VỤ ÁN MỘT NGƯỜI TU
Viên Giác, 1995
Thích Như Điển
---o0o---
Phần 4
CHƯƠNG MƯỜI SÁU
THẾ PHÁT XUẤT GIA
Sư
Chơn Nghĩa đọc mấy câu chú trước khi cạo tóc cho Phật Tử Trần Thị Diệu
Duyên có pháp danh là Ngọc Chánh, như sau:
"Thế trừ tu phát
Đương nguyện chúng sanh
Viễn ly phiền não
Cứu cánh tịch diệt"
Nghĩa là:
"Cạo bỏ râu tóc
Cầu cho chúng sanh
Xa rời phiền não
Đến chỗ an vui"
Người đi tu ai cũng phải cạo
tóc hết, vì râu tóc tượng trưng cho phiền não; nhưng cạo tóc mới chỉ là
hình thức thôi, cạo tâm mới là vấn đề quan trọng; ngày nay cũng có nhiều
tông phái không cạo tóc như Tịnh Độ tông ở Nhựt và một số chư tăng Việt
Nam theo tân học ở ngoại quốc. Họ ăn vận áo quần tây, viện dẫn lý do là đi
học có nhiều người chú ý. Đầu họ không cạo nhẵn, bảo rằng chúng bạn hay
xoa đầu mình vì không có tóc. Nhưng hôm nay cô Ngọc Chánh chính thức phát
nguyện xuất gia và chính thức trở thành một người nữ tu, đã để cho Sư Chơn
Nghĩa cắt trọn mái tóc dài gần một thước mà cô đã dưỡng nuôi lâu nay, quả
là điều hy hữu.
Đoạn Sư đọc tiếp:
"Hủy hình thủ
chí tiết
Cắt ái từ sở
thân
Xuất gia hoằng
thánh đạo
Thế độ nhất
thế nhân"
Nghĩa là:
"Bỏ mình giữ
chí tiết
Cắt ái xa
người thân
Xuất gia làm
việc thánh
Hay độ tất cả
người"
Đúng là ý chí của kẻ trượng
phu. Cứ mỗi một chữ, một câu mà Sư Chơn Nghĩa đọc lên là cô Ngọc Chánh cảm
động đến rơi nước mắt. Cô biết rằng cái khí tiết của người đi tu trong
hiện tại là phải bỏ sự giàu có tạm bợ của thế gian. Xa rời tất cả tình yêu
thương vị kỷ kể cả tình thương của gia đình và bè bạn và việc xuất gia hôm
nay của mình đây có một ý nghĩa rất cao đẹp là trên đền ơn Tam Bảo, dưới
cứu độ quần sanh. Ngay từ bây giờ Phật Tử Diệu Duyên hay cô Ngọc Chánh cảm
thấy mình như có một trách nhiệm lớn lao đối với bản thân mình cũng như
đối với xã hội.
Đoạn Sư đọc tiếp:
"Thiện tai
thiện nữ nhơn
Năng liễu thế
vô thường
Khí tục thú nê
hoàn
Công đức nan
tư nghì"
Nghĩa là:
"Này cô tín
nữ kia
Hay hiễu đời
vô thường
Xa tục vui Niết
Bàn
Công đức khó
nghĩ lường"
Đúng là tuyệt diệu. Khi Sư Chơn
Nghĩa vừa buông cành dương rảy mấy giọt nước vào đầu của cô Ngọc Chánh và
trong giờ phút nầy cô đã ngộ được cái tánh vô thường ấy. Mới ngày nào đó
mái tóc mình còn đẹp, còn xinh, duyên dáng mặn mà, bây giờ đây không còn
nữa. Niềm vui duy nhất của người tu là cảnh giải thoát và đó mới chính là
một công đức to lớn vậy.
Nếu trước kia nàng nghĩ và biết
được tất cả những điều như vừa cảm nhận được thì nàng đâu có làm cho Sư
Tịnh Thường khổ tâm đến thế. Bây giờ Sư đã chết rồi, và ni cô Ngọc Chánh
phải làm sao đây. Cô ân hận lắm và cúi sầm mặt xuống.
Buổi lễ xuất gia cảm động lắm.
Tuy không có đông người đến dự nhưng cũng nói lên được ý nghĩa cao thượng
của một việc làm. Một người con gái tầm thường yếu đuối, biết hy sinh hạnh
phúc cá nhân của mình để quyết chí tu hành và cứu độ quần sanh.
Sau mỗi thời kinh sáng, chiều
cô Ngọc Chánh đều hồi hướng Tây Phương trang nghiêm Tịnh Độ; nhưng cô thấy
hình như sức mình không đủ để cầu nguyện cho bà Bảy Diệu Đạo và Sư Tịnh
Thường; nên một hôm cô Ngọc Chánh đã bàn với Sư Chơn Nghĩa rằng:
- Trước khi đi xuất gia, con có
đi làm và để dành được một số tiền. Bây giờ con muốn dùng số tiền ấy để
xây mồ mả cho Sư Tịnh Thường và nhất là làm sao phải làm cho được một đàng
tràng chiêu mộ cho linh hồn của Sư và của bà Bảy Diệu Đạo.
- Việc ấy đâu có khó khăn gì.
Sư sẽ đi cung thỉnh chư Tăng làm lễ đăng đàn chẩn tế và Sư cũng sẽ cho gia
đình của Bà Bảy hay luôn. Nếu họ cùng đến đây để cúng thì hay biết mấy.
Đến ngày rằm tháng bảy năm ấy
nhân lễ Vu Lan, Tịnh Xá Ngọc Châu đã làm lễ Chẩn tế cô hồn để cầu siêu độ
cho các oan hồn uổng tử, nam nữ thương vong, nhất là hai vong linh của hai
người xấu số. Tuy không cùng một cảnh ngộ; nhưng có lẽ họ đã có một nghiệp
duyên. Nên cầu nguyện cho họ để biết đâu họ sẽ có cơ hội gặp nhau và giãi
bày nỗi uẩn khúc.
Cả gia đình bà Diệu Đạo, con
dâu rể, cháu chắt hôm đó đều đủ mặt nơi Tịnh Xá Ngọc Châu để cầu nguyện
cho hương linh của bà Bảy. Khi nhìn vị sám chủ tự nhiên người con cả của
bà Bảy nhốn nháo lên và quay cuồng trước bàn thờ Tiêu Diện Đại Sĩ và hô
hoán lên rằng:
"Má ơi! Thôi để con khai! Má
đừng hành hạ con nữa. Kể từ ngày má mất đến nay con ăn không ngon, ngủ
không yên cũng chính vì công việc của con đã làm. Tuy con không trực tiếp
giết má để chia gia tài; nhưng con đã sai người thủ tiêu má. Xin má sống
khôn thác thiêng chứng kiến cho lòng con và kể từ nay con xin chừa bỏ và
sám hối tội lỗi của mình. Số tiền của ấy con xin dâng cúng và chùa và làm
những công việc từ thiện để chuộc lại lỗi lầm xưa".
Đèn nhang trên bàn Phật như
rung đổ. Những vị kinh sư, gia trì đều như nín thở để lắng nghe những lời
thổn thức của người con trưởng và khiến cho bao nhiêu người dự lễ hôm đó
cũng rất ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì gia đình anh cả con bà Bảy lâu nay
sống đầm ấm hạnh phúc, đạo đức như vậy, tại sao lại ra nông nổi ấy. Họ đâm
ra thương hại nhà Sư Tịnh Thường và không ngớt lời nguyền rủa thế nhân.
Bây giờ nhà Sư Tịnh Thường cũng
đã chết. Nếu Sư còn sống, không biết Sư xử trí như thế nào trong hoàn cảnh
nầy đây.
Sau buổi lễ Chẩn tế hôm đó, cô
Ngọc Chánh đã xây bia làm mả cho Sư Tịnh Thường một cách tươm tất và cô đã
tìm về lại Việt Nam để thăm quê hương xứ sở cũng như để báo tin cho gia
đình của Sư Tịnh Thường về sự kiện đã qua.
Khi về đến Sóc Trăng, cô Ngọc
Chánh không biết phải đi tìm ai để báo tin cả. Vì cảnh cũ giờ đây đã thay
đổi hẳn, khác xưa rất nhiều. Khi hỏi thăm đến ba mẹ của Sư Tịnh Thường thì
mới hay ông bà cũng đã ra người thiên cổ. Cuối cùng cô Ngọc Chánh quyết
định tìm đến Tịnh Xá nơi Sư Tịnh Đạo, huynh đệ của Sư Tịnh Thường để báo
tin. Mới gặp Sư Tịnh Đạo, cô Ngọc Chánh đã nức nở:
- Bạch Sư! Thế là hết! Không
còn gì nữa đâu để mà nói.
- À ! Té ra là Diệu Duyên con
đã xuất gia? Và nay pháp danh của con được gọi là gì?
- Bạch Sư! Ngọc Chánh.
- Ai cho con thế phác và ai đã
đặt pháp danh cho con?
- Người thế phác cho con chính
là Sư Chơn Nghĩa và pháp danh nầy cũng do người đặt cho.
- Còn Sư Tịnh Thường đâu?
- Cô Ngọc Chánh trả lời: Bạch
Sư câu chuyện dài lắm.
Thế rồi cô Ngọc Chánh bù lu bù
loa kể hết đầu đuôi câu chuyện cho Sư Tịnh Đạo nghe. Người rất mủi lòng và
sai đệ tử lên chánh điện để làm lễ cầu siêu cho Sư đệ của mình.
Bây giờ giữa chốn phồn hoa đô
hội, biết ai là người chân thật, ai là kẻ giả dối đây? mỗi người hãy tự tu
tỉnh bởi chính mình. Hôm nay đốt mấy nén hương nầy để khấn Sư và cầu
nguyện cho Sư đệ của ta được tiêu diêu nơi miền lạc cảnh. Ta không ngờ
ngày trùng phùng tao ngộ lại là ngày chảy nước mắt bi thương để nghe qua
một tấn thảm kịch hơn là một cuộc gặp mặt huy hoàng.
Đêm đó Sư Tịnh Đạo mơ màng nhớ
lại tất cả mọi câu chuyện từ xưa đến nay, nhất là từ khi huynh đệ tu hành.
Rồi ngày đó Sư Tịnh Thường ra đi mang một lý tưởng, đồng thời cũng đi trốn
chạy một vấn đề, không ngờ vấn đề hôm nay lại có một đáp số như thế. Nghĩa
là Sư đã chết, cô Diệu Duyên đã đi tu. Sư Chơn Nghĩa là một tình địch của
Sư, bây giờ lại là người thế độ Bổn Sư của cô Ngọc Chánh.
Sư Tịnh Đạo nhắm mắt lim dim
chuẩn bị ngủ thì thấy hình ảnh Sư Tịnh Thường lại hiện về trước mặt mình
và gọi:
- Sư huynh ơi! Sư đệ Tịnh
Thường đây. Đợi đệ với!
- Huynh đang ở đây, chứ có đi
đâu mà đợi!
- Huynh lầm rồi. Huynh đang ở
trong cõi vô hình với đệ đây mà.
Sư Tịnh Đạo nhìn kỹ lên tường
thấy hình ảnh của Sư Tịnh Thường đang tọa vị trên một toà sen, mặt mày
sáng rỡ và có nụ cười thật tươi. Sư Tịnh Đạo choàng mình ngồi dậy, hai tay
chắp lại và niệm lớn lên rằng:
"Nam Mô Tây Phương Cực Lạc
Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật".
CHƯƠNG MƯỜI BẢY
CÂU CHUYỆN GIỮA ĐƯỜNG
Đường ở đây ai muốn hiểu sao thì
hiểu. Đạo cũng được mà đời cũng xong. Nhưng giữa đời và đạo chẳng có gì
cách nhau cả, chỉ trong gang tấc cận kề mà thôi.
Khi quý vị đọc quyển sách nầy
thấy có 3 đến 4 Chương không liên quan với nhau, nhất là Chương Một và
Chương Hai. Bây giờ đến Chương thứ Mười Bảy nầy và kể luôn cả Chương Thứ
Mười Tám nữa, đúng ra nó không thuộc vào trong mẩu chuyện "Vụ Án Một
Người Tu"; nhưng ít nhiều cũng liên quan đến sự tu hành và người thế
tục, nên tôi tạm cho vào đây, không phải cho dày quyển sách, cốt có được
nhiều trang cho quý vị đọc, mà chỉ nhằm một mục đích nói lên những sự thật
cho thế nhân biết. Nếu được, mỗi người tự sửa đổi một chút có lẽ sẽ đỡ đi
nhiều.
Chuyện xảy ra như vầy:
Khi ra đi tị nạn, mọi người
Việt Nam chúng ta, trong đó đa số là Phật Tử cũng đã không mang theo được
gì nhiều, ngoại trừ lo chạy cho thoát thân. Đến được đảo, lo sao cho mau
mau đi định cư. Sau khi định cư xong, mong sao cho có việc làm. Có việc
làm rồi, có tiền chút đỉnh lo tiêu xài hoặc giả gởi về Việt Nam cho thân
nhân bằng hữu. Cuối tuần họp mặt hội hè hoặc cưới hỏi, ma chay… Chính
trong những câu chuyện qua lại ấy nhiều người Phật Tử đã nảy sinh ra việc
lập hội, làm chùa và thỉnh Thầy về giảng dạy giáo lý.
Có một số nơi, đã có quý Thầy
thì đỡ lo. Thầy sẽ đứng ra lo mọi vấn đề và Phật Tử chỉ có việc hỗ trợ cho
Thầy để làm chùa, tạo tượng, đúc chuông thì tạm ổn; nhưng có một số nơi
thỉnh Thầy không được, do đó họ tự động kêu gọi xây dựng chùa. Khi chùa
chưa có Thầy họ phải tìm mọi cách để đi thỉnh Thầy, thỉnh Cô về trụ trì.
Có nhiều người buột miệng nói rằng: Thời buổi nầy nghề tu sao mà đắt giá
quá; nhưng chẳng thấy ai tu. Đúng vậy, người tu quá hiếm người ta mới khổ
công đi tìm là vậy. Phật Tử ngày nay thì kén chọn dữ lắm. Họ nghĩ rằng:
một người tu thì phải thế nầy, một người tu phải thế kia, v.v… nếu người
tu không hợp với nhãn quan của họ, họ lại mời Sư ra đi.
Sau đây là một số câu chuyện có
thật, xin kể để hầu quý vị.
Chuyện xảy ra ở Pháp vào thời
điểm 79, 80 gì đó. Có một bà thí chủ rất giàu đạo tâm và giàu cả vật chất.
Đi đâu bà cũng khoe là đã ấn tống kinh nầy, kinh kia nhưng đều để ẩn danh
hết. Một hôm nọ bà bảo tôi rằng:
Hồi còn ở Việt Nam con ấn tống
kinh đó một triệu đồng, Thầy giở ra mấy trang cuối trong phương danh ấn
tống thì thấy. Đó là gia đình con. Thầy xem cho biết thôi, đừng nói với ai
làm gì.
Bà nầy Phật Tử theo Nam Tông;
nhưng cả Nam lẫn Bắc Tông bà đều thông hiểu.
Bà và Ban Tri Sự một chùa nọ có
thỉnh một vị Sư cũng danh tiếng lắm, đã đỗ Tiến sĩ triết học bên Ấn Độ,
chứ đâu phải tầm thường. Dân du học mà. Ban đầu khi về chùa đây Thầy trò
vui vẻ lắm. Bỗng một hôm chẳng biết chuyện gì đã xảy ra, Thầy trò đối
thoại với nhau không nể lời và bà ta nói xẵng giọng:
- Tôi nói cho Sư nghe! Sở dĩ
lâu nay tôi lạy Sư là tôi lạy chiếc áo của Sư chứ đâu phải lạy Sư. Chiếc
áo tượng trưng cho Đức Phật, nên tôi mới lạy, Sư đừng nghĩ tôi lạy Sư mà
lầm.
Ông Thầy cũng chẳng vừa chi. Vì
ông ta có học mà.
Ông ta cũng hạ giọng thật lớn:
- Mô Phật! Điều ấy không sai,
nhưng không hoàn toàn đúng. Giả sử bây giờ tôi đi tắm, bà đến chùa không
thấy tôi, chỉ thấy chiếc y tôi treo ngoài kia kìa, bà có đến chiếc y đó để
lạy hay không?
Bà Phật Tử cụt hứng chạy vào
nhà bếp thu dọn hành lý và quày quả ra đi. Còn Sư chẳng bao lâu sau Sư
cũng từ giã xứ Pháp và sang Hoa Kỳ để định cư.
Lời bàn:
Thật ra Phật dạy: Y pháp bất y
nhơn rất đúng. Nghĩa là nương vào giáo pháp của Đức Phật để tu, chứ đừng
nương vào con người. Vì con người còn có khi sai, khi đúng. Ở đây, bà Phật
Tử nầy quá chấp, nhưng cũng quá thiên về vô vi không coi vị Sư nầy ra gì,
nên mới có cách đối xử như thế. Nếu có Pháp của Phật mà Tăng không hoằng
truyền giáo pháp ấy thì giáo pháp kia cũng không phát triển được. Nếu để
một chiếc y đó nguyên một chỗ, chiếc y nó cũng chỉ có giá trị một miếng
vải không hơn không kém mà thôi. Khi người Tăng sĩ mặc chiếc y ấy vào,
thực hành giáo pháp của Đức Phật, chiếc y ấy mới xứng đáng với giá trị của
nó chứ. Vì vậy cũng đừng xem nhẹ phương tiện, chỉ nhắm đến mục đích, mà
xin nhớ rằng mục đích và phương tiện đôi khi cũng phải tương xứng với
nhau.
Một câu chuyện khác cũng xảy ra
tại Âu Châu, như sau:
Nguyên là ở các xứ tự do nầy,
cứ 7 người hợp lại có thể thành lập một đoàn thể, rồi lập ra nội quy, điều
lệ, là hợp thức với chính quyền rồi. Ở một nước nọ, Phật Tử còn khan hiếm,
làm sao Sư tìm ở đâu cho đủ 7 người mà lập hội. Vì vậy nên khi lập Hội,
quý vị Phật Tử có mời Sư giữ chức Hội Trưởng; nhưng Sư từ chối có lý do;
"Chữ nghĩa ở đây tôi không biết, làm Hội Trưởng để làm gì? Vả lại va chạm
với tiền bạc, luật pháp tôi không ham đâu, quý vị làm đi, để tôi chỉ cố
vấn cho Hội thôi".
Vì tập hạnh hỷ xả nên Sư chẳng
màng danh lợi chi. Điều đó cũng đúng với luật lệ của nhà chùa thôi. Nhưng
khi có những vấn đề quan trọng ra biểu quyết thì Sư không có quyền. Sư chỉ
là cố vấn thôi. Vì vậy Sư cảm thấy mình bị Hội coi thường, có vẻ hất hủi
Sư. Khi ra ngoài, nhiều người thêm mắm giặm muối vào, khiến Sư cũng buồn.
Họ bảo rằng:
"Sư ở đó làm gì nữa? Tất cả
chức vụ quan trọng Hội đều nắm hết. Sư không có quyền gì ráo trọi. Sư
chẳng khác gì một ông Từ giữ chùa. Mà ông Từ giữ chùa còn có hoa quả bánh
trái. Còn Sư ở đây không có một quyền lợi gì cả. Vậy Sư ở đây để làm gì?
Tiền bạc cũng không có quyền kiểm soát và nhất là thùng phước sương, tại
sao Sư không được có chìa khóa để mở v.v… và v.v…
Sư nghe người nào nói cũng có
lý, Sư bèn hỏi ý của một số người khác, bây giờ phải tính sao đây? Lại có
người bày Sư phải ra một liên danh khác để bầu cử trong ấy Sư làm Hội
Trưởng và tụi con sẽ hỗ trợ Sư. Cuối cùng rồi cũng phải làm theo tính cách
dân chủ nầy; nhưng phía kia có tính cách gian lận, không bầu cử công khai.
Sư lần này bị ra rìa và nghe lời xúi giục của những người khác nên Sư lại
đi kiện Hội.
Đây là điều làm cho thế nhân dị
nghị chê cười.
Lời bàn:
Phàm việc gì thuộc về nội bộ;
nên giải quyết trong nội bộ với nhau. Thầy và Hội hay Thầy và Phật Tử cũng
giống như cha mẹ đối với con cái. Chuyện gì không phải hãy bàn bạc với
nhau cho kỹ lưỡng, không nên đem ra pháp luật và nhờ pháp luật can thiệp.
Quả là điều đáng trách cả Hội lẫn Thầy.
Sống ở xứ nầy đi làm việc đạo
thấy có nhiều điều mà ở trong nước không thể nào tưởng tượng nổi. Ví dụ có
một số chùa ở Mỹ và Canada có những việc như sau, xin kể để quý vị nghe và
rút kinh nghiệm.
Khi chùa chưa có Thầy thì Phật
Tử nằng nặc đòi có Thầy cho được. Sau khi đã coi tướng coi tá ông Thầy
xong rồi (Làm như đi coi mắt nàng dâu không bằng). Sau đó mới cung thỉnh.
Lễ thỉnh trang trọng lắm., cả Ban Trị Sự đều cúc cung thành kính thỉnh
Thầy. Sau khi Thầy về chùa ở, Thầy cũng tâm lý lắm chứ, thu phục hầu hết
nhân tâm của Phật Tử, lúc bấy giờ Thầy mới bắt đầu rỉ tai với mọi người
quen biết là Ban Trị Sự khó chịu, không cho Thầy trọn quyền coi sóc việc
chùa; nên Thầy muốn ra ở riêng. Khi nghe Thầy nói như vậy, quý Phật Tử
thân tín nỡ nào để Thầy trơ trọi một mình, nên lại phải lạc quyên để xây
chùa to Phật lớn cho Thầy để Thầy có toàn quyền. Thế là ngôi chùa cũ vắng
tanh như Chùa Bà Danh không bằng. Dĩ nhiên Phật Tử thấy chùa có
Thầy thì tới, còn chùa không có Thầy làm sao linh bằng; nên chùa cũ vắng
vẻ lắm. Tuy nhiên Ban Trị Sự cũ vẫn gồng mình tiếp tục gánh vác công việc
chung. Một thời gian sau sóng gió đã tạm yên, công việc chùa tạm ổn thì
một số Phật Tử cũ lại lục tục kéo về và hỏi ra mới biết, họ chạy theo Thầy
để lo cho Thầy; nhưng Thầy đã phụ lòng họ, nên họ phải trở lại chùa xưa;
nên nhiều người đã thốt lên rằng: "Đường đường Tăng tướng, dung mạo khả
nghi", khiến ai nấy cũng xót dạ vô cùng. Đời nầy sao có nhiều chướng duyên
quá.
Một chuyện khác cũng xảy ra tại
xứ Mỹ.
Có một Thầy có một đệ tử sang
tạn tại đây và được đón vào trong một chùa đã được xây dựng sẵn để ở.
Thời gian đầu giữa Thầy và Ban Trị Sự cũng vui vẻ lắm; nhưng một thời gian
sau giữa Thầy và Ban Trị Sự đụng độ với nhau, do đó có một nhóm Phật Tử
lại đón Thầy và Cô ra. Nhóm nầy cũng tận tụy lắm; nhưng sau đó các Phật Tử
đề nghị Thầy là nên gởi Sư Cô đi học chỗ khác. Thầy không đồng ý và giữ cô
ở lại chùa, thế là bất mãn và Thầy dọn ra làm chùa khác, còn Phật Tử mở
thêm một chùa khác nữa.
Lại cũng chuyện tại xứ Mỹ.
Khi Cô chưa đến thì Hội sinh
hoạt bình thường. Khi cô đến rồi thì Cô muốn là Hội giao quyền quản trị
lại cho Cô và sau đó Cô bàn với một số quý vị trong Ban Trị Sự làm lễ hiến
dâng tài sản ấy cho Giáo Hội. Lúc ấy quý vị trong Bạn Trị Sự thấy cũng hữu
lý thôi. Vì tài sản đây là tài sản chung mà. Khi làm giấy tờ có Luật sư
đàng hoàng; nhưng sau khi giấy tờ đã ký rồi thì một số hội viên phản đối
và gởi thư đi tứ tung tố là Cô và Thầy đã cướp chùa của Hội. Vụ nầy kiện
tụng lung tung mà mang tai mang tiếng tại xã hội cờ hoa nầy không ít.
Bên phía Phật Tử họ cũng không
vừa gì. Vì có nhiều nhóm mượn đạo tạo đời nên vào chùa lập vây lập cánh
với nhau. Chuyện Đạo chẳng hiểu chữ nhứt một; nhưng đi đâu cũng oang oang
tự đắc là ở Việt Nam đã quy y và có ở chùa nữa. Nhưng bên trong thì thâm
trầm tổ chức một kế hoạch nhằm thu phục nhân tâm về phe mình. Trong hcùa
có hai phe phái rõ rệt nhau. Một phía theo Thầy ủng hộ Thầy hết mình. Một
phía chống lại phái theo Thầy. Bên phái chống lại Thầy bày ra một màn lả
lướt ngoạn mục như xưa nay chưa từng thấy xảy ra ở cửa thiền. Đó là mỹ
nhơn kế.
Phía phá hoại đã rập tâm và cho
một cô gái rất đẹp, ăn mặc hở hang vào phòng Thầy thủ sẵn, chờ Thầy về là
dở trò ong bướm. Phái này cho máy chụp hình, quay phim sẵn để thâu hết vào
máy để làm bằng chứng và tống cổ Thầy ra khỏi chùa vì lăng nhăng nữ sắc và
đó cũng là cơ hội tốt để phe nầy thanh toán phe kia: nhưng may làm sao là
hôm đó sau khi đi học về, Thầy không về chùa mà đến nhà một Phật Tử. Phe
nầy chờ đến tối Thầy không về, đành thu hồi chiến lược.
Đúng là Hộ Pháp đã giúp Thầy.
Chắc Thầy nầy còn tu hành tinh tấn. Nếu không! dầu bất cứ dưới hình thức
nào Thầy cũng mang họa.
Lời bàn:
Nếu muốn tranh bá đồ vương thì
hãy ra chốn sa trường mà quyết ăn thua đủ. Xin đừng lợi dụng cửa chùa để
làm cho mang tai mang tiếng ông Thầy bà Cô khổ lắm. Phước đâu không thấy
đã thấy tội tầy trời. Tội nầy thì đất cũng chả dung mà trời cũng chẳng tha
đâu. Ông Thầy đâu phải là vật hy sinh tế thần mà Phật Tử làm vậy? Tội ấy
không nhỏ đâu. Bởi thế nên có nhiều Thầy ví von nói rằng: ngày nay tại
ngoại quốc, nhiều nơi đã lập ra Ban Trị Sư chứ không phải lập Ban Trị Sự
để làm việc đạo.
Một chuyện nữa cũng xảy ra tại
Hoa Kỳ. Vì Hoa Kỳ là nước lớn, có gần một triệu người Việt, nên chuyện xảy
ra ở nơi đây cũng rất nhiều.
Có chùa nọ thấy rằng việc đón
Sư, mời Thầy về trụ trì thấy nó phức tạp quá, bèn nghĩ ra một cách "thuê
Sư". Nếu Sư nào đó đến chùa làm lễ cầu an, cầu siêu và cúng vong sau một
tiếng đồng hồ, trả Sư 50 đô-la, rồi Sư về chùa Sư ở, còn chùa nầy thì Ban
Trị Sự ở đây lo.
Nghĩ thế cũng lưỡng lợi cả hai
bên. Sư cũng có tiền mà khỏi bị thị phi nhơn nghĩa. Còn Hội cũng có mối
lợi thu vào; nhưng cũng khỏi bị Sư chi phối.
Lời bàn:
Người đi tu đâu phải vì bả lợi
danh và quyền cao chức trọng mà phải đi tụng kinh thuê như vậy. Vì sự
nghiệp cũng như nghề nghiệp của Sư đâu có phải là nghề tụng kinh, mà sự
nghiệp của Sư là trí tuệ kia mà! "Duy Tuệ Thị Nghiệp". Người đi tu là
người cầu giải thoát, chứ không phải cầu tiền tài. Cũng vì vậy cho nên
nhiều hội đã cho các Sư ngồi chơi xơi nước và bảo rằng: Quý Sư chỉ lãnh
đạo tinh thần thôi. Còn vật chất thì Hội phải lãnh đạo chứ".
Một chuyện khác cũng khá hấp
dẫn và cũng xảy ra tại Hoa Kỳ.
Chùa nầy không có Thầy; nhưng
một bên là Ban Trị Sự và một bên là quần chúng Phật Tử tranh nhau ngôi
chùa. Bạn Trị Sự đứng về mặt pháp lý họ đầy đủ quyền hành trong việc xây
dựng cũng như điều khiển ngôi chùa nầy. Nhưng quý Phật Tử họ không đồng ý
và nói rằng họ có công có của đóng góp vào đây rất nhiều nên cũng phải có
quyền quyết định nữa. Hai bên giằng co hơn thiệt. Câu chuyện cứ kéo dài
mãi đến nỗi mỗi chủ nhật cùng một thời điểm, bên trong Ban Trị Sự tụng
kinh cầu an thì bên ngoài sân chùa nhóm Phật Tử chỏ miệng vào bên trong
tụng kinh cầu siêu. Không khí còn hơn cái chợ. Vì ai cũng lớn tiếng tụng
cho át bên kia. Cuối cùng rồi phải nhờ đến Luật sư dàn xếp.
Lời bàn: Luật sư họ đâu có biết
tu, chỉ biết có luật mà quý Phật Tử đã sợ rồi. Trong khi đó giữa Ban Trị
Sự và Phật Tử, cả hai đều không biết tu mơi ra nông nỗi ấy. Không biết làm
như thế có lợi cho ai? Chỉ cốt cho thế gian và ngoại đạo cười cho thôi.
Ở Mỹ và Canada có nhiều chuyện
ngộ nghĩnh lắm mà các xứ Âu Châu ít thấy. Điều ấy cũng dễ hiểu như trên
vừa mới trình bày. Nơi nào càng đông dân Việt Nam nơi đó cũng ăn nên làm
ra; nhưng chính nơi đó cũng là nơi nhiều chuyện nhất.
Bây giờ sang đến Úc.
Đất Úc là nơi rất rộng và cũng
đông dân cư Việt Nam, nên cũng có lắm chuyện.
Nguyên là mấy Thầy và Phật Tử
tin tưởng với nhau và cùng chung nhau lại để mua một ngôi nhà làm chùa.
Tất cả đều dồn tiền và để một vị trụ trì đứng tên thôi cho đỡ rắc rối về
vấn đề luật pháp. Nếu khai báo đây là một ngôi chùa thì phải đầy đủ phương
tiện hơn mới được chấp nhận như vệ sinh công cộng, cứu hỏa v.v… cứ thế và
cứ thế, tiền vào và lợi danh cũng vào theo, nên Thầy trụ trì manh tâm đoạt
chùa và tất cả tài sản của cải đều vào Konto riêng của mình. Còn Hội thì
khôg có gì cả!
Đến khi Thầy trụ trì trở mặt
muốn chiếm làm của riêng thì mọi việc đã xong rồi. Lúc bấy giờ cũng đã
kiện thua; nhưng tất cả đều quá muộn.
Lại cũng chuyện xảy ra tại Úc.
Một chùa nọ, khi đang xây cất,
kêu gọi với tư cách Giáo Hội; nhưng khi xây cất hoàn thành, biến thành của
Tông phái mình và nghe đâu còn hạn hẹp hơn nữa là làm di chúc để lại cho
gia đình mình nữa.
Lời bàn: Không biết nửa tháng,
ít nhất là trong mùa an cư kiết hạ của mỗi năm chư Tăng có tụng giới Bố
Tát không? Nếu có thì làm sao ra nông nỗi ấy được. Vì của cải là những thứ
hữu hình hữu hoại mà, chỉ có giới đức mới tồn tại lâu đời chứ. Làm sao lại
làm những chuyện mà giới luật không cho phép như thế được?
*
Đi đâu cũng nghe Phật Tử than
về Thầy mình và ngược lại ông Thầy cũng hay than về Phật Tử cũng không ít.
Đại để Phật Tử than về Thầy như sau:
- Tại sao Thầy không hớt cái
tóc cho nó ngắn lại dễ coi không?
- Tại sao Thầy mặc đồ tây đi
học mà không mặc đồ tu?
- Tại sao Thầy đi cái xe gì mà
sang quá vậy?
- Tại sao Thầy chở mấy cô Phật
Tử trẻ ấy đi hoài?
- Tại sao sáng Thầy không tụng
kinh Lăng Nghiêm?
- Tại sao Thầy ở không mà Thầy
không chịu đi học ngoại ngữ?
- Tại sao Thầy vừa ăn chay lại
vừa ăn mặn? v.v… và v.v…
Thôi thì có hàng ngàn câu hỏi
tại sao và sau đây là hàng ngàn lý do để trả lời:
Sỡ dĩ Thầy không cạo đầu như ở
Việt Nam vì ở đây lạnh lắm. Mùa đông trừ 3 đến 40 độ C kia mà, cạo riết nó
sưng màng óc làm sao? Vả lại phải đi vào trường học và đi làm thêm nữa,
tụi bạn nó thấy đầu mình không có tóc, chúng nó lại trêu chọc nữa. Vả lại
bên Âu Mỹ nầy nè, chỉ có người bị tù mới cạo tóc mà thôi.
Còn hỏi tại sao Thầy không mặc
đồ tu đi học mà mặc đồ tây – thì đây là câu trả lời - Vì tụi Mỹ nó tưởng
mình hippy. Đầu cạo nhẵn áo mặc thùng thình nó tưởng mình hippy kiểu mới
nên cứ bị trêu chọc hoài.
Còn đi chiếc xe cũ nó hư hoài
nên phải đi xe mới cho đỡ bị sửa chữa. Vả lại xứ Mỹ, xứ Úc, Canada nó rộng
thênh thang, đi xe cũ rủi hư giữa đường thì làm sao mà sửa. Khi đi không
lẽ đi một mình, cũng tốn xăng như vậy thôi, nên mấy bà mấy cô mới xin đi
ké. Đó là lý do, chứ đâu phải chở riêng cô nào đâu.
Còn nữa, sáng sớm nào cũng phải
đi học, đi làm, chỉ có cuối tuần là rảnh, tụng Lăng Nghiêm thập chú cũng
được rồi. Cần gì phải tụng đủ, vì qua đây chắc Phật cũng châm chế mà. Thời
đại kim tiền nầy, thì giờ đâu mà ngồi đó ê a sợ tụi Mỹ nó cười cho.
Bây giờ Thầy lớn tuổi rồi học
ngoại ngữ sao vô? Thôi thì có chữ nào xài chữ nấy.
Còn việc chay tịnh thì ở đây
khó giữ lắm. Đi làm, đi học giữa đường, giữa chợ, có gì dùng nấy cho nó
xong, chấp nhứt làm gì những cái nhỏ nhặt đó.
Ngược lại phía quý Thầy cũng
trách quý Phật Tử như sau:
Mấy ông nội đó đâu có biết đạo
là gì? Tới chùa xem nhà Sư chẳng ra cái gì hết, như kẻ ăn người ở không
bằng! Mấy ông ấy ỷ lại vào bằng cấp nên coi người tu không ra gì cả. Còn
mấy bà ỷ có tiền nên xài xể Sư, hoặc giả sai sử Sư, Thầy cũng đâu có khác
gì ông Từ? Họ vào chùa ăn xả ra đó, rồi về nhà. Còn mình cong lưng ra dọn
chùa để họ tới bắt chân chữ ngũ ngồi nói chuyện thế gian. Còn nữa, có dịp
tụm năm, tụm ba lại là nói chuyện hơn thua, bài bạc, tiền của chứ có bao
giờ nghe họ nói đến chuyện tu học đâu? v.v… và v.v…
Đây là câu trả lời của họ. Sở
dĩ chúng tôi chưa biết đạo cho nên chúng tôi mới đi chùa. Chứ biết rồi thì
đi làm gì nữa. Còn bằng cấp, địa vị đâu phải là một cái tội. Nếu có chăng,
chỉ vì mình không biết xử dụng đến nó mà thôi. Chúng tôi không phải đến
chùa để khoe bằng cấp, mà vì quen thói ngoài đời nên mới giới thiệu ông nọ
bà kia vậy thôi. Nếu chúng tôi có nhỡ lời với quý Sư, vì cứ nghĩ quý Sư
cũng bằng tuổi con cháu của tôi ở nhà nên mới nhờ bưng chén trà, chén
nước. Còn chùa chiền dựng lên là để đón khách thập phương. Nên việc coi
sóc chùa chiền là của quý Thầy, quý Cô, quý Sư, quý Sãi chứ đâu có phải
của tụi tui. Mỗi chiều chủ nhật trông cho lễ xong là phải về nhà để ngày
mai còn đi cày nữa chứ. Chỉ quét dọn, sửa soạn có chút xíu là quý Sư đã la
hoán lên rồi…
Đại khái, đó là những chuyện
bình thường hay xảy ra tại chùa và đây là vài nhận xét.
Nếu đem Luật sư mà tranh cãi,
dĩ nhiên có bên thắng bên thua và ở đây, chúng ta phải đem lương tâm của
mỗi người ra tự cải, rồi tự chúng ta xét xử chúng ta mới hay hơn. Vì bên
nào cũng cho mình là đúng, là phải nên mới làm việc ấy. Không bên nào tự
thấy được rằng cả hai bên đều quan trọng như nhau cả, nếu thiếu một trong
hai ắt sẽ không thành. Nếu có vị Thầy giỏi mà không có Phật Tử hỗ trợ,
việc ấy ắt cũng sẽ chẳng thành công. Ngược lại có Phật Tử giỏi mà không có
Thầy thì công việc cũng không thông suốt. Có một câu chuyện trong Kinh
Bách Dụ ngày xưa Đức Phật đã dạy đệ tử của Ngài, xin chép vào đây để làm
bài học căn bản.
Câu chuyện được kể về đầu rắn
và đuôi rắn.
Một hôm nọ đầu rắn và đuôi rắn
cãi nhau. Đuôi rắn cứ giành đi trước, đầu rắn không chịu cứ giằng co nhau
mãi. Một hôm đầu rắn đồng ý để cho đuôi rắn đi trước.
Cũng vì đuôi rắn không có mắt
nên đi bụ sụp hầm.
Câu chuyện chỉ đơn giản vậy
thôi; nhưng lời bàn trong Kinh Bách Dụ thì thấm thía lắm. Đầu rắn ví như
cha mẹ, Thầy Tổ, người lãnh đạo một tổ chức. Xòn đuôi rắn giống như con
cái, tín đồ v.v… Con cái càng ngày càng lớn cũng như tín đồ càng ngày càng
phát triển, cũng muốn chứng tỏ cho cha mẹ mình, cho Thầy Tổ mình biết mình
là người đã trưởng thành nên giành quyền lãnh đạo. Cha mẹ vì thương con
hoặc cả nể cho nên đã cho con cái mình làm việc ấy. Tuy có khả năng đó;
nhưng thiếu kinh nghiệm, nên cuối cùng đã bị sụp hầm.
Từ câu chuyện nầy chúng ta thấy
rằng: một con rắn không thể thiếu đầu hoặc thiếu đuôi được, mà cả đầu lẫn
đuôi phải hòa hợp với nhau mới có thể mang cái thân rắn đi đến nơi đến
chốn. Từ đó chúng ta nhìn về cách tổ chức của chúng ta cũng vậy. Tuy rằng
ông Thầy hay cha mẹ mình già nua rồi, cổ lỗ sĩ lắm rồi; nhưng nếu không có
những người nầy thì chúng ta không thể học hỏi kinh nghiệm được. Chúng ta
nên từ cha mẹ mà đi lên, chứ không nên nhận chìm cha mẹ xuống để mình bước
lên đài danh vọng trước sau gì rồi cũng bị sụp hầm.
Hai tổ chức, hai đoàn thể đạo
đời cũng giống như hai bông hoa đẹp. Nếu để xa nhau đã đẹp rồi, phải đem
ghép chung lại vào nhau thì càng đẹp hơn nữa. Còn ở đây mọi người chỉ tự
hãnh diện về đóa hoa của mình và chê đóa hoa khác là xấu xí, là dư thừa
v.v… Không ai tự thấy rằng hoa nào cũng được trưởng dưỡng từ những đống
phân dơ cả. Phân bón càng dơ, cây cỏ hoa lá càng tốt. Người nào từ chỗ tội
lỗi, vượt thoát và vươn lên cao, quả kẻ ấy có ý chí vô cùng. Nếu ai cũng
tự nhìn mình và tự hiểu rằng mình từ đống phân mà ra, rồi trổ bông sinh
trái và hoa chính từ phân, phân chính từ hoa, hoa chính là phân và phân
chính là hoa thì hòa hợp biết bao và đẹp đẽ biết bao.
Một câu chuyện khác tôi cũng đã
có dịp đề cập trong những quyển sách khác rồi; nhưng thiết tưởng viết lại
đây cũng không thừa; nên gởi đến quý vị để làm quà.
Một ông Giáo sư Tâm lý học, một
hôm vào lớp không mang sách vở gì cả, chỉ trừ một tờ giấy trắng và một cây
bút đen. Sau khi Thầy trò đã chào hỏi nhau, ông ta lấy cây viết đen, chấm
lên một chấm nhỏ đậm trên tờ giấy trắng, đoạn ông ta giơ cao lên cho mọi
người thấy và bắt đầu hỏi:
- Các anh chị em sinh viên có
thấy gì đây không?
- Thưa Thầy, tụi em có thấy.
- Thấy gì?
- Thấy một chấm mực đen.
Ông Thầy chậm rãi xuống giọng
và giải thích:
Thật ra mấy anh chị em thấy như
thế cũng không sai; nhưng không hoàn toàn đúng. Vì sao vậy? Vì tờ giấy
trắng to như vậy tại sao các anh chị em không thấy, mà chỉ thấy một chấm
đen? Từ nay các anh chị em nên đổi cách nhìn đi. Tờ giấy trắng cũng như
cái hay cái đẹp của người khác mà chúng ta dễ quên đi, hay cố tình quên
đi, trong khi chấm mực đen nhỏ có một chút xíu cũng giống như lỗi nhỏ của
con người thì chúng ta dễ thấy vô cùng. Nếu chúng ta ai cũng đứng từ quan
điểm chấm đen ấy để nhìn và phê phán sự việc, té ra trong tâm chúng ta
toàn là những vết đen thì việc nhận xét của chúng ta về một đối tượng nào
đó nó mang đầy tính chất thành kiến, làm sao công bình được và mong rằng
bài học hôm nay sẽ giúp ích cho các anh chị em về sau nầy trong cuộc sống
hằng ngày.
Bài học ấy cũng chính là bài
học của chúng ta ngày hôm nay hay cho cả mai hậu nữa. Thầy chỉ toàn thấy
chấm đen của Phật Tử, ngược lại Phật Tử cũng toàn thấy chấm đen của Thầy.
Không ai trong chúng ta tự thấy hoặc bảo cho người khác cùng thấy cái hay
cái đẹp của Thầy và của các Phật Tử cả. Đó là một sai lầm rất lớn.
Chúng ta phải thấy về Thầy như
thế nầy. Trong cuộc sống đua chen danh lợi như thế, mà Thầy quyết bỏ lại
sau lưng, giã từ cha mẹ, người thân vào chùa tu niệm, sống đời khổ hạnh
như thế chỉ nhằm tự cứu mình và cứu đời quả là một hạnh nguyện Bồ Tát đáng
ca ngời biết bao.
Từ phía quý Thầy, chúng ta cũng
phải ca ngợi quý Phật Tử rằng. Trong cuộc sống bận rộn như thế, ngoài việc
lo sinh kế cho gia đình, bận rộn suốt tuần, chỉ có cuối tuần mấy ngày rảnh
lại phải hy sinh hết cho việc chùa, quả là một tấm gương hết sức cao đẹp,
chúng ta nên lấy đó tự soi chung. Và còn nhiều cách khác để tán dương hơn
nữa. Dĩ nhiên khi chúng ta thấy những điểm tốt của người khác, không có
nghĩa là chúng ta bao che những lỗi lầm cho nhau; nhưng nói thế để tăng
lòng tin và nói thế để hăng hái trong công việc hằng ngày.
Ở đây có vài điều cũng cần phải
lưu ý. Về phía quý Thầy phải tự nỗ lực hơn nữa trong việc tu và việc học.
Chúng ta không phải cậy chiếc áo nhà tu để được lợi dưỡng và được cung
phụng, mà chúng ta phải chứng minh cho tín đồ thấy rằng chúng ta đã cố
gắng hết mình và chúng ta có khả năng để lãnh đạo quần chúng.
Phía tín đồ cũng thế, hãy dừng
ngay ở cương vị của mình là một Phật Tử. Không nên đi quá trớn như một "mẹ
Sư" thì nguy hiểm vô cùng. Vì Phật Tử tại gia cố gắng trong nhiệm vụ hộ
trì Tam Bảo của mình chứ không phải là nhiệm vụ chi phối ngôi Tam Bảo.
Nguy hiểm lắm. Phải nhớ là Thầy trò, đệ tử giống như đầu rắn và đuôi rắn
bên trên; phải cùng nhau hợp sức lại thì mới tạo dựng được việc to lớn
hơn. Nếu không, chúng ta sẽ dẫm chân tại chỗ.
Phải kiên nhẫn hơn nữa để giải
quyết sự việc. Phải hạ mình hơn nữa để tự tu thân và hãy tự kiểm điểm mình
về mọi phương diện thì mơi mong thành công một cách trọn vẹn được.
Gương người xưa còn nhan nhản ở
đó, tại sao chúng ta không học hỏi để tự tôi luyện mình. Ví dụ chuyện các
ông vua bà chúa của xứ ta hay trên thế giới ngày nay cũng vậy. Đâu có ông
nào đậu cử nhân, tiến sĩ, mà họ đã cai dân trị nước mấy ngàn năm. Nước
thịnh dân cường. Quả nhiên điều ấy không phải chỉ cần tài, mà đức hạnh của
ông vua phải nhiều và phải cao rộng mới cảm hóa lòng dân được. Còn ngày
nay thế giới nầy, họ cai trị bằng tài, nhưng thiếu đức. Do vậy nên thế
giới chiến tranh loạn lạc triền miên. Thiên tai bão lụt khắp nơi, hạn hán,
mất mùa, thiên nhiên bị hủy hoại làm cho con người cũng bị ảnh hưởng lây.
Từ những hình ảnh đơn thuần mộc
mạc ấy Tăng Đoàn chúng ta phải củng cố nhiều hơn nữa để trở về lại cương
vị của mình, như người con tìm về nơi cố hương với cha mẹ. Xin đừng từ bỏ
quê cha đất tổ lâu quá. Còn Phật Tử hãy nỗ lực và tự hạ mình xuống để làm
nhiệm vụ của kẻ hộ đạo thì mới mong Phật Giáo được phát triển như các nước
tại Á Châu, như Thái Lan, Tây Tạng v.v…
Nói và viết về những việc trên
sợ rằng "bứt dây sẽ động rừng"; nhưng đây chỉ là một chứng liệu khi
làm việc đạo tại xứ người mà thôi. Không nhằm mục đích khiêu khích và nhất
là chê bai cá nhân hay đoàn thể nào cả. Vì dẫu sao suốt 20 năm qua chúng
ta đã hy sinh quá nhiều rồi. Hy sinh cho dư luận báo chí đục giữa. Hy sinh
cho nhiều mưu đồ chính trị khác nhau. Hy sinh cho những sự chống đối vô
nghĩa. Chúng ta cũng đã làm vật tế thần cho các tổ chức chính trị nhiều
rồi. Vậy mỗi người trong chúng ta hãy tự thức tỉnh mình để trở về vị trí
của mỗi người. Có thế mới không hoài công của chư Phật và chư Tổ đã cưu
mang chúng ta và mong mỏi đón tiếp chúng ta nơi cõi giải thoát kia.
CHƯƠNG MƯỜI TÁM
KẾT LUẬN
Tôi
bắt đầu viết sách nầy vào ngày 21 tháng 6 năm 1995 tại thư phòng Chùa Quan
Âm tại Montréal, Canada, và cho đến hôm nay là ngày 28 tháng 6 năm 1995,
cũng là ngày sinh nhật lần thứ 46 của tôi, tôi cố gắng để hoàn thành làm
món quà nho nhỏ cho tất cả quý Phật Tử Chùa Quan Âm tại đây và cũng là món
quà gởi về xứ Đức cho chư Tăng Ni và Phật Tử tại đó, nhất là nơi Chùa Viên
Giác, nơi chúng tôi đang trụ trì.
Như vậy tác phẩm nầy gần 300
trang viết tay, nếu đánh máy lại chắc cũng hơn 200 trang. Một cuốn sách
như thế cũng vừa. Vì nhiều trang cầm tay cũng nặng và có nhiều người lười
đọc.
Tôi phải biết ơn tất cả mọi
người nơi đây, nhất là Ban Trị Sự của Chùa Quan Âm, mỗi ngày đều chia phân
ra để lo cơm nước cho tôi, lo bút mực cho tôi, lo giấc ngủ cho tôi v.v…
Xin cảm ơn tất cả. Nhờ thế mà tôi có thì giờ để mỗi ngày có thể viết liên
tục trong 5 tiếng đồng hồ. Vì vậy tác phẩm nầy đã hoàn thành trong một
thời gian kỷ lục chỉ có 6 ngày. Mỗi tiếng đồng hồ tôi viết độ chừng 10
trang giấy. Như vậy trong 300 trang nầy phải cần 30 tiếng đồng hồ, 30
tiếng đồng hồ ấy giá trị vô ngần. Vì chung quanh tôi, mọi người đều lo
lắng cho tôi, để cho tôi được yên mà viết.
Đặc biệt anh Thị Pháp Huỳnh
Phước Bàng đã cận kề và lo lắng cho tôi từng tờ giấy, từng cây viết, từng
trái cây, từng ly nước, từng tách trà để tôi yên thân mà viết và quý Bác
đã chăm sóc từng miếng ăn, thức uống, chỗ nghỉ ngơi, làm việc v.v… mới có
thể hoàn thành tác phẩm nầy.
Cứ mỗi ngày tôi thức dậy lúc 5
giờ 45 phút, sau khi súc miệng rửa mặt, tập thể dục vài phút rồi lên chánh
điện. Tại chánh điện tôi ngồi thiền độ 15 phút, sau đó tụng kinh Lăng
Nghiêm và kinh hành nhiễu Phật. Sau đúng một tiếng đồng hồ tôi xuống tăng
phòng, pha trà uống ba chén. Tiếp đến là cầm bút viết liên tục trong vòng
một tiếng đồng hồ đến 8 giờ sáng là giờ điểm tâm.
Giời điểm tâm cũng là giờ để
gặp gỡ mọi người trong chùa, nên tôi ngồi nán lại đến 8 giờ rưỡi hoặc 8
giờ 45 phút. Sau đó đi dạo khắp vườn chùa, xem hồ sen và vườn rau cải cho
tâm hồn thảnh thơi, xong vào lại thư phòng, uống trà và bắt đầu viết từ 9
giờ đến 10 giờ. Sau đó nghỉ độ 30 phút. 10 giờ 30 viết đến 11 giờ 30 là
nghỉ trưa. Vì mấy bữa nay sao trời nóng quá. Đã hơn 15 năm qua tôi đến
Canada mỗi năm ít nhất là một lần; nhưng chưa bao giờ đến được vào mùa hè.
Năm nay vì việc chùa bên Đức cũng tạm yên, nên tôi có hứa là sẽ đến Canada
an cư kiết hạ một tháng. Khi đến đây, máy bay trước khi đáp xuống phi
trường Montréal ngày 19.6.95 báo rằng nhiệt độ ở đây 36 độ C. Nghe mà toát
mồ hôi. Vì sáng đó tại Đức, từ chùa đến nhà "gare" Hannover để đi phi
trường Frankfurt tôi nói tài xế xe hơi phải bật sưởi mới đỡ lạnh được. Bên
Đức, nhiệt độ chỉ có 8 độ thôi. Cũng vì lẽ đó tôi mang theo trong va-ly kỳ
nầy toàn là đồ mùa đông nên khi mặc vào, nực nội vô cùng.
Nhưng năm trước tôi đến đây vào
mùa thu và mùa Đông. Cũng đã có nhiều lần tôi tả về mùa thu Canada đăng
trong Viên Giác và trong quyển Đường Không Biên Giới đã làm cho
nhiều người thích thú. Bây giờ mùa hè tại Canada nóng quá, không biết có
ai thích chăng?
Sau khi dùng trưa vào lúc 12
giờ, tôi lại vào Tăng phòng để ngơi nghỉ. Đúng 2 giờ chiều là dậy tắm rửa
và sửa soạn cho giờ viết của buổi chiều. Vì buổi chiều nắng nên tôi bắt
đầu viết vào lúc 15 giờ đến 16 giờ thì nghỉ, đi vòng quanh chùa lần thứ 2
cho tâm hồn thoải mái một chút. Nếu cốt chuyện bị bí lối, chính những giờ
phút đi dạo như thế nầy sẽ được khai thông và tìm ra nội dung hay nhân vật
mới cho câu chuyện.
16 giờ 30 tôi viết mãi cho đến
17 giờ 30 rồi lại thôi. Như thế là đúng 5 tiếng đồng hồ. Mỗi ngày đều đặn
như vậy trong vòng 6 ngày thì xong. 18 giờ dùng cháo đến 18 giờ 30. Đây
cũng là thời gian tôi tiếp khách hoặc trả lời điện thoại. Quý Phật Tử tại
địa phương thường hay lui tới để thăm tôi vào giờ nầy. 19 giờ 30 là giờ lễ
kinh Đại Niết Bàn. Tôi có phát nguyện sau khi lễ kinh Pháp Hoa xong (mỗi
chữ mỗi lạy), bây giờ đến kinh Đại Bát Niết Bàn cũng thế. Khi tôi lễ quý
Phật Tử tại chùa cũng đã lễ theo. Đây là một công đức không thể nào thiếu
được trong sự tu hành. Tôi vẫn thường hay nói cho quý Phật Tử nghe rằng:
Quý vị cúng dường vào chùa 10 hay 20 đồng mục đích là để tạo phước và kiếp
sau sẽ giàu có hơn bây giờ, còn muốn tạo Đức thì phải tu. Nhưng tu như thế
nào để có đức, thì đây là những phương pháp gồm: tụng kinh, ngồi thiền, lễ
bái và niệm Phật. Ngoài các phương pháp mà chư Tổ ngày xưa đã đặt ra để tự
tu cho mình và chứng đạo chắc chắn và quyết rằng không có phương pháp nào
hay hơn được.
Lạy chừng 1 tiếng đồng hồ
khoảng trên 200 lạy, mỗi đêm liên tục như thế cho đến cuối tuần thì Thọ
Bát Quan Trai, thiền trà theo Nhật Bản, v.v…
Khoảng 22 giờ thì đi ngủ. Tôi
lịm dầm theo nhịp đập của tim rồi trở về với nguyên thỉ của đất trời vạn
vật.
Mỗi năm tại Đúc chư Tăng và
Phật Tử có lo riêng cho tôi 3 ngày lễ. Tuy không rầm rộ lắm; nhưng cũng
nói lên được tình nghĩa Thầy trò, sư đệ. Đó là ngày giỗ của thân mẫu tôi
vào ngày 27 tháng 3 âm lịch, ngày giỗ của thân phụ tôi vào ngày mồng 9
tháng 7 ăm lịch và ngày sinh nhật của tôi vào ngày 28 tháng 6 dương lịch.
Năm 1949 nhằm ngày mồng một tháng 6 âm lịch tôi ra đời và năm nay, chính
lúc tôi viết lời kết luận nầy cũng đúng vào ngày mồng một tháng 6 năm
AᴠHợi. Đúng là một sự ngẫu nhiên.
Trong thời gian một tuần lễ nầy
tôi cũng đã gặp Thầy Huyền Diệu từ Phật quốc bên Ấn Độ qua chiếu phim về
việc xây dựng chùa Việt Nam tại đó. Tôi và Thầy có nhiều trao đổi cũng vui
vui.
Có nhiều Phật Tử hỏi Thầy tại
sao Ấn Độ là nơi phát sinh về Phật Giáo, mà Phật Giáo ngày nay tại đó
không còn phát triển nữa?
Thầy trả lời rằng:
"Ví dụ người ở gần bóng đèn thì
ít thấy ánh sáng tại chỗ, mà người ở xa mới thấy được ánh sáng ấy và bây
giờ chính là lúc chúng ta mang ánh sáng ấy dội lại nơi sản sinh nầy đây".
Những công trình xây dựng của
Thầy ấy tại Bồ Đề Đạo Tràng và tại Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật Đản Sanh, quả
thật không có gì có thể tán dương hết được. Vì công đức ấy to lớn lắm. Đây
chính là những đóng góp hữu hạn trong hiện tại; nhưng có giá trị vô hạn
trong tương lai.
Năm 1989 khi tôi đến chiêm bái
Phật Tích lần đầu cũng là do ý của Thầy Huyền Diệu đốc thúc lúc bấy giờ.
Lúc ấy tôi đã do dự không muốn đi, vì đang lúc làm chùa. Không phải chỉ vì
lý do tài chánh, mà còn lý do khác là nên ở lại tại chỗ, nếu có điều gì
thợ thầy xây cất cần đến mình thì mình góp ý ngay. Nếu đi, sẽ sinh ra trễ
nải. Điều ấy tôi đã lầm. Cũng chính vì nhờ đi chiêm bái Phật tích lần ấy
mà khi về lại Đức tôi mới có thể hoàn thành ngôi Chùa Viên Giác được. Đạo
lực và niềm tin lúc ấy tăng gấp 10 lần sau khi đã đi chiêm bái về.
Trong khi đi chiêm bái lòng tôi
xúc động rất nhiều về những thánh tích; nhưng tôi cũng ngao ngán cho cái
nghèo khổ, giai cấp, hệ thống hành chánh rườm rà và chậm rì của Ấn Độ, nên
sau khi về lại Đức, lúc viết quyển "Lòng Từ Đức Phật" tôi nghĩ rằng
tôi sẽ không bao giờ đi Ấn Độ nữa.
Thế mà lạ thay, đến năm 1994
sau khi hoàn thành ngôi chùa Viên giác 99% tôi lại có ý định đi Ấn Độ một
lần nữa để tạ ơn Tam Bảo. Cuối năm 1994 Ấn Độ bị dịch hạch, nên cuộc hành
hương phải dời lại vào tháng 2 năm 1995.
Sau khi đi chuyến hành hương
nầy về tôi lại nghĩ chắc còn phải đi đến lần thứ ba, thứ tư và thứ năm nữa
mới thôi. Có lẽ đất Phật là xứ linh thiêng mầu nhiệm. Khi đến được Bồ Đề
Đạo Tràng rồi, phải nói rằng đây là chốn cực kỳ linh thiêng. Ai tin tưởng
sẽ thấy rõ điều đó và nhất là nơi đây có ngôi Chùa Việt Nam do Thầy Huyền
Diệu xây cất nữa. Ở giữa cánh đồng mạ xanh bát ngát, gió thổi vi vu, mọc
lên một cảnh chùa, trong khiêm nhường so với các quốc gia Phật Giáo khác;
nhưng đây cũng là một hãnh diện của Phật Giáo Việt Nam mình. Có cây cỏ
xanh tươi và khung cảnh thật tuyệt đẹp.
Nếu ai đó đi hành hương vào mùa
thu đông sẽ thường thức được lúa gạo, rau quả do chùa trồng. Vườn chùa
mang lại rau xanh, trái ngọt của quê hương cho người xa xứ. Đây cũng là
một niềm vui nho nhỏ khi đến chốn nầy.
Rồi Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật đã
giáng trần, nơi vua A Dục đã xây trụ đá để kỷ niệm, ngày nay Chùa Việt Nam
do Thầy Huyền Diệu dựng xây cũng đã tô điểm thêm cho Phật tích nầy, một cố
gắng vươn lên của Phật Giáo Việt Nam mình. Đúng là:
"Nước lã mà
vả nên hồ
Tay không mà
dựng cơ đồ mới ngoan"
Tất cả mọi công đức ấy có được,
dĩ nhiên cũng phải nhờ những học trò Âu Mỹ của Thầy ấy; nhưng người Phật
Tử Việt Nam mình ở khắp năm châu bốn bể cũng đã đóng góp vào đây rất
nhiều; nên chúng ta rất hãnh diện về việc này.
Hy vọng rồi mai đây nơi Phật
tích ấy sẽ còn nhiều ngôi chùa Phật Giáo sẽ được xây dựng nên để kỷ niệm
nơi một bậc vĩ nhân của nhân loại, một bạc Đại Giác, một Đấng Giác Ngộ đã
ra đời.
Mỗi người sinh ra đời đều do
nhân duyên, nghiệp lực mà thành, rồi cũng do nhân duyên nghiệp lực rồi
đến, rồi đi, rồi còn, rồi mất. Vì vậy xin kết luận cho quyển sách nầy với
hai chữ "Như Thị" như trong kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật mà Đức
Phật đã dạy đấy thôi.
Bây giờ trời đã đổi gió, lá cây
chuyển động mạnh, bên ngoài như báo hiệu một trận mưa rào sắp đến, cốt gột
rửa bao nhiêu bụi băm suốt cả một tuần qua đã làm cho đất đai bị khơi
động, bây giờ có dịp tắm rửa để trở về trạng thái uyên nguyên của nó.
Nếu quyển sách nầy, duyên may
có ai đọc được, xin hồi hướng phần phước báu ấy về cho đương sự, nếu có
được điều hay. Chẳng may vì sự vô tình mà gặp một vài câu chuyện hoặc vài
hoàn cảnh giống nhau trong khi tôi không cố ý để viết, kính xin quý vị
lượng thứ cho.
Cầu nguyện cho đất nước thật sự
an bình, người người đều được an lạc để mang lại niềm tin và sự sống cho
nhau và mong một ngày không xa sẽ trở về lại đất mẹ thân yêu để thăm lũy
tre làng và con đường mòn dẫn về chốn cũ.
Viết xong
vào lúc 16 giờ ngày 28 tháng 6 năm 1995
tại thư phòng Chùa Quan Âm Montréal – Canada.
Thích Như Điển
---o0o---
Mục Lục
|
Phần 1
|
Phần 2
|
Phần 3
| Phần 4
---o0o---
Vi tính: Hoa Giác, Minh Chính
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 6-2003