Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ... .

 

 

Pháp Bảo 69 -  Phật Lịch 2548

Ấn hành ngày 25-08-2004

148-154 Edensor Rd, St. Johns Park, NSW 2176. Australia

Tel: (02) 9610 5452.Fax: (02) 9823 8748.Email:chuaphapbao@yahoo.com.au

--- o0o ---

 

Trong số này 

- Lá thư Vu Lan Ban Biên Tập

- Chương trình đại lễ Vu Lan. Ban Tổ chức

- Thông bạch Vu Lan, PL 2548. H.T Thích Như Huệ  

- Huấn từ của Ðức Tăng Thống. H.T Thích Huyền Quang

- Tìm hiểu tập quán cúng cô hồn. Trần Trọng Khoái 

- Thơ: Bình linh dược...  Thích Thiện Hữu

- Mùa thương. HT Thích Huyền Tôn 

- Ni buồn Vu Lan (thơ). Tâm Huệ 

- Nghệ thuật sống. Thích Nguyên Tạng dịch 

- Bài thơ kính dâng.Gia Hiếu 

- Vu Lan về tình thương mở rộng .Minh Ðăng

- Thơ: Suối Nguồn Quảng Từ Vân

- Diện mục Thích Bảo Lạc

- Kinh tế Phật Giáo Quán Như Phạm Văn Minh 

- Biến cố Pháp Hoa (thơ) Sông Thu

- Truyện Ðại HT Giám Chân. Thích Như Ðiển dịch 

- Cuộc du hành sang Lạp tát HT Thích Trí Chơn phỏng dịch

- Pháp âm mầu nhiệm T.Phổ Huân 

- Thơ: Bóng hình cha... Mặc Giang

- Thơ: Tâm Hiếu.Giác Trí   

- Ðối thoại thiền. Giai Không 

- Thức thứ tám. TS Lâm Như Tạng 

- Nhạc: Màu Y Vàng Lời Thích Bảo Lạc

- Truyện Tế Công Thích Bảo Lạc dịch  

- Ý nghĩa cầu siêu và ngày giỗ kỵ. Giác Duyên

- Tin sinh hoạt

 

 

Lá thư Vu Lan  ^

Mùa Vu Lan diễn ra sau lễ mãn hạ của Chư Tăng Ni, sau nhiều ngày thúc liễm thân tâm trau dồi giới định huệ theo truyền thống cố hữu đức Phật dạy từ ngàn xưa. Ðây là thời điểm quan trọng đối với Tăng đoàn để trưởng dưỡng đạo tâm, rèn nội lực và thể hiện trọn vẹn đại từ bi tâm. Tại sao phải cần an trú tại một trú xứ người xuất gia mới thực hiện tâm hạnh cao quý, siêu xuất thế gian, lợi lạc hữu tình như thế ?

Tâm chúng sanh cũng như nước chưa được lóng lọc sạch nên cần phải để lắng yên không bị sóng gió làm khuấy động, mới có nước thanh lương thơm sạch trong mát được. Mùa Vu Lan đối với người con Phật nói chung thể hiện ba tâm hạnh thiết thực cao quý:

1- Ðại từ bi tâm: tôn trọng sự sống mọi loài, người thực hành hạnh xuất thế không đi lại nhiều làm giẫm đạp chết loài côn trùng sâu bọ vào mùa chúng sanh nở (mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm), nên Tăng đoàn câu hội vào một nơi tịnh tu là thể hiện đại bi tâm đối với muôn loài vạn vật. Riêng đối với người Phật tử tại gia nên cố gắng làm việc tự thiện xã hội, giúp đỡ những kẽ đói nghèo, bịnh hoạn, khổ nạn v.v...

2- Thanh tịnh tâm: nhân giữ giới sanh định, nhân định phát huệ. Sự nghiệp của người học đạo xuất thế là trí tuệ (duy tuệ thị nghiệp) duy nhứt để nuôi dưỡng Bồ Ðề tâm và hộ trì 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) cũng như gìn giữ ba nghiệp: thân – khâủu  - tâm (ý) thanh tịnh. Người Phật tử còn bận buộc gia đình sinh kế nên hướng về Tam Bảo tụng kinh Vu Lan, Báo Ân phụ mẫu cầu cho cha mẹ hiện tại được an lạc, biết tu tâm dưỡng tánh, làm lành lánh giữ; cũng như lục thân quyến thuộc trên dưới thuận hòa hiếu kính trong mái ấm tình thương của gia đình có tôn thống kỷ cương. Ðồng thời cầu siêu cho tổ tiên, ông bà cha mẹ quá cố nhiều đời được nương nhờ thần lực Tam Bảo mà thoát ly ba đường khổ: Ðịa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

3- Hiếu tâm: hay nói cho đủ là, hiếu kính tâm, tức là lòng hiếu thảo của con cháu với bậc sanh thành dưỡng dục cho ta nên người. Bằng thái độ nhã nhặn, ân cần, thăm hỏi cha mẹ! Nói lời thân thương trìu mến làm cho các bậc phụ mẫu ấm lòng, thấy có được niềm an ũi vô biên và nghĩ rằng các con còn biết nhớ nghĩ đến ân đức sanh thành mà vui với tuổi già với con cháu và mái ấm gia đình. Hiếu đạo của người xuất gia là tu cho trọn vẹn để làm rạng rỡ tông môn giòng họ. Hiếu kính của người Phật tử phải luôn luôn nỗ lực hành trì tu niệm để xứng đáng là người Phật tử chân chánh và là đệ tử Tam Bảo.

Ngưỡng nguyện hồng từ của chư Phật gia bị bốn chúng đệ tử noi theo hạnh hiếu của đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni Phật bày tỏ lòng thành đối với phụ vương và hoàng tộc, dốc chí tu niệm thành đạo chánh quả; chúng con quyết không lui sụt bồ đề tâm, tu tập thiện pháp, để đền đáp bốn ân trong muôn một.

  Ban Biên Tập Pháp Bảo
 

Chương trình đại lễ Vu Lan, PL.2548 ^

 

Chủ nhật 29/8/2004 (14 tháng 7 Giáp Thìn) tại chùa Pháp Bảo

 

9.30 giờ  - Quý đồng hương và Phật tử tề tựu

10.25 - Thỉnh 3 hồi chuông trống Bát Nhã - Chư tăng ni quang lâm lễ đài.

10.30 - Lễ chào cờ

- Phút nhập từ bi quán

- Giới thiệu thành phần tham dự

- Diễn văn khai mạc (Trưởng Ban Tổ Chức) ÑÑ Thích Phoå HuÂn

- Ðạo từ Vu Lan (TT Giáo Hội Trưởng)

- Vũ dâng hoa và gắn hoa hồng (GÐPT PB)

- Lễ niệm hương

- Khóa lễ Kinh Vu Lan (tất cả đồng tụng)

- Cúng ngọ

12.00  - Thuyết pháp

           - Cúng tiến chư hương linh thờ tại chùa

12.30  - Lễ cúng dường trai tăng

- Phật tử thọ trai

- Văn nghệ

13.30  - Lễ truyền Tam Quy Ngũ giới

(Quý Phật tử đã ghi danh xin có mặt tại chánh điện lúc 13.20 giờ để thọ giới)

 - Cúng thí thực cô hồn

17.00 - Hoàn mãn. 

**  Ghi chú:

1/ Muốn cầu nguyện thân quyến xin quý vị gởi danh sách về chùa trước ngày đại lễ

2/ Quý vị muốn quy y Tam Bảo xin hoan hỷ liên lạc về chùa ghi danh trước để tiện lập pháp phái.

Số điện thoại chùa Pháp Bảo : (02) 9610 5452.

 

 

 

Tìm hiểu tập quán cúng cô hồn hay là Mông Sơn Thí Thực ^

 

Trần Trọng Khoái 

 

Khi xem chương trình Ðại Lễ Vu Lan phần cúng Mông Sơn Thí Thực, nhiều em trong gia đình Phật tử luận bàn với nhau, rồi đưa một em hỏi chúng tôi về xuất xứ và xin giảng giải về điển tích “Mông Sơn”, bởi lẽ người hay đi Chùa chỉ nghe nói cúng Mông Sơn, đương nhiên họ đã tạm hiểu rồi, nhưng sao người ta không nói cúng. Tịnh Thủy để thêm ý nghĩa thanh đạm tự nhiên, hay nói “cúng thí” như ngày xưa cho dễ hiểu, mà phải dùng từ lạ lạ thêm phiền? Xin bác vui lòng giải thích cho và xin nhận ở đây lời chân thành biết ơn của chúng cháu.

Nhớ lại năm xưa tôi viết về Giai Tiết Vu Lan, có sơ lược về cúng Âm Linh Cô Hồn, tác tạo phước duyên, cầu âm siêu dương thái, tìm hồ sơ lưu và đọc thêm các tài liệu ngoài đời, chúng tôi viết bài bổ túc về hậu Vu Lan để cống hiến chư Ðồng Hương, Ðồng Ðạo thưởng lãm, đồng thời đáp ứng nhu cầu học hỏi của giới trẻ rất ngộ nghĩnh kỳ thú, nhưng hàng phụ huynh lắm lúc ít quan tâm.

Theo nghi lễ Á Ðông, khi chiến cuộc kết thúc, kẻ được ca khúc khải hoàn thường tế lễ các bậc anh hùng đã xả thân vì quốc gia dân tộc, truy niệm các chiến sĩ trận vọng và đồng bào tử nạn, chẳng hạn như Vua Quang Trung đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789) đã hạ chiếu làm lễ tưởng niệm các chiến sĩ hữu công và tiến cúng cô hồn  kể cả mấy vạn quân Thanh đã thành ra oan hồn uổng tử. Vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà cũng thiết đàn tràng siêu độ cho quan quân tử sĩ và những oan hồn vì chiến cuộc do ông Nguyễn Văn Thành giữ chức tổng Trấn Bắc Thành soạn bài văn tế Tướng Sĩ Trận Vong và Cô Hồn Thập Loại bằng quốc âm là một áng văn kiệt tác trong nền quốc văn cận đại (1802).

Bộ Lễ Nghi của tiền triều cũng có phần tế cô hồn vào tiết tháng 7 mà những áng văn của các danh nhân biên soạn như Phan Huy Ích nguyên là sứ thần của Tây Sơn sang thăm xã giao, đã xướng họa thi văn với vua Càn Long, được Thanh Triều trọng vọng. Lúc về nước ông được gia phong Thượng Ðại Phu Thị Trung Ngự Sử, hay cụ Nguyễn Du, tác giả tập Ðoạn Trường Tân Thanh còn lưu lại Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh bằng chữ Nôm, được tìm thấy ở Chùa Hưng Phúc, xã Luân Lôi, huyện Võ Giang, tỉnh Bắc Ninh, sau này được in trong quyển “Ứng Phó dư biên tổng tập”.

Cụ Lê Thước cũng tìm được một bản nôm khác của soạn giả Nguyễn Tiên Ðiền ở chùa Diệc miền Bắc Nghệ An, cụ phiên âm sang quốc ngữ và ấn hành vào năm 1924. Năm 1926 Trần Trung Viên cho in vào tập I, trong Văn Ðàn Bảo Giám và năm 1927 lại xuất hiện trên Nam Phong Tạp Chí số 178, Tạo Chí Văn Học số 2 năm 1977 cũng đăng lại bản hiệu đính của cụ Hoàng Xuân Hãn với 8 câu đầu:

“Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,

Gió heo may lạnh buốt xương khô

Não người thay bấy chiều thu

Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng

Ðường bạch dương bóng chiều man mác,

Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

Lòng nào lòng chẳng thiết tha

Cõi dương còn thế, nữa là cõi âm!

Chư độc giả đồng hương muốn rõ Thâp Loại Cô Hồn là những ai, xin vui lòng đọc tiếp:

“Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Chút khôn thiêng phảng phất u minh,

Thương thay Thập Loại Chúng Sinh,

Hồn đơn phác chiếc lênh đênh quê người,

Hương khói đã không nơi nương tựa,

Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,

Còn chi ai khá, ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền, người ngu.”

“Thế sự nhược đại mộng”, khi thăng hoa, lúc thất bại đôi khi cũng cận kề, có ai ngờ nhà văn Phan Huy Ích, một danh sĩ lỗi lạc được trích dẫn vừa rồi và em vợ là Ngô Thời Nhiệm, nhà văn học lẫy lừng, nhà chính khách có biệt tài và nhiều sáng tạo, cả hai đều thi đỗ Tiến Sĩ từ lúc tuổi Xuân, vang danh một thuở, nhưng chung cuộc với cái chết lạnh lùng đơn bạch của hai ông khác gì sự ra đi âm thầm của vị cựu Thủ tướng tài ba Phan Huy Quát tại Sàigòn năm 1979!

Người nằm xuống, thì người còn lại phải khói hương truy niệm, nhất là nhờ uy đức của Tam Bảo giải oan bạt độ cho Hương Linh được cao siêu tịnh giới, chứ phẩm vật tiến cúng chỉ là ý niệm của thế nhân, tưởng không cần thiết lắm, nên soạn giả viết tiếp:

“Tiết đầu Thu lập đàn giải thoát,

Nước Tịnh Bình rưới hạt Dương Chi,

Muốn nhờ đức Phật từ bi,

Giải oan cứu khổ, hồn về Tây Phương”

Trước đây từ phố thị đến thôn trang, đâu đâu cũng thấy có “đàn âm linh” hay “am chúng sanh”, nơi tương đối hoang vu tịch mịch hoặc tại các vùng mộ địa tha ma, với tập tục hằng năm nhân dân địa phương chọn ngày thuận tiện để cùng nhau sửa chạp những mồ vô chủ và tiến cúng âm hồn. Sau phần cúng vái thì bánh quà, phẩm vật...dành cho người nghèo khó neo đơn, hay các trẻ em được tự do chung hưởng.

Nhiều nơi, nhiều vùng được quân dân dấy nghĩa chống xâm lăng, nhưng việc không thành, có người tuẫn tiết, hay nhiều kẻ vong thân! Do sự kính ngưỡng tôn vinh người hy sinh vì đại nghĩa, nên nhân dân khói hương tưởng nhớ, sau cúng vái quân binh các ngài, thành ra mỹ tục từng địa phương, như tại vùng Chợ Lớn, Tân An, Gò Công, Cần Giuộc, rộng ra là 6 tỉnh Nam Kỳ có tục lệ truy niệm vị anh hùng chống Pháp Trương Công Ðịnh và các nghĩa quân của ông vào mùa ông đền nợ nước năm 1864. Trong thơ ai điếu Trương Tướng Quân, cụ Ðồ Chiểu viết:

“Trăm nấm mộ binh, vầy lớn nhỏ,

Một gò cô lũy, chống hôm mai!

Rồi cụ kết luận:

Hay dở phải chăng trời đất biết?

Một tay chống đỡ mấy năm dài?

Nhà văn Nguyễn Ðình Chiểu, bậc lão thành trung dũng còn lưu lại mấy bài văn tế nổi tiếng như “Văn Tế Sĩ Dân Lục Tỉnh” và “Văn Tế Vong Hồn Mộ Nghĩa”.

Cùng một ý nghĩa trên, tại vùng Kiên Giang, Rạch Giá có tập tục truy niệm ông Nguyễn Trung Trực và quân binh tử sĩ, đồng bào nạn vong gần thập niên 1861 – 1868 trong phong trào anh dũng chống Pháp của nhà chiến sĩ ái quốc Kiên Giang, đã hy sinh tại Rạch Giá. Mỹ tục này đã lan ra hải ngoại, nơi có đông người Kiên Giang – Rạch Giá định cư.

* Ðặc biệt ở Thừa Thiên – Huế sau khi vua Tự Ðức băng hà, trong triều có phe “chủ hòa” với nhiều quan lại và nhóm hoàng thân quốc thích muốn cầu an thụ hưởng, ngược lại nhóm “chủ chiến” do vị Phụ chính đại thần kiêm Binh Bộ Thượng Thư Tôn  Thất Thuyết cầm đầu, ông lo huấn luyện quân binh, thành lập đội quân “đoàn kết” & “phấn nghĩa” trong Hoàng thành, lập Tân Sở ở Quảng Trị làm hậu cứ chống Pháp. Thực dân Pháp ngày càng gây áp lực với Nam Triều. Khi Trung tướng De Courcy vào Hoàng thành, đòi mở cửa Ngọ Môn cho quan Pháp cùng vào là điều nhục quốc thể, buộc lòng ông Tôn Thất Thuyết tạo ra cuộc binh biến chống Pháp lúc giờ Tý ngày 23/5 năm Ất Dậu (05/7/1885). Ðại sự bất thành, Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở, rồi tiến về Hà Tĩnh xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn dân chống Pháp.

Cuộc hưng binh chống Pháp đền nợ non sông của vua Hàm Nghi, ông Tôn Thất Thuyết và quân chủ chiến có chính nghĩa, nên được nhiều nhân sĩ khắp nơi hưởng ứng. Thường những cuộc chiến chinh đương nhiên phải đổ máu, phần đông là lương dân lúc bấy giờ nghe tiếng súng ỳ ầm với việc động binh là mạnh ai nấy chạy không cần biết đường lối nào cả, nhất là khi quân Pháp vào Hoàng thành càn quét thanh toán, lại gây ra chuyện tổn thương nhân mạng không sao kể xiết!

Từ đó về sau, nhân dân Thừa Thiên – Huế có tập tục cúng Cô Hồn Tử Sĩ, kỷ niệm ngày “Kinh thành thất trận Ất Dậu niên gian”, ở Huế có rất nhiều văn tế của giới trí thức và những bài vè trường thiên khích lệ tinh thần chống Pháp rất tâm ly tha thiết, nên nhiều người đã thuộc lòng.

Ai cũng nghĩ rằng cô hồn vất vưởng nên cần các thức ăn, đồ mặc, tiền bạc để chi tiêu... tạo ra tập tục đốt vàng mã, áo giấy tốn kém khá nhiều. Lúc Phật Giáo chấn hưng, chùa chiền không cần đồ giấy cúng vong linh nừa, nên nhiều nơi đã thay vì chi tiền mua vàng mã cúng đốt vu vơ, để mua ít vải vóc, gạo bánh hay vật dụng  phân cấp cho các bạn nghèo với dụng ý là cầu “âm dương đều lợi lạc”.

Luận bàn về việc tế tự người đã khuất, tưởng không nên nặng về “sự việc” tức là chuộng hình thức, rồi sinh ra tập tục cúng bái dị đoan mà chỉ xét về “ý nghĩa”, lấy tinh thần làm căn bản là hơn. Nói rộng ra, chẳng những người Phật tử thường tỏ lòng hiếu kính với nội ngoại tôn thân, nếu có thể được họ còn thể hiện hạnh từ ái, vị tha, giúp đỡ được chút gì cho các đồng hương, đồng loại là thiết thực. Qua truyền thống Vu Lan, người Á đông còn ghi ân các chiến sĩ trận vong, truy niệm đồng bào tử nạn, tiến cúng Thập Loại Cô Hồn như đã nói trên, tốt nhất là phần nguyện cầu để chuyển nghiệp cho nhau, do đó phẩm vật tiến cúng Âm Linh rất đạm bạc, giản đơn, nói chung là không cần mỹ vị cao lương cho khó kiếm, mà chỉ dùng hương hoa trà quả, thêm xôi chè bánh mứt, ít cháo hoa, chén cơm trắng, tượng trưng về trai phạn nhà chùa là tốt. Việc thiết cúng Mông Sơn hay chẩn tế cô hồn với hậu ý bày tỏ chân tình với đồng loại, chứ người đã khuất bóng, thì ngũ uẩn tuồng như mất hết! Thân uẩn tức là sắc tướng không còn, thì có đâu lớn bé rộng hẹp mà ta lo may áo xống, sắm xe cộ gởi về cho hương linh? Suy ra, 3 uẩn tiếp theo tức là thọ, tưởng, hành uẩn cũng không có, chỉ còn thức uẩn mịt mờ mênh mang, khiến cho linh hồn hay thần thức cảm nhận sự vui buồn, no đói hay thanh thoát, tủi hờn...là do nghiệp lực đã tạo ra từ lúc sinh tiền vậy thôi, chứ không thực hữu. Tỷ như ban ngày ta tiếp bà con từ xa đến, ăn uống vui vẻ, chuyện vãng thân thương... sự việc ấy lắng đọng trong tiềm thức, khi gặp thuận duyên có thể tái phát trong giấc mơ với đầy đủ chương trình thứ lớp, nào là tiếp khách trong phòng sang trọng, nhận tặng phẩm đẹp, mừng vui được ăn ngon, uống trà thơm...

Trong cơn mộng đẹp đó, nếu có tiếng động mạnh làm ta thức giấc, thử hỏi có còn gì chẳng? Tất cả đều không thực hữu, chỉ còn chút thức uẩn cảm nhận lờ mờ, vì vậy mà có giấc mơ ta còn nhớ lâu, vài chuyện không cần thiết sẽ quên luôn. Nói cách đơn giản thì hương linh cũng vậy thôi, nếu sinh thời không gây nghiệp sát sinh, thì thần thức hòa ái tự nhiên. Không bỏn xẻn hay tham lam tiền tài vật thực, thì thức uẩn rất bình thản về vật chất. Sinh thời không tỵ hiềm, đố kỵ thì linh hồn luôn hỷ xả thanh cao. Bởi lẽ đó nên nói chung việc tiến cúng người đã khuất, cần thể hiện lòng thành khẩn cầu nguyện, để chư Hương Linh cởi bỏ phàm tâm thâm nhập Phật tánh, như kẻ lầm đường lạc lối được thiện hữu dẫn dắt đưa về hướng quang minh thật là hợp lý.

Việc siêu độ cô hồn có thể phát xuất từ đời nhà Ðường bên Trung Quốc, khi ngài Huyền Trang trở về sau chuyến Tây Du, lập đàn siêu độ cho tứ sanh đang luân hồi trong lục đạo. Qua đời Tống, ngài Bất Khinh Tam Tạng chuyên tu Mật Giáo ở Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, quán biết các cô hồn đang vất vưởng, đòi hỏi những nhu cầu cần thiết, nên Ngài vận dụng Pháp lực để cung ứng và siêu độ cho họ.

Việc cúng Mông Sơn thí thực tại Chùa hay bạt độ chẩn tế cô hồn có thể khởi đầu từ đời nhà Tống tại Mông Sơn, Tứ Xuyên nên trong khoa nghi mệnh danh là “MÔNG SƠN THÍ THỰC”. Hiện nay ở các tự viện thường có bàn thờ đức Hộ Pháp Bồ Tát, ngụ ý là vọng bái các vị thiện thần, hàng phục tà ngụy, hộ trì chánh pháp lợi lạc sinh linh, đối diện với án thờ ngài Tiêu Diện Ðại Sĩ, thống lĩnh chư Âm linh Cô Hồn văn kinh thính pháp, thọ cam lộ vị vào mỗi buổi chiều là giờ ăn của ma quân ngạ quỹ hay là sau những tiết lễ long trọng có phần Mông Sơn Thí Thực trước khi hoàn mãn. Nhất là trong tiết Thu lá rụng mưa ngâu mùa rét lạnh đến... người ta dễ chạnh lòng tưởng nhớ đến các cô hồn còn phảng phất bên chân trời góc biển mù khơi mà lập đàn tiến bạt cầu siêu, với chân tâm thành ý:

“Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Người còn với kẻ khuất,

Ðều trọn thành Phật Ðạo.” 

Trân trọng,

TRẦN TRỌNG KHOÁI

 

 

Bình linh dược ^

 

Mẹ! Con gọi Mẹ thân thương ấm áp
Xĩa khổ đau trầm thống chốn trần gian
Dịu tâm con trong những lúc bất an
Hướng tất cả về đạo vàng vi diệu
Bao điều khuấy nhiễu
Lắm nỗi chơng gai
Năm tháng giờ ngày
Con cần bàn tay Mẹ.
Mẹ ban ân đức cứu sinh
Như thánh nữ Quan Âm với bình linh dược
Mỗi cử chỉ làm sao con quên được
Mẹ mất đi vắng dáng vẻ dịu hiền
Ánh
mắt Mẹ tỏa sáng khắp ba miền
Lời di huấn thiêng liêng cao cả.

Con giữ lịng con như Tịnh xá
Như chùa am nạm ngọc đất trời
Mẹ cho hoa trái cuộc đời
Cho tình tổ quốc cho lời quê hương
Cho con trọn nghĩa yêu thương
Cho con nghị lực trên đường tương lai!

 

MẸ MÃI TRONG CON

 

Mưa đêm nặng hạt lịng thêm nhớ
Nhìn khơng trung tang tĩc não nùng
Xin Mẹ về cho con khỏi nhớ nhung
Tâm quảng đại bao dung trời biển.

Con nhớ Mẹ nhớ lời thánh thiện
Như trăm hoa đua nở lúc xuân về
Khi con ở một phương trời lận đận
Mẹ chạnh lịng trăn trở về con
Bao buồn đau cho sức lực hao mịn
Dáng xuân sắc mơi son hồng phai nhạt.

Mẹ cĩ già tuổi xuân cĩ mất
Nhưng trong con mẹ mãi thanh xuân
Con là mẹ của một thời thiếu nữ!

 

Thích Thiện Hữu

 

Nỗi buồn Vu Lan ^

 

Tâm Huệ

Thắm thoát Vu Lan nữa lại về

Bao lần khắc khoải vọng tình quê

Bao lần thổn thức niềm thướng nhớ

Mái gia đình cách mấy sơn khê

 

Nhớ mái tóc Ba đã bạc màu

Nghiêm, từ,  độ lượng biết là bao !

Tình Cha cao cả mênh mông quá!

Từng nét cầm tay bước khởi đầu

 

Nhớ mẹ yêu thương rất đảm đang

Sầu lo vất vả đám con đàn

Nụ cười, nét mặt hiền hậu quá

Cười, khóc vì con không tiếng than!

 

Nhớ chị nhọc nhằn chức “trưởng nam”

Thương bầy em dại phải lo toan

Vẹn tròn tình nghĩa người hiền mẫu

Rừng học trò khóc giữa đám tang

 

Nhớ người anh rễ quá thuần lương

Tận tụy chan hòa quá thân thương

Bạn bè thương tiếc người thuần hậu

Mẹ già giọt lệ mãi vương vương

 

Tưởng vọng ngày vui dưới mái nhà

An hòa, đậm ấm mặc mưa xa

Gió táp không lay đời thanh đạm

Dốc lòng quy ngưỡng đấng Di Ðà

 

Ngày đi, đơn độc, lìa tổ ấm

Thăng trầm, tan hợp, cuộc bể dâu

Ðứa con bất hiếu ngày trở lại

Một cõi trời mây chất ngất sầu!

 

Làm sao nắm giữ giọt sương tan?

Làm sao níu giữ áng mây ngàn?

Làm sao ướp giữ làn gió thoảng?

Sao tắm hai lần giữa trường giang?

 

Ơi hởi đời ta, cuộc vô thường

Xin nương theo dòng suối thanh lương

Xin quỳ nương tựa vào Tam Bảo

Xin trả lại đời những vấn vương....

 

Phật tử Tâm Huệ

 

Bài thơ kính dâng ^

 

Nghĩa đất mẹ dạt dào trong tâm khảm

Tình quê cha chan chứa chốn tòng lâm

Hương từ bi ngan ngát ánh trăng rằm

Hồn sông núi theo từng câu sám nguyện

Nếp phạm hạnh một đời tu dâng hiến

Nguồn đạo thiên trăng bát nhã tròn gương

Bước chân như tỉnh mặc giữa vô thường

Dòng tuệ giác vun bồi ngôi Pháp Bảo

Trời đất khách rực vàng tươi ánh đạo

Kiếp tha phương thơm ngát nụ hoa đàm

Tiếng chuông chiều lan nhẹ chốn già lam

Nhịp mõ sớm trầm hùng trong tĩnh thức

Với hạnh nguyện một đời tu nhẫn nhục

Nối lời kinh câu tụng niệm nhu hòa

Giòng sông Thu man mác một nguồn thơ

Ươm mạch sống cho cây rừng xanh lá

Bao đợt sóng vẫn trùng dương biển cả

Ngàn mây trôi vẫn một mãn trời xanh

Cùng quy y chung một đấng cha lành

Phật đã ngự giữa một tòa sen báu

 

Kính chúc mừng

Hòa thượng Thích Bảo Lạc

Sydney 18.10.2003

Gia Hiếu & Thúy Ái

 

 

Minh Ðăng

Năm nay, vì có nhuần vào tháng 2 âm lịch cho nên Vu Lan về vào ngày 30 tháng 8 dương lịch, tức vào cuối mùa đông. Như vậy, trong gió lạnh đông tàn ở xứ Kangaroo ngàn năm thanh thản đã có tia nắng ấm đầu xuân, đón mừng ngày Vu Lan báo hiếu.

Nói đến Vu Lan thì chúng ta thường nghĩ đến mùa báo hiếu, tưởng nhớ và thương kính Ngài Mục Kiền Liên, rồi nguyện noi theo gương hiếu hạnh của Ngài để đền đáp công ơn dưỡng dục sanh thành của cha mẹ.

Thật ra, Vu Lan không phải chỉ nhắc nhở chúng ta về lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, Vu Lan còn chỉ dẫn cho chúng ta con đường cứu khổ, để đạt được tự do, để sống trong an lạc.

Trong từ “Vu Lan Bồn”, thì “Bồn” là cái chậu dùng để đựng thức ăn. Thức ăn này được đem cúng dường cho chư Tăng vào ngày rằm tháng bảy để cầu nguyện cho vong hồn những người chết khỏi phải đọa vào cảnh khổ. “Vu Lan” được dịch âm từ tiếng Sanscrit “Ullabana”, có nghĩa là “cứu nạn treo ngược” (cứu đảo huyền). Ðược biết, những người làm điều ác, sau khi chết bị đọa vào địa ngục, chịu đựng nhiều hình phạt vô cùng đau đớn trong đó có khổ hình là bị treo ngược. Như vậy, vấn đề trọng yếu là cứu nạn treo ngược, là làm thế nào để được giải thoát, để sống tự do.

Trong mùa Vu Lan năm nay – PL 2548 – với niềm hân hoan của người con Phật, chúng tôi xin được hầu chuyện cùng các bạn qua những tiết mục sau đây:

- Vu Lan đối với người Việt Nam

- Lòng hiếu thảo của Trưởng Lão Xá Lợi Phất

-  Lòng hiếu thảo của Thái tử Sĩ Ðạt Ta

- Một ít tâm tình nhân mùa Vu Lan.

 

I. VU LAN ÐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM 

Hoàn cảnh đau thương của quê hương đất nước khiến cho người Việt Nam – nhứt là người Phật tử Việt Nam – hiểu rõ cái ý nghĩa thâm trầm của Vu Lan.

Thật vậy, trong hoang tàn đổ nát, trong tang tóc điêu linh của ba mươi năm khói lửa, quê hương ta có không biết bao nhiêu cha mẹ mất con, vợ mất chồng, con mồ côi cha mẹ. Giờ đây, với 80 triệu đồng bào trong nước và ngót hai triệu đồng bào hải ngoại, chúng ta lâm vào cảnh cha mẹ một nơi, con một ngả, đau buồn thổn thức trong cảnh tử biệt sanh ly.

Từ thưở xa xưa, ở thôn quê hẻo lánh Việt Nam, có những cô thôn nữ, sau khi về nhà chồng, chiều chiều nhớ mẹ, cất tiếng hát rất hay, gây nhiều  cảm xúc:

“Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Ngó về quê mẹ, chín chiều ruột đau.

Chiều chiều ra đứng cửa sau

Ngó về quê mẹ, ruột đau chín chiều”

Trong bốn câu lục bát này, câu thứ nhứt và câu thư tư kết thúc bằng chữ “chiều”, tức cùng một vần với nhau. Do đó, bài thơ trở thành “liên hoàn”, nghĩa là có thể đọc hết câu thứ tư rồi đọc lại câu thứ nhứt và đọc hoài trong cái luân hồi của những buổi chiều rưng rức nhớ nhung, lai rai sầu khổ.

Các cô gái Việt Nam còn có những câu hát mộc mạc dễ thương:

“Cắc kè đẻ bộng cây cuôi

Cúi đầu lạy mẹ làm suôi cho gần”

Làm suôi cho gần vì lòng hiếu thảo, không muốn xa mẹ, nhớ mẹ lúc chiều chiều, hay là làm suôi cho gần vì đã say mê chàng trai lối xóm, hay là nhứt cử lưỡng tiện: con lấy chồng gần, mẹ khỏi xa con.

Mẹ khỏi xa con, con được gần mẹ là vấn đề vô cùng quan trọng từ thưở xa xưa, cho nên có những bà mẹ hiền đưa mắt nhìn xa xa rồi cất tiếng hát nỉ non:

“Có con mà gả chồng gần

Có bát  canh cần nó cũng đem cho

Hoài con mà gả chồng xa

Một là mất giỗ, hai là mất con.”

(Hoài con: nhớ và thương con)

Oâi! Bát canh cần của tấm lòng hiếu thảo nó ấm áp làm sao cho lòng cha mẹ, nó tươi mát làm sao cho kẻ làm con. Trái lại, nếu thương con, nhớ con mà gả chồng xa thì tràn trề đau khổ trong tử biệt sanh ly: mất giỗ là lẽ thường, mất con cũng dễ ợt, vì ở thời xa xưa, phương tiện di chuyển rất là khó khăn, mà mình lại thương “nó” quá,  năm sáu núi cũng trèo, bảy tám sông cũng lội, chín mười đèo cũng qua, thì làm sao mà mình không khổ, làm sao mẹ mình không khổ?

Ngày nay, hai triệu người Việt hải ngoại, rải rác khắp nơi, tuy có thần túc thông (phi cơ) tuy có thiên nhĩ  thông (mobile phone), nhưng vì chạy theo vật chất nên vẫn khổ dài dài, có khi còn khổ hơn các cô thôn nữ ở cái thời xa xưa cổ lổ xỉ, vì ngày nay sống trong xã hội xô bồ, chỉ tiếp xúc với những cái ồn ào náo nhiệt, mà không nghe được cái tiếng “chiều chiều” rỉ rã của con chim vịt dễ thương. Rốt cuộc rồi cũng đau đớn tràn trề trong sanh ly tử biệt.

Các bạn ơi, người con Phật thấy rõ hơn ai hết cái sanh ly tử biệt này, cho nên tu học tinh chuyên, tu học bằng tình thương trong hiện pháp lạc trú.

 

II. LÒNG HIẾU THẢO CỦA NGÀI XÁ LỢI PHẤT

Ngài Trưởng lão Xá Lợi Phất đã thể hiện lòng hiếu thảo bằng tình thương bao la, bằng tâm an nhiên tự tại, trong một hoàn cảnh rất khó mà tự tại.

Ngài Xá Lợi Phất có ba người anh và ba chị em gái. Cả bảy anh chị em đều xuất gia và là đệ tử của Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Cả bảy anh chị em đều đắc quả A La Hán. Nhưng bà mẹ của Ngài Xá Lợi Phất vì trung thành với đạo Bà La Môn, nên chẳng những không có thiện cảm với Phật Giáo, mà trái lại, còn thù ghét Phật Giáo.

Có lần, nhân tiện đi ngang qua làng Nalaka, trong lúc Khất thực cùng tăng chúng, Ngài Xá Lợi Phất ghé thăm mẹ.Người mẹ vì thương Ngài quá, nên giận Ngài lắm. Bà giận lắm vì con bà không chịu ở nhà hưởng sự giàu sang, mà lại đi làm một thầy tu để phải đi khất thực, rày đây mai đó. Thương nhiều, giận lắm, bà không giữ được bình tĩnh, nên khi bố thí thức ăn cho con, bà đã nói những lời rất khiếm nhã. Cơn giận bà không nguôi, bà quơ đũa cả nắm, cho nên khi bố thí thức ăn cho các vị tăng cùng đi khất thực với Ngài Xá Lợi Phất, bà kết án nặng nề các vị này: “... theo cái nhóm bắt thằng con trai của tôi đi làm tôi mọi...”

Bị người mẹ thân thương sỉ nhục trước Tăng chúng và chứng kiến cảnh mẹ mình sị nhục trước Tăng chúng, Ngài Xá Lợi Phất chẳng nói lời nào, Ngài an nhiên tự tại, nhận thức ăn trong im lặng, ăn uống trong im lặng và trở về trong im lặng.

Ngài La Hầu La (con của Ðức Phật) vì trong lúc đi khất thực cùng Ngài Xá Lợi Phất cũng bị làm nhục, nên đem câu chuyện này thuật lại cho đức Phật nghe.

Ðức Phật đã khen ngợi Trưởng Lão Xá Lợi Phất giữa Tăng chúng. Trong lời khen có câu: “kẻ đã từ bỏ được sự nóng giận là người có thể làm tròn phận sự của mình một cách chánh đáng...”

Thật đúng như lời khen của đấng Từ Tôn, chính nhờ từ bỏ được sự nóng giận mà Ngài Xá Lợi Phất đã độ được mẹ của Ngài, trước khi Ngài nhập diệt. Tâm an nhiên tự tại của người con hiếu thảo đã chuyển hóa được lòng nóng giận, căm hờn của người mẹ đáng thương.

Nếu chúng ta nhìn sâu vào cái giận của mẹ Ngài Xá Lợi Phất, thì chúng ta thấy rõ đây là cái giận thường tình, vì thương mà giận. Thương mà giận vì thương mà không hiểu. Thương mà không hiểu thì đâu phải là tình thương đích thực. Mà không phải là tình thương đích thực nên mới giận.

Khi mới nhìn qua nghĩa cử báo hiếu cao đẹp của Ngài Xá Lợi Phất, thì ta nghĩ rằng Ngài đã hết sức nhẫn nhục vì người mẹ thương kính đã sỉ vả Ngài trước Tăng chúng, và nhứt là đã sỉ vả Tăng chúng trước mặt Ngài. Nhưng nếu ta nhìn sâu vào nghĩa cử cao đẹp này thì ta sẽ thấy rõ: Ngài đã an nhiên tự tại thì làm gì có nhẫn nhục nữa. Nhưng thật sự Ngài Xá Lợi Phất đã nhẫn nhục, mà không thấy nhẫn nhục, cho nên cái nhẫn nhục của Ngài viên mãn. Cái nhẫn nhục này là trí tuệ, là từ bi hỉ xả, là an nhiên tự tại.

Ðức Phật có dạy rằng: “chiến thắng muôn quân không bằng tự chiến thắng. Tự chiến thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất”.

Ngài Xá Lợi Phất đã đạt được cái chiến công oanh liệt nhứt: Ngài sống an nhiên tự tại và thật sự giúp cho chúng sanh sống an nhiên tự tại.

 

III. LÒNG HIẾU THẢO CỦA THÁI TỬ SĨ ÐẠT TA

Như chúng ta được biết, cái sung sướng nhứt của vua Tịnh Phạn là có được một quý tử khôi ngô tuấn tú, thông minh và tài đức không ai có thể sánh kịp, một Thái tử tuyệt vời sẽ lên ngôi Chuyển Luân Thánh Vương để trị vì thiên hạ. Nhưng nhà vua cũng có cái lo lắng ưu phiền làm cho Ngài điêu đứng, quên ăn mất ngủ, khi nghĩ rằng, với lòng từ bi và tuệ giác phát triển một cách phi thường, ngay từ lúc còn bé, Thái tử Sĩ Ðạt Ta rất  có thể từ bỏ ngai vàng để đi tu khổ hạnh ngỏ hầu tìm đường cưú độ chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử.

Về phần Thái tử Sĩ Ðạt Ta, Ngài sống trong cung vàng điện ngọc từ tấm bé cho đến cái tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống, được vua cha hết lòng chiều chuộng, bên cạnh vợ đẹp hiền ngoan và con trai dễ thương xinh xắn; ngoài ra còn rất nhiều cung phi mỹ nữ vô cùng quyến rũ trong cuộc sống vương giả phong lưu.

Thế rồi, việc phải đến đã đến. Thái tử Sĩ Ðạt Ta đã rời bỏ vương thành, đi vào rừng sâu để tu khổ hạnh. Ði tu như vậy, trong hoàn cảnh đơn thân nơi rừng sâu thăm thẳm (đơn thân, chớ không phải đơn thương độc mã, vì chỉ có hai bàn tay trắng, không có gươm đao, mà con ngựa Kiền Trắc thì đã giao cho Xa Nặc cỡi về Vương Xá), đi tu với hai bàn tay trắng, với ý chí kiên cường sắt đá, với lòng tưø bi thấm nhuận non sông, bỏ lại vua cha ở tuổi xế chiều với bao nhiêu khổ đau lo lắng, bỏ lại vợ hiền con thơ trong khuê phòng với trăm nhớ ngàn thương, bỏ lại vương thành với ngai vàng đang chờ đợi một bậc thiên tài xuaát chúng lên kế ngôi.

Ði tu như vậy thì làm sao mà báo hiếu, làm sao đền đáp công ơn  dưỡng dục sanh thành?

Ngoài ra, cũng nên nhớ rằng Hoàng hậu Ma Da mất sớm, chỉ sau khi Thái tử Sĩ Ðạt Ta đản sanh được bảy ngày. Thái tử được người dì ruột nuôi dưỡng. Mồ côi mẹ, dĩ nhiên Thái tử sống rất thân thích  và gần gũi vua cha.  Ơû tuổi thanh xuân, với tài sức vượt bực, với tình thương gia tộc vô biên, với ngôi báu đang chờ mà bỏ hết, rủ sạch hết để vào rừng sâu tu khổ hạnh.

Các bạn ơi, tôi đã ngừng lại câu chuyện vài ba phút, để cho lòng thành kính và niềm xúc cảm theo dòng lệ tuôn trào. Xin các bạn tha lỗi cho. Tôi vô cùng xúc động khi nghĩ đến cái khổ đau ray rức của vua cha Tịnh Phạn, của công chúa Da Du Ðà La cùng với cậu bé La Hầu La. Tôi đã quán tưởng hình ảnh Thái tử Sĩ Ðạt Ta lẻ loi, đơn độc trong đêm vắng rừng khuya.

Dẫu biết rằng Thái Tử Sĩ Ðạt Ta có ý chí kiên cường sắt đá, có sức khỏe vô song, có võ nghệ phi thường, tôi vẫn tự hỏi: làm sao mà có thể tu khổ hạnh trong cái thiên nan vạn nan nơi núi thẳm rừng sâu, trong đêm trường sương tuyết?

Nếu có bạn bảo rằng: “đường tu khó, không khó vì rừng sâu núi thẳm, mà khó vì lòng người e ngại núi thẳm rừng sâu”, thì chúng tôi xin thưa rằng: Oâng bạn ơi, xin chớ có mượn mỹ từ mà nha ûngọc phun châu, mà hí luận cho vui tình bằng hữu. “Bần đạo” này đã ơû vào cái tuổi “ngũ thập niên tiền, nhị thập tam” (năm mươi năm trước hăm ba tuổi – Nguyễn Công Trứ).

Giả thử “bần đạo” còn tráng kiện ở cái tuổi thanh xuân, mà phải ngồi tựa lưng vào gốc cây trong rừng khuya đêm vắng, trong sương tuyết lạnh lùng, thì “bần đạo” cũng chết cóng, không tài nào qua nỗi một đêm:

Quần áo mỏng, đêm về tuyết phủ

Xác không hồn, gió hú rừng hoang.

Nắm xương vô định điêu tàn

Mây sầu vương núi, mưa ngàn tuôn rơi.

Nếu trong cái đêm đầu tiên không có sương tuyết lạnh lùng, thì lại càng thảm thê hơn nữa vì “bần đạo” không được chết trước khi đêm tàn mà phải chịu sống hãi hùng, run cầm cập khi nghe tiếng hú rừng khuya, để rồi, sáng hôm sau, ngơ ngơ ngác ngác, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi, rốt cuộc rồi, các bạn ơi đau đớn làm sao, tội nghiệp làm sao cho cái thân tứ đại:

Nằm co chết cóng tang thương

Nắm xương vô định, lá rừng phủ lên.

Các bạn ơi, chúng tôi chợt hiểu: Thái tử Sĩ Ðạt Ta không phải chỉ có ý chí kiên cường sắt đá, sức khoẻ vô song và võ nghệ phi thường, mà Thái tử còn có và nhứt định phải có từ bi vô lượng, trí tuệ tuyệt vời và công phu thiền định vô cùng vững chắc mới có đủ kiên trì trong thanh thản để đắc đạo giải thoát, để tự độ và độ cho cha mẹ và muôn loài chúng sanh.

Chúng tôi nghĩ đến cái niềm vui sướng vô cùng to lớn của vua cha Tịnh Phạn, của Hoàng Hậu Mada (Hoàng hậu đã mất sau khi Thái tử đản sanh được bảy ngày), niềm vui sướng khi thấy rõ: ngôi Chuyển luân Thánh vương mà mình mơ ước dành cho Thái Tử Sĩ Ðạt Ta không có nghĩa lý gì so với đạo giải thoát chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Phải chăng tu hành đắc đạo như vậy là cách báo hiếu hữu hiệu nhứt, là cách đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục tuyệt vời nhứt.

Chúng tôi lại nghĩ đến, trên con đường cứu độ chúng sanh trãi dài 45 năm không ngừng nghỉ, đấng cha lành đã đi khắp nơi, từ núi rừng đến thôn quê, thành thị và đã độ cho mọi người, không bao giờ phân biệt giai cấp sang hèn, nam nữ. Trong giáo đoàn của Ngài có cả nam và nữ tu sĩ thuộc mọi từng lớp xã hội.

Chúng tôi theo dõi bước chân của đức Bổn Sư cùng với các đệ tử của Ngài, chúng tôi cảm nhận được lòng Từ Bi vô lượng trên đường cứu độ chúng sanh của đấng cha lành.

Chúng tôi biết rằng trong giáo đoàn to lớn của đức Phật không phải tất cả các đệ tử đều trọn vẹn đường tu, mà có kẻ đến thì cũng có người đi. Nhưng dù có rồi bỏ giáo đoàn vì chân mềm đá cứng, rốt cuộc rồi, trong kiếp này hay kiếp khác, cũng trở về cội nguồn tâm linh, cũng trở về để theo gót đấng cha lành.

Nghĩ như vậy, chúng tôi thấy vô cùng sung sướng và phấn khởi: Vu Lan về tình thương mở rộng.

 

IV. MỘT ÍT TÂM TÌNH NHÂN MÙA VU LAN

Tình thương của cha mẹ đối với con cái như trời biển bao la. Sống trong trời biển bao la bát ngát tình thương đó, người con đương nhiên thương kính cha mẹ, và từ đó, mở rộng lòng thương đối với muôn loài.

Trong tiếng Việt Nam, một trong những từ nghe êm ái và dễ thương nhất là TÌNH THƯƠNG. Người Việt Nam phân biệt TÌNH THƯƠNG và TÌNH YÊU, trong lúc đó, người Pháp, cũng như người Anh, người Tàu và nhiều dân tộc khác chỉ dùng một từ để nói chung về TÌNH THƯƠNG và TÌNH YÊU. Người Pháp dùng từ AMOUR , người Anh dùng từ LOVE, còn người Tàu thì dùng từ Aùi.

Ðối với người Việt Nam, TÌNH THƯƠNG người nghèo khổ, bịnh tật phải khác hơn Tình Yêu khi dìu em trong đêm vắng. Ðành rằng, có một số người Việt Nam vẫn còn nói TÌNH YÊU Tổ Quốc, Tình Yêu đồng bào, nhưng chúng tôi thiết nghĩ TÌNH THƯƠNG Tổ Quốc, TÌNH THƯƠNG đồng bào vẫn thâm trầm hơn.

Tình thương hiển nhiên là hạnh phúc. Tình yêu phần nhiều là khổ đau. Phần nhiều chúng sanh lãng quên cái hạnh phúc của tình thương để chạy theo cái khổ đau của tình yêu. Tội nghiệp!

Người con Phật, noi theo gương của đấng Cha Lành, nhìn sâu vào khổ đau của chúng sanh để hiểu thấu, thương nhiều với cõi lòng bao la, với tâm nguyện cứu độ. Cái tình thương với cõi lòng bao la với tâm nguyện cưú độ đó, nhà Phật gọi là Từ Bi.

“Từ năng dữ nhứt thiết chúng sanh chi lạc

Bi năng bạt nhứt thiết chúng sanh chi khổ”

Xin tạm dịch:

Từ: dâng hiến niềm vui cho tất cả chúng sanh

Bi: nhổ sạch khổ đau của tất cả muôn loài

Thuở nhỏ, chúng tôi sống ở đồng quê, nhà ở cách trường học bốn cây số. Mẹ tôi phải thức dậy thật sớm nấu cơm cho anh em chúng tôi ăn dưới ngọn đèn dầu, trong lúc đó, mẹ dùng mo cau để ép cơm. Mẹ ép cơm thật kỹ, cơm thật dẻo và nhuyễn nhừ, rất ngon. Không bao giờ mẹ dậy trễ hoặc quên gói thức ăn trong tờ lá chuối và dùng dây chuối cột lại gọn gàng, kỹ lưỡng. Chúng tôi thương mẹ lắm, muốn ôm mẹ, muốn hôn mẹ và nói: “Mẹ ơi, con thương mẹ quá.” Nhưng chúng tôi chỉ biết ăn cho nhanh, khi ăn xong, chúng tôi để mo cơm ép vào cái cặp được đan bằng một loại cỏ gọi là bàng, rồi nói: “thưa má, con đi học”, chỉ nói như vậy, nói thật nhanh, nói như cái máy, không nhìn sâu vào mắt mẹ.

Có những lần, trong khi đi học, tôi thương mẹ quá, nên thò tay vào phía trong cái cặp bằng bàng (đựng sách vở và cái mo cơm), để rờ và vuốt ve cái mo cơm còn ấm, để cảm nhận cái ấm áp tình thương của mẹ, để cho tình thương theo giọt lệ trôi lăn trên má.

“Mẹ ơi, bây giờ con mới biết, những giọt lệ tình thương này đã nuôi dưỡng con, đã khích lệ con đương đầu với bao nhiêu sóng gió, trên khắp nẻo đường của kiếp phù sinh”

Có một lần, cách đây hơn 60 năm, mẹ tôi bị bịnh, người giúp việc lại đi vắng, tôi nấu cho mẹ một nồi cháo nhỏ và hâm vài khứa cá kho tiêu. Tôi nhúm lửa bằng dăm bào và những khúc cũi nhỏ. Tôi ngồi canh lửa thật kỹ, thấy lòng ấm áp trong ánh lửa bập bùng, vui tươi. Tôi dâng cháo và cá kho tiêu cho mẹ. Mẹ vuốt tóc tôi: “Con trai mà giỏi quá!” Tôi sung sướng nhìn mẹ, nhưng không nhìn sâu vào mắt mẹ.

Hiện nay, mẹ tôi già yếu lắm, 94 tuổi đời chồng chất thăng trầm thế sự, tang tóc điêu linh. Mẹ sống ở Sài Gòn, được anh và em của tôi nuôi dưỡng.

Cha tôi mất vào năm 1983, thọ 80 tuổi. Tôi không về thăm cha được vì lúc bấy giờ người Việt tỵ nạn không được phép về Việt Nam. Tôi nhớ rõ, có một lần cách đây hơn 50 năm, khi anh em chúng tôi đi học ở trường Petrus Ký Sài gòn, tôi đã vô tình hay dại dột đánh mất đi một hạnh phúc lớn của tình phụ tử.

Cha tôi ghiền cà phê, nhưng không bao giờ pha cà phê cả. Việc này, mẹ tôi lo, mỗi ngày hai lượt, sáng và trưa. Vào một buổi trưa ngày chủ nhật, mẹ tôi về thăm gia đình cậu tôi ở Phú Lâm, tôi ngồi học bài, cha tôi ngồi ở ghế đối diện, nhìn tôi. Tôi biết cha tôi muốn uống cà phê. Tôi định đi pha cà phê cho cha, nhưng rồi vì lười biếng, tự dối lòng mình: mình mắc học bài.

-“Thạch ơi, cha tôi gọi, đi uống cà phê với Ba”

Tôi sung sướng quá, bài vở đâu có cần gì phải học, “dạ” một tiếng thật ngọt ngào.

Thế là hai cha con ra “tiệm nước”, tức cái quán bán cà phê, nước ngọt, mì khô, mì nước, hủ tiếu xiếu mại, bánh bò, bánh bao, bánh tiêu, dầu cháo quải, bánh bông lan... cái quán chú ba Tàu ở tại Ngã sáu Chợ lớn. Cà phê ở “tiệm nước” không có ngon, nhưng cha con ăn bánh bông lan, uống cà phê, nói chuyện rất là thân mật và vui vẻ. Khi ở nhà, thì đời nào cha con nói chuyện với nhau trong tâm tình cởi mở. Uống cà phê xong, hai cha con rảo bước về nhà. Cũng như trong mọi ngày và ở mọi nơi, tôi giữ “im lặng hùng tráng”, không bao giờ biết nói “cám ơn”. Ðối với người Việt Nam lúc bấy giờ, trong tình thân mật: vợ chồng, mẹ con, cha con, anh em, không bao giờ có tiếng “cám ơn”.

Cách đây ba năm, trong một giấc mộng lạ lùng, tôi thấy cha tôi ngồi trên bộ ván gõ, tôi đi xuống bếp, một cái nhà bếp nhỏ, chật hẹp ở thôn quê. Tôi lấy que diêm và dăm bào để nhúm lửa pha cà phê cho cha. Nhưng lạ quá, ngọn lửa vừa bừng lên lại tắt.

Tôi giựt mình thức giấc, bàng hoàng mơ lại hình bóng của cha. Sau một hồi, tôi biết rõ: những hình ảnh tôi nhúm lửa bằng dăm bào để nấu cháo cho mẹ cách đây hơn 60 năm, đã kết hợp với sự kiện tôi lười biếng không pha cà phê cho cha, cách đây hơn 50 năm, vẫn nằm trong tàng thức, trong đêm tôi nằm ngủ, tưởng nhớ đến cha tôi, những hình ảnh đó hiện ra trong giấc mộng.

Tôi nhắm mắt lại, thấy cha tôi ngồi kế bên. Tôi nói thầm: “Ba ơi, tha lỗi cho con, con đã lười biếng không pha được cho Ba một tách cà phê. Ba ơi, con cám ơn Ba đã cho con uống cà phê, ăn bánh bông lan ở tiệm nước chú Ba Tàu”

Như vậy, cách đây ba năm, ở vào cái tuổi “cổ lai hi”, lần đầu tiên trong đời, tôi “dám” nói “cám ơn” cha tôi.

Các bạn ơi, Vu Lan lại về. Mỗi lần Vu Lan về, tôi về chùa lễ Phật và mừng Vu Lan. Mỗi lần như vậy, tôi đều được cài lên áo một đóa hoa hồng màu đỏ thắm: tôi còn Mẹ.

Có một lần, về chùa mừng Vu Lan, tôi được các cháu bé trong Gia Ðình Phật tử cài lên áo tôi một đóa hoa hồng màu đỏ, trong lúc đó thì có một bé trai được cài lên áo một đóa hoa hồng màu trắng. Lòng tôi đau đớn. Tôi thương cháu bé quá vaø tưởng nhớ, trong hoàn cảnh đen tối của chiến tranh tang tóc ở Việt Nam, không biết bao nhiêu trẻ em mồ côi sống cơ hàn vất vưởng.

Làm sao không buồn, phải không các bạn, khi mà người già được cài trên áo đóa hoa hồng màu đỏ vì còn mẹ, trong lúc em bé phải cài trên áo đóa hoa hồng màu trắng bởi Mẹ đã mất rồi. Làm sao không buồn khi người giàhớn hở:

“Mùa Vu Lan đã đến!

Sung sướng thay!

Trên áo có hoa hồng

Vì con biết

Con còn có Mẹ”

Trong lúc đó thì em bé mồ côi thảm sầu:

“Con mơ ước được cài hoa hồng đỏ

Nhưng con biết không bao giờ có được

Bởi, Mẹ ơi, con đã mất Mẹ rồi!”

Tôi có duyên lành được làm quen với nhiều loại chim rất là dễ thương, tươi mát, trong đó có con Kookaburra, thuộc loài chim chài cá to lớn, có tiếng cười rất là độc đáo.

Kookaburra cất tiếng cười kha kha trong rừng vắng trước khi có ánh bình minh. Kookaburra cất tiếng cười kha kha trong nắng vàng ấm áp, trong mây buồn nhớ nhung, Kookaburra cất tiếng cười kha kha trong những buổi tối dù trăng có tỏ hay mờ.

Một buổi sáng trong lúc tôi đi thiền hành, con Kookaburra cất tiếng cười tươi mát. Tôi thấy mình đồng hóa với Kookaburra, và tiếng cười của Kookaburra  là tiếng hát tình thương.

Kookaburra

Cất tiếng hát ca

Cho cây rừng xanh lá

Cho cuộc đời nở hoa

Kookaburra

Kha kha kha

Các bạn ơi, hôm nay Kookaburra nhớ đến các em bé mồ côi mơ ước được cài lên áo đóa hoa hồng màu đỏ, nhưng không bao giờ có được, vì các em đã mất mẹ rồi. Kookaburra buồn lắm và nghĩ rằng:

-   Vua Lan không phải là ngày của Mẹ (Mother’s day), cũng không phải là Ngày của cha (Father’s Day)

-   Vu Lan là mùa báo hiếu

-   Báo hiếu không riêng cho Mẹ, không riêng cho Cha

-   Mà báo hiếu cho Cha Mẹ và Cửu Huyền Thất Tổ.

Do đó, dù còn Mẹ hay đã mất Mẹ rồi thì cũng nên được cài một đóa hoa hồng màu đỏ. Ðoá hoa hồng màu đỏ này được dâng lên cho Mẹ, cho cha và cho cửu huyền Thất Tổ với tấm lòng thương kính, vui mừng. Cửu Huyền Thất Tổ, Oâng Bà Cha Mẹ dù còn hay mất đều vẫn ở trong ta vì ta có tình thương kính, vì ta có niềm cảm thông.

Nghĩ như vậy, kookaburra vô cùng sung sướng:

Kookaburra

Cất tiếng hát ca

Cho hoa hồng tươi thắm

Cho nắng ấm trở về

Cho em bé mồ côi

Không còn côi cút nữa.

Em bé ơi!

Trong hoa hồng đỏ thắm

Trong nắng ấm tình thương

Em vẫn còn Cha

Em vẫn còn Mẹ

Em bé ơi!

Cha em và Mẹ em

Vẫn ở trong em

Ðang cười với em

Trong hoa hồng thắm

Trong nắng vàng tươi

Em bé ơi!

Cùng với Mẹ Cha

Em nhìn hoa thắm

Em tắm nắng vàng

Em hát vui tươi

Em cười thanh thản

Em sống thênh thang.

Các bạn thân mến,

Viết đến đây, tôi nhớ Mẹ tôi quá.

Mẹ ơi, với 94 tuổi đời chồng chất, Mẹ đã già yếu lắm rồi. Vu Lan này con sẽ về chùa để được cài trên áo một đóa hoa hồng màu đỏ thắm. Mẹ vẫn ở trong con, dù sau này Mẹ có ra đi, thì không gian và thời gian cũng không thể nào ngăn cách Mẹ con mình.

Mẹ ơi, con không chờ đến Vu Lan, để được cài trên áo đoá hoa hồng màu đỏ.

Mẹ ơi, Cha ơi, đóa hoa hồng màu đỏ vẫn ở trong con. Nó không riêng của Mẹ, không riêng của Cha, nó của Cha Mẹ và Cửu Huyền Thất Tổ.

Mẹ ơi, đóa hoa hồng đỏ thắm này là bát canh cần của mẫu tử tình thâm, là lòng hiếu thảo của người con thương Mẹ.

Cha ơi, đóa hoa hồng đỏ thắm này là tách cà phê đen vừa ngọt vừa đắng, vừa bát ngát hương thơm. Cha ơi, ngọt và đắng vì thăng trầm thế sự, bát ngát hương thơm bởi lòng thương kính ngập tràn.

Cha mẹ ơi, con thương kính và biết ơn Cha Mẹ

Con thương kính và biết ơn muôn loài. 

Mùa Vu Lan, Phật lịch 2548

Minh Ðăng

 

 

Nguồn suối ^

 

Mẹ là bài trường ca không đoạn kết

Mẹ là thiên thần không ở trên cao

Mẹ cho ta từng hơi thở ngọt ngào

Mẹ sưởi ấm tim hồng khi giá lạnh

 

Dù ngôn ngữ có trăm phương ngàn lối

Dù âm điệu có khác biệt đông tây

Nhưng tiếng Mẹ vẫn được gọi lên từ muôn ngàn nẻo sống

Mẹ là suối nguồn

Là vùng đất bình yên

Mẹ là quê hương cho cả hai miền

Tâm và vật đều khởi đi từ lòng Mẹ

Mẹ dạy con tiếng nói làm người

Trao cho con một niềm tin để sống

Mẹ là ngọn hải đăng trong đêm tối ba mươi

Mẹ là giọt mưa rào khi nắng hạ

Là chất men trong dung dịch yêu thương

Mẹ rộng lớn như hư không

Mẹ thâm sâu như đáy biển

Mẹ hiền hòa như Phật ở bên ta

Thế mà con đã vụng về đánh mất đi niềm tin muôn thửơ

Tự tách rời ra khỏi tư trường của mạch sống thần tiên

Con mải mê đi tìm bóng mát cuộc đời

Nhưng đâu biết Mẹ là tàng cây đa cổ thụ

Là bông hồng, là ánh sáng quang minh

Mẹ là đất lành để yêu thuơng thẩm thấu

Là vùng trời mở rộng, vỗ cánh chim bay

Sung sướng quá!

Khi ta mơ về Mẹ

Mạch sống căn đầy trong từng buớc chân con

Một thoáng hiện về

Ngàn năm âm hưởng

Mẹ trong cuộc đời như nhịp đập con tim

Oâi đẹp quá!

Ngôn ngữ loài người có bao giờ nói hết

Mẹ là suối nguồn tưới mát đất yêu thương.

 

Quảng Từ Vân

 

Diện Mục ^

Thích Bảo Lạc

Sau một thời gian tu tập và hành đạo từ Việt Nam đến Nhật Bản, sang Úc và tại một số các quốc gia Âu, Mỹ, cho tôi có đủ thì giờ và nhận thức để xác định lại rằng tổ chức Tăng đoàn và Giáo Hội thật hết sức lõng lẽo, nhưng rất là trật tự. Lõng leo bởi Giáo Hội không có giáo quyền hay đúng hơn Phật Giáo chủ trương từ bi và bình đẳng như một tặng phẩm vô giá mang tính hào phóng và bao dung đối với bậc trượng phu hay Bồ Tát, là tôn giáo hợp lý (logic), khoa học, văn minh mang tính nhất quán từ lý thuyết, đến thực hành trong tiến trình tu chứng từ sơ quả đạt đến vô thöôïng chánh đẳng chánh giác. Như những sợi dây vô hình miên mật đan mắc dính lại với nhau giống hệt tấm lưới như Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới ví như thiên võng (lưới trời) để chỉ sự trùng trùng vô tận các thế giới liên kết lại với nhau không xen hở mà dưới con mắt của nhà khoa học đã và đang chứng minh được điều đó. Nên có thể xác minh mà không sợ phiến diện và mang tính chủ quan rằng Phật Giáo là một tôn giáo lạ lùng nhất trong số các tôn giáo hiện hữu trên thế giới xưa nay.

Về tính trật tự trong Phật đạo cũng là một điều cần phải nghiên cứu nghiêm túc, nó đòi hỏi sự tu tập hành trì nơi hành giả về giới hạnh mới có thể cảm nhận được sự thích ứng mà không thấy có vấn đề trong đời sống tu tập hằng ngày. Trật tự theo thứ đệ trong tinh thần bình đẳng và dụng dị, chứ không phải tôn ti ngôi thứ trong chế độ giai cấp.

Không đề cập sang các lãnh vực khác như triết học, khoa học, học thuyết, kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ v.v...mà Phật Giáo mang tính đa dạng, ở đây chỉ xin giới hạn cụ thể trong phạm vi giáo dục qua đó chúng ta chiêm nghiệm, học hỏi từ nơi cung cách bậc thầy vĩ đại của đạo Phật -  đức Phật Thích Ca – và hàng Thánh chúng đệ tử xuất gia thường thân cận học hỏi từ thân giáo, khẩu giáo, ý giáo của một nhà mô phạm điển hình, bậc đạo sư khả kính, nhà truyền giáo uyên bác v.v... và cả hàng chục danh xưng khác để tôn danh đức Phật. Dù vậy đức Phật vẫn không tự đặt mình ra ngoài cộng đồng giáo đoàn mà Ngài chỉ nhận là người thầy dẫn đường. kẻ đi trước dẫn dắt người đi sau cùng tiến đến mục đích giải thoát, giác ngộ mà thôi. Giáo đoàn hay đúng ra phải gọi Tăng đoàn, vì lẽ, thời đức Phật, chúng đệ tử của ngài lần đầu tiên mới chỉ có 5 vị Tỳ kheo trong nhóm của ông Kiều Trần Như, A xã Bà Thệ (Mã Thắng), Thập Lực Ca Diếp, Bạt Ðề và Ma Ha Nam (con trưởng Hộc Phạn Vương) trong lần Phật chuyển hóa nói về pháp Tứ Ðế tại vườn Lộc Uyển (Deer Park) thuộc Ấn Ðộ khoảng 600 trước Tây lịch.

Nhờ hạnh xả ly, đức hy sinh và giàu lòng từ bi của bậc đạo sư cảm hóa mà nhiều người từ dân giả như Ưu Ba Ly đến các bậc vua chúa công tôn vương tử như Ðề Bà Ðạt Ða, A Nan, A Na Luật, Tần Bà Sa La, Ba Tư Nặc hay ngay cả các vị giáo chủ của đạo thờ thần lửa như ba anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp,Thập Lực Ca Diếp và Già Da Ca Diếp, đều được xuất gia và quy y theo Phật. Do đó đoàn sứ giả dần dần lớn mạnh từ 5 vị Tỳ kheo đầu tiên đã lên đến con số 1250 và cứ như thế chúng xuất gia theo Phật ngày càng đông đảo, cũng như vô số chúng sanh khác đều cảm nhận được và thấm nhuần giáo pháp của đức Phật không thể dùng toán tính đếm hết được. Ðây là một phương pháp giáo hóa vô cùng linh động hiệu quả của bậc đạo sư, nhờ Ngài biết phương tiện của một nhà tâm lý đầy kinh nghiệm theo sát từng mỗi tâm niệm cá biệt; cũng như vị lương y xem đúng bịnh, cho đúng thuốc khiến cho bịnh nhân chóng được lành bịnh. Tuy đức Phật luôn áp dụng tính dân chủ trong việc giáo hóa, nhưng Ngài cũng không bỏ qua cho các ác tánh Tỳ Kheo