Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

 Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)


...... ... .

 
 

 

 

Một Vị Thầy

Nguyên Nhật An Trà My

---o0o---

 

 

Ðêm nay bầu trời yên tịnh lạ lùng, không trăng sao, không gió thổi, không gì xảy ra dù một tiếng động.Tôi vẫn thao thức với những giòng chữ giữa đêm về sáng, để ghi lại một vài kỷ niệm đã qua đi trong đời.

 

Thời gian cứ mãi trôi đi! hững hờ để cho con người sống và lạnh lùng đẫy con người dần tới cõi chết. Chẳng có ai tránh khỏi luật bù trừ của tạo hóa! Con người thôi cũng đành chấp nhận. Riêng tôi, tôi vô cùng thiết tha cuộc sống và cũng sẵn sàng nở nụ cười vĩnh biệt trần gian. Ðời, đã cho tôi rất nhiều sự ưu ái để biết thế nào là hồn nhiên của thời tuổi trẻ, và đời cũng đã cho tôi bao lần nghiệt ngã, đắng cay, để biết thế nào là thân phận làm người. Thế nhưng, tôi chẳng bao giờ biết được sự mầu nhiệm của tâm linh, nếu tôi không có duyên gặp được một vị cao minh đưa đường chỉ lối. 

 

Hai mươi lăm năm về trước (1978), từ bến xe đò tại Sài Gòn mẹ tôi trao cho tôi cái túi xách nhỏ. Trong đó vỏn vẹn một bộ quần áo cũ và chai dầu nóng để tiển tôi lên đường đi vượt biên, Tôi cầm lấy và ngây thơ không biết hai chữ ‘vượt biên’ là gì? Nhưng không dám hỏi, vì tôi vừa chợt trông thấy đôi giòng lệ lăn trên đôi má gầy gò của bà. Tôi ôm lấy mẹ vài phút và lên xe đò về bến Cần Thơ. Cần Thơ! nơi nào tôi chẳng biết? Nhưng tôi ghi nhớ lời mẹ dặn dò là khi đến bến Cần Thơ, nếu có người ra đón để xuống tầu thì tôi cứ đi theo họ.

 

Mọi sự suông sẽ khi tôi đã yên thân nằm dưới con tầu nhỏ. Bên trên đầu nằm là một quài chuối chín mộng, ai đó đã treo sẵn. Phía dưới chân tôi là một lò bếp bằng gas, bao gạo, tôm khô, nước mắm v...v... Con tầu nhỏ bập bềnh, và đậu khuất dưới một tàng cây lớn. Ba ngày liền tôi chẳng thấy một ai, kể cả ông chủ tầu. Ba ngày liền tôi bẻ chuối để ăn những khi đói bụng. Quài chuối biến mất, màø người đưa tôi xuống tầu vẫn bặt tăm hơi. Tôi cảm thấy bực bội trong lòng, nhìn ánh trăng chiếu sáng trên giòng nước mà tự an ủi mình vậy.

 

Hai ngày sau, tầu bắt đầu nhổ neo vào một buổi chiều nắng ấm. Trên tầu bấy giờ được mười người. Tôi những tưởng tầu chở chúng tôi đi ‘chơi’ như thế và vài ngày sau... cuối chân trời là ‘vượt biên’. Biết ‘vượt biên’ rồi thì tôi lập tức trở về ngay để gặp mẹ và sẽ nói với bà rằng tôi không bao giờ thích đi chơi kiểu này nữa! Nhất định là không vì tôi cảm thấy nhớ nhà quá!

 

Nhưng tầu không tới được cuối chân trời. Mới đi có vài tiếng đồng hồ thì đã dừng lại. Dừng lại giữa biển khơi, cắm neo và chờ trăng khuất bóng. Người người chuyển qua từ chiếc ghe nào đó được cặp xát. Nửa tiếng đồng hồ sau, trên tầu tôi đã đầy nhóc người. Vừa Hoa vừa Việt, vừa mập vừa ốm, vừa già vừa trẻ - lung tung - loạn xà ngầu... Ngọn đèn dầu loe loét tỏa ánh sáng vừa đủ cho họ tìm thấy chổ trống mà chen nhau ngồi, nằm lủ khủ... Tôi không biết tại sao phải chở đông người như thế? như là phải trốn tránh cái gì? Chúng tôi không được nói chuyện, không được thầm thì, không được gây tiếng động v...v... Tôi ngồi bó gối một chỗ... trơ con mắt nhìn chẳng hiểu chuyện gì sắp xảy đến?..

 

Sau đó, con tầu nhỏ âm thầm nổ máy chạy đi trên giòng nước cùng với bốn chục mạng người, rồi tầu mắc cạn không đi được khi trời về sáng. Mọi người đành chờ đợi trong cơn sợ hải, và cầu nguyện mọi sự bình yên cho đến khi mực nước dâng lên... Tầu tiếp tục cuộc hành trình trên biển khơi khi màng đêm buông xuống. Nhưng hai ngày sau, tầu của chúng tôi đã bị bọn cướp biển chận lại và nhảy qua hăm dọa sẽ bắt hoặc giết hết nếu không đưa tiền bạc, vòng vàng cho bọn họ. Mọi người trên tầu, ai nấy đều run rẫy, hoảng sợ, lầm thầm cầu nguyện ơn trên xin che chở, nhưng lại phải giơ tay lên đầu trình diện bọn cướp và trao vàng bạc, châu báu với lời cầu khẩn xin tha chết. Tôi lúc bấy giờ chỉ là một con bé ngốc nghếch chẳng biết gì? Hình như trong tôi không có nỗi sợ hải, cũng như không biết gì để cầøu nguyện, không biết tại sao phải đi ‘vượt biên’ để gặp cảnh này? v... v... Vài giờ sau, bọn cướp cho tầu chúng tôi đi. Mọi người thở phào nhẹ nhỏm, vui mừng, lại chui xuống hầm tầu mang theo mỗi người một tâm trạng!...

 

Trên mặt đại dương mênh mông với những ngày giông bảo, con tầu ngập đầy nước, và có lúc tưởng như chìm vào lòng biển đen. Sau mười hai ngày lênh đênh trên biển cả, con tầu đã tìm tới được vùng đất Singapore. Nhưng lại bị người ngoại quốc kéo ra khỏi hải phận sau khi họ sửa chửa xong máy móc. Con tàu đành phải ra đi và không biết đi về đâu? Cuối cùng, chúng tôi hướng về hải phận Malaysia và đi tới đó với một con tầu không còn máy móc để chạy. Thế là, chúng tôi mặc cho con tầu trôi trên giòng nước dù nhanh hay chậm. Chúng tôi không còn biết gì, vật vờ, khô khốc vì đói khát. Năm ngày sau, chúng tôi tới quần đảo của Malaysia và được lên bờ với con tàu đã rạn nứt. Theo lời Cao Ủy hướng dẫn, chúng tôi làm thủ tục giấy tờ và được đưa về trại tạm cư tại vùng đảo Polau Tanga, Malaysia chờ ngày định cư...

                                               

                                                 1

                 

 

Tôi sống trên vùng đảo Polau Tanga một tháng, gia tài chỉ có hai bộ đồ để thay đổi, và thường đi lang thang một mình trên những chồng đá cao ven bờ biển để dõi mắt nhìn về quê hương, và nơi đâu là quê hương? hoặc những đêm khuya, tôi ra ngoài biển ngồi lặng lẽ khóc. Nỗi nhớ mẹ và mấy đứa em quay quắt trong lòng. Vượt biên là như thế này sao mẹ? vượït biên là đi tìm con đường sống tư do với bao ngàn hiểm nguy, vượt biên để giờ phút này thân phận tôi bốn bề bơ vơ, lạc lỏng, bên tôi không một người thân, xa cha mẹ nghìn trùng... Mẹ ơi! Mẹ!... Vỡ lẽ ra, tôi đã khóc và chỉ còn biết khóc trong cơn buồn tủi một mình.

                          

.... Khó đi mẹ dắt con đi.

                                                                              Con đi trường học, mẹ đi trường đời...

 

Mẹ không còn dắt tôi đi, mẹ tôi đã ở lại để nuôi đàn em tám đứa, cha tôi đi học tập. Hai mươi hai tuổi đời với mái đầu hãy còn xanh, tôi đã giã từ sách đèn ra đời với một con tầu lắc lư trên biển cả. Ðể rồi, tôi học sự lớn khôn, trưởng thành trong những năm đầu tiên định cư tại Melbourne. Với một khung trời xa lạ và một nền văn hóa Tây phương mới mẽ. Ngày qua ngày, niềm nhớ thương trong tôi nguôi ngoai dần. Tôi bắt đầu tập học tiếng Anh và nổ lực làm việc để giúp gia đình cha mẹ bên nhà...

 

Tôi xa rời cha mẹ kể từ ngày ấy. Hai mươi lăm năm lăn lóc trên xứ người với biết bao vui buồn cùng những đau thương nghiệt ngã. Công danh, sự nghiệp, tình cảm lúc có lúc không - lộn xộn - điêu đứng. Nhưng người đời đã cho tôi những lời khuyên tốt đẹp để tiến thân. người đời cũng đã từng giúp đỡ tôi trong những lúc cơ hàn hoặc đau yếu, người đời cho tôi thật nhiều ơn nghĩa. Ðể rồi, tôi có cuộc sống tốt đẹp. an lành như hiện nay.

                          

Bao nhiêu sóng gió chập chùng

                                             Bước đi từng bước, chạnh lòng từng giây

                                             Thương cha nhớ mẹ khôn cùng

                                             Nơi xa xứ lạ - tạ ơn trên đời.        

 

Tạ ơn đời! Tạ ơn vị ân sư mà tôi không bao giờ quên! Ðại Ðức Thích Tâm Phương - Một vị thầy đã từng ngồi trên tấm thảm bạc màu để giảng pháp hay đàm đạo những khi chiều tàn trong ngôi chùa nhỏ ngày nào. Thuở ấy, tôi còn nhớ đầu thập niên 80, có thể nói tại Melbourne ngoài các ngôi nhà thờ, phố xá, công viên, tôi chưa thấy có một mái chùa của người Việt Nam nào cả. Ngôi chùa của người Việt đầu tiên xuất hiện vào khoảng giữa năm 1985 tại vùng Sunshine là một căn nhà xưa, củ kỷ được thiết lập để trở thành một ngôi chùa nhỏ khang trang, ấm cúng. Ngôi chùa nhỏ Quang Minh tại vùng Sunshine! hầu như người dân Việt lúc bấy giờ ai nấy đều biết, và lần đầu tiên tôi nhìn thấy mọi người con Phật xa gần lũ lượt kéo về rất đông để đi cúng dường, hoặc đãnh lễ Phật mỗi khi có mùa Lễ hội hay Tết đến.

 

Tôi đã quên Tết khi qua tới Úc, và tôi quên đi cái hương vị đầu năm khi không còn nghe tiếng pháo nổ vang trời. Cuộc sống nơi đầy thật trầm lặng và vô tình khi mùa xuân đến. Người dân Việt lúc bấy giờ rất ít ỏi, nên cái Tết đến chỉ là sự gợi nhớ xa xôi của một thời dĩ vãng, một thời bỏ nước ra đi để tìm tự do. Nơi xứ người lần đầu tiên được nghe tiếng pháo nổ, tôi thật sự xúc động khi nhìn thấy xác pháo rơi ngoài sân chùa trong đêm giao thừa cuối năm 1985.Tôi rơi nước mắt khi thầy cho tôi bao lì xì đỏ, và cùng mọi người đốt nén hương đãnh lễ Phật, đốt nén hướng để tưởng nhớ người thân, những người đã hy sinh vì đất nước hay hồi hướng cho tất cả mọi người còn lại nơi quê nhà được sống trong niềm an vui, hạnh phúc ...

 

Từ đó, tôi thường đến chùa Quang Minh những khi rỗi rãnh. Buồn vui, bất an điều gì tôi thường tìm đến thầy. Thầy là một vị sư trẻ với vóc dáng thanh tao hiền hòa cùng với giọng nói Nha Trang trong vắt mỗi khi giảng pháp. Sau hai năm tôi tìm tòi, học hỏi giáo lý tôi được Thầy Tâm Phương nhận làm đệ tử tại gia trong dịp lễ Quy Y Tam Bảo vào mùa Báo Hiếu Vu Lan năm 1988.

 

                                             Ðôi ánh mắt hiền từ

Xoa đầu xanh nhỏ nhẹ

Tâm an là tâm lành

Tâm tịnh cõi thế tịnh.

 

Nhưng cuộc đời biến chuyển, và tôi phiêu bồng khắp nơi trên đất Úc. Khi tôi trở về Melbourne, thì ngôi chùa nhỏ Quang Minh ngày nào không còn tại vùng Sunshine nữa. Chùa Quang Minh hiện thời là một ngôi chùa uy nghi, tọa lạc trên vùng đất rộng lớn của vùng Braybrook và thầy trụ trì không còn là thầy tôi. Bóng dáng người thầy năm xưa biền biệt! Mười năm xa cách tôi mới thấy rằng mình thật sự là người bất hạnh và mỗi khi nghĩ đến thầy lòng tôi cứ băn khoăn tự hỏi - không biết thầy bây giờ ra sao? và đi hoằng pháp nơi nào? Bao giờ tôi mới có đũ duyên lành để được diện kiến vị thầy thân yêu? ...

                                              2

 

 

Rồi một buổi chiều cuối Thu năm 1998, tại thị trấn Footscray tôi tình cờ gặp lại vị ân sư trong chiếc áo nâu đi giữa phố chợ đông người. Tôi cuống quit mừng rỡ, lắp bắp không nói nên lời: ‘A Di Ðà Phật, sư phụ vẫn mạnh khoẻ? Thầy mỉm cười từ tốn gật đầu: “Sư phụ vẫn khỏe con, dạo này con thế nào?”...  Sau vài phút nói chuyện, rồi thầy rảo bước ra đi. Tôi nhìn theo mà lòng không khỏi bùi ngùi, xúc động, mười năm không gặp bây giờ thầy đã gầy yếu và cằn cổi hơn xưa. 

 

                                              Khắp nẻo đường phiêu bạt

                                             Mười năm trong hư hao

                                             Tiếng chuông chùa vọng lại

                                             Ðưa ta về cội nguồn.

                             

Sư phụ tôi hiện nay trụ trì tại Tu Viện Quảng Ðức vùng Fawkner. Một Tu viện mà cách đây bảy năm về trước (1996), là ngôi trường tiểu học với mái lợp bằng những miếng tôn mỏng, hư hoại, nằm trên khu đất rộng lớn đầy cỏ cây. Ðể rồi, trải qua bao năm nắng mưa cùng những khó khăn, vất vả, nay đã thành lập được ngôi chùa như ý nguyện. Tu Viện Quảng Ðức sẽ long trọng tổ chức Ðại Lễ Khánh Thành trong ba ngày 10, 11 và 12 tháng 10 năm 2003 với sự Chủ Trì của Ðại Ðức Thích Tâm Phương.

 

Như đã biết, Tu viện Quảng Ðức xây dựng lại và quy mô như hiện nay: Phật điện được tôn cao, với công trình kiến trúc   thật kiên cố và có giá trị nghệ thuật: trên các bờ nóc được chạm trổ tinh xảo với các họa tiết, hầu nhắc nhở con người dứt bỏ dục vọng thấp hèn hướng đến cái chân, thiện, mỹ, hướng đến giá trị tinh thần siêu việt, vĩnh hằng, để về đất Phật. Bên trong chánh điện là nơi an vị Phật, cho nên từng khuông cửa lớn nhỏ, hoành phi, đại tự... đều treo những bức rèm tuyệt đẹp, mầu sắc hài hòa, trang nhã. Ðường vào chánh điện được xây bằng những bật tam cấp và hai bên đắp hai con rồng vờn mây với nhiều kỷ thuật chạm khắc tinh hoa, làm tăng thêm vẻ đẹp và sự uy nghi của ngôi chùa. Ngoài ra, chùa còn có cầu thang máy được bố trí phía dưới Phật điện nhằm giúp đỡ những người già, hay những người thương tật dễ dàng trong việc di chuyển. Dưới tầng này, cũng là nơi tiếp đãi quan khách, những buổi trai chay, hay để tổ chức văn nghệ, cúng dường hoặc ủy lạo...

 

Phía sau chùa có khoảng 10 tăng phòng, phòng lưu giữ các vật kỷ niệm có giá trị như: Tượng pháp, câu đối, thi họa. Cuối dãy là một gian nhà bếp được cung cấp nhiều vật dụng và khu nhà vệ sinh cao thoáng, sạch sẽ. Ngoài sân chùa là các chậu hoa, cây kiểng được trồng tỉa công phu và mỗi khu vực được an vị các tượng Ðức Thánh Hiền, tượng Bồ Tát Thế AÂm, tượng Phật nhập niết bàn, khu vườn Lâm Tì Ni... Nhằm giúp chúng sanh hiểu biết, học hỏi thêm về Phật pháp cũng như hướng tâm linh về nơi cõi thánh thiện, an lạc.

 

Nhân ngày Ðại Lễ Khánh Thành của chùa Quảng Ðức, đệ tử chúng tôi nguyện cầu cho tất cả mọi ước nguyện của chư Tôn Ðức trong việc duy trì và phát triển nền Phật Giáo Việt Nam nơi xứ người được viên mãn như sở nguyện. Ðồng thời cầu xin Hồng AÂn Tam bảo, Phật Từ gia hộ – giúp cho tất cả chúng sanh thoát khỏi vòng u minh, tăm tối, bao nhiêu phiền não, nghiệp chướng được tiêu trừ, xa lìa mọi điều đau khổ để sống trong niềm an vui, vĩnh cửu - Cầu xin ơn trên ban phước lành cho người trần gian, cõi âm siêu thoát, rừng yên biển lặng, núi biếc sông xanh, vạn vật chúng sanh khắp thế giới năm châu đều hướng theo Phật và thấm nhuần giáo lý Phật, thoát khỏi vòng lưu linh sanh tử, luân hồi.

 

Thay lời kết luận, tôi xin ghi lại nơi đây một câu kệ mà tôi đã đọc được trong lần viếng thăm ở ngôi chùa phía Ðông Bắc Sài Gòn. Ðể nói lên tinh thần nhập thế của Ðạo Phật:

 

Mộ cổ, thần chung, cảnh tỉnh ái hà danh lợi khách

Triêu kinh, tịch kệ, hoán hồi trần thế mộng mê nhân.

 

             

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày: 01-10-03

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang Mừng Lễ Khánh Thành

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com