CHƯƠNG MƯỜI MỘT
CÁNH CỬA TÙ ĐÃ MỞ
Sau khi Sư nằm tại nhà
thương để điều trị những vết bầm trên thân thể, chân Sư cũng đã bị xiềng
rồi. Họ xiềng Sư không phải nghi Sư điên tiết lên, giết thêm mấy mạng
người vô tội bên cạnh nữa, mà họ xiềng xích Sư, vì lẽ không cho Sư chạy
trốn nơi nầy. Họ mong Sư mau lành bịnh và sẽ chở Sư vào tù để chờ ngày hầu
tòa. Cho đến nay vụ án mạng chưa được rõ ràng, cũng như không thấy ai đóng
tiền thế chân cho vụ nầy để tại ngoại hầu tra cả.
Thời gian cứ thế trôi nhanh,
mới đó mà đã 3 tháng rồi. Trong 3 tháng nầy Sư có đủ thì giờ để suy gẫm về
cuộc đời quá khứ của mình, về nhân tình thế thái, về Giáo Hội, về tương
lai và về chính bản thân mình. Thật ra Sư cũng không trách ai cả. Vì Sư
quan niệm rằng: người nào gây nghiệp, người ấy phải chịu trả quả. Ở đây
cái quả của Sư phải trả là việc có liên quan đến bạc vàng. Nếu không có
cái chuyện tình lẩm cẩm ấy. Nếu không có mấy thoi vàng và viên kim cương,
hột xoàn ầy thì làm sao Sư phải ra nông nỗi nầy? Sư xem lại trong cuộc đời
mình đã trải qua được mấy chữ "t" rồi. Chữ thứ nhất là chữ "tu",
Sư đã bỏ lại cha mẹ già, lén lút ra Trung để tìm Sư học đạo. Rồi trở lại
Nam, chẳng may lại vướng vào chuyện tình cảm chẳng đặng đừng với Duyên.
Rồi qua đây, vì chuyện tiền tài mà phải mang họa, đến giờ phút nầy đang
nằm trong tù để chờ luận tội. Xem ra 5 chữ "t" chữ nào Sư cũng đã
trải qua rồi.
Ở tù, thật sự ra đây không phải
là lần đầu. Vì Sư đã trải qua mấy lần rồi. Lần thứ nhất hồi năm 1963, khi
tranh đấu chống lại kỳ thị tôn giáo dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm.
Rồi đến năm 1966 Sư cũng đã ở tù, vì vấn đề đem Phật ra đường dưới thời
ông Thiệu ông Kỳ. Đến sau năm 1975, khi người cộng sản chiếm miền Nam, Sư
cũng đã 5 phen 7 lượt tìm đường vượt biên không trót lọt, cũng đã bị tù.
Rồi bây giờ ở xứ tự do nầy, cũng bị ở tù. Đúng là "chữ tù liền với chữ
tu một vần" mà. Đã nhiều lần Sư than thở như thế!
Đã làm thân phận tù thì ở đâu
cũng như vậy thôi. Bây giờ nằm trong khám đường nầy, Sư so sánh thử những
loại tù để xem sao.
Hồi năm 1963 ở tù tập thể, nhất
là sau ngày 20 tháng 8 năm 1963 ấy, tất cả các chùa chiền Sư Sãi đều bị
bắt. Sư cũng nằm trong chính sách ấy. Khi vào tù ai cũng nghĩ rằng sẹ bị
thộn vào bao bố giữa đêm khuya, rồi sẽ bị thả sông. Họ không phải sợ chết,
nhưng sợ cho một kế hoạch tiêu diệt Phật Giáo có hệ thống! Cuối cùng rồi
ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã đến và mọi người đã ra khỏi được nhà tù.
Nhưng đến năm 1966, mục đích
tranh đấu có khác đi chăng? Vẫn do Tăng Ni lãnh đạo; nhưng sao có cái gì
không ổn. Tuy nhiên mình là con đẻ của Giáo Hội, không lẽ thờ ơ về vấn đề
nầy, nên Sư Tịnh Thường cũng đã tham gia, cuối cùng bị bắt và bị đày vào
ngục tốt, ở chung với các Phật Tử khác.
Nhà tù là ngục thất, như Cụ
Phan Bội Châu và Cụ Phan Chu Trinh đã tả vào thời kỳ cách mạng chống Pháp
hồi đầu thế kỷ 20 nầy. Còn thời ông Thiệu, ông Kỳ nó cũng chỉ thế thôi. Ăn
một chỗ ngủ một chỗ, thậm chí đại tiện và tiểu tiện cũng ở đó luôn, chẳng
khác thú vật là bao. So ra thì chỉ khác có cái đầu óc biết suy nghĩ. Con
vật nuôi sao chịu vậy. Còn con người nếu bị đối xử nghiệt ngã quá thì họ
nổi lên đòi hỏi, mặc dầu ở trong tù cũng thế; nhưng đòi hỏi thì đòi hỏi,
chứ những cai tù toàn là loại đầu trâu, mặt ngựa đâu có sợ ai mà chống với
đối?
Mỗi ngày họ chỉ cho ăn rau muối
2 bữa trưa chiều. Cuối tuần lại được thăm nuôi. Thỉnh thoảng những tin tức
cũng được lọt vào trong hoặc ngược lại từ trong ra ngoài qua các cộng rau
muống. Đúng là nhiệm mầu và "vỏ quít dày, có móng tay nhọn" là thế
ấy.
Những chuyên viên của sự tranh
đấu thì rành rẽ lắm. Nếu khi nào ở ngoài họ muốn cho quý Sư thuở ấy ở
trong tù biết tin tức thì họ tìm cách đưa vào trong bằng nhiều hình thức
khác nhau, trong ấy hình thức viết vào giấy rồi cuộn tròn lại, xẻ ống rau
muốn tươi bỏ vào trong, bó chung lại với những cộng rau muống khác, khi
thăm tù, người ta chỉ cầm xem qua loa, rồi cho qua. Khi trong, quý Sư lặt
rau muống ra nấu canh, hoặc ăn sống, thế là bắt được tin tức bên ngoài.
Còn đưa tin ra ư? Dễ lắm. Mỗi "cà-mên" cơm đều có một từng trống, quý Sư
tha hồ để tin tức vào đó rồi mang ra, bọn cai ngục cứ nghĩ rằng xách đã
lưng, tức đã lấy đồ ăn rồi là xong. Đâu có ai ngờ trong ấy là những mật
mã, chuyên chở tin tức cho bên trong lẫn bên ngoài biết.
Còn nhiều cách khác nhau mà
thuở bấy giờ Sư cũng như nhiều Thầy, Cô khác đã trải qua mùi cay đắng
trong chốn bụi trần.
Rồi những ngày vượt biên bị
bắt, hình phạt cũng đâu có kém hơn xưa. So ra còn tệ hại hơn nữa. Ngày
trước bọn tù nhân còn đòi hỏi yêu sách về ăn uống, đôi khi giám thị còn nể
tình và mở lượng từ bi, cho thêm chút rau, chút chao. Còn ở tù sau 1975
thì khỏi chê. Mỗi tháng đi tắm được 4 lần. Mỗi lần được 15 phút. Mình mẩy
ai cũng bị ghẻ lác, trong như con chó bị chủ ruồng bỏ vậy? Còn áo quần ư?
Nhiều lúc đói quá, có kẻ đã gậm nhấm đến sờn hết tất cả các cánh áo và
khuy áo.
Ăn mỗi ngày chỉ được một bữa,
húp một chút nước muối, đôi khi còn bị tra tấn nặng đòn; nhưng đâu dám thở
than. Vì mình có tội mà. Có tội phản bội lại Tổ Quốc nên mới vượt biên,
tìm đường sinh kế. Đâu có ai biết cho mình là mỗi loài sinh vật trên quả
đất nầy đều cần đến một loại dưỡng khí khác nhau để sinh sống!
Ở đây càng chật chội hơn, mỗi
người là một xà-lim và tiêu tiểu cũng đó, nhiều lúc hôi hám vô cùng; nhưng
khi vào đây rồi mới thấy ý nghĩa của việc quán bất tịnh là thấm thía và
thực tế nhất. Thông thường ta chỉ học qua sách vở và có tính cách lý
thuyết vậy thôi; nhưng ở đây đã chứng thật thực tế rồi thì ai cũng ngộ.
Ngộ ở đây là ngộ cái chân lý tuyệt diệu ấy. Chân lý ấy là: Phân là người.
Người là phân. Người từ phân mà đến, rồi người cũng trở lại làm phân. Cây
cỏ cung cấp đời sống cho con người. Con người thừa trải ra chất dơ để cung
cấp cho cây cỏ, rồi người lại ăn cây cỏ để sống và tiếp tục, khi già khi
chết thân người sẽ cung cấp cho cây cỏ những chất dưỡng sinh. Đời là thế
và Đạo cũng vậy. Chân lý ấy Đúc Phật đã được chứng thật, còn chúng sanh
như chúng ta vẫn còn hờ hững với điều nầy.
Cuối cùng rồi Sư Tịnh Thường
cũng đã được ra khỏi khám đường vì bên ngoài có Sư Tịnh Đạo và cô Diệu
Duyên lo lắng sao đó với công an phường và với cai tù nên đã được trả tự
do. Còn ở đây, kể từ khi Sư vào đây mới chỉ có vài ba bà Phật Tử có gan
tới thăm, còn tông phong của Sư, bạn hữu của Sư đâu có thấy ai đâu.
Có lúc Sư tự giải thích cho quý
Phật Tử thăm nuôi nghe rằng:
- Ở đây tự do lắm. Ở tù mà như
sống ở cõi tiên. Trong nầy có trường học, có dạy nghề, có truyền hình màu.
Ăn ngày 3 bữa đàng hoàng. Riêng Sư thì mỗi tuần có 2 lần đi dạy giáo lý
cho mấy người bạn tù nữa. Về dọn dẹp, vệ sinh đã có người lo, còn tù chẳng
làm gì cả.
Có bà nghe như vậy nên hỏi Sư:
- Bạch Sư, nghe Sư nói như vậy
chắc ở đây sung sướng hơn ở ngoài sao? Trên thực tế, thường nhật, mọi
người phải tranh đấu với nhau dữ lắm mới có chỗ làm, có miếng ăn và để
tránh sự mất mát công ăn việc làm, đôi khi phải làm hai xuất trong ngày để
kiếm thêm tiền và bảo đảm cho cuộc sống. Theo con nghĩ và như Sư đã giới
thiệu, chắc ở đây sung sướng hơn nhiều?
Một bà phật Tử khác bấm nhẹ tay
bà nầy và tiếp:
- Chị không thấy ở đây văn minh
đó sao? Khi vào thăm tù họ đã đóng lên tay mình một con dấu dạ quang và
khi vào đây nói chuyện tự do thoải mái mà?
- Đúng là vậy! Nhưng họ đóng
dấu vào tay mình làm gì thế hở chị?
- Tôi cũng không rành lắm;
nhưng nghe đâu để họ kiểm soát người mình và tù đấy chứ!
- Kiểm soát là kiểm như thế
nào?
- Nếu người nào có ý gian lận
tráo đổi tù nhân, thì tù nhân đi ra, không có con dấu dạ quang trên tay,
tức là có vấn đề không ngay thẳng và bị bắt lại.
- Lỡ mình rửa mất dấu thì sao?
- Như chị thấy đó! Dấu nầy phải
rửa bằng một loại xà phòng đặc biệt mới sạch được. Lúc ra khỏi cổng tù,
chị sẽ nhận được xà phòng ấy.
Bà Phật Tử kia đã thông hiểu và
hỏi Sư tiếp:
- Bạch Sư! Nghe nói Sư có dạy
cho mấy người tù trong nầy, vậy Sư xử dụng ngôn ngữ gì vậy Sư?
- Có khó gì đâu! Tụng kinh và
ngồi thiền. Tụng kinh thì bắt họ đọc theo tiếng Việt Nam. Còn ngồi thiền
đâu có cần gì đến ngôn ngữ?
- Việc của Sư đã có kết quả gì
chưa?
- Sao hồ sơ của tôi bị dìm
hoài, chưa thấy động tĩnh gì ráo! Thôi thì ở đâu cũng tu vậy mà. Quý bà
thí chủ cứ an tâm và về nhà cầu nguyện cho Sư đi.
Nhiều bà cảm động lắm; nhưng
cũng chẳng biết giúp Sư được gì hơn nữa! Thôi cứ để vậy mà chờ đợi. Lẽ ra
bên bị can cũng phải có một Luật sư để biện hộ; nhưng ai cũng sợ bị liên
lụy nên không dám đứng ra công khai vận động, nên mới ra nông nỗi nầy.
CHƯƠNG MƯỜI HAI
BÍ MẬT LẠI ĐƯỢC BẬT MÍ
Bây giờ vào nằm trong tù
rồi, tính đến nay cũng đã hơn 6 tháng, Sư Tịnh Thường có đủ thì giờ để
kiểm điểm lại những gì đã xảy ra trong cái chết oan uổng của bà Bảy Diệu
Đạo, người nữ thí chủ mà Sư vẫn thường quý mến. Bao nhiêu câu hỏi, bấy
nhiêu câu trả lời cũng chỉ để đó mà thôi chứ chưa có gì sáng tỏ cả. Một
hôm Sư nhận được giấy hầu tòa; nên Sư phải chuẩn bị để đi. Bên nạn nhân dĩ
nhiên là đã có con cái của bà và ngay cả nhân chứng nữa, là ông hàng xóm
bên cạnh đã kêu dùm cảnh sát lúc án mạng xảy ra. Còn bên Sư, lẽ ra phải
thuê một Luật sư biện hộ; nhưng chẳng có ai lo cho vấn đề nầy cả. Sư cứ
phó thác cho cuộc đời nên chính phủ đã cử một Luật sư làm thiện nguyện ra
tranh cãi vụ nầy. Dĩ nhiên, khi họ không lãnh thù lao, chỉ làm với tư cách
thiện nguyện thì họ đâu có hết mình. Nếu bên bị cáo tiền bạc và thân nhân
lo liệu cũng đỡ đi đôi chút.
Hôm đó là ngày 15 tháng 6, cũng
là ngày sinh nhật của Sư, một nhà tu mặc áo nhà tù màu xanh nước biển đã
đến trước vành móng ngựa.
Ông Biện lý cuộc mở tập hồ sơ
dày cộm với đầy đủ tang chứng và dõng dạc hỏi bị cáo:
- Trần Văn Nam, tại sao ông có
hành động sát nhân như thế (Trần Văn Nam là tên thế tục của cha mẹ Sư đã
đặt).
- Thưa không! Tôi đã không làm
việc ấy.
- Tang chứng và nhân chứng đã
rõ ràng, tại sao ông chối điều đó?
Đây là dấu tay của ông đã sờ
vào cổ, vào người của bà chủ tiệm. Ngoài ra máu me của bà ta cũng còn sót
lại nơi mặt kính của ông đang đeo lúc ấy. Còn nữa. Chiếc áo nhựt bình mà
ông mặc đã dính máu của Bà Bảy. Đó là tất cả những tang chứng. Ngoài ra
còn một vấn đề quan trọng nữa, trong túi ông đã có một số hột xoàn, đã lấy
được và chuẩn bị tẩu thoát, thì có sự giằng co của Bà Bảy, nên Cảnh sát đã
hay tin qua người hàng xóm; nên đã đến kịp thời, có phải thế không, nhân
chứng?
- Đúng vậy! Chính tôi đã nghe
thấy tiếng động và thấy nhà Sư nầy với máu me đầy mình nên kêu Cảnh sát.
Ngay lúc ấy tại cửa tiệm vàng không còn thấy ai nữa hết.
Thưa ông Biện lý cuộc, lời của
Luật sư thiện nguyện đứng về phía bị cáo nói rằng:
- Thật ra những tang chứng nầy
chưa có đủ điều kiện để buộc bị cáo là sát nhân, vì lẽ theo luật pháp ở xứ
nầy, khi xảy ra án mạng, nạn nhân hay nhân chứng phải kêu Cảnh sát ngay và
không được lấy tay chạm vào bất cứ nơi đâu cả, đằng nầy vì không biết luật
pháp sở tại, hai nữa vì tình thương của một nhà tu nên ông ta mới đến đỡ
bà chủ tiệm vàng dậy, do đó dấu tay ấy chứng tỏ không phải là dấu tay bóp
cổ bà chủ. Còn những giọt máu còn đọng lại trên kính của nhà Sư kia cũng
thế thôi. Đó chỉ là một sự ngẫu nhiên, khi đỡ nạn nhân lên, trong tiếng
nói thì thào, bà ta đã thổi mạnh vào mặt kiếng. Còn vàng bạc và kim cương
hiện có trong túi (đãy) đựng y áo của ông ta, theo ông ta nói, đó là đồ để
dành đã mang từ Việt Nam sang và nhờ bà chủ xem hộ để đón giá.
Cả hội trường ở dưới nhao nhao
lên và kẻ thì thu tay lại đấm vào hư không, người thì lấy tay chỉ trỏ vào
bị cáo. Nói lớn lên rằng: Hãy giết nó, hãy cho nó một án tử hình. Vì chính
nó là kẻ sát nhân. Rồi từng tàng khua tay múa mỏ liên tiếp như vậy được
thốt ra.
Sư lẳng lặng nghe như điếng hết
cả người. Những tiếng nói ấy chẳng ai khác hơn là con cái của Bà Bảy. Lúc
bấy giờ Sư mới thấm thía cho tình đời nghĩa đạo. Sư nhìn quanh quẩn gian
phòng xử án hôm đó, chẳng có ai là đại diện cho mình để đi tham dự phiên
tòa nầy cả. Sư nhìn vị Luật sư trẻ kia để thầm cảm ơn ông ta. Mặc dầu Sư
không hiểu hết được những gì ông ta đã biện hộ dùm; nhưng Sư tin chắc là
những lời nói vừa rồi của ông ta không phải là những lời kết án mà là
những lời bênh vực cho Sư, nên bên nạn nhân mới to tiếng cãi lại như thế,
làm cho ông Biện lý cuộc phải lấy búa gỗ đạp vào bàn mấy cái, cả hội
trường mới yên lặng lại như cũ. Đoạn ông tuyên bố:
- Tòa cần 30 phút để nghị án.
Mong quý vị trở lại phòng nầy đúng giờ như đã quy định.
Sau 30 phút, mọi người đã trở
lại hội trường xử án. Lúc bấy giờ ai cũng chờ đợi một phán quyết từ quan
tòa; nhưng cuối cùng rồi ông Biện lý cuộc đã tuyên bố rằng:
- Thật sự ra vụ án nầy còn
nhiều uẩn khúc lắm! Chưa thể kết tội bị can ngay lúc nầy được. Bổn tòa
phải cần thêm nhân chứng và nhất là thời gian, ít nhất là 6 tháng mới tái
xử lại vụ án nầy. Đến đây xem như phiên tòa thứ nhất được kết thúc.
Ai nấy ra về; nhưng không vui
vẻ mấy. Còn Sư được hai người Cảnh sát còng tay lại và chở về nhà tù, nơi
Sư đã ở bấy lâu nay.
Ở trong tù, Sư học thêm tiếng
địa phương để còn bập bẹ với cai tù hoặc bạn tù nữa; nên mỗi ngày Sư đã
học được 4 tiếng. Thời gian còn lại Sư xem truyền hình, chơi bóng bàn.
Thỉnh thoảng cũng dọn dẹp vệ sinh và đôi khi cũng có người từ phương xa
đến thăm Sư; nên Sư phải tiếp khách.
Ở đây việc thăm viếng cũng dễ,
nó tự do như bao sự tự do khác ở bên ngoài; nhưng tất cả đều được theo dõi
kỹ càng. Tất cả những cuộc nói chuyện đều được thâu băng lại, mà cả người
thăm lẫn người tù đều không biết. Vì vậy không ai dám nói sự thật cho nhau
nghe gì cả. Chỉ thăm hỏi qua loa về vấn đề sức khỏe và nhiều lắm là cho
người thân một ít tiền bạc để tiêu vặt thôi.
Sư cũng còn được một ít an ủi
là thỉnh thoảng có bạn bè ở xa tới thăm. Nhìn họ mà Sư chứa chan hai hàng
lệ, muốn phân trần với bạn bè thật nhiều; nhưng Sư thấy cũng không đi đến
đâu; nên Sư lại thôi.
Một hôm có một nạn nhân mới
được nhốt vào ở chung trong phòng giam với Sư, may quá chàng ta là người
Việt, nên Sư có cơ hội để nói tiếng mẹ đẻ của mình mà giãi bày tâm sự tất
cả xưa nay những gì Sư đã gặp phải. Mục đích không phải minh oan; nhưng để
giãi bày tâm sự.
- Nhưng sao cậu phải vào đây?
Sư hỏi thế.
- Con hả Sư? Có nhiều lý do
lắm. Vì thiếu tiền cho nên phải đi ăn cướp, ăn trộm. Đời con chỉ cần tiền
mà thôi. Vì vậy cho nên tiền nó đã hại con và con cũng chẳng màng gì hơn.
"Núi bốn bể là nhà của lữ
thứ
Chốn lao tù là quán trọ của đời
tôi"
Sau khi Sư nghe cậu ta ngâm hai
câu thơ như vậy. Sư hỏi tiếp.
- Vậy cậu ở tù mấy lần rồi?
- Như cơm bữa mà Sư. Bị bắt vào
lại được thả ra; nhưng chắc lần nầy thì khó lắm. Vì liên quan đến một án
mạng. Còn Sư, tại sao Sư lại vào đây?. Mới đầu con cũng không tin là một
nhà Sư; nhưng con nhìn cung cách và việc ăn chay của Sư trong trại nầy nên
con nghi là như vậy. Thực ra không phải con mới bị bắt vào đây đâu; nhưng
đã vào ra đây nhiều lần rồi.
Sư hả? Ừ! Thì Sư cũng liên quan
đến một vụ án mạng. Nạn nhân là một chủ tiệm vàng.
- Ở đâu vậy Sư?
- Ở nơi đông cư dân Việt Nam
mình ở đó.
Bỗng nét mặt của hắn ta sa sầm
xuống và lẩm bẩm những gì không biết nữa. Bên nầy Sư Tịnh Thường tiếp tục
kể lể những gì đã xảy ra cho hắn ta nghe.
Một hôm Sư đi tắm, lúc trở về
thấy thư từ sách vở ở đầu giường mình có gì không bình thường, nên Sư kiểm
điểm lại một lần thử xem sao. Đúng ra là có ai đã lục lạo gì đây rồi. Sư
không dám nghi là cậu Việt Nam nầy; nhưng có lẹ cũng đúng thôi. Vì chỉ có
cậu mới đọc được tiếng Việt, còn tất cả những người bị giam trong phòng
nầy đâu có ai hiểu mô tê ất giáp gì đến ngôn ngữ nầy đâu.
Sư cũng định hỏi cậu kia; nhưng
lại thôi. Rồi một đêm tối trời, sau khi ngồi Thiền, Sư mới duỗi lưng dài
ra để nằm ngủ, thì cậu Việt Nam kia trờ tới bên Sư và nói rằng:
- Sư ơi! Con có điều muốn nói
với Sư.
- Việc gì vậy? Để mai nói cũng
được mà.
- Không đâu Sư! Con muốn tâm sự
cùng Sư.
- Cậu cứ nói:
- Thật ra thì tâm cang con cắn
rứt lắm, nhất là khi đã gặp được Sư ở đây và đã hiểu biết về án mạng ấy.
Sư hồi hộp quá hỏi tiếp:
- Nhưng cậu là ai? Và tại sao
cậu lại hiểu rành rẽ về vấn đề nầy vậy?
- Con là ai, Sư không cần hiểu
đến. Con cũng chỉ là một tứ chiến giang hồ thôi. Nhưng kẻ cướp như con
cũng còn có lương tâm mà Sư. Lương tâm ấy là một lời sám hối với Sư đây.
Nói xong cậu ta sụp lạy Sư ba lạy, trong khi nước mắt lại ràng rụa chảy
dài trên gương mặt còn non nớt độ chừng 25 tuổi ấy.
Sư tự trấn an mình và hỏi tiếp:
- Thế nào? Cậu cho tôi biết rõ
hơn đi.
- Thật ra, án mạng hôm đó có
con và con là một trong những người đã hành động ấy. Việc làm của tụi con
cũng chĩ vì vấn đề tiền thôi.
- Ai đã thuê cậu làm điều đó?
- Việc ấy vẫn còn trong vòng bí
mật mà Sư.
- Nhưng tôi tin rằng một ngày
mai sẽ được sáng tỏ.
- Lúc ấy chưa biết bao giờ;
nhưng có nhiều người liên lụy lắm đấy Sư.
Còn Sư? Sư muốn trắng án?
- Việc ấy chẳng cần thiết;
nhưng tôi chỉ muốn biết là ai đã chủ mưu vụ nầy và điều khác, mong rằng
linh hồn Bà Bảy sớm siêu thoát nơi thế giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà.
- Lâu nay con chẳng tin nhân
quả là gì; nhưng sao vụ án nầy con thấy lương tâm con nó áy náy quá. Nếu
con khai ra thì đồng bọn con sẽ bị bắt cả lũ, mà chắc chắn điều đó Sư cũng
không muốn; nhưng phải khai với Sư, thật tình mà nói con cũng không biết
gì hơn nữa, ngoại trừ việc sám hối với Sư là hôm đó con đã có mặt nơi hiện
trường và chính con… chính con là người đã hành xử không phải với Sư mà
thôi. Ngoài ra còn nhiều tai to mặt lớn khác góp mặt vào vấn đề nầy, khó
nói lắm Sư ơi! Bứt dây sẽ động rừng. Con xin Sư.
Sau khi nghe câu chuyện ấy, Sư
ôm đầu suy nghĩ. Chuyện đâu mà rắc rối thế. Sư tự nghĩ rằng. Hay mình hãy
nhận tội là mình đã giết Bà Bảy để câu chuyện được kết thúc nơi đây và
mình sẽ nhận một án tử hình là đủ, rồi mọi việc sẽ trôi vào quên lảng. Rồi
Sư suy nghĩ lung tung.
Ai đã chủ mưu cà? Có phải người
hàg xóm bên cạnh đã thuê bọn cướp vào cướp của giết người rồi phi tang?
Hay con cái của bà ta chủ mưu vụ nầy? Nghĩ đến đây Sư rùng mình, không dám
nghĩ tiếp nữa. Mặc dầu ở đây việc ấy xảy ra nhan nhản hằng ngày. Sư nghĩ
rằng gia đình nầy là một gia đình gia giáo, nề nếp gia phong làm gì có
chuyện ấy. Vả lại tang cha chưa mãn, tang mẹ đã mang, ai có muốn điều đó
đâu? Vả lại bà ta đã già rồi, trước sau gì rồi cũng chết, tài sản ấy về
tay con cái trong gia đình chứ đâu có thuộc về chùa mình mà họ sợ để làm
như vậy? Nhưng nếu có chuyện gì đó không vui, nhiều lắm là xí phần chút
đỉnh, chứ làm sao gây ra cả một án mạng lạ lùng như vậy, để làm gì? Còn
nữa, nếu con cái muốn tiêu xài, thưa với bà ta và xin bà ta 5, 3 cây vàng
chắc bà ta cũng không từ chối đâu, tại sao phải làm như vậy?
Sư nghĩ tới rồi nghĩ lui, nghĩ
xuôi rồi nghĩ ngược và cuối cùng chẳng có câu giải đáp nào có lý cả.
Thế rồi Sư muốn nói chuyện tiếp
với cậu Việt Nam kia và Sư chỉ yêu cầu cậu ta một điều là hãy làm nhân
chứng cho Sư khi Sư ra tòa lần tới. Chỉ cần nói cho Luật sư của Sư biết
là, chính y thị là nhân chứng có mặt tại hiện trường để cho họ điều tra
tiếp tục.
Sau bao nhiêu lần thuyết phục,
cậu ta đồng ý; nhưng Sư thì cũng không biết rõ được luật pháp ở xứ nầy là
một người tù có được làm chứng cho một người tù không nữa. Tuy nhiên Sư
rất mừng và hằng đêm vẫn cầu nguyện Đức Quan Thế Âm gia hộ cho Sư được sở
cầu như nguyện.
Cuối cùng rồi ngày ra tòa lần
thứ hai cũng đã đến sau sáu tháng trước. Bây giờ thì Sư đã vững dạ hơn là
có nhân chứng trong vụ án rùng rợn kia. Bây giờ quan tòa bắt đầu xử lại vụ
kiện.
Nhà Sư Tịnh Thường thế danh
Trần Văn Nam lại ra trứơc vành móng ngựa lần thứ hai. Lần nầy thì Sư an
tâm hơn lần trước. Vì lần đầu không có kinh nghiệm. Vả lại chẳng có chứng
nhân. Còn bây giờ thì Sư an ổn trong lòng lắm. Đoạn Luật sư biện lý cuộc
nói:
- Đã sáu tháng qua bổn tòa cũng
đã nghiên cứu sự kiện và bị cáo hôm nay cũng đã có người làm chứng. Vậy
nhân chứng đâu hãy nói lên những sự thật.
Sư đưa mắt thật nhanh và nhìn
như có ý khẩn cầu người bạn tù Việt Nam kia; nhưng y thị như bị thôi miên
chẳng động đậy gì cả. Khiến quan tòa phải nhắc lại một lần nữa.
- Nhân chứng đâu, xin cứ trình
bày.
- Dạ em, dạ con tên là Nguyễn
Văn Y, không biết, không nghe, không thấy gì cả về vụ nầy!
Sư Tịnh Thường mặt mày hớn hở,
bỗng nhiên tái xám đi lúc nào không hay biết. Luật sư thiện nguyện biện hộ
cho Sư cũng thất vọng. Không hiểu thế nào là thế nào?
Cuối cùng thì Luật sư của Sư
Tịnh Thường có nêu lên vài sự kiện nho nhỏ sư sau:
- Theo tôi, việc nầy ắt có kẻ
thứ ba mới xảy ra án mạng ấy được. Không lẽ một ông Thầy thanh niên đánh
lộn với một bà già mà ra nông nỗi ấy? Một bà già làm sao có thể đánh nổi
một nhà Sư trong tư thế tự vệ được, khi nhà Sư nầy còn trai trẻ như vậy?
Và một câu hỏi nữa được đặt ra là; Ai đã đánh nhà Sư? Và ai đã làm cho nhà
Sư sưng đầu sưng trán?
Ông Biện lý cuộc cứ bóp trán
suy nghĩ và có ý nghi ngờ cho phía nhân chứng. Bỗng ông tuyên bố bãi tòa
và có ý muốn gặp riêng người thanh niên bạn tù của Sư để hỏi rõ tự sự như
thế nào?
Cả hội trường đã vắng, bây giờ
chỉ còn một Luật sư của Biện lý cuộc và cậu thanh niên nầy. Bên ngoài pháp
đình có mấy người cảnh sát đang canh giữ.
Ông Biện lý cuộc hỏi:
- Tại sao cậu đã nhận làm nhân
chứng? Rồlúc bấy giờ lại nói không thấy, không nghe, không biết nghĩa là
thế nào?
- Thưa ông! Tôi sợ bạn bè của
tôi phải vào tù chung với tôi nữa; nên không dám nói hết sự thật, làm cho
nhà Sư cũng hụt hẫng quá; nhưng tôi phải nói sao đây khi mà áp lực từ phía
bên nạn nhân quá nhiều.
Ông quan tòa lẳng lặng nghe
từng tiếng một của cậu nầy nói và ghi sâu vào trí nhớ. Đoạn ông hỏi tiếp:
- Theo cậu nói: áp lực từ phía
bên kia nghĩa là thế nào?
- Thưa ông! Nếu tôi nói lên sự
thật, ông cũng chỉ để làm tin thôi. Vì tôi không nắm rõ hết mọi nguyên
nhân của câu chuyện.
- Được! Cậu cứ nói.
- Tổ chức của chúng tôi đông
lắm và người dưới chỉ biết một người trên ra lịnh và người trên biết một
người trên nữa thôi. Cứ thế và cứ thế cho đến người cuối cùng trên hết. Vì
vậy người ở trên cùng thì biết bộ hạ của mình là ai và gồm bao nhiêu
người; nhưng ngược lại thuộc hạ ở dưới thì tuyệt nhiên không biết ai là kẻ
cầm đầu mình. Vì thế những gì tôi kể cho ông Biện lý cuộc hôm nay nghe
đây, cũng chỉ để thêm một sự kiện mà thôi.
Theo tôi nghĩ thì có ai đó đã
thuê bọn cướp chúng tôi hạ sát bà chủ để tranh giành tiền bạc của cải. Dĩ
nhiên, nếu việc êm xuôi, chúng tôi sẽ nhận được một số tiền. Chỉ đơn giản
vậy thôi. Không ngờ hôm đó, đúng 12 giờ trưa là giờ hành động, lại có mặt
vị Sư này; nên vị Sư nầy đã bị oan ức đấy thôi. Theo tôi nghĩ thì có nhiều
câu hỏi và câu trả lời vậy.
- Đúng thế! Nên việc xử chưa đi
đến chỗ chung kết. Bởi vậy chưa tìm ra thủ phạm. Dẫu cho nhà Sư ấy có nhận
là thủ phạm đi nữa, bổn tòa cũng sẽ còn chờ nhiều phúc trình khác của Cảnh
sát, của Luật sư và của dư luận quần chúng nữa. Thôi xin cảm ơn em và em
sẽ được trả lại chỗ cũ.
Về lại nhà, đôi khi vợ con của
ông cũng có hỏi về công chuyện ở pháp đình. Hôm nay tự dưng ông lại kể câu
chuyện trên cho bà vợ của mình nghe. Thông thường thì ông ít làm việc nầy
lắm. Vì nghĩ rằng chuyện công là công và tư là tư, nên đã không làm việc
đó.
Nào ngờ đâu bà vợ của ông cũng
là một Phật Tử thuần thành, nghe tin một nhà Sư bị nạn như vậy, bà tỏ ý
phân bua với chồng:
- Ông thấy đó. Người tu bao giờ
cũng chịu hàm oan hết. Tôi hỏi ông, một người tu đã hơn 30 năm rồi. Trong
giới luật của Phật chế, con kiến còn không được giết, làm sao giết người?
Tuy chúng ta không đồng chủng tộc với bị can; nhưng xin ông hãy thận trọng
về vụ án nầy. Một vụ án vô tiền khoáng hậu tại xứ nầy chăng? Chuyện cha cố
đôi khi có lăng nhăng về việc tình cảm đôi chút. Còn chuyện một nhà Sư
mang tội giết người quả là có nhiều nghi vấn.
- Tôi cũng biết vậy; nhưng sự
việc chưa rõ ràng thì phải tính sao đây?
Sau bữa ra tòa hôm đó, Sư về
lại căn phòng giam của mình, không còn gặp cậu Việt Nam kia nữa, Sư đâm ra
lo âu và cứ tự hỏi với mình rằng:
- Hay chính chủ nhân của cái
chết đã gài người vào đây để thử lòng dạ mình? Nhưng Sư thì không tin điều
đó. Hỏi rồi tự trả lời như thế.
Tại sao người đàn ông kia khả
nghi quá. Đã nhận lời mình là sẽ làm nhân chứng tại tòa; nhưng hôm nay lại
không? Chuyện gì đã làm cho hắn ta sợ sệt? Bề nào thì hắn ta cũng đã vào
tù nhiều lần rồi. Bây giờ đâu có ngán ngẩm một ai đâu?
Bao nhiêu câu hỏi, bấy nhiêu
câu trả lời. Câu nào rồi Sư thấy cũng có lý cả. Nhưng ai và những gì sẽ là
câu trả lời đúng nhất cho việc nầy?
Ngày lại tháng qua thế mà đã 7
năm rồi. Bảy năm trôi qua một cách tẻ nhạt trong tù. Trong suốt thời gian
ấy Sư Tịnh Thường đã học và nói rất khá tiếng địa phương. Thỉnh thoảng Sư
đến nhà bếp trong nhà tù để trổ tài cho các tù mới, thấy tài của Sư trong
việc bếp núc.
Người ta thường nói "ma cũ
ăn hiếp ma mới"; nhưng Sư thì không. Sư đối xử với mọi người như là
những chúng sanh cùng một dòng máu, Sư không phân biệt đen, trắng, đỏ,
vàng, nên đã được cảm tình với rất nhiều người và ngay cả cai ngục nữa;
nên việc ra vào nhà kho, nhà họp tự do hơn. Nghĩa là Sư muốn đi đâu trong
phạm vi của tù, vào bất cứ giờ nào và bất cứ ở nơi đâu, Sư không bị một sự
kiểm soát nào cả.
Có đi như vậy Sư mới thấy được
hết mọi khổ đau của nhân thế và chính đây là cơ hội để Sư thể hiện tinh
thần Bồ Tát Đạo ở chốn Ta Bà nầy. Ngày xưa khi còn là một Du Tăng Khất Sĩ,
Sư phải đi xin để độ nhật. Còn bây giờ chính bây giờ và nơi đây đúng là
nơi mà Sư có thể tế độ họ một cách dễ dàng.
Sư han hỏi họ, chăm sóc họ, vỗ
về họ. Sư giảng cho họ nghe về khổ đau, tục lụy. Về vô thường, vô ngã, về
Niết Bàn tịch tịnh chơn như.. Có nhiều khi Sư thấy nhiều người khóc và
cũng có lắm lúc có nhiều người đến thố lộ riêng với Sư về chuyện gia đình,
chồng con, sự nghiệp v.v… Dĩ nhiên Sư cũng có nỗi khổ riêng của Sư; nhưng
ở đây Sư thấy họ còn khổ hơn Sư nhiều như thế nữa và từ đó Sư có ý nguyện
ở luôn trong tù để chăm sóc những người bất hạnh hơn mình.
Hạnh nguyện thì cao cả thật;
nhưng đâu phải ai cũng làm được, ngoại trừ một số người có tâm địa Bồ Tát,
muốn cứu độ chúng sanh.
Hình ảnh của một nhà Sư đi ủy
lạo những người bạn tù, đi săn sóc vấn đề tâm linh cho những người cùng
một cảnh ngộ, đã làm cho nhiều người hoan hỷ, tán thán và chính Sư cũng
rất vui khi thực hiện những công việc nầy.
Rồi một hôm sau 7 năm không
động đậy tới chuyện hầu tòa, bỗng nhiên Sư được kêu lên và được biết là sẽ
ra tòa lần thứ ba vào ngày thứ hai tuần tới.
Lần nầy thì Sư chẳng mong gì
hơn là xin tòa ở lại trong tù để coi sóc tù nhân. Nhưng Biện lý cuộc đã
nói, khi Sư đã đến trước vành móng ngựa:
- Thú thật với mọi người, vụ án
nầy sau 7 năm đã điều tra, không tìm ra được thủ phạm. Tuy có một vài việc
đáng nghi ngờ cho ông Sư nầy là can phạm; nhưng cũng không đủ kết tội vị
nầy là giết người.
Bên kia, vị Luật sư của bị cáo
tiếp:
- Thưa ông Biện lý!, ông Biện
lý nói điều ấy rất đúng và hôm nay tôi có thêm một số bằng chứng nữa để
chứng minh rằng nhà Sư nầy không có ý vào tiệm để cướp của giết người. Sau
khi thu thập mọi dữ kiện, chúng tôi thấy rằng những nữ trang mà cửa tiệm
mất không phải là số nữ trang nằm trong túi (đãy) y áo của Sư, mà số nữ
trang nầy chính là của riêng Sư, mặc dầu những vật nầy không có chứng từ
là từ đâu mang đến.
Còn nữa, bọn cướp của giết
người đã cao bay xa chạy. Nếu vụ án nầy chỉ có một bà già và một thanh
niên Tăng như Sư đây thì không đến nỗi phải xảy ra án mạng. Vả lại, khi
tìm hiểu sâu hơn thì đương sự ở đây và kẻ bị giết không có tiền án; mà
ngược lại họ đã có một sự liên hệ rất tốt đẹp cho đến ngày cuối cùng khi
xảy ra án mạng.
Sau một hồi lâu nghỉ để nghị
án, ông Chánh án, ông Biện lý cuộc và Luật sư của bị can cũng như tất cả
mọi người hầu tòa hôm đó đều nghe ông Chánh án dõng dạc tuyên bố rằng:
- Nhà Sư được tại ngoại; nhưng
vụ án chưa kết thúc. Vì Sư không phải là kẻ giết người. Chỉ khi nào tìm ra
kẻ giết người hoặc kẻ chủ mưu giết người thì Sư mới trắng án.
CHƯƠNG MƯỜI BA
THỜI
GIAN TẠI NGOẠI
Ông bà mình vẫn thường hay
nói "nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại" đúng quá chừng. Một
ngày ở trong tù dầu được tự do hơn những tù nhân khác; nhưng Sư Tịnh
Thường vẫn thấy sao mà nó dài thế!
Cứ 6 giờ sáng có kẻng tập họp
là mọi người nhao nhao ngồi dậy, kẻ đánh răng, người rửa mặt, súc miệng.
Sau đó là tập thể thao, thể dục.
Đúng 8 giờ ăn sáng. 9 giờ đi
học nghề, học chữa hoặc làm việc ở trong nhà tù. 12 giờ ăn trưa sau đó
nghỉ cho đến 2 giờ và từ 2 giờ đến 5 giờ là giờ học và làm việc. 6 giờ
chiều ăn tối. 7 giờ xem truyền hình công cộng cho đến 9 giờ và 10 giờ đi
ngủ. Thời khắc biểu như thế, ai ở trong tù đều phải tuân theo; nếu không,
sẽ bị kỷ luật. Sư thấy rằng thời khắc biểu ấy đâu có khác gì thời khắc
biểu ở trong chùa mấy; nhưng sao thấy nó dài và lâu hơn gấp vạn lần. Đôi
lúc Sơ ôn lại những bài học trong tứ thập nhị chương để tự an ủi mình.
Trong ấy Đức Phật dạy rằng: "Người ở tù dầu có bao lâu, hết hạn tù sẽ
được ra; nhưng người đã bị mắc vào đường tình ái rồi thì suốt đời không
thể ra được". Đúng như vậy. So sánh cái nầy với cái kia Sư thấy hữu lý
lắm. Nhiều lúc ở trong tù, Sư trông con chim bay trên trời, Sư ao ước được
cái tự do của nó quá. Sư nghe tiếng nhạc du dương, Sư ước gì mỉnh sẽ vượt
qua được không gian và thời gian ấy. Biết bao nhiêu điều ao ước đơn sơ như
vậy nhưng Sư có thực hiện được đâu.
Rồi một hôm, bỗng nhiên Sư được
văn phòng giám thị kêu lên giao cho một tờ giấy, trên ấy có ghi mấy chữ: "Tù
nhân Trần Văn Nam được tại ngoại". Chỉ có mấy chữ vậy thôi. Không biết
là nên vui hay nên buồn đây. Vì lẽ chốn tù đày lâu nay mình cũng đã quen
rồi. Bây giời về lại nơi xưa, không biết có ai dung chứa mình không? hay
lại bị xua đuổi nữa. Sư đang suy nghĩ vẩn vơ, bỗng ông Giám thị chìa bàn
tay ra trước mặt Sư và nói:
-Tôi chúc ông trở về quê quán
bình yên.
-Xin cảm ơn ông. Sư miễn cưỡng
trả lời thế, đoạn siết chặt tay ông. Sau đó Sư lầm lũi trở về phòng thu
xếp mới hành trang và rồi trại.
Đồ đạc của Sư chẳng có gì ngoại
trừ mấy chiếc áo nhựt bình màu dà, mấy chiếc y màu vàng và một vài dụng cụ
cá nhân của mình. Sư lục lạo thật kỹ trong cái bóp, thấy hình ảnh của song
thân mình. Sư mủi lòng quá, đem tấm hình ấy áp vào mắt và tự nhiên giọt
nước mắt lại lăn tròn qua hai gò má. Sư nghĩ, cha mẹ mình không biết giờ
nầy đã ra sao rồi. Sinh con ra chưa nhờ vả được gì, mình đã xuất gia học
đạo, rồi biền biệt nơi chốn thiền môn. Bây giờ ở ngoại quốc lại vào tù.
Nếu mà ông bà ở nhà nghe được chắc ông bà thí chủ sẽ buồn lắm.
Chính những lúc cô đơn lạc lõng
như thế này con người thường hay tìm về quá khứ và nhất là những người
thân. Người đời thì có mái ấm gia đình để tìm về, còn Sư đây, không có ai
hết cả. Bạn bè đồng tu ư? Họ đang dửng dưng rồi. Giáo Hội ư? Họ đã sợ mang
tiếng nên không chở che gì cả. Phật Tử ư? Ai là người dám chứa mình đây?
Sau khi Sư Tịnh Thường rời cổng
nhà tù, Sư đứng lại và quay về hướng nhà tù vẫy tay chào và nói: "Thôi
tau chào mi. Dẫu sao đi nữa mi cũng đã cưu mang tau 7, 8 năm trường. Trong
những năm tháng dài đăng đẵng ấy, chính mi là bạn tương đắc của tau, đã
che chở nắng mưa cũng như trong sự cô đơn giá lạnh. Xin từ biệt mi".
Sư nói mấy lời như thế, rồi Sư
quay mặt ra hướng không gian cao rộng nói lớn lên rằng: "Tự do thật quý
hóa; nhất là những người đã mất tự do như tôi. Nhưng ai có lòng từ thiện ở
đây? Phật Bồ Tát hay con người? Ai sẽ là người cứu giúp tôi đây?". Sư
la to lên như thế, bỗng Sư dừng lại và từ từ nhìn khắp thân thể mình từ
đầu chí cuối rồi tự nhủ:
Còn ai nữa, chính mình phải tự
giúp mình mới mong thoát khỏi cảnh luân hồi sanh tử và chính mình mới có
thể cởi trói cho mình mà thôi. Sư thấy có lý và lấy tay xoa vào đầu mình
như thầm cảm ơn về những suy nghĩ ấy mà trí óc đã ban cho mình. Sư tư lự –
chắc là mình phải đi cạo cái đầu trước khi mặc áo nhà tu trở lại; Nhưng Sư
lại thôi và nghĩ rằng: Đi tu đâu phải chỉ để cạo đầu. Vì có biết bao nhiêu
kẻ cạo đầu mà họ có tu đâu. Người đi tu cạo cái tâm quan trọng hơn cạo
đầu. Sư nghĩ thế rồi mỉm miệng cười. Đúng vậy! Đường còn dài và đời còn
lắm chông gai, mình phải phấn đấu lên. Đoạn Sư sờ vào túi áo của mình lấy
mấy đồng bạc lẻ để gọi điện thoại.
Ở đâu đây kia một vị Trưởng Lão
trả lời:
-Việc ấy chẳng có sao đâu! Thôi
cứ về chùa ta mà ở, ta sẽ bảo bọc cho.
-Bạch Ngài! Ngài không sợ miệng
lưỡi thế gian trách móc Ngài tại sao che chở cho một người tù à!
-Việc ấy đâu có gì quan hệ. Con
sâu, con kiến, người tu còn phải che chở huống chi con người.
Sư cảm ơn Ngài và gác ống điện
thoại, ngẩn ngơ một lúc rồi suy nghĩ: "Quả thật thế gian nầy vẫn còn những
con người tốt đẹp như thế, chứ đâu phải tâm ai cũng nhuộm chàm như ta vẫn
thường nghĩ đâu! Trong chốn khổ đau vẫn có những người thoát tục. Trong
nhiều người gian dối, cũng có lắm kẻ thật thà… Sư bây giờ suy nghĩ nhiều
lắm. Mỗi lần suy nghĩ lại gợn lên một vết nhăn trên vầng trán rộng ấy.
Nhiều khi Sư tự nhủ rằng: Phải chi ở trong tù sướng hơn, vì thân phận ai
cũng giống nhau. Bây giờ về lại thế giới tự do với phương trời cao rộng
nầy thấy khó xử quá.
Một hôm có một bà Phật Tử đến
chùa thăm Sư cụ rồi gặp Sư hỏi:
- Con nghe nói rằng Sư đã về;
nhưng bản án ấy dành cho ai Sư?
-Án nào bà thí chủ?
- Thì cái án mà Sư đã mang lâu
nay đó?
- Chắc bà thí chủ muốn nói đến
việc họ cho rằng tôi giết người ấy à?
- Đúng vậy, thưa Sư!
- Nếu tôi là kẻ giết người, tôi
phải đền tội trước Pháp luật; nhưng vì bằng chứng không rõ ràng nên tôi
được tại ngoại, chỉ đơn giản thế thôi.
- Theo Sư, thì nội vụ ra làm
sao?
- Ai mà biết được. Chỉ có người
gây ra câu chuyện ấy mới biết mà thôi.
- Nhưng ai đã gây ra?
- Điều ấy còn nằm trong vòng
nghi vấn mà.
- Theo con nghĩ là Sư bây giờ
có thể kiện lại họ được đó.
- Kiện ai?
- Kiện người đã giam Sư, làm
cho Sư mất tự do 7, 8 năm trường và con nghĩ rằng số tiền ấy lớn lắm Sư
ơi!
- Theo tôi nghĩ: việc ấy đã đủ
cho tôi đớn đau rồi. Làm chi cho kẻ khác tan gia bại sản nữa. Vả lại chính
tôi cũng là người có lỗi nữa. Lý do chính là tại chuyện vàng bạc hột xoàn,
mà người đi tu không nên và không bao giờ chứa chấp nó để làm gì. Điều ấy
Phật đã dạy; nhưng khi ra xã hội nầy, chính tôi cũng quên mất đi. Ban đầu
tôi nghĩ rằng chính bạc vàng sẽ cứu tôi trong cơn khốn khổ. Nhưng tôi đã
lầm. Chính nó là con rắn độc đã hại tôi và bây giờ tôi là một con người
chưa được phục hồi danh dự lại như xưa; nên tôi cũng không muốn ai vào tù
ngồi thế cho mình cả, khi sự kiện chưa rõ ràng thì mình cũng không dám
nghi cho ai nữa. Vì nghi ngờ đã là một cái tội rồi.
Sau khi biết tin Sư được tại
ngoại, Sư đã nhận được không biết bao nhiêu cú điện thoại hăm dọa, bảo
rằng hãy câm miệng lại không được tiết lộ một chi tiết nào cả trong vụ
nầy. Nếu tiết lộ Sư sẽ bị mất mạng.
Nhiều đêm Sư giật mình tỉnh
giấc, nghĩ lại giấc mộng xưa và nay quá hãi hùng. Sư có ý quyên sinh để
cho đời khỏi dị nghị và khỏi nghe những tiếng thị phi to nhỏ của người
đời; nhưng Sư cũng tự trấn tĩnh với mình rằng: đã bao nhiêu khó khăn gian
khổ trôi qua mà Sư còn gượng sống để xem tấn tuồng đời sẽ tái diễn ra sao,
thì bây giờ và nơi đây, tại sao Sư phải thực hiện điều ấy? Không! đó chỉ
là một ý nghĩ điên rồ thôi! Sư tự nêu ra câu hỏi, rồi biện hộ, rồi tự mình
trả lời câu hỏi mình đã nêu ra. Điều nầy Sư đã quen làm như thế. Vì bên
cạnh mình chẳng có ai giúp đỡ ý kiến; nên Sư phải làm như thế.
Bỗng một hôm Sư đang ngồi lễ
Phật, có một nhà Sư mặc áo vàng trờ tới trước Sư. Người ấy mang kính mát
và hỏi Sư với giọng điệu lố lăng:
- Tại sao mi đến chùa nầy với ý
đồ gì?
- Mô Phật, người tu hành sao ăn
nói gì kỳ vậy?
- Mầy bảo ai tu hành? Mầy là
thằng ăn cướp, mầy là thằng giết người. Còn mặt mũi nào mầy về đến chùa
này để quấy phá Sư Tăng?
Sư nghe như điếng cả hồn mình.
Chân tay Sư bủn rủn. Nghiệp duyên nào đã dong rủi mình làm người? Bây giờ
đây, mình muốn trở về lại với con người nguyên thủy của mình lại bị chính
người đồng môn, đồng cảnh nguyền rủa. Ôi! khổ đau biết dường nào! Nhưng
cuối cùng rồi Sư cũng tự cứu được mình bằng cách im lặng. Vì nếu có trả
lời, có biện hộ cũng đâu có ai hiểu cho mình được, nên lại thôi. Chỉ có
thời gian mới có thể giúp Sư. Còn con người, sao mà lại tệ bạc quá?
Rồi một hôm Sư đi trong một xe
Bus, phía trước có hai người đàn bà Việt Nam ngồi nói chuyện mà họ không
để ý đến sự hiện diện của Sư.
Một bà kể:
- Chị ơi! Bà có biết vụ án một
nhà Sư giết người không?
- Nhà Sư làm sao giết người
được?
- Vậy mà chuyện có thật đó.
- Tại sao vậy?
- Tại vì tu không lo tu. Lo đi
mua vàng sắm bạc. Buôn bán như người đời, đến khi ăn thua không được với
người ta lại cướp của giết người.
- Đời nầy sao lắm Sư hổ mang
thể?
- Ở đâu cũng có loại sâu bọ ấy
chị ơi.
- Nếu tôi là người tu ấy thì
phải tự sát, hoặc tự treo cổ để chết, mà đời còn chưa hết nguyền rủa nữa.
Sư ngồi đó mà trông như người
trên bếp lửa nóng hơ. Bây giờ Sư phải làm sao đây? Tiến tới nơi hai bà kia
để phân trần hay ngồi đây để chịu trận nghe tiếp tục nữa? Kế nào cũng
không hay bằng đào tẩu là thượng sách. Mặc dầu chưa đến chỗ Sư muốn xuống
xe như thường lệ; nhưng Sư đã bấm chuông để tài xế dừng xe lại. Sư xuống
xe rồi đi lang thang như người không hồn và suy nghĩ miên man về thế thái
nhân tình, về miệng lưỡi thế gian. Sư cũng đâu có độc ác với ai, mà tại
sao mọi người lại độc ác với mình đến thế? Vả chẳng tại mình tu. Nếu mình
không tu, chắc không ai để ý làm gì? mà đúng vậy. Người tu giống như tờ
giấy trắng, lỡ dính một chút bụi là thiên hạ thấy liền. Còn người đời, bao
nhiêu bụi bặm dính thêm vào chiếc áo trần tục ấy, đâu có sao? Nghĩ vậy nên
nhiều lúc Sư cũng muốn ra đời, không nhứt thiết phải đi tu nữa. Nhưng đó
cũng chỉ là một ý nghĩ trong muôn ngàn ý nghĩ khác thôi. Sư lại dừng và tự
biện hộ cho mình là tại sao suốt 7, 8 năm trường trong nhà tù mình vẫn còn
giữ được tư cách của một nhà tu. Còn bây giờ tại sao mình lại buông thả?
Mỗi suy nghĩ đưa Sư về một lối
thoát khác nhau; nhưng lối thoát nào Sư cũng thấy không an ổn. Lối thoát
duy nhất là cửa thiền; nhưng cửa thiền lại dính bụi. Vì thế bất cứ nơi
đâu, và ở đâu Sư Tịnh Thường cũng thấy lẻ loi vô cùng. Sư đâm ra suy nghĩ
vẩn vơ như người không trí, không hồn. Nhiều khi Sư đi suốt ngày không về
chùa. Sư bỏ ăn, biếng ngủ và không thiết gì đến hoàn cảnh chung quanh.
Một hôm nọ, vì suy nghĩ vẩn vơ,
lúc băng qua đường Sư chẳng để ý là đèn đỏ. Một chiếc xe phía trước trờ
tới. Sư gượng lại không kịp, thế là hết, Sư đã nằm sóng sã trước mũi xe,
Sư bất tỉnh nhân sự. Chừng 3 phút sau thì xe cứu thương chạy đến, nhân
viên cấp cứu khiêng Sư lên xe và hụ còi chạy vào một bệnh viện gần đó.
CHƯƠNG MƯỜI BỐN
- Tại sao Sư lại ra nôn nổi
nầy? Đã gần 10 năm rồi còn gì nữa. Giờ đây gặp lại Sư trong hoàn cảnh éo
le như thế nầy, em biết tại sao đây?
Sư cố mở mắt mình to hơn nữa và
cố gượng dậy; nhưng cô y tá ấy ra hiệu cho Sư dừng lại vì bác sĩ bảo Sư
còn yếu lắm. Hãy tịnh dưỡng vết thương, nhất là vết thương ở đầu vẫn chưa
dứt hẳn. Bất chợt Sư nhận ra cô Diệu Duyên, Trần Thị Diệu Duyên. Sư đang
mơ hay đang sống trong trạng thái thực tế đây? Sư đang ở cõi nầy hay ở cõi
xa xăm nào đấy chăng? Khi bị xe cán, Sư nghĩ rằng đời mình thế là xong.
Không ngờ mình lại được cứu sống và oái oăm thay, lại gặp người xưa. Người
mà trong tâm tư của mình đã lắng đọng lại tự thuở nào. Sư không muốn khơi
lại chuyện cũ; nhưng cứ hỏi:
- Tại con… tại em đang làm y tá
tại bệnh viện nầy mà.
- Vâng, đúng thế, là y tá của
bệnh viện.
- Việc đến xứ nầy thì con… thì
em có thể nói cho Sư biết; nhưng việc tại sao lại gặp Sư ở nơi đây em
không trả lời được.
Thưa Sư, cuộc đời em chìm nổi
lắm. Kể từ khi Sư ra đi, trong lòng em vẫn nhớ đến Sư và không muốn xa Sư,
nên em mới tìm đủ mọi cách để được gần Sư, em dò la tin tức của Sư đã lâu.
Cuối cùng biết được Sư ở nước nầy. Em đã tìm đủ mọi cách để gặp Sư. Nhưng
khi đến đây thì em đã biết được rằng Sư đang ở trong tù. Chỉ có thế thôi.
Còn em đang làm y tá tại đây, vì em học nghề y tá. Đó là một nghề em
thích.
- Đúng là nhân duyên đã an bày.
- Chuyện của cô và tôi, dĩ
nhiên tôi đã quên rồi. Nhưng ai đã xui khiến cho cuộc gặp gỡ nầy?
Em được biết rằng giờ đây Sư tứ
cố vô thân không có ai bên cạnh. Nếu Sư cần, em sẽ cận kề bên Sư để lo
thuốc men và nhất là nếu tính xa được hơn nữa…
- Nếu chúng ta đi được xa hơn
nữa.
Cô Diệu Duyên gằn từng tiếng
cốt ý cho Sư Tịnh Thường nghe; nhưng Sư như cố ý tránh đi hình ảnh và
tiếng nói quen thuộc ấy. Sư cố quên một sự kiện, một tấm lòng quảng đại
đang mở ra để đón mời Sư.
- Theo tôi nghĩ, thế gian nầy
có rất nhiều người tốt bụng như cô; nhưng tôi không thể đi thương riêng
một người được. Vì điều ấy Phật đã cấm.
- Giờ nầy mà Sư còn Phật, Pháp
làm gì nữa? Suốt mấy ngày nay, khi Sư vào đây, em đâu có thấy ai là người
đồng đạo của Sư và thăm Sư đâu, mà Sư còn quyến luyến với cửa thiền để làm
gì ?
- Tuy bên tôi không có người
đồng đạo thăm nom; nhưng trong tâm tôi đã có Đức Phật ngự trị. Chính Ngài
đã giúp tôi có được nghị lực để sống sót và chính Ngài mới là vị cứu tinh
của tôi. Cô biết đó, tất cả mọi người, kể cả cô nữa chỉ là người lợi dụng
tôi mà thôi.
- Tại sao Sư nói vậy? Chính em
đây là người cứu Sư trong sự sống ngặt nghèo nầy. Sư chưa trả ơn cho em,
nay Sư lại trả oán và gieo vào lòng em một sự ngờ vực sâu đậm như thế
chăng?
- Mọi người và dể cả loài người
đâu có ai tốt với tôi đâu mà bảo tôi phải tốt lại với họ? Đâu có ai thương
tôi đâu mà bảo tôi phải rộng lượng đối với họ ?
- Tình thương của cô nó cũng
chỉ là một loại ái tình vị kỷ thể thôi. Cô đem món hàng nầy cố đổi lấy một
món hàng khác vậy thôi và xin nói cho cô biết, tôi không phải là một món
hàng để cho cô dễ đem ra đổi chác vậy đâu?
- Sư nói như vậy không hẳn
đúng! Vì khi người ta thương hay yêu nhau, người ta có thể tha thứ cho
nhau và xem nhau như một mà.
- Nhưng loại tình cảm ấy nó ủy
m lắm. Nó tầm thường lắm. Tôi có thể thương hết mọi người và giúp họ như
đã giúp ở trong tù. Chứ tại sao tôi phải chỉ thương có một người thôi?
- Sư thấy đó ! Sư giúp hết mọi
người; nhưng bây giờ có ai giúp được Sư đâu? Ngoại trừ chỉ có một mình em
bên cạnh Sư?
- Việc tôi và cô gặp ở đây nó
chỉ là một sự tình cờ thôi, chứ không phải là việc trả ơn trả nghĩa, lại
càng không phải để nói về chuyện tình yêu.
Sư nói thật nhanh, thật nhiều,
đoạn Sư thiếp đi lúc nào không hay biết. Có lẽ vết thương ở não vẫn còn
hành hạ Sư. Bây giờ thì Sư cố 1uên đi tất cả. Dầu cho hình ảnh đó là người
thần hay kẽ thù. Dầu cho đó là tiền bạc hay hạnh phúc. Sư thấy tất cả đều
vô vị.
Một hôm, sau khi tỉnh dậy,
Duyên cố đưa Sư trở về lại câu chuyện cũ.
- Thưa Sư, theo em nghĩ tụi
mình sẽ giàu có lắm. Nếu Sư trở lại cuộc đời với em và chúng ta sẽ tạo lập
hạnh phúc cho nhau và từ đó chúng ta sẽ đâm đơn kiện lại người đã bỏ tù
Sư. Biết đâu chúng ta sẽ có vài triệu bạc hoạnh tài, chúng ta tha hồ tiêu
pha sung sướng.
- Côểu lầm rồi. Ở đây tôi cần
phân định cho cô rõ : Thứt nhất, là cho đến giờ nầy tôi vẫn không có ý
định hoàn tục, mặc dầu mọi người chung quanh tôi đều nguyền rủa tôi; nhưng
đó là cái nghiệp riêng của tôi phải chịu mà thôi. Thứ hai, ân tôi trả;
nhưng oán thù thì tôi tha thứ, không muốn cái lợi về mình mà kẻ khác phải
bị hại. Họ có gia đình vợ con bè bạn. Nếu chẳng may họ phải trả nghiệp như
tôi thì gia đình họ tan nát hết. Vợ con họ khổ sở lắm. Còn tôi, chỉ có một
thân một mình đâu có để khổ lụy cho ai. Tôi chịu oan cho bao nhiêu người
được sung sướng. Tôi chỉ mong một điều là dưới suối vàng hay nơi cảnh giải
thoát nào đó bà Bảy Diệu Đạo hiểu tôi, không phải là người như con cái họ
đã nghĩ cũng như miệng đời mai mỉa là được rồi.
Sư nói rất nhiều, nói như không
kịp nghĩ để rồi sau đó mệt lả đi. Cứ mỗi lần như thế khiến cho cô ý tá
Diệu Duyên phải khổ nhọc không ít để lau mồ hôi và quạt gió cho Sư.
Dẫu sao đi nữa những giờ phút
cận kề như thế cô ta cũng đã thỏa mãn phần nào sự nhớ nhung tê tái mà suốt
cuộc hành trình dài trong cuộc sống khổ đau nầy, cô ta đang muốn được hội
ngộ.
Một buổi sáng sớm Duyên trở vào
lại giường bệnh đánh thức Sư dậy điểm tâm như thường lệ; nhưng lạ thay
chiếc đầu của Sư đã ngoẻo sang một bên và tay chân của Sư như bất tỉnh.
Duyên đưa tay vào lỗ mũi thấy không còn động tĩnh gì nữa. Mặt Duyên như
cắt không còn một giọt máu, nàng chạy hối hả đi kêu y tá và bác sĩ vào
phòng.
Khi Bác sĩ đặt ống nghe vào
ngực thì lắc đầu. Sau khi rọi kiếng đầu, mới biết Sư bị chấn thương chưa
lành và bị kích động tâm lý, nên đã xuất huyết não và Sư đã ra người thiên
cổ.
Phần Duyên thì ân hận lắm.
Chính tại mình mà đã làm cho Sư hết khổ tâm nầy đến khổ tâm khác, để cuối
cùng đi đến trạng thái nầy. Nàng gục đầu vào xác Sư và khóc lên thành
tiếng não nề.
Theo sau chiếc áo quan, không
kèn không trống, chỉ một thân một mình cô Diệu Duyên từ từ đếm bước và
niệm kinh. Cô đanh nghĩ về thân phận của mình cũng như cuộc đời vắng số
của Sư; nhưng cô cũng chưa yên tâm chút nào. Vì đâu là sự thật? Và ai là
người đã giết bà Bảy?
Khi quan tài vừa hạ xuống
huyệt, cô Diệu Duyên đã khóc nức nở và quì xuống lạy 2 lạy sau khi đã ném
xuống huyệt hai nắm đất để tiễn đưa một người tình, một vị Thầy lần cuối.
Duyên ngồi đó thật lâu để suy nghĩ về cuộc đời, về nhân thế và cô Trần Thị
Diệu Duyên thấy đời chẳng có gì đáng nói và đáng trách cả. Nếu có chăng
phải tự trách mình, vì chính có sự hiện hữu của mình mà cuộc sống mới lắm
khổ đau và nhiều tục lụy. Duyên ý thức được cuộc sống như thế nên lòng cô
lại chùn xuống và cũng muốn thế phác quy y, xuất gia đầu Phật để cho tâm
trí mình được rảnh rang và biết đâu đó cũng là một hình thức chuộc lại lỗi
lầm xưa. Vì cô đã không khích lệ sách tấn Sư Tịnh Thường tiến xa trên
đường đạo hạnh mà còn có ý làm cho Sư thối chí nhụt tâm; nhưng cũng may là
Sư Tịnh Thường đã một lòng một dạ cho Phật Pháp, không vì tình riêng mà
quên đi mục đích cao cả của mình.
Sau khi đi chôn đám ma của Sư
về, Duyên thấy buồn quá; nên đã tìm đến một ngôi chùa gần đó. Cô nghĩ rằng
đám ma của Sư đã không có một người đưa tiễn đã đành, lại thiếu tiếng kinh
lời kệ làm cho buổi lễ đã tẻ nhạt lại càng sầu thảm nhiều hơn thế nữa. Vì
vậy nên mỗi ngày Duyên đều tìm đến chùa để nhờ𠱵ý Sư tại đây cầu kinh cho
Sư Tịnh Thường. Nàng đi vào chùa cũng như đi từ cõi vô thức trở về. Nàng
không biết ai bên cạnh cả.
Một hôm có một vị Sư trố mắt
nhìn cô và nhất là sau khi đã nghe được vị Sư trụ trì phục nguyện tánh
danh Trần Văn Nam pháp danh Pháp Tánh tự Thích Tịnh Thường đã viên tịch và
quay lại hỏi:
- Đúng thế ! Nhưng cũng không
phải. Chắc cô đã quên tôi rồi?
Nàng nhìn thật kỹ, hoá ra đây
là nhà Sư Chơn Nghĩa kia mà. Một nhà Sư mình không ưa, nhưng khi ở Việt
Nam lại phải gặp hoài và khi ra ngoại quốc nầy lại còn bị gặp Sư nữa.
Ngược lại nhà Sư Tịnh Thường, một nhà Sư mình muốn luôn luôn gần gũi nhưng
có được gần gũi đâu?
Sau đó Sư hỏi cô Duyên về việc
ra khỏi tù của Sư Tịnh Thường và cái chết vừa rồi. Cô Diệu Duyên chậm rãi
thưa:
- Bạch Sư! Đời đúng là vô
thường thật. Con đâu có ngờ ngày hôm nay lại gặp Sư và con cũng không ngờ
rằng con và Sư Tịnh Thường lại gặp nhau trong hoàn cảnh éo le như vậy.
- Theo tôi nghĩ. Mỗi người có
một nhân duyên và nghiệp lực khác nhau; nhưng nghiệp ai gây ra nấy trả,
đâu có ai trả dùm cho ai mà sợ.
- Đúng vậy! Nhưng sự trả nghiệp
ở đây còn có nhiều điều chưa sáng tỏ. Theo ý Sư thì sao?
- Chuyện ấy cũng dể thôi. Chính
ông Sư ấy (ý ám chỉ Sư Tịnh Thường) cứ ham vàng bạc của cải, cuối cùng
chính vàng bạc của cải ấy đã hại Sư.
- Điều ấy hẳn đúng và chính Sư
đã tự thú tội ấy rồi. Nhưng còn cái án mạng giết người kia?
- Sự thật rồi cũng sẽ trả về
cho sự thật thôi.
Sau khi Sư Chọn Nghĩa nói ra
câu đó, cảm thấy mình hớ hênh điều gì, nên lại đổi đề tài sang chuyện khác
và hỏi cô Diệu Duyên.
- Con đi có một mình.
- Đang làm y tá và cũng nhờ làm
y tá tại bệnh viện gần đây, nên mới gặp được Sư Tịnh Thường trong khi bị
tai nạn.
- Đời con là thân gái dặm
trường, biết tính sao đây.
Nhưng sau cái chết của Sư Tịnh
Thường con thấy đời sao mà mỏng manh quá. Không có gì chắc thật hết; nên
con có ý xuất gia đầu Phật để giảm được nghiệp oan mà lâu đời con đã đan
kết lại.
- Cô không thấy rằng đi tu như
Sư Tịnh Thường cũng đâu có giải được nghiệp, mà còn kết thêm nghiệp nữa
kìa.
- Mỗi người có nhân duyên và
nghiệp lực khác nhau mà Sư. Con khác và Sư Tịnh Thường khác mà.
Sau buổi gặp gỡ tại chùa với Sư
Tịnh Thường, Duyên về lại quán trọ và nàng suy nghĩ mông lung, mỗi ngày
nàng đều đi ra mộ của Sư, Thỉnh thoảng đặt một cành hoa cúc tại đó sau khi
đã đốt 3 nén nhang khấn vái đất trời. Có nhiều khi nàng ngồi thật lâu tại
đó để ôn lại quãng đời dĩ vãng đã qua. Hôm nay, sau thất thứ nhưt, đất vẫn
còn mới, hoa vẫn còn tươi và các cộng chưn nhang bên mộ của Sư vẫn còn đỏ
au au màu nhang khói. Nàng nhìn thật kỹ phía dưới, bên kia mấy tàn nhang
mà nàng vừa cắm có một mảnh giấy nhỏ, gói rất gọn gàng trong một bọc
ni-lông, cốt giữ cho mưa nắng khỏi phai mờ. Nàng trườn người tới và với
tay lại, đỡ gói giấy nhỏ ấy lên. Nàng vội vàng mở mấy miếng giấy ra và bắt
đấu đọc:
Sư ơi! Con thật sự ăn năn. Lẽ
ra con phải xuất đầu lộ diện để sám hối với Sư, khi Sư còn sống, nhất là
khi Sư đả ở tù về. Nhưng con hèn nhát quá, con không dám đến với Sư. Vì
còn sợ khi sự thật đã được phơi bày, thì chính đời con cũng sẽ được kết
liễu. Vì thế con không đủ can đảm để đến bên Sư và sám hối với Sư. Con còn
vợ, còn con và chính vợ con của con cũng cần sự sống của con; nên bắt buộc
con phải sống.
Phải chi, khi Sư còn ở trong
tù, con xuất đầu lộ diện thì án của Sư đã trắng rồi. Bây giờ thì Sư không
còn nữa, biết tính làm sao đây? Dẫu có quan toà nào bây giờ đến đây để
phục hồi danh dự cho Sư đi nữa thì Sư cũng đã không còn. Vì vậy hôm nay
con đến đây để quỳ trước mộ Sư và dâng lên một lời sám hối chân tình và để
báo cho Sư biết, chính con là tội nhân đã sát hại bà chủ tiệm vàng kia,
chứ không phải Sư mà bao nhiêu dư luận búa rìu lâu nay đã giáng lên đầu
Sư. Con thành kính xin Sư tha lỗi cho và để sửa đổi những lỗi lầm ấy, con
sẽ siêng năng sám hối và làm phước cứu người để tiêu
trừ tội lỗi.
Bái biệt Sư.
Duyên vừa gấp miếng giấy lại,
lòng nàng thổn thức vô cùng. Chính Sư, Sư là người vô tội. Thế mà có hỏi
gì Sư vẫn không nói và một đều đặc biệt là Sư không bao giờ nghi oan giá
hoạ cho ai. Đúng là tư cách của một nhà tu.
Có nhiều vụ án mà cả một cuộc
đời đã không tìm ra được tông tích, chỉ khi chết. Đúng thế, chỉ cái chết
của một người trong cuộc, sẽ làm cho vụ án rõ ràng hơn và hôm nay vụ án
của Sư Tịnh Thường là một. Dĩ nhiên nỗi oan của người không bằng nỗi oan
của Thị Kính; nhưng đó cũng là một bài học để cho đời soi chung và cũng
phải nhớ rằng mọi việc trên thế gian nầy, khi nắp quan tài chưa đậy lại
thì đừng vội kết luận liền.