Ðêm nay bầu trời yên tịnh lạ lùng, không trăng sao, không gió thổi, không
gì xảy ra dù một tiếng động.Tôi vẫn thao thức với những giòng chữ giữa đêm
về sáng, để ghi lại một vài kỷ niệm đã qua đi trong đời.
Thời gian cứ mãi trôi đi! hững hờ để cho con người sống và lạnh lùng đẫy
con người dần tới cõi chết. Chẳng có ai tránh khỏi luật bù trừ của tạo
hóa! Con người thôi cũng đành chấp nhận. Riêng tôi, tôi vô cùng thiết tha
cuộc sống và cũng sẵn sàng nở nụ cười vĩnh biệt trần gian. Ðời, đã cho tôi
rất nhiều sự ưu ái để biết thế nào là hồn nhiên của thời tuổi trẻ, và đời
cũng đã cho tôi bao lần nghiệt ngã, đắng cay, để biết thế nào là thân phận
làm người. Thế nhưng, tôi chẳng bao giờ biết được sự mầu nhiệm của tâm
linh, nếu tôi không có duyên gặp được một vị cao minh đưa đường chỉ lối.
Hai mươi lăm năm về trước (1978), từ bến xe đò tại Sài Gòn mẹ tôi trao cho
tôi cái túi xách nhỏ. Trong đó vỏn vẹn một bộ quần áo cũ và chai dầu nóng
để tiển tôi lên đường đi vượt biên, Tôi cầm lấy và ngây thơ không biết hai
chữ ‘vượt biên’ là gì? Nhưng không dám hỏi, vì tôi vừa chợt trông thấy đôi
giòng lệ lăn trên đôi má gầy gò của bà. Tôi ôm lấy mẹ vài phút và lên xe
đò về bến Cần Thơ. Cần Thơ! nơi nào tôi chẳng biết? Nhưng tôi ghi nhớ lời
mẹ dặn dò là khi đến bến Cần Thơ, nếu có người ra đón để xuống tầu thì tôi
cứ đi theo họ.
Mọi sự suông sẽ khi tôi đã yên thân nằm dưới con tầu nhỏ. Bên trên đầu nằm
là một quài chuối chín mộng, ai đó đã treo sẵn. Phía dưới chân tôi là một
lò bếp bằng gas, bao gạo, tôm khô, nước mắm v...v... Con tầu nhỏ bập bềnh,
và đậu khuất dưới một tàng cây lớn. Ba ngày liền tôi chẳng thấy một ai, kể
cả ông chủ tầu. Ba ngày liền tôi bẻ chuối để ăn những khi đói bụng. Quài
chuối biến mất, màø người đưa tôi xuống tầu vẫn bặt tăm hơi. Tôi cảm thấy
bực bội trong lòng, nhìn ánh trăng chiếu sáng trên giòng nước mà tự an ủi
mình vậy.
Hai ngày sau, tầu bắt đầu nhổ neo vào một buổi chiều nắng ấm. Trên tầu bấy
giờ được mười người. Tôi những tưởng tầu chở chúng tôi đi ‘chơi’ như thế
và vài ngày sau... cuối chân trời là ‘vượt biên’. Biết ‘vượt biên’ rồi thì
tôi lập tức trở về ngay để gặp mẹ và sẽ nói với bà rằng tôi không bao giờ
thích đi chơi kiểu này nữa! Nhất định là không vì tôi cảm thấy nhớ nhà
quá!
Nhưng tầu không tới được cuối chân trời. Mới đi có vài tiếng đồng hồ thì
đã dừng lại. Dừng lại giữa biển khơi, cắm neo và chờ trăng khuất bóng.
Người người chuyển qua từ chiếc ghe nào đó được cặp xát. Nửa tiếng đồng hồ
sau, trên tầu tôi đã đầy nhóc người. Vừa Hoa vừa Việt, vừa mập vừa ốm, vừa
già vừa trẻ - lung tung - loạn xà ngầu... Ngọn đèn dầu loe loét tỏa ánh
sáng vừa đủ cho họ tìm thấy chổ trống mà chen nhau ngồi, nằm lủ khủ... Tôi
không biết tại sao phải chở đông người như thế? như là phải trốn tránh cái
gì? Chúng tôi không được nói chuyện, không được thầm thì, không được gây
tiếng động v...v... Tôi ngồi bó gối một chỗ... trơ con mắt nhìn chẳng hiểu
chuyện gì sắp xảy đến?..
Sau đó, con tầu nhỏ âm thầm nổ máy chạy đi trên giòng nước cùng với bốn
chục mạng người, rồi tầu mắc cạn không đi được khi trời về sáng. Mọi người
đành chờ đợi trong cơn sợ hải, và cầu nguyện mọi sự bình yên cho đến khi
mực nước dâng lên... Tầu tiếp tục cuộc hành trình trên biển khơi khi màng
đêm buông xuống. Nhưng hai ngày sau, tầu của chúng tôi đã bị bọn cướp biển
chận lại và nhảy qua hăm dọa sẽ bắt hoặc giết hết nếu không đưa tiền bạc,
vòng vàng cho bọn họ. Mọi người trên tầu, ai nấy đều run rẫy, hoảng sợ,
lầm thầm cầu nguyện ơn trên xin che chở, nhưng lại phải giơ tay lên đầu
trình diện bọn cướp và trao vàng bạc, châu báu với lời cầu khẩn xin tha
chết. Tôi lúc bấy giờ chỉ là một con bé ngốc nghếch chẳng biết gì? Hình
như trong tôi không có nỗi sợ hải, cũng như không biết gì để cầøu nguyện,
không biết tại sao phải đi ‘vượt biên’ để gặp cảnh này? v... v... Vài giờ
sau, bọn cướp cho tầu chúng tôi đi. Mọi người thở phào nhẹ nhỏm, vui mừng,
lại chui xuống hầm tầu mang theo mỗi người một tâm trạng!...
Trên mặt đại dương mênh mông với những ngày giông bảo, con tầu ngập đầy
nước, và có lúc tưởng như chìm vào lòng biển đen. Sau mười hai ngày lênh
đênh trên biển cả, con tầu đã tìm tới được vùng đất Singapore. Nhưng lại
bị người ngoại quốc kéo ra khỏi hải phận sau khi họ sửa chửa xong máy móc.
Con tàu đành phải ra đi và không biết đi về đâu? Cuối cùng, chúng tôi
hướng về hải phận Malaysia và đi tới đó với một con tầu không còn máy móc
để chạy. Thế là, chúng tôi mặc cho con tầu trôi trên giòng nước dù nhanh
hay chậm. Chúng tôi không còn biết gì, vật vờ, khô khốc vì đói khát. Năm
ngày sau, chúng tôi tới quần đảo của Malaysia và được lên bờ với con tàu
đã rạn nứt. Theo lời Cao Ủy hướng dẫn, chúng tôi làm thủ tục giấy tờ và
được đưa về trại tạm cư tại vùng đảo Polau Tanga, Malaysia chờ ngày định
cư...
1
Tôi sống trên vùng đảo Polau Tanga một tháng, gia tài chỉ có hai bộ đồ để
thay đổi, và thường đi lang thang một mình trên những chồng đá cao ven bờ
biển để dõi mắt nhìn về quê hương, và nơi đâu là quê hương? hoặc những đêm
khuya, tôi ra ngoài biển ngồi lặng lẽ khóc. Nỗi nhớ mẹ và mấy đứa em quay
quắt trong lòng. Vượt biên là như thế này sao mẹ? vượït biên là đi tìm con
đường sống tư do với bao ngàn hiểm nguy, vượt biên để giờ phút này thân
phận tôi bốn bề bơ vơ, lạc lỏng, bên tôi không một người thân, xa cha mẹ
nghìn trùng... Mẹ ơi! Mẹ!... Vỡ lẽ ra, tôi đã khóc và chỉ còn biết khóc
trong cơn buồn tủi một mình.
.... Khó đi mẹ dắt con đi.
Con đi trường học, mẹ đi trường đời...
Mẹ không còn dắt tôi đi, mẹ tôi đã ở lại để nuôi đàn em tám đứa, cha tôi
đi học tập. Hai mươi hai tuổi đời với mái đầu hãy còn xanh, tôi đã giã từ
sách đèn ra đời với một con tầu lắc lư trên biển cả. Ðể rồi, tôi học sự
lớn khôn, trưởng thành trong những năm đầu tiên định cư tại Melbourne. Với
một khung trời xa lạ và một nền văn hóa Tây phương mới mẽ. Ngày qua ngày,
niềm nhớ thương trong tôi nguôi ngoai dần. Tôi bắt đầu tập học tiếng Anh
và nổ lực làm việc để giúp gia đình cha mẹ bên nhà...
Tôi xa rời cha mẹ kể từ ngày ấy. Hai mươi lăm năm lăn lóc trên xứ người
với biết bao vui buồn cùng những đau thương nghiệt ngã. Công danh, sự
nghiệp, tình cảm lúc có lúc không - lộn xộn - điêu đứng. Nhưng người đời
đã cho tôi những lời khuyên tốt đẹp để tiến thân. người đời cũng đã từng
giúp đỡ tôi trong những lúc cơ hàn hoặc đau yếu, người đời cho tôi thật
nhiều ơn nghĩa. Ðể rồi, tôi có cuộc sống tốt đẹp. an lành như hiện nay.
Bao nhiêu sóng gió chập chùng
Bước đi từng bước, chạnh lòng
từng giây
Thương cha nhớ mẹ khôn cùng
Nơi xa xứ lạ - tạ ơn trên
đời.
Tạ ơn đời! Tạ ơn vị ân sư mà tôi không bao giờ quên! Ðại Ðức Thích Tâm
Phương - Một vị thầy đã từng ngồi trên tấm thảm bạc màu để giảng pháp hay
đàm đạo những khi chiều tàn trong ngôi chùa nhỏ ngày nào. Thuở ấy, tôi còn
nhớ đầu thập niên 80, có thể nói tại Melbourne ngoài các ngôi nhà thờ, phố
xá, công viên, tôi chưa thấy có một mái chùa của người Việt Nam nào cả.
Ngôi chùa của người Việt đầu tiên xuất hiện vào khoảng giữa năm 1985 tại
vùng Sunshine là một căn nhà xưa, củ kỷ được thiết lập để trở thành một
ngôi chùa nhỏ khang trang, ấm cúng. Ngôi chùa nhỏ Quang Minh tại vùng
Sunshine! hầu như người dân Việt lúc bấy giờ ai nấy đều biết, và lần đầu
tiên tôi nhìn thấy mọi người con Phật xa gần lũ lượt kéo về rất đông để đi
cúng dường, hoặc đãnh lễ Phật mỗi khi có mùa Lễ hội hay Tết đến.
Tôi đã quên Tết khi qua tới Úc, và tôi quên đi cái hương vị đầu năm khi
không còn nghe tiếng pháo nổ vang trời. Cuộc sống nơi đầy thật trầm lặng
và vô tình khi mùa xuân đến. Người dân Việt lúc bấy giờ rất ít ỏi, nên cái
Tết đến chỉ là sự gợi nhớ xa xôi của một thời dĩ vãng, một thời bỏ nước ra
đi để tìm tự do. Nơi xứ người lần đầu tiên được nghe tiếng pháo nổ, tôi
thật sự xúc động khi nhìn thấy xác pháo rơi ngoài sân chùa trong đêm giao
thừa cuối năm 1985.Tôi rơi nước mắt khi thầy cho tôi bao lì xì đỏ, và cùng
mọi người đốt nén hương đãnh lễ Phật, đốt nén hướng để tưởng nhớ người
thân, những người đã hy sinh vì đất nước hay hồi hướng cho tất cả mọi
người còn lại nơi quê nhà được sống trong niềm an vui, hạnh phúc ...
Từ đó, tôi thường đến chùa Quang Minh những khi rỗi rãnh. Buồn vui, bất an
điều gì tôi thường tìm đến thầy. Thầy là một vị sư trẻ với vóc dáng thanh
tao hiền hòa cùng với giọng nói Nha Trang trong vắt mỗi khi giảng pháp.
Sau hai năm tôi tìm tòi, học hỏi giáo lý tôi được Thầy Tâm Phương nhận làm
đệ tử tại gia trong dịp lễ Quy Y Tam Bảo vào mùa Báo Hiếu Vu Lan năm 1988.
Ðôi ánh mắt hiền từ
Xoa đầu xanh nhỏ nhẹ
Tâm an là tâm lành
Tâm tịnh cõi thế tịnh.
Nhưng cuộc đời biến chuyển, và tôi phiêu bồng khắp nơi trên đất Úc. Khi
tôi trở về Melbourne, thì ngôi chùa nhỏ Quang Minh ngày nào không còn tại
vùng Sunshine nữa. Chùa Quang Minh hiện thời là một ngôi chùa uy nghi, tọa
lạc trên vùng đất rộng lớn của vùng Braybrook và thầy trụ trì không còn là
thầy tôi. Bóng dáng người thầy năm xưa biền biệt! Mười năm xa cách tôi mới
thấy rằng mình thật sự là người bất hạnh và mỗi khi nghĩ đến thầy lòng tôi
cứ băn khoăn tự hỏi - không biết thầy bây giờ ra sao? và đi hoằng pháp nơi
nào? Bao giờ tôi mới có đũ duyên lành để được diện kiến vị thầy thân yêu?
...
2
Rồi một buổi chiều cuối Thu năm 1998, tại thị trấn Footscray tôi tình cờ
gặp lại vị ân sư trong chiếc áo nâu đi giữa phố chợ đông người. Tôi cuống
quit mừng rỡ, lắp bắp không nói nên lời: ‘A Di Ðà Phật, sư phụ vẫn mạnh
khoẻ? Thầy mỉm cười từ tốn gật đầu: “Sư phụ vẫn khỏe con, dạo này con thế
nào?”... Sau vài phút nói chuyện, rồi thầy rảo bước ra đi. Tôi nhìn theo
mà lòng không khỏi bùi ngùi, xúc động, mười năm không gặp bây giờ thầy đã
gầy yếu và cằn cổi hơn xưa.
Khắp nẻo đường phiêu bạt
Mười năm trong hư hao
Tiếng chuông chùa vọng lại
Ðưa ta về cội nguồn.
Sư phụ tôi hiện nay trụ trì tại Tu Viện Quảng Ðức vùng Fawkner. Một Tu
viện mà cách đây bảy năm về trước (1996), là ngôi trường tiểu học với mái
lợp bằng những miếng tôn mỏng, hư hoại, nằm trên khu đất rộng lớn đầy cỏ
cây. Ðể rồi, trải qua bao năm nắng mưa cùng những khó khăn, vất vả, nay đã
thành lập được ngôi chùa như ý nguyện. Tu Viện Quảng Ðức
sẽ long trọng tổ chức Ðại Lễ Khánh Thành trong ba ngày 10, 11 và 12 tháng
10 năm 2003 với sự Chủ Trì của Ðại Ðức Thích Tâm Phương.
Như đã biết, Tu viện Quảng Ðức xây dựng lại và quy mô như hiện nay: Phật
điện được tôn cao, với công trình kiến trúc thật kiên cố và có giá trị
nghệ thuật: trên các bờ nóc được chạm trổ tinh xảo với các họa tiết, hầu
nhắc nhở con người dứt bỏ dục vọng thấp hèn hướng đến cái chân, thiện, mỹ,
hướng đến giá trị tinh thần siêu việt, vĩnh hằng, để về đất Phật. Bên
trong chánh điện là nơi an vị Phật, cho nên từng khuông cửa lớn nhỏ, hoành
phi, đại tự... đều treo những bức rèm tuyệt đẹp, mầu sắc hài hòa, trang
nhã. Ðường vào chánh điện được xây bằng những bật tam cấp và hai bên đắp
hai con rồng vờn mây với nhiều kỷ thuật chạm khắc tinh hoa, làm tăng thêm
vẻ đẹp và sự uy nghi của ngôi chùa. Ngoài ra, chùa còn có cầu thang máy
được bố trí phía dưới Phật điện nhằm giúp đỡ những người già, hay những
người thương tật dễ dàng trong việc di chuyển. Dưới tầng này, cũng là nơi
tiếp đãi quan khách, những buổi trai chay, hay để tổ chức văn nghệ, cúng
dường hoặc ủy lạo...
Phía sau chùa có khoảng 10 tăng phòng, phòng lưu giữ các vật kỷ niệm có
giá trị như: Tượng pháp, câu đối, thi họa. Cuối dãy là một gian nhà bếp
được cung cấp nhiều vật dụng và khu nhà vệ sinh cao thoáng, sạch sẽ. Ngoài
sân chùa là các chậu hoa, cây kiểng được trồng tỉa công phu và mỗi khu vực
được an vị các tượng Ðức Thánh Hiền, tượng Bồ Tát Thế AÂm, tượng Phật nhập
niết bàn, khu vườn Lâm Tì Ni... Nhằm giúp chúng sanh hiểu biết, học hỏi
thêm về Phật pháp cũng như hướng tâm linh về nơi cõi thánh thiện, an lạc.
Nhân ngày Ðại Lễ Khánh Thành của chùa Quảng Ðức, đệ tử chúng tôi nguyện
cầu cho tất cả mọi ước nguyện của chư Tôn Ðức trong việc duy trì và phát
triển nền Phật Giáo Việt Nam nơi xứ người được viên mãn như sở nguyện.
Ðồng thời cầu xin Hồng AÂn Tam bảo, Phật Từ gia hộ – giúp cho tất cả chúng
sanh thoát khỏi vòng u minh, tăm tối, bao nhiêu phiền não, nghiệp chướng
được tiêu trừ, xa lìa mọi điều đau khổ để sống trong niềm an vui, vĩnh cửu
- Cầu xin ơn trên ban phước lành cho người trần gian, cõi âm siêu thoát,
rừng yên biển lặng, núi biếc sông xanh, vạn vật chúng sanh khắp thế giới
năm châu đều hướng theo Phật và thấm nhuần giáo lý Phật, thoát khỏi vòng
lưu linh sanh tử, luân hồi.
Thay lời kết luận, tôi xin ghi lại nơi đây một câu kệ mà tôi đã đọc được
trong lần viếng thăm ở ngôi chùa phía Ðông Bắc Sài Gòn. Ðể nói lên tinh
thần nhập thế của Ðạo Phật:
Mộ cổ, thần chung, cảnh tỉnh ái hà danh lợi khách
Triêu kinh, tịch kệ, hoán hồi trần thế mộng mê nhân.