Thoát
Vòng Tục Lụy
Nguyên tác: Đại
Sư Tinh Vân
Việt dịch: HT
Thích Quảng Độ
---o0o---
Chương Mười
Chín & Hai Mươi
Ngọc Lâm Quốc Sư
tuy còn ít tuổi, song tài, đức vẹn toàn, ngài lại có chí
chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh, nên bất luận lúc
nào ngài cũng cố dùng năng lực để ảnh hưởng đến
Thuận Trị, muốn nhà vua phải xét đến nỗi khổ cực của
nhân dân, và thành tâm hộ trì Phật giáo.
Thuận Trị Hoàng
Đế cũng là một vị vua sáng suốt, nhân từ, trên được
Ngọc Lâm Quốc Sư chỉ dẫn, dưới có các hiền thần giúp
đỡ, cho nên chính trị đầu đời nhà Thanh thịnh vượng, nước
giầu, dân mạnh và đâu đâu cũng ca khúc thanh bình.Đức tướng
trang nghiêm của Ngọc Lâm Quốc Sư tràn đầy nhân tính rực
rỡ, trong cung mặc dầu ngài ít nói cười, song không ai là không
tôn kính và cảm mến cái phong độ giản dị và hiền từ
của ngài.Bốn năm năm sống cuộc đời nay đây, mai đó đã
quen rồi, nay bỗng trở về hoàng cung, dĩ nhiên Ngọc Lâm
Quốc Sư cũng có cảm giác không được tự nhiên, ngài ngồi
trong phòng trầm tư, nhưng phía ngoài có rất nhiều ngự lâm
quân bao vây hộ vệ; lúc ngài ra vườn hoa để tản bộ,
những vệ binh ấy cũng theo xa xa sau ngài. Đã mấy lần Ngọc
Lâm Quốc Sư bảo họ về nghĩ ngơi, nhưng họ đều nói là
họ phụng mệnh Hoàng Thượng bảo vệ an ninh của quốc sư,
nên không giờ phút nào họ dám xa Quốc Sư.Ngọc Lâm Quốc Sư
đi đâu cũng phải tiền hô hậu ủng, người khác thì cho
thế là oai hùng, vĩ đại lắm, song đối với ngài đó chỉ
là điều ràng buộc, con người vốn phải tự do, thế mà
lại bị danh lợi, quyền thế trói buộc. Nhưng chủ ý của
Ngọc Lâm Quốc Sư là muốn hoằng dương Phật pháp, nên
phải nhẫn nại, đối với khổ nạn cũng phải nhẫn nại, mà
đối với vinh hoa, danh vọng cũng phải nhẫn nại, thân tuy
sống trong cảnh nhung lụa, song tâm đừng tham luyến, thế cũng
là tự tại rồi.Anh chàng thanh niên họ Mã đã đánh cuộc
với Ngọc Lâm Quốc Sư dưới thuyền, lúc này thấy trên từ
Thiên Tử dưới đến thần dân trong hoàng cung đều tôn kính
ngài, chàng ta cũng bị quyền thế bắt phải tôn kính. Hiện
giờ anh ta hầu hạ Quốc Sư, thôi thì dâng trà, lấy nước,
cái gì cũng phải làm đúng nghi lễ hoàng cung, tuy bề ngoài
phải kính cẩn, song anh ta cũng ức trong lòng. Chàng tự thấy
bao nhiêu ước vọng khi ra đi đã tan thành mây khói; chàng
về Kinh ứng thí mục đích để lập công danh, mở đường
tiến thủ, cũng mong đứng vào hàng mũ cao, áo rộng, nào
ngờ giữa đường chỉ vì mấy câu nói mà bỗng chốc trở
thành anh thị giả của một người xuất gia, hàng ngày buông
màn, trải nệm, hầu hạ trước sau, thật không khác những
kẻ tôi đòi. Dĩ nhiên là Tiểu Mã cảm thấy áo não và oán
hận vô cùng.
Vì muốn khắc
phục lòng kiêu mạn, tự cao của Tiểu Mã mà Ngọc Lâm Quốc
Sư phải để anh ta hầu hạ ngài. Nhưng thật tình ngài rất
thương Tiểu Mã, ngài cho người đưa đến cấp dưỡng cho
gia đình chàng tám mươi lạng bạc, song Tiểu Mã không hề vì
thế mà cảm động, chàng không dám phản đối ngài, song chàng
tức với Phật giáo, tức với tất cả mọi người xuất gia,
chàng chỉ chờ cơ hội để trả thù cho nỗi nhục nhã của
chàng.
Thấm thoát ba năm
trôi qua, Ngọc Lâm không thấy nỗi lòng uất hận của Tiểu
Mã, ngài lấy đức từ bi đối với tất cả mọi người, ngài
tưởng Tiểu Mã đã hết kiêu mạn, nên ngài thấy cũng thương.Một
hôm Ngọc Lâm Quốc Sư gọi Tiểu Mã đến hỏi:
- Tiểu Mã! Con
muốn làm quan không?
Tiểu Mã cố nén
uất hận và trả lời một cách thảm thương:
- Bẩm Quốc Sư,
kẻ tiểu nhân này lúc đầu định về Kinh, mục đích chỉ
để cầu công danh.
- Đã thế để
ta nói với Hoàng Thượng cho con một chức quan nhỏ.
- Cảm tạ Quốc
Sư!
Tiểu Mã cúi đầu
trước Ngọc Lâm Quốc Sư, ngài nghĩ ngợi một lát, rồi nhìn
Tiểu Mã bằng cặp mắt hiền từ, ngài hỏi tiếp:
- Tiểu Mã! Con có
biết việc trọng yếu nhất của người làm quan là gì không?
- Bẩm Quốc Sư,
việc trọng yếu nhất của người làm quan là phải phục
vụ và yêu dân như con!
- Còn việc thứ
hai? Ngọc Lâm Quốc Sư hỏi thêm.
- Xin Quốc Sư
chỉ dạy! Tiểu nhân sẽ tuân theo lời giáo huấn của Quốc
Sư!
Với giọng uy
nghiêm và tha thiết, Ngọc Lâm Quốc Sư nói:
- Làm quan điều
cần nhất dĩ nhiên là phải trung quân, ái quốc, chăm chỉ
phục vụ và thương yêu dân, và thứ hai nữa là phải sửa mình,
trau dồi đức tính, thành khẩn hộ trì Phật pháp để phát
huy đạo đức, văn hóa, tạo thành một xã hội tốt đẹp, lành
mạnh.
- Bẩm Quốc Sư,
những việc ấy tiểu nhân có thể làm được!
Tuy Ngọc Lâm
Quốc Sư cũng cảm thấy khó tin được lời hứa của Tiểu Mã,
song ngài lại cho rằng con người dầu sao cũng có nhất điểm
lương tâm, không nên hoàn toàn thất vọng, bởi thế ngài
mới nói với Thuận Trị Hoàng Đế cho Tiểu Mã làm quan. Vì
tôn kính Quốc Sư nên Hoàng Đế tuân lời ngay, và mấy hôm
sau thì có thánh chỉ truyền xuống phong cho Tiểu Mã làm
Tuần phủ kiêm Tổng Đốc Hồ Bắc.
Khi được biết
tin ấy, Ngọc Lâm Quốc Sư cho rằng Tiểu Mã không xứng đáng
với chức vụ đó, song thánh chỉ đã phê chuẩn, nói ra không
tiện.
Vào đời nhà
Thanh, làm quan ở Kinh Đô chẳng có uy quyền gì cả, không
hống hách với ai được, còn nếu bổ đi các tỉnh nhỏ thì
tha hồ mà cỡi đầu, cỡi cổ dân, tác uy tác phúc, cho nên
ai làm quan cũng mong được bổ đi các tỉnh, lúc đó trời thì
cao, vua thì xa, muốn làm gì thì làm. Bởi thế, khi biết mình
được bổ nhiệm Tuần phủ Hồ Bắc, Tiểu Mã vui sướng
gần như phát điên.Tiểu Mã lên đường nhậm chức. Khi tới
Hồ Bắc, lúc đầu Tiểu Mã vẫn chưa dám có hành động
ngang ngược, nhưng dần dần hiểu rõ tình thế trong quan trường,
Tiểu Mã ra mặt phản đối Phật giáo, nhất là hôm đến chùa
Quy Nguyên, một cảnh chùa danh tiếng ở Hồ Bắc, hòa thượng
trụ trì không đặc biệt tiếp đãi Tiểu Mã, nên anh chàng
lại càng ghét những người xuất gia. Tiểu Mã liền ra các
mệnh lệnh rất hà khắc đối với những chùa chiền, các sư
xưa nay vốn theo hạnh từ bi, trong lòng tuy bất mãn với quan
tân Tuần Phủ, song họ không hề tỏ hành động phản khán bên
ngoài, bởi thế Tiểu Mã người đã từng ba năm hầu hạ
Ngọc Lâm Quốc Sư càng làm tới, chàng dựa vào danh nghĩa xây
Khổng Miếu để hạ lệnh phá hủy chùa Quy Nguyên, tất cả
các sư trong chùa đều bị trục xuất.Lúc này Tiểu Mã đã
nắm được quyền hành trong tay, chàng không còn nhớ gì đến
Ngọc Lâm Quốc Sư, và cũng đã quên hết những lời ngài
dạy bảo về đạo làm quan. Chàng tưởng như nếu không gây
được khó khăn cho Phật giáo, thì chàng sẽ không thể tỏ
ra con người vĩ đại!
Lệnh phá chùa,
đuổi sư của Tiểu Mã là một tin động trời, chàng ta cho
rằng Thuận Trị Hoàng Đế và Ngọc Lâm Quốc Sư không thể
biết được, thậm chí còn nghĩ rằng dù nhà vua và Quốc Sư
có biết cũng không sao, vì chàng là một ông quan to trấn
thủ một phương, hơn nữa chàng phá chùa để xây dựng
Khổng Miếu, tôn thờ vị Vạn Thế Sư biểu là hợp cách.Các
vị trụ trì các chùa ở Hồ Bắc bàn tán xôn xao, họ không
thể tưởng tượng được rằng, một người đã từng hầu
cận Quốc Sư mà lại có hành vi phản bội như vậy.
Một hôm, Ngọc Lâm
Quốc Sư đang ngồi tham thiền trong tịnh thất tại cung Tây
Uyển, bỗng ngài thấy lòng nao nao động loạn, ngài không
thể nào trấn tĩnh được, có lẽ việc gì rủi ro đã xẩy
ra? Ngài đứng dậy đi ra cửa cung, mà đi là đi, chứ ngài cũng
không biết là mình đi đâu. Một lúc sau ngài đến bờ sông,
bên bờ sông có chiếc thuyền nhỏ, trên thuyền một ông già
đầu tóc bạc phơ đang giơ tay với ngài, lòng thúc dục, ngài
cứ xăm xăm bước tới, cũng chẳng tưởng về cáo biệt Hoàng
Đế, và cũng như hơn mười năm trước, ngài chẳng mang gì
theo, chỉ cầm có chiếc quạt ngà trên có mấy chữ "Như
Trẫm Thân Lâm" mà nhà vua đã dâng cúng ngài, ngài lại yên
lặng ra đi.
Lên thuyền rồi,
ngài đang định hỏi chuyện ông già, bỗng trời nổi gió, mây
đen từ bốn phía kéo tới ùn ùn, phong ba bão táp, một con
thuyền nan quay cuồng giữa dòng nước bạc, ông già chú hết
tâm lực vào việc chèo lái, không còn thì giờ để nói
chuyện với Ngọc Lâm Quốc Sư. Trong tình trạng nguy nan ấy,
Ngọc Lâm Quốc Sư chỉ còn cách cầu nguyện Bồ Tát Quan Âm
che chở cho được thoát nạn, điều đó không có nghĩa là
ngại sợ nguy hiểm hoặc chết chóc, thực ra ngài không nỡ
thấy ông già tuổi tác chết một cách oan uổng!Quái lạ! Ông
già cứ yên lặng, Ngọc Lâm Quốc Sư bất giác cũng hoài nghi,
ông già vừa chèo thuyền, vừa đưa tay chỉ vào mồm, rồi
lại xua xua tay, tỏ ý muốn nói với Quốc Sư ông là người
câm, lúc đó Ngọc Lâm Quốc Sư mới biết tại sao ông già
cứ yên lặng.Ngọc Lâm Quốc Sư xuống thuyền vào lúc hoàng
hôn, và hiện giờ thì màn đêm đã bao trùm cả vạn vật. Ngài
ra đi vốn không có mục đích là đi đâu, mà chiếc thuyền lênh
đênh trên sông, trôi theo chiều gió tựa hồ cũng không có
bến bờ. Gió táp đã đưa con thuyền đi như một vì lưu tinh,
trong khoảng một đêm đã băng qua mấy nghìn dặm và đến
một nơi xa lạ nào.
Ngọc Lâm Quốc Sư
trả công ông già mấy lạng bạc, nhưng ông lắc đầu, và
lại trao cho Quốc Sư một bao giấy, đưa ngài lên bờ, chắp
tay vái chào rồi chèo thuyền ra đi.Ngọc Lâm Quốc Sư quay
lại để cảm tạ ông già, thì lúc ấy con thuyền đã lướt
theo dòng nước êm đềm, không bao lâu, hình bóng ông già đã
mờ dần trong khói sóng.
Chờ cho bóng ông
già khuất hẳn, lúc đó Ngọc Lâm Quốc Sư mới bóc bao giấy
ra xem, trong bao ngài chỉ thấy có một mẩu giấy nhỏ, trên
viêt mấy hàng chữ nguệch ngoạc như sau: "Ngọc Lam nhờ
tôi đến chùa Quy Nguyên ở Hồ Bắc có việc, về Thiên Hoa
Am một lần, Hộ Pháp Vi Đà đang đợi ngài".
Xem xong, Ngọc Lâm
biết ngay là sư huynh Ngọc Lam sai người đến, nhưng ngài không
hiểu hết ý nghĩa trong mấy hàng chữ nói trên, câu thứ
nhất, ngài cho rằng ông già đó phải là bạn thân của sư
huynh, nên sư huynh mới nhờ đưa thuyền đến đón ngài; câu
thứ hai "Chùa Quy Nguyên" ở Hồ Bắc có việc là
việc gì? Còn câu thứ ba thì rõ ràng rồi, nghĩa là sư huynh
muốn ngài thăm Giác Chúng ở Thiên Hoa Am một lần.Song lúc
ấy Ngọc Lâm Quốc Sư không muốn băn khoăn về ý nghĩa khúc
mắc trong câu nói, ngài chỉ muốn tìm một người để hỏi
đường xem đây thuộc về địa phương nào.
Sau khi hỏi thăm
thì ngài được biết nơi ấy thuộc địa phận Hồ Bắc, không
cần suy nghĩ, ngài tìm ngay đến chùa Quy Nguyên xem việc gì
đã xẩy ra, nếu không ngài không thể yên tâm, vả lại,
trong khoảng một đêm ông già đã đi mấy nghìn dặm và lại
áp thuyền cho ngài lên đúng nơi đây, thật là một việc ly
kỳ!Khi gần đến chùa Quy Nguyên, Ngọc Lâm Quốc Sư nhìn thì
đó là một ngôi chùa đồ sộ, nguy nga và coi rất quy mô,
thảo nào cứ nghe người đồn Quy Nguyên là một tòa chùa
danh tiếng. Nhưng khi vào hẳn cửa Tam Quan, ngài thấy cảnh tượng
thật hoang tàn. Trước hết ngài vào Chính Điện lễ Phật,
rồi ngài định tìm một vị sư để hỏi chuyện, nhưng tìm
khắp nơi trong chùa không thấy một vị sư nào cả. Đang lúc
hoang mang thì ngài thấy một vị sư già yếu đang ngồi than
van trong góc một bức tường đổ, ngài liền đến vái chào
rồi hỏi thăm:
- Bạch Trưởng lão,
tại sao trong chùa này không có tăng chúng?
Vị sư già nhìn
Ngọc Lâm Quốc Sư một chặp, buông một tiếng thở dài não
nuột, rồi nói qua một giọng rất đau thương:
- Đại Đức
chắc từ xa mới đến nên không biết nổi khổ của chúng tôi.
Đạo cao một thước, ma cao mười trượng, đây là cái nạn
của Phật giáo; ai bảo là chùa Quy Nguyên không có tăng chúng?
Tăng chúng chùa Quy Nguyên đã bị ma lực đuổi đi rồi.
- Xin hỏi Trưởng
lão việc gì đã xẩy ra ở đây?
- Chao ôi! - Vị sư
già lại thở dài - Bạch Đại Đức, ngài vẫn chưa biết ngày
mai này Mã Tuần phủ Hồ Bắc sẽ đến phá hủy chùa Quy Nguyên
để xây lại thành ngôi Khổng Miếu à? Tăng chúng trong chùa
đều đi hết rồi, còn có mình tôi già yếu, ở lại đợi
ngày mai, khi Mã đại nhân đến phá chùa sẽ đem cái thân già
này liều chết với ông ta!Nghe xong, Ngọc Lâm Quốc Sư kinh hoàng,
vị sư già nói đến Mã tuần phủ Hồ Bắc có phải Tiểu Mã
chăng? Ngọc Lâm Quốc Sư đã giúp đỡ cho bao nhiêu người công
thành, danh toại, nhưng ngài không nhớ những việc đó nữa,
hiện giờ nghe vị trưởng lão nói đến Mã Tuần Phủ Hồ
Bắc, ngài mới sực nhớ đến Tiểu Mã.Nhưng Ngọc Lâm Quốc
Sư muốn hỏi lại cho chắc chắn:
- Bạch Trưởng lão,
Mã đại nhân là người thế nào?
- Ái cha! Nghe đâu
cái ông muốn xuống địa ngục ấy đã từng là thị giả
của Ngọc Lâm Quốc Sư, mà Ngọc Lâm Quốc Sư cũng muốn
xuống địa ngục nốt, nếu không, tại sao ngài lại đi giúp
đỡ tên đại ma vương ấy, tâu Hoàng Thượng cho nó làm
Tuần phủ đại nhân. Tôi già rồi, rất tiếc không còn được
gặp Ngọc Lâm Quốc Sư, chứ nếu được gặp, tôi cũng sẽ
liều sống chết với ngài một phen, ngài có quyền thế, tôi
đây chẳng có chi hết, nhưng tôi có thể lên trước Phật đài
tố cáo ngài!Giọng vị trưởng lão chìm trong tiếng nấc,
khiến người nghe phải cảm động.Ngọc Lâm Quốc Sư thấy
xấu hổ, ngài rất xúc động trước tấm lòng nhiệt thành vì
đạo của vị trưởng lão những lời trách ngài không sai,
lẽ ra ngài không nên giúp cho một kẻ vô ân bạc nghĩa làm
quan, nhất là chức quan to như thế!Ngọc Lâm Quốc Sư chỉ
biết đem tâm tình ăn năn nói với vị trưởng lão:
- Bạch Trưởng lão!
Người nói thật đúng, Ngọc Lâm và Mã Tuần phủ đều là
những người không tốt nên mới khiến Phật giáo ở nơi này
gặp nạn, nhưng xin người đừng lo, tôi sẽ có cách làm cho
Mã Tuần phủ không dám đến phá chùa Quy Nguyên.
- Đại Đức có
cách? Đừng nói chơi! Hòa thượng trụ trì và các thân sĩ địa
phương đã dùng hết cách rồi, nhưng cũng vô hiệu, nghe đâu
ngày mai Mã Tuần Phủ đích thân đem quân sĩ đến phá chùa!
- Không sao, tôi
không những cấm Mã tuần phủ không được phá, mà còn bắt
phải sửa sang lại chùa khác. Nhưng phải nhờ Trưởng lão giúp
tôi một việc mới xong.
- Sao Đại Đức
nói cứng thế? Ngài muốn tôi làm việc gì? Nếu bảo tồn
được ngôi Tam Bảo này thì dù có phải làm trâu, làm ngựa
tôi cũng vui lòng!
- Giờ xin Trưởng
lão đi tìm ngay mấy người làm đến đây, cất một cái chòi
cao giữa sân chùa để tôi ngồi trên ấy, rồi bên ngoài
viết mấy chữ "Quốc Sư ở đây" thật to, thì dù Mã
Tuần Phủ có cả gan đến mấy chăng nữa cũng không dám đụng
đến một viên gạch ở chùa Quy Nguyên này.
- Ngài, ngài.... là
Ngọc Lâm Quốc Sư?
Vị Trưởng lão
rất đổi ngạc nhiên và cũng rất hối hận những lời người
vừa nói lúc nãy.
- Bạch Trưởng lão,
đó chỉ là hư danh thôi, không đáng quan tâm, vì bảo vệ
Phật pháp nên tôi không thể đừng được, mới phải nêu cái
hư danh ấy lên!Phong độ đạo mạo và khiêm tốn của Ngọc
Lâm Quốc Sư đã làm cho vị Trưởng lão kính phục, vị sư
già vui mừng và lập tức đi mượn người đến cất chòi,
người sung sướng như đã được trông thấy Phật vậy.Hôm
sau, khi chòi được cất xong, Ngọc Lâm Quốc Sư lên ngồi để
chờ Mã Tuần Phủ đến, không lâu, quả nhiên ngài thấy
một đoàn chừng hơn một nghìn quân sĩ đang từ xa tiến đến,
Mã Tuần Phủ ngồi trong một cái xe có tám người kéo.Gần
đến chùa Quy Nguyên, Mã Tuần Phủ đã thấy chiếc chòi cao
lừng lững trước chùa, lòng ông ta tự nghĩ hôm nay sẽ phá
cho bằng hết, ai còn cất chòi lên làm gì thế kia? Đến nơi,
ông ta bảo dừng xe lại, bước xuống và đưa mắt nhìn lên
chòi, ông ta thấy dựng tóc gáy và mồ hôi toát ra đầy mình.
Ngọc Lâm Quốc Sư đang ngồi trên chòi, phía ngoài có mấy
chữ "Quốc Sư ở đây", Mã Tuần Phủ vội nằm
phục xuống đất, hơn một nghìn quân sĩ đứng há hốc
miệng, vị Trưởng lão thấy thế, nói lớn:
- Quốc Sư ở đây
sao các người không quỳ xuống để bái kiến?
Nghe xong, quân sĩ
vội vàng quỳ cả xuống, cảnh tượng lúc ấy trông như
một triều đình có văn, võ bá quan triều phục!
Ngọc Lâm Quốc Sư
bảo Mã Tuần Phủ:
- Tiểu Mã!
Ngẩng đầu lên!
- Quốc Sư ở trên,
tiểu nhân không dám ngẩng đầu?
- Ngươi là kẻ vô
ân bạc nghĩa, không trọng chữ tín, ta nói với ngươi những
gì, ngươi còn nhớ không?
- Xin Quốc Sư
rủ lòng thương, tiểu nhân vẫn còn nhớ!
- Vẫn còn nhó?
Thế hôm nay ngươi đem quân sĩ đến đây làm gì?
- Đó là.....
tội đáng chết của tiểu nhân xin cúi đầu, mong Quốc Sư
mở lượng từ bi, tiểu nhân không dám có ý nghĩ phá chùa
nữa, và từ nay trở đi xin nhiệt thành ủng hộ Phật pháp,
nếu không xin chịu tội hết!Mã Tuần Phủ dập đầu xuống
sân gạch, Ngọc Lâm Quốc Sư thấy con người đáng ghét mà cũng
đáng thương, đối với kẻ phản phúc không thể không dạy
răn, bởi vậy, ngài nói với Tiểu Mã:
- Tiểu Mã, ta
hẹn cho ngươi trong vòng nửa tháng, ngươi phải sửa sang
lại ngôi chùa này, trang hoàng các tượng Phật, mà phí tổn
người phải chịu hoàn toàn, không được trích của công, ngươi
có chịu không?
- Dạ, Tiểu nhân
xin chịu trách nhiệm hoàn toàn, tạ ơn Quốc Sư!
- Tha cho ngươi
lần đầu, lần sau mà còn hành động phá hoại Phật pháp,
nhất định ta sẽ trị tội, thôi, cho dậy!
Tiểu Mã đứng
dậy, rồi như mèo mất tai, cắm đầu kéo quân rút lui.
Buổi chiều hôm
ấy Mã Tuần Phủ đưa thợ nề, thợ sơn đến chùa Quy Nguyên,
lúc này ông ta không còn dám hống hách. Vị Trưởng lão
thấy thế, rất sung sướng và cảm động, tuy tuổi hạc
của người hơn Ngọc Lâm Quốc Sư nhiều, song người mặc cà
sa ra làm lễ cảm tạ Quốc Sư, Quốc Sư từ chối, và ngài cũng
luôn tay vái vị Trưởng lão.
Sau khi từ giả
vị Trưởng lão ở chùa Quy Nguyên, Ngọc Lâm Quốc Sư, như
hạc nội mây ngàn, lại đặt chân lên đường muôn dặm. Hai
năm trước, lúc hòa thượng Thiên Ẩn viên tịch, ngài trở
về chùa Sùng Ân một lần, núi Chính Giác ngài vẫn nhớ, Thiên
Hoa Am cũng không thể hoàn toàn lãng quên. Hình ảnh sư huynh
Ngọc Lam và ni cô Giác Chúng thường lởn vởn trong đầu óc
ngài. Nhưng ngài chỉ nghĩ thế thôi, chứ không có ý định
đến gặp họ, người đã được độ rồi thì cần gì ngài
phải đến? Cõi đời còn biết bao nhiêu người đau khổ, cô
đơn, không người giúp đỡ, không ai an ủi, cho nên, ông cụ
già chèo thuyền bảo ngài đến thăm Thiên Hoa Am, ngài thấy
không cần thiết.
Rời chùa Quy Nguyên,
Ngọc Lâm Quốc Sư đi đến chùa Giang Thiên ở Kim Sơn, ngài
dấu tên tuổi và ở lại đây tham thiền ít lâu, và cũng chính
ở đây, ngài đã liễu ngộ thiền cơ. Năm ấy Ngọc Lâm
Quốc Sư đã 63 tuổi, sau khi liễu ngộ, ngài thấy trên bước
đường tu hành không còn gì có thể trở ngại, ngài liền
chu du các nơi tùy duyên hóa độ chúng sinh.Ngài cứu giúp không
biết bao nhiêu người thoát khỏi khổ nạn, ngài khuyến khích
tăng đồ đi vân du tham học để hỏi Đạo; mỗi khi gặp thiên
tai, ngài tổ chức các cuộc cứu tế, ngài qua cả Nam Dương
để cổ động phong trào truyền bá Phật giáo có tính cách
quốc tế, khi ở Nam Dương về, ngài đem theo một cây Bồ Đề
nhỏ và hiện giờ vẫn còn um tùm xanh tốt tại chùa Sùng Ân.
Trong những năm
Ngọc Lâm Quốc Sư đi chu du hành hóa, ngài nghe nói, ở Thiên
Hoa Am, Giác Chúng và các sư ni cũng thường mở hội giảng
kinh, thuyết pháp, nhất là hàng năm, cứ đến mùa đông giá
rét, Giác Chúng lại mua gạo và quần áo phát cho những người
nghèo khổ, điều đó làm cho Ngọc Lâm Quốc Sư hoan hỉ vô cùng.
Núi Chính Giác đã trở thành một Đại Tùng Lâm, có hàng trăm
tăng chúng.
Thế sự vô thường,
đời người như mộng, cái thân hình đẹp đẽ tuấn tú
của Ngọc Lâm Quốc Sư rốt cuộc cũng suy tàn, già yếu,
mấy năm sau này, trông ngài như một vị lại đầu đà, một
chiếc gậy, một gói cà sa, lang thang đây đó, không còn ai
nhận ra ngài là Ngọc Lâm Quốc Sư.
Một hôm ngài đến
Giang Tô thì thấy trong mình mỏi mệt, cây già chắc phải
cỗi, ngài đã biết trong mình. Do đó ngài lưu lại ở chùa
Pháp Vương. Pháp Vương là một cảnh chùa đã suy đồi, ngài
thấy rất thương tâm, ngài bèn quyết định đem tấm thân tàn
để trùng tu lại chùa Pháp Vương mong gây chút Pháp duyên
cuối cùng.Ngọc Lâm Quốc Sư liền nói với thầy tri khách
trong chùa:
- Bạch thầy tri
khách: lão tăng xin tá túc mấy ngày.
Thầy tri khách
hỏi:
- Lão tăng ở đâu
đến và sẽ định đi đâu?
- Từ chỗ không
đến mà đến, và sẽ đi đến chỗ không đi!
- Không cần dùng
thiền ngữ. Thầy tri khách nói.
- Chùa chúng tôi
nhỏ, không có thiền thất để tiếp lão tăng.
Ngọc Lâm Quốc Sư
đổi giọng nói:
- Tôi đau, xin cho
nghỉ ở đây ít bữa!
- Lão tăng tuổi
tác quá thế này, ngộ có mệnh hệ nào, bản tự lo liệu làm
sao?
- Xin đừng lo, tôi
có một chiếc quạt và hai phong thư, không những không phiền
lụy đến quý tự, mà nơi Đạo Tràng này chắc chắn cũng
nhờ đó mà được chấn hưng.
Thầy tri khách bán
tín bán nghi, nhưng là người đồng đạo, không thể từ
chối, cho nên thầy phải nhận lời của Ngọc Lâm Quốc Sư.Chưa
được mấy hôm thì Ngọc Lâm Quốc Sư viên tịch! Ngài ngồi
xếp bằng trên giường, tuy đã viên tịch, nhưng trông như người
đang tham thiền.Vì thấy Ngọc Lâm Quốc Sư viên tịch một cách
bất ngờ, chúng tăng trong chùa đều hoảng sợ, thầy tri khách
vội tìm chiếc quạt và hai phong thư di chúc của ngài. Hai
phong thư đó, một gửi cho sư huynh Ngọc Lam trên núi Chính Giác,
một gửi cho Giác Chúng ở Thiên Hoa Am. Giác Chúng và Ngọc
Lam là những người thế nào? Trong chùa Pháp Vương không ai
biết cả, khi dở chiếc quạt ra coi thì thấy bốn chữ "Như
Trẫm Thân Lâm" và dưới mấy chữ có đóng con dấu
bằng ngọc mang tên Thuận Trị Hoàng Đế.
- Ái chà! Đây là
ai? Thuận Trị Hoàng Đế đã băng hà rồi, có lẽ vị khách
tăng này là Ngọc Lâm Quốc Sư? Thầy tri khách kinh ngạc hỏi
vị trụ trì và giám viện.Vị trụ trì cầm lấy chiếc
quạt xem, rồi nói:
- Nếu ngài là
Quốc Sư thì chúng ta không thể mở được hai phong thư di chúc
này, chúng ta đâu được phép động đến vật của Quốc Sư.Vị
trụ trì quyết định:
- Trên chiếc
quạt của ngài đã có mấy chữ "Như Trẫm Thân Lâm",
chúng ta không thể để ở đây được, phải đưa trình quan
huyện địa phương, một mặt cho người cầm hai phong thư này
tìm đến núi Chính Giác và Thiên Hoa Am để trao tận tay cho
người nhận.
- Bạch hòa thượng
- Thầy tri khách nói với trụ trì - Ngài thường nói hai phong
thư và chiếc quạt này có thể giúp chúng ta trùng tu lại ngôi
Đạo Tràng này!
- Ngài nói thế
hả? Nếu thật là một vị Quốc Sư mà viên tịch ở cảnh
chùa nhỏ bé này, điều đó là một vinh dự lớn cho chúng ta,
ngài viên tịch mà còn làm ích lợi cho đạo, thật là một
vị Quốc Sư đáng kính!Vị trụ trì vừa nói vừa đưa đôi
mắt cung kính nhìn di hài của Ngọc Lâm Quốc Sư. Nhưng vị
giám viện thì cảm thấy xấu hổ và trong lòng ân hận vô cùng:
- Xấu hổ! Trong
khi ngài đau yếu, chúng ta đã không săn sóc đến nơi đến
chốn!
Thầy tri khách nói
về bệnh trạng của ngài:
- Tôi thấy như
ngài đã biết trước ngày giờ viên tịch. Ngài chẳng đau
ốm gì cả, vì quá già yếu nên trông chỉ có vẻ mỏi mệt
mà thôi.
Khi quan huyện Hoài
An thuộc Giang Tô biết tin Ngọc Lâm Quốc Sư đã viên tịch
ở huyện mình tức khắc đưa hương án đến để tiếp rước
chiếc quạt "Như Trẫm Thân Lâm", rồi báo về triều
đình. Không bao lâu thì tiếp được thánh chỉ của Hoàng Đế
Khang Hy, ra lệnh làm lễ Quốc Táng, lại phái đại thần
trong triều về chủ tọa lễ Quốc Táng, và trùng tu chùa Pháp
Vương, xây tháp kỷ niệm Ngọc Lâm Quốc Sư.Ngọc Lâm Quốc
Sư để lại hai phong thư cho Ngọc Lam và Giác Chúng, trong thư
nói gì, điều đó không ai biết, người ta chỉ biết hôm làm
lễ hỏa táng, Ngọc Lam, Giác Chúng, Giác Đạo, và Đạo
Hoằng (Pháp danh của Thúy Hồng sau khi đã xuất gia) đều có
mặt trong số năm vạn người đến cử hành lễ hỏa táng. Hình
hài của Ngọc Lâm Quốc Sư tan theo ngọn lửa trà tỳ bốc lên,
nhưng tấm lòng vì Đạo và thương người của ngài vẫn còn
trong hai phong thư di chúc tồn tại với núi sông.
-
Hết -
- o0o -
| Mục
lục TVTL | 02
| 03 | 04 | 05
| 06 | 07 |
| 08 | 09 | 10
| 11 | 12 | 13
| 14 | 15 | 16
| 17 | 18 | 19
|
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---