Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ... .


TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

PHẬT GIÁO THỪA THIÊN - HUẾ

Số 4 - Phật lịch 2546. Phổ biến nội bộ.

--- o0o ---

Thay Lời Ngỏ

Tập san Nghiên cứu Phật học số 4, lần này đến tay quý độc giả trong mùa Vu lan báo hiếu, mùa những người con Phật chúng ta ở khắp nơi thiết lễ cúng dường và cầu nguyện, báo đáp hồng ơn của chư Phật và ơn thầy tổ, ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha, ơn đất nước ơn đồng bào, và ơn vạn loại chúng sanh đã cưu mang, giúp dẫn chúng ta tiến tu trên con đường hướng đến quả vị giải thoát.

Truyền thống thiêng liêng thấm đẫm nghĩa lý từ bi và đạo hiếu này càng khiến chúng ta, những người xuất gia, nhớ lại từ ngày đầu khi chúng ta lắng lòng quỳ nghe lời kệ trầm hùng ‘Thiện tai đại trượng phu, năng liễu thế vô thường…’, nhìn những lọn tóc lã tã rơi xuống khi vị bổn sư đưa dao cạo bỏ:

Huỷ hình thủ khí tiết,

cát ái từ sở thân,

xuất gia hoằng Phật đạo,

thệ độ nhất thiết nhân…,

ai mà không một lần bỗng thấy mình cao vợi, và xúc động sâu xa khi chư tăng đồng tán thán quyết tâm từ bỏ tấm hình hảo tầm thường này để giữ lấy khí tiết đại trượng phu: xuất gia để hoằng truyền Phật đạo, và hoằng truyền Phật đạo rốt cùng cũng vì mục đích cứu độ quần sanh.

Xuất gia, lìa bỏ gia đình và người thân để sống một đời cô tịch vì mục tiêu cao cả hơn, chí nguyện thiêng liêng ấy biểu hiện hùng tâm của một người đã ngoảnh mặt trước những niềm vui hạn hẹp, những hình hảo, những mong muốn tầm thường. Nhưng cạo bỏ đi mớ tóc là cái mà thế gian lấy làm đẹp, bỏ nhà cửa gia đình để vào chùa ở, bỏ phẩm phục lụa là để khoát lên mình tấm y hoại sắc hay bộ áo nâu sồng, đó chỉ là Sự xuất gia. Cạo bỏ cho kỳ được những tâm tánh hẹp hòi, những quyến rũ của lợi danh, cho đến xa lìa những ham muốn quẩn quanh về tiền của, ái ân, tiện nghi, ăn ngủ; tựu chung là đoạn trừ được ba thứ độc tiềm tàng tham, sân, si; đó mới thật là xuất gia, xuất gia. Đạt được cái này thì người con Phật ‘xuất gia’ mà không từ bỏ gia đình, bởi từ nay ngoài hai đấng sinh thành hiện tại của chúng ta, tất cả những bậc cha mẹ trên thế gian này đều là cha mẹ của ta; những người cha lam lũ phơi mình trên đồng vắng, trong rừng, dưới sông, ngoài đường phố… và những bà mẹ cần cù lao khổ nơi mọi ngõ ngách, thôn làng.

Ngày lễ Vu lan, gọi đầy đủ là Vu lan bồn, dịch âm từ Phạn ngữ Ulumbana, dịch nghĩa là Cứu đảo huyền, tức cứu nạn (những oan hồn) bị treo ngược nơi địa ngục, đói khát mà không thể ăn uống được. Truyền thống này xuất phát từ câu chuyện của tôn giả Mục-kiền-liên, khi ngài dùng thần thông quán sát cuộc sống của chúng sanh khắp các cõi giới, ngài thấy mẹ mình đang bị tội đày nơi địa ngục, sống kiếp ngạ quỷ đói khát cùng với bao oan hồn nơi đó. Xót thương trước thảm cảnh đoạ đày của mẹ và của những oan hồn, ngài liền dấn thân xuống địa ngục, mang cơm đến cho họ ăn. Nhưng khi bà mẹ đưa cơm vào miệng thì cơm biến thành lửa đỏ, không thể ăn được. Ngài đau đớn trước sự đói khổ của mẹ và những oan hồn ở đây mà không làm sao cứu được. Ngài trở về thưa với Phật, thiết tha xin Phật chỉ bày phương cứu giúp. Đức Phật dạy một mình ngài không thể cứu nổi những tội nhân ở đó, mà phải đợi đến ngày Rằm tháng bảy, là ngày Tự tứ, chúng tăng ra hạ sau ba tháng An cư, hãy thiết lễ cúng dường chư Phật và chư đại đức tăng khắp mười phương, nhờ thần lực chú nguyện của Phật và đạo lực giới hạnh của chư tăng hợp lại, mới có thể cứu vớt được những oan hồn ở đó. Tôn giả Mục-kiền-liên y lời thi hành, cứu được mẹ và những oan hồn siêu thoát.

Lòng từ bi và hiếu đễ của người tu sĩ Phật giáo được thể hiện rõ ràng qua câu chuyện trên, cần phải được chúng ta nhìn rộng hơn và cụ thể hơn trong thời hiện đại, là thời kỳ mạt pháp, cách Phật quá xa, các bậc hiền thánh ngày càng hiếm thấy, mà nguy cơ huỷ diệt loài người ngày càng đe doạ, dày đặc hận thù, quá nhiều tai ương thảm hoạ[1] Câu chuyện trên là một biểu ý sinh động và tích cực của tinh thần Phật giáo. Hình tượng tôn giả Mục-kiền-liên dấn thân vào địa ngục để cứu mẹ và những oan hồn đói khổ nơi đó phải được nhìn như là hình ảnh bất cứ người tu sĩ nào dấn thân vào những nơi khốn khó, còn có người đói khổ, có người bị đoạ đày, để cứu giúp họ. Vì với người tu sĩ sống cuộc đời đơn độc, không gia đình, xa cha mẹ, thì hết thảy các bậc cha mẹ của thế nhân đều là cha mẹ của mình, hết thảy đều là người thân của mình, bình đẳng không phân biệt. Như lời Đại lão HT Thích Huyền Quang trong một Thông điệp Vu lan trước đây đã dạy, “ở đâu còn có đau khổ, có áp bức, bất công, ở đó là địa ngục.” Bởi không chỉ có địa ngục của người đã chết dưới chín tầng âm ty, mà còn có những địa ngục trần gian đang ngày đêm chờ đợi hình bóng những tôn giả Mục-kiền-liên ngày nay. Chúng ta không thể nào thờ ơ trước một nghịch cảnh chừng như đã trở thành bình thường khi ngày nay, ở những thành phố lớn nơi đô hội, tương đối sung túc và tiện nghi, lại là nơi tập trung nhiều tu sĩ nhất, trong khi những nơi hẻo lánh, xa ánh sáng văn minh, nghèo cơm ăn và nghèo cả chỗ dựa tinh thần, nơi người dân trông lên trời chờ mưa đợi nắng cho hạt lúa đủ no, nhìn xuống đất tìm người thầy người bạn để nương tựa dìu dắt nhau trong cuộc sống lầm than, trong sự cô đơn, thống khổ của đêm dài vô minh; những nơi ấy lại chẳng mấy khi nhìn thấy bóng hình người tu sĩ. Có bình thường không khi đức Phật ngày xưa từ cung vàng điện ngọc đi ra với người dân bần cùng xứ Ấn độ, thì ngày nay chúng ta, những đệ tử đã một lần thệ nguyện theo gót chân Ngài, lại hầu hết từ ngoài đi vào nơi đô hội, nơi những tự viện to lớn, những tổ đình qui mô? Chúng ta chỉ có thể tạm chấp nhận tình trạng này trong thời gian đầu tu học, để rèn luyện, trang bị cho mình một kiến thức cần thiết, và hơn hết, một tấm lòng sắt son không bao giờ lay chuyển, như một hành trang đầy đủ cho những cuộc lên đường. Bởi đó đã từng là chí nguyện của chúng ta, là niềm vui, là lẽ sống của những người thượng cầu giác ngộ, hạ hóa chúng sanh.

Kinh sách đã ghi chuyện đức Phật, sau khi hóa độ năm vị đệ tử đầu tiên, rồi đến những người tiếp theo sau, và sau nữa, làm thành đoàn thể Tăng khởi thỉ chừng 60 vị, Ngài đã ban cho họ lời khuyến dạy: “Các người hãy ra đi, tỏa đi khắp nơi, đem giáo pháp cao thượng này để hóa độ chúng sanh, vì lợi lạc và hạnh phúc của số đông, vì lợi lạc và hạnh phúc của chư thiên và của con người. Mỗi người đi một hướng chớ đi chung đường.”[2] Hình ảnh dấn thân thiêng liêng đó nhắc nhở chúng ta, sau bao nhiêu năm dùi mài kinh kệ nơi chốn tòng lâm, đã đến lúc chưa để đem giáo pháp vô ngã vị tha ấy đi vào cuộc đời; có khi không phải với tên gọi cao cả là hoằng pháp, có khi không phải với nhiệm vụ, mục tiêu v.v… nào, không tất cả, mà đơn giản để sống lại những giây phút rung động đầu tiên khi chúng ta cúi đầu thế phát trong lời kệ trầm hùng với trọn vẹn ý nghĩa của nó, và chuyển tiếp sự rung động ấy từ nay thành nhịp đập của trái tim mình.

            Đá mòn nhưng dạ không mòn,

            Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ. 

 

Huế, Mạnh Thu Nhâm Ngọ

Tỳ kheo Thích Thiện Hạnh
 


[1] Phát biểu nhân dịp Phật đản 2546 của đại diện Tăng đoàn P.G. Thừa Thiên-Huế.

[2] Mahāvagga I.

--- o0o ---

 |Mục Lục Tập San 4 |

--- o0o ---

| Mục lục Tác giả |

--- o0o ---
 


Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật ngày: 01-09-2002

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Vu Lan Báo Hiếu

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com