo của riêng, cho khách thập phương xa gần đến thưởng ngoạn.
Vì vậy mà mọi người
tấp nập đi dự, khách xa đến dựng lều bạt ở trên đất chùa và tổ chức các
buổi ca vũ, hát tuồng, trổ tài thi phú, thi đua tài nấu nướng các món chay
để cúng dường Phật, Tăng, cúng ông bà tổ tiên và sau đó thiết đãi nhau ăn
uống vui chơi. Từ đó mà có ý nghĩa thiêng liêng "Đại Hội Vu Lan Báo
Hiếu" cùng xá tội vong nhân, trở thành một lễ hội, một tập tục ăn sâu
vào lòng người, một lễ hội lớn rất quan trọng trong nền văn minh của Trung
Hoa và các nước Á Đông: Hàn Quốc, Nhật Bổn, Đài Loan, thời kỳ này gọi là
thời kỳ "Thịnh Đường", đạo Phật trở nên cực kỳ hưng thịnh.
Đối với Trung Quốc
và cả các nước Đông Á, Phật giáo là một Tôn giáo ngoại lai từ Ấn Độ, nhưng
Phật giáo Đại thừa đã hoàn toàn chuyển hóa thành một Tôn giáo Á Đông. Nghi
lễ của Phật giáo đã hài hòa với nghệ thuật, Phật giáo chuyển mình tạo thêm
phẩm chất thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật thuộc về cái đẹp của thiên nhiên và
tâm hồn, sự hành thiện của cuộc đời đều được Phật giáo coi trọng, khiến
hấp dẫn của Phật giáo trong dân gian tăng lêm mạnh mẽ, hòa nhập chuyển
biến lần thành ra một Tôn giáo ăn sâu vào lòng người và coi như Tôn giáo
đặc thù của người bản địa.
Tại sao gọi là
"Lễ Vu Lan", nguyên là chữ "Vu Lan Bồn", phiên âm từ
"ura-bon-e" xuất xứ từ tiếng Phạn Sanskrit "ullambana" đọc gọn
của chữ "avalambana", có nghĩa là treo ngược chân lên trời, đầu
xuống đất, một hình phạt nặng nề, đau khổ của các tội đồ, người Trung Hoa
dịch là "đảo huyền", tức là cứu cái khổ như bị treo ngược. Lễ
"Vu Lan Bồn" gọi tắt là "Vu Lan" ngày nay. Người ta thường dùng
chữ "Vu Lan Báo Hiếu" để gọi việc cầu nguyện cứu giúp báo hiếu cho
cha mẹ tổ tiên và mọi vong linh. Theo Đại sư Tông Mật, khi viết quyển luận
về "Vu Lan Bồn Kinh", ngài đưa ra một nhận định khác, chữ
"ullam" không hẳn là tiếng Phạn, mà cái từ này gốc ở các nước Trung Bộ
Á Châu, trên con đường tơ lụa ngày xưa từ Âu Châu qua Trung Đông rồi đi
lần qua bờ biển Trung Quốc, Phật giáo trên đường hoằng dương Phật pháp
trên đường qua vùng này mà có tên là "ullam" có thể hiểu và có thể
dịch là "đảo huyền", chữ "bana" dịch là chữ "bồn", có
nghĩa là con thuyền, tấm ván, tấm bè, cái khay, hay cái chậu đựng thức ăn.
Vậy toàn bộ chữ "ullambana" dịch sang chữ Hán, phải hiểu là "Cứu
giúp một con thuyền bị lật ngược", hay là "quay lại cho ngay một
tấm bè, cái khay, cái chậu bị lật ngược" cũng có nghĩa là "cái khay
đựng thức ăn". Vậy nên trong bản kinh "ullamba Sutra" (Vu Lan
Bồn Kinh) ngài Tông Mật giải thích lời Đức Phật dạy: Muốn báo hiếu chuộc
tội cho cha mẹ, phải thành tâm "dâng đầy khay thức ăn uống và hương hoa
phẩm vật" cúng dường Chư Tăng mười phương câu hội xin giúp lời cầu
nguyện cho Tổ tiên được siêu thoát.
Có người đặt nghi
vấn không hiểu Lễ Vu Lan có từ Ấn Độ hay xuất khởi tại Trung Hoa, hay lễ
Vu Lan chỉ là một sản phẩm do nhu cầu hoằng dương đạo Phật lúc đạo Phật
vào Trung Hoa? Tại sao các quốc gia theo Phật giáo Nguyên Thủy (Théravada)
không thấy thiết lễ Vu Lan? Ngày lễ Tự Tứ tức giải hạ của Phật giáo Nguyên
Thủy không phải ngày rằm tháng 7, nhưng trong kinh Vu Lan Bồn ghi ngày rằm
tháng 7.
Căn cứ theo tài liệu
về thư mục của kinh điển Phật giáo do Đại sư Bunyo Nanjio soạn thảo
Catalogue Chinese Translation of The Buddhist Tripitaka, Oxford 1883, Kinh
Ullambana Sutra được ghi là đã chép qua văn tự dưới thời Phật giáo Nguyên
Thủy, sau được dịch qua Hán ngữ. Trong đại tập "Pháp Uyển Châu Lâm"
có bản "Kinh Báo Ân Phụ Mẫu" không đề tên người dịch. Theo các dữ
kiện trên, xin kết luận Kinh Vu Lan Bồn nhất định đã được Phật thuyết vào
thời kỳ nguyên thủy. Nhưng vì nhu cầu hoằng pháp lợi sinh phải thích ứng
vào bản tính chuộng thiết thực của người Trung Hoa mà một số chi tiết đã
được thay đổi khi phiên dịch cho phù hợp quốc độ, đó cũng là giải pháp
phương tiện của Pháp sư Amoghavajra và các Đại sư thời ấy để dễ dàng hoằng
pháp lợi sanh.
--- o0o ---
Nguồn: Nội san Vu Lan (Khánh
Hòa)
Cập nhật ngày: 01-08-2005