Viết về Ngài đã có nhiều sách
vở đã viết, bằng đủ mọi thứ tiếng, kể cả ngôn ngữ tiếng Việt. Trong đó nhà
văn Nguyên Phong ở Canada chuyển ngữ hai quyển bằng tiếng Anh "my land and
my People", Nước Tôi và Dân Tôi. Cũng như quyển "Freedom in Exil", Tự Do
Trong Lưu Đày. Nguyên Phong đã dịch xuất thần và mọi người đọc những quyển
sách nầy, ai cũng muốn tìm hiểu sâu hơn nữa về bậc Thánh Tăng ấy.
Cách đây khoảng 7 năm, Ngài đã
đến Hamburg, một thành phố lớn thuộc miền Bắc xứ Đức, có hơn 3 triệu dân
cư ngụ. Nơi đó người Việt Nam mình sinh sống cũng đông và nơi đó có một
Trung Tâm Phât Giáo Tây Tạng, do vị Đại Sư Geshe Thuben Ngawang hướng dẫn
tinh thần. Đa số là những người Đức theo học Phật và cũng đã có nhiều
người xuất gia mặc áo hoại sắc theo Tây Tạng.
Cũng vì nơi đây có Trung Tâm
Phật Giáo Tây Tạng nên họ đã tổ chức buổi giảng công cộng cho Ngài và
chúng tôi, Tăng Ni Việt Nam tại Đức đã được mời đến dự. Lúc ấy Ngài giảng
ở một Hội Trường lớn của Đại Học Hamburg. Hội Trường chứa chừng 4 đến 5
ngàn người. Đầu tiên Ngài làm lễ theo truyền thống Tây Tạng, sau đó thuyết
pháp. Sau 2 giờ, nghỉ giải lao để dùng trưa. Buổi chiều tiếp tục thuyết
giảng. Trong suốt 5 giờ đồng hồ nghe giảng, cả Hội Trường 4-5 ngàn người
đã chú tâm thành kính, không có một tiếng động, làm cho tôi có một suy
nghĩ, một ấn tượng sâu đậm về bậc giác ngộ nầy.
Hôm ấy, vào lúc nghỉ trưa chúng
tôi chỉ được phép chào Ngài và Ngài đưa tay cho bắt thế thôi. Khi xong
buổi thuyết pháp, về lại chùa, tôi đã kể lại chuyện nầy cho bao nhiêu Phật
Tử nghe và có người bảo tại sao Thầy không mời Ngài về Chùa mình giảng.
Lúc ấy nghe để mà nghe bậy
thôi, chứ làm sao trả lời được câu hỏi ấy. Vì lẽ Chùa Viên Giác còn bé nhỏ
quá, và vị trí của tôi lúc bấy giờ chưa xứng đáng để cung thỉnh Ngài về
Hannover, nên tôi đã nói rằng: "chắc chắn một ngày nào đó Ngài sẽ đến
Hannover, nhất là lúc mà chùa mới của mình đã được xây xong". Mà quả thật
như thế, Chùa Viên Giác thật sự hoàn thành vào cuối năm 1994, thì năm nay
1995 chúng ta, Phật Tư Việt Nam tại Đức lại có duyên may để đón Ngài. Đây
là câu chuyện.
Vào giữa tháng 3 năm 1995, ông
Helmut Hanefeld người Phật Tử Đức đã ở Chùa Viên Giác hơn 2 năm, có thưa
với tôi rằng:
- Bà Iris HeiB, đại diện tổ
chức thân hữu Đức � Tây Tạng muốn gặp tôi để bàn về việc Đức Đạt Lai Lạt
Ma nhân chuyến công du tại Koeln vào ngày 8 tháng 5 năm 1995 sắp tới, có ý
tới thăm Chùa Việt Nam tại Hannover và Thầy nên cố gắng dàn xếp một cuộc
họp nhỏ với ông Galtag, đại diện ngoại giao của Tây Tạng tại Thụy Sĩ, cũng
sẽ đến Hannover để bàn về việc ấy" Đó là khởi đầu của công việc nầy.
Sau khi đi Indonésia về vào
ngày 31 tháng 3 năm 1995 (xin đọc thêm bài "Một Chuyến Đi Vội" đăng
trong Viên Giác số 87 xuất bản tháng 6 năm 1995 để hiểu thêm). Ngay trưa
hôm đó tôi đã tiếp ông Galtag, bà Iris HeiB và có cả ông Helmut Hanefeld
tại phòng họp của Chùa Viên Giác. Trên nguyên tắc, chúng tôi đã đồng ý
việc cung đón Ngài đến Chùa Viên Giác tại Hannover, sau những nguyên tắc
nghi lễ và ngoại giao đã được thông qua.
Trong dãy nhà Tây của Chùa Viên
Giác, tôi có cho một Hội Phật Giáo Đức theo Tây Tạng có tên là "Choeling"
một phòng lớn để làm chỗ lễ bái và tọa thiền. Hội "Choeling" cũng nhân cơ
hội đó có ngỏ ý rằng sẽ hợp tác chung trong việc tổ chức đón rước ấy. Thế
là chúng tôi đã đi đến một điểm chung là phải họp nhau lại để bàn bạc các
chi tiết.
Một ngày giữa tháng 4 năm 1995,
ba tổ chức đã họp lại để bàn bạc về việc đón tiếp Ngài. Đó là Chùa Viên
Giác, Hội Phật Giáo Tây Tạng "Choeling" và Hội thân hữu Đức � Tây Tạng.
Chúng tôi ban đầu bàn và đã
thống nhất với nhau là Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ tiếp các chính trị gia và đại
diện 2 Tôn Giáo lớn Tin Lành và Thiên Chúa Giáo tại Chùa Viên Giác. Sau đó
Ngài sẽ giảng pháp cho các Phật Tử nghe và về lại Koeln.
Hội Phật Giáo thân hữu Đức �
Tây Tạng sẽ lo liên lạc với các chính trị gia của Đức. Phần mời đại diện
các Tôn Giáo do Chi Bộ Phật Giáo Việt Nam tại Đức và Hội "Choeling" đảm
nhận. Về vấn đề hình thức tiếp đón như thế nào, sẽ họp thêm một phiên họp
chi tiết nữa.
Sau khi đi họp tại Chùa Viên
Giác về, bà Iris HeiB vui mừng quá nên loan báo liền với các báo chí tại
Hannover về tin tức trên. Do đó vào sáng ngày hôm sau 17.4.1995 đã thấy
báo Hannoversche Allgemeine Zeitung loan tin ở trang đầu là; "Đức Đạt Lai
Lạt Ma sẽ đến Chùa Viên Giác vào ngày 7 tháng 5 năm 1995". Sau đó có không
biết bao nhiêu cú điện thoại hỏi về việc đến của Ngài. Chúng tôi lo lắng
và phải tiên liệu cho những vấn đề khác nữa, nên cũng chưa giải thích được
gì.
Đùng một cái, được điện thoại
từ Thụy Sĩ của ông Galtag gọi sang là máy bay của Ngài đã đổi lộ trình,
nên không còn đến Hannover được nữa. Tôi nghe như sét đánh vào đầu mình và
có một cảm tưởng chán chường lại đến trong một trạng thái chẳng vui vẻ tí
nào cả. Tất cả đều buông xả
Xem như việc đã định vào ngày 7
tháng 5 năm 1995 Ngài không đến được nữa thì phải nhờ báo chí loan tin là
Ngài không đến! Chuyện ấy cũng không sao; nhưng thấy như có cái gì không
ổn. Chúng tôi yên chí làm việc ấy. Cách đó một ngày sau, chúng tôi lại
nhận được điện thoại của ông Galtag báo tin rằng Ngài có thể đến như dự
định vào ngày 7.5.95. Tôi lại càng uể oải hơn nữa để phải trả lời cho ông
rằng: Tại sao nói đến rồi không đến, không đến rồi đến? Chúng tôi chẳng
biết phải làm sao cả.
Sau đó tôi có hỏi ý kiến của 2
tổ chức kia, họ đều đồng ý rằng: Thôi để lúc khác tiếp đón cũng không sao.
Sau khi Ngài ở Koeln về Ấn Độ,
chúng tôi được biết là Quốc Hội Đức đã đồng ý tiếp kiến Ngài tại Bonn vào
ngày 19.6.1995 để Ngài điều trần về vấn đề vi phạm nhân quyền của Trung
Cộng tại Tây Tạng và lần nầy chắc chắn Ngài sẽ đến Hannover.
Khi nghe được tin ấy tôi vẫn
vui; nhưng cũng phải họp hết lại 3 tổ chức một lần nữa vào ngày 20.5.1995
để quyết định có nên tổ chức hay không? Tất cả đều lệ thuộc vào tôi. Riêng
ông Helmut Hanefeld thì từ chối không thể tiếp tục làm việc nầy trong
trạng thái căng thẳng nữa. Nghĩa là giờ giấc quy định quá cận, ông ta
không thể làm tiếp được. Và sau nầy việc ấy giao lại cho bà Iris HeiB và
Frank Salzubecker lo liệu.
Sau đó tôi liên lạc với ông
Galtag xác nhận là chúng tôi sẽ tổ chức cho Ngài thăm viếng Hannover và
nói chuyện tại đây vào ngày 18 tháng 6 năm 1995.
Mọi hình thức giống như trước,
không có gì thay đổi. Nhưng bây giờ, lần nầy Ngài có nhiều thì giờ hơn,
Ngài có thể ghé Tòa Thị Sảnh Hannover để trị gia tại đó; nên khỏi phải mời
họ về Chùa.
Tôi đã phải hỏi đi hỏi lại ông
Galtag nhiều lần là việc ấy đã chính xác chưa? Nếu lần nầy mà thất hứa với
bà con Phật tử Việt Nam cũng như Đức nữa, quả là điều khó ăn nói vô cùng.
Người lớn, dầu bất cứ hoàn cảnh nào, họ cũng có quyền thay đổi; nhưng đám
bàng dân thiên hạ ở dưới thì cực khổ trăm điều. Chúng tôi cũng mong rằng
việc nầy sẽ xong suốt và lần nầy chắc chắn phải tổ chức. Nếu không, cơ hội
thứ hai sẽ khó đến một lần nữa. Mặc dầu thời gian đã quá cận kề.
Theo ý kiến của bà Iris HeiB
thì nên tổ chức tại một rạp lớn để đón nhận nhiều người Đức đến nghe
thuyết giảng hơn. Tôi có đưa ra 2 lý do để bác bỏ việc ấy:
- Một là � với tôi, một Tăng
sĩ, đi đến bất cứ một nơi nào đó trên thế giới nầy. Nếu chỗ nào chưa có
chùa tôi đồng ý sẽ ra rạp tụng kinh, làm lễ và giảng pháp. Ngược lại, nơi
đó đã có chùa chiền và nhất là khang trang như chùa mình thì tôi thích
giảng ở chùa hơn.
- Hai là � lần trước chúng ta
cũng chỉ có ý định tổ chức ở chùa chứ không tổ chức ở rạp hát.
Qua 2 lý do đã nêu ra, mọi
người đã thuận và sau đó những vấn đề như an ninh, nghi lễ tiếp rước v.v
đã được đặt ra.
Nhân ngày lễ Phật Đản từ 18 đến
20 tháng 5 năm 1995 do Chùa Viên Giác tổ chức để mừng Đản Sinh lần thứ
2539 của Đức Phật, tôi đã thông báo bằng miệng cho mọi người tham dự lễ
hôm đó về tin trên rằng:
-Chắc chắn lần nầy Đức Đạt Lai
Lạt Ma sẽ đến thăm Chùa Viên Giác chúng ta vào ngày 18.6.1995.
Sau đó tôi phải dời chuyến bay
đi Canada thay vì 12.6 như đã định, mà đến ngày 19.6.95 tôi mới đến được
Montréal.
Nhận bữa dùng sáng, tôi có đưa
ra ý kiến nầy với quý Thầy quý Cô trong Chi Bộ về việc thăm viếng của Ngài
và nhờ mỗi Chùa nấu 2 món để cúng dường Ngài cũng như phái đoàn và đại
diện các Tôn Giáo.
"Cái gì đến, nó sẽ đến". Đó là
câu nói tự ngàn xưa và bây giờ vẫn còn có giá trị thực tiễn lắm.
Và đây là chương trình của Ngài
khi đến Hannover:
- 7 giờ 10 phút, Ngài đến phi
trường Frankfurt. Ngài nghỉ ở phòng VIP (Very Important Person) tại phi
trường.
- Đến 9 giờ 10 phút, Ngài và
phái đoàn lấy phi cơ Lufthansa đi Hannover.
- Đến Hannover vào lúc 10 giờ
15 phút ngày 18 tháng 6 năm 1995. Ngài sẽ được bà Bộ Trưởng Tư Pháp của
Tiểu Bang Niedersachsen đón về Tòa Thị Chính để ký vào sổ vàng lưu niệm và
gặp gỡ các chính trị gia của Đức tại đó.
- Đến 11 giờ 45, Ngài rời Tòa
Thị Chính về Chùa Viên Giác.
-Đúng 12 giờ trưa, chính tôi và
chư Tăng Ni cùng Phật Tử thân hành đón tiếp Ngài tại cổng chùa, đưa Ngài
vào Chánh điện, sau đó đến phòng Tổ và về phòng VIP của chùa để Ngài nghỉ
ngơi. Sau đó dùng cơm trưa với đại diện của các Tôn Giáo tại phòng hội
họp.
- 13 giờ 30, Ngài về phòng
nghỉ.
- 13 giờ 45, Ngài làm lễ quán
đảnh cho Hội Phật Giáo Tây Tạng "Choeling" trên lầu 3 của Tây Đường.
- Đúng 14 giờ, Ngài sẽ xuống
Chánh điện Chùa Viên Giác. Nơi đó Ngài sẽ giảng về Tứ Diệu Đế, Quy y Tam
Bảo và phát bồ đề tâm.
- Đến 16 giờ, Ngài sẽ rời Chùa
và đi Bonn bằng xe hơi.
Đó là chương trình tổng quát.
Sau đó, chúng tôi in ra 604 vé vào cửa nơi Chánh điện để có thể vào nghe
Ngài thuyết giảng. Vì Chánh điện chỉ có thể dung chứa với số người tối đa
như thế mà thôi. Trong 604 vé ấy phải chia cho 2 Hội Phật Giáo Đức 120 vé.
Số còn lại, Bác Thị Tâm Ngô Văn Phát, Hội Trưởng Hội Phật Tử Việt Nam tại
Đức gởi về các Chi Hội và các chùa tại các địa phương, mỗi nơi từ 10 đến
20 vé, tùy theo nhu cầu từng nơi.
Có nơi về 50 người nhưng chỉ có
20 vé. Vì ai cũng muốn vào Chánh điện để diện kiến Ngài. Nhưng rồi chuyện
đâu cũng vào đấy. Người nào không có vé vẫn được xem trực tiếp truyền hình
dưới Hội Trường của Chùa cũng như tại nhà Tổ.
Tôi lo liên lạc với bãi đậu xe
của Messagelaende.
Frank lo liên lạc với Cảnh sát
địa phương về vấn đề an ninh và trật tự.
Bà Iris HeiB lo liên lạc với
chính quyền.
Peter Hollig lo nội bộ của tổ
chức v.v
và v.v
Từ chiều thứ sáu ngày 16 tháng
6 năm 1995 và ngay cả trước đó một tuần đã có nhiều Phật Tử về chùa làm
công quả. Kẻ nấu bánh, người lau chùi, kẻ dọn dẹp, người trang hoàng. Một
khung cảnh của ngày hội đã tưng bừng khai mở.
Hiền, một Phật Tử đã tận tụy
lau những bộ ghế cẩn xa cừ và những bộ ghế cẩm lai một cách kỹ lưỡng, láng
bóng để cung đón Ngài. Các anh em công quả khác trong chùa cũng đã làm hết
phận sự của mình.
Theo chương trình đã định sẵn,
Hạnh Tấn, Peter, bà Iris HeiB, ông Phunksok, Hội Trưởng Hội Phật Giáo
Choeling đã đi tới phi trường Hannover để cung đón Đức Đạt Lai Lạt Ma vào
lúc 10 giờ 15 phút.
Ở chùa vào lúc 10 giờ sáng, mọi
người đã phải ra hết bên ngoài, để cho Cảnh sát an ninh đem chó vào tất cả
mọi phòng ốc để cho Cảnh sát an ninh đem chó vào tất cả mọi phòng ốc để
kiểm tra có an toàn không. Cổng chùa cũng được đóng lại tất cả và mọi
người đi vào chùa đều được kiểm soát bằng "máy rà" tự động để kiếm soát
chặt chẽ về vấn đề an ninh.
Trứơc đó 2 tuần, tôi có gặp
Thượng Tọa Thích Minh Tâm tại Na Uy nhân lễ an vị Phật chùa Khuông Việt,
có ý mượn mấy cái "máy raޠđể làm việc kiểm tra ấy. Vì trước đây chừng 5
tháng, Thượng Tọa cũng đã tổ chức một buổi nói chuyện cho Đức Đạt Lai Lạt
Ma với Hội Phật Giáo Tây Tạng tại rạp Maubert ở Paris. Vé vào cửa 70FF cho
một người. Lúc ấy có nhiều người Phật Tử Việt Nam bảo rằng: "Đi nghe
thuyết pháp tại sao phải mua vé?". Cho đến khi vé phòng A bán đã hết, qua
đến phòng B bán gần hết khoảng 4.000 chỗ ngồi, thì người Việt Nam mình mới
hỏi mua. Lúc ấy chỗ tốt không còn nữa, họ cũng than phiền. Đến khi vào
cửa. Vì vấn đề an ninh, bị soát vé và qua hệ thóng máy rà, mấy người Việt
Nam mình lại than phiền lần nữa. Tại sao đi nghe thuyết pháp phải bị rà?
Ai cũng phải tự biết rằng Ngài
là cái gai nhức nhối trong vết thương của Trung Cộng khi chiếm Tây Tạng,
nên Trung Cộng tìm đủ mọi cách để hạ uy tín của Ngài, nên bằng mọi thủ
đoạn, Trung Cộng có thể làm được. Còn chúng ta, bằng mọi giá chúng ta phải
bảo vệ Ngài. Ngài không những chỉ là một Thánh Tăng, mà Ngài còn là một
bậc Quốc Vương của quốc gia Tây Tạng nữa. Tuy dân số chỉ có 6 triệu người;
nhưng diện tích của Tây Tạng bị Trung Cộng chiếm đóng lớn gấp mấy chục lần
nước Việt Nam của chúng ta. Nên việc bảo vệ Ngài là điều hiển nhiên.
Vào lúc 10 giờ sáng ngày
18.6.95, tôi cũng phải ra khỏi cổng chùa để cho nhân viên an ninh kiểm
soát. Sau đó tôi có gặp Ngài Geshe Thuben Ngawang đến từ Hamburg với 1
Ngài Geshe nữa người Tây Tạng và 4 Tu sĩ Đức tu theo Tây Tạng đang ở chung
với Ngài. Chúng tôi chào hỏi và chờ đợi. Có người ra báo cho tôi biết là
an ninh bảo phải dọn cái ghế trong phòng hội họp của Ngài ngay vào giữa
bức tường, không nên để ghế ngay giữa cửa sổ. Tuy có sáng sủa đó; nhưng
thiếu an toàn. Đúng là chuyên môn. Nếu không làm an ninh, làm sao hiểu
được điều đó. Những vị lớn của các quốc gia, đều có những an ninh nghiên
cứu về vấn đề đó cả.
Khoảng 11 giờ 30 mọi hàng ngũ
đã được chuẩn bị chỉnh tề như sau:
Từ ngoài ngỏ đi vào hai bên có
Tăng Ni đứng nghinh đón, sau đó là các thiếu nữ trong Gia Đình Phật Tử mặc
đồng phục áo dài màu lam, trên tay mang đĩa đựng hoa để rải cúng dường
Ngài, đứng dọc lên tới tượng Đức A Di Đà, nơi đó Hòa Thượng Thích Thiền
Định, Viện chủ chùa Pháp Hoa tại Marseille và Cố vấn Tối cao của Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất AⵠChâu chờ đón Ngài. Bên cạnh đó một thiếu
nữ mang bó hoa đứng chờ. Trong khi tôi đứng sát cổng trước để cung đón
Ngài.
Gia Đình Phật Tử lo vấn đề bê
và tích trượng, chuông trống bát nhã cũng như làm hàng rào danh dự thẳng
tắp từ ngỏ vào Chánh điện, từ Chánh điện vào hậu Tổ và từ hậu Tổ vào Tăng
phòng VIP của chùa. Kế đó mỗi một cửa ra vào của chùa đều có hai em trong
Gia Đình Phật Tử đứng lo vấn đề an ninh. Ngoài ra an ninh chìm nổi của Đức
và Tây Tạng đều có mặt mọi nơi tại chùa. Phải thành thật mà nói rằng, lần
nầy các anh chị em trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Đức đã làm việc hết
mình, có tinh thần trách nhiệm rất cao độ, tuyệt đối, rất đáng tán dương
và khích lệ.
Đúng 12 giờ trưa, các chiếc xe
Cảnh sát mở đường, với đèn chớp đi trước, sau đó chiếc xe Audi màu xám đã
trờ tới trước đường Karlsruher. Tôi trong trạng thái cung kính chắp hai
tay lại và chuẩn bị trao hoa cho Ngài. Một vài người Đức đứng bên cạnh
chuẩn bị cung đón Ngài với hai hàng nước mắt rưng rưng vì cảm động. Có
người đã trao cho tôi một dải lụa trắng, mà theo truyền thống Phật Giáo
Tây Tạng, nếu được Ngài choàng lên cổ cho, là một dấu hiệu an lành. Tôi
quay nhìn lại thấy Hòa Thượng Thích Minh Lễ đến từ Paris trong tay cũng có
dải lụa trắng ấy và quý Thầy, quý Cô, quý chú, ngay cả quý vị sư Tây Tạng
và Đức đến từ Hamburg cũng đã chuẩn bị những dải lụa trắng sẵn sàng rồi.
Tôi đỡ lấy một khăn trắng từ tay một người Đức và để chồng lên trên bó
hoa, khi một thiếu nữ Gia Đình Phật Tử đã quỳ xuống và tôi đã dâng bó hoa
lên Ngài cùng dải lụa trắng, sau khi ông Galtag đại diện Bộ Ngoại Giao của
Tây Tạng ở Thụy Sĩ giới thiệu tôi cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi cứ ngỡ rằng
dải khăn trắng tôi vừa trao lên tay Ngài, Ngài sẽ choàng lên cổ tôi như
tục lệ Tây Tạng; nhưng ở đây thì không, Ngài đã tự lấy dải lụa trắng ấy
choàng lên cổ Ngài. Sau nầy tôi mới phát hiện ra trên một hình màu của tờ
báo Neue Presse đã đi tin vào ngày 19.6.95 như vậy. Ngay lúc đó tôi lại
không để ý đến điều đó. Tôi cúi đầu thật sát và Ngài đã đem đầu Ngài cụng
vào đầu tôi, đưa tay cho tôi bắt và một điều ngạc nhiên vô cùng, khi tôi
muốn thi lễ càng sâu chừng nào để tỏ ra sự kính trọng của mình, thì Ngài
càng cúi sâu xuống chừng đó. Quả thật thế gian nầy hiếm có những con người
thật người như thế.
Ngài vẫy tay chào mọi người,
Ngài cười, Ngài dang tay rộng ra và áp sát vào đầu vào cổ, vào tay mọi
người thân hình của Ngài để cho mọi người được hưởng phước lây. Trong khi
mặt mày của mấy ông giữ an ninh thì xám ngắt. Vì quần chúng bao vây đông
nghẹt. Nhưng Ngài vẫn cười, vẫn bắt tay và vẫn tiến tới. Khi đến cầu
thang, chuông trống bát nhã đã vang lên để cung đón Ngài, trong khi đó các
nhiếp ảnh gia, phóng viên truyền thanh, truyền hình làm việc không ngớt
tay.
Thầy Từ Trí đi sau mang lọng
che Ngài. Đi phía trước có 3 chú Hạnh An, Hạnh Từ và Hạnh Vân, đánh khánh,
mang mâm hương đèn cũng như mâm trầm đi trước cùng với 6 em bảnh trai
trong các Gia Đình Phật Tử tay mang găng màu trắng với các bê, tích trượng
nặng trĩu cả tấm lòng để cung đón Ngài.
Ngài lên tới sân thượng, thay
vì đi thẳng để gặp Hòa Thượng Thích Thiền Định, Ngài lại đi qua phía bên
trái "balkon" để vẫy tay chào các Phật Tử ở phía dưới, mọi người quá cảm
động, có người đã khóc nức nở vì quá sung sướng đã gặp được một vị Phật
sống rồi.
Khi Ngài đến tam cấp lên Chánh
điện, Hòa Thượng Thích Thiền Định đã trao cho Ngài một bó hoa, đoạn Ngài
tiến sát đến Hòa Thượng và cụng đầu vào nhau. Một cử chỉ rất thân mật, như
đã gặp nhau từ mấy độ luân hồi.
Đoạn Ngài ngẩng mặt lên nhìn
tôn dung của Đức Phật A Di Đà và Ngài đã cụng đầu mình xuống tòa sen nơi
Đức Phật A Di Đà đang đứng đó. Tâm tôi xao xuyến lạ lùng. Hành động của
một vị Thánh Tăng làm cho mình phải cảm động. Ngài từ tốn quá, Ngài cao
siêu quá; nhưng Ngài cũng rất bình thường quá. Bàn chân của Ngài khi chạm
vào thảm, Ngài đã lo cởi bỏ giày lại liền. Có một người hộ vệ lo cho Ngài
việc nầy.
Chuông trống vẫn vang rền nơi
Chánh điện, các đèn pha quay phim của anh Phạm Cường, anh Bính, anh Chinh
đã rọi thẳng vào mọi người, nóng bỏng. Ngài và Hòa Thượng Thiền Định tiến
vào Đại điện, trong khi quan khách hai Tôn Giáo đã đứng chờ sẵn hai bên
hông của Chánh điện. Ngài nhìn lên cao thấy chiếc Ngai vàng và chư Phật,
đoạn Ngài đảnh lễ 3 lạy. Hòa Thượng Thiền Định cũng thi lễ với Ngài.
Chiếc Ngai nầy do anh Dũng, thợ
mộc, ở Hildesheim đóng một bệ lớn và 1 tam cấp. Trên bệ đó Sư cô Thích Nữ
Diệu Ân đã bỏ rất nhiều công sức để kết các hạt cườm màu trắng, may thành
nhiều nếp trên vải nỉ màu nâu, rất trang trọng và đẹp đẽ. Phía trước Sư cô
cho cắm những bông hoa cúc hoa hồng, hòa lẫn với các cây thông và bạch
dương, trông như một vườn hoa nho nhỏ xinh xinh, nhiều màu, nhiều sắc.
Trên bệ ấy đặt một chiếc Ngai chạm trổ tinh vi gồm "Ngũ Long Tranh Châu".
Ghế này phải 4 người khiêng mới nổi. Trên Ngai ấy có để hai gối nệm và một
tấm cửu phẩm liên hoa trải dài suốt từ thành ghế bên trên, xuống dưới chân
ghế, dài độ chừng 2 thước. Hoa sen màu hồng, lá màu xanh, thêu nổi trên
nền vàng và 4 phía được kết chung với màu vải nâu, rất hợp mắt. Trông như
Ngai vàng của các Chúa Thượng ngày xưa cũng chưa chắc bằng và ngày nay,
hôm nay đây đã ngự trị nơi Chùa Viên Giác để một bậc Quốc Vương vừa là một
Thánh Tăng an tọa trong chốc lát nữa đây.
Ngài và chư Tăng Ni đứng xoay
mặt về hướng trước, sau đó Đại diện các Tôn Giáo bạn đến bắt tay chào Ngài
và chụp hình lưu niệm chung. Đây cũng là cơ hội cho các phóng viên làm
việc. Vì họ không được phép đi sâu vào bên trong Đại điện nhiều hơn nữa.
Sau đó bê tích, khánh được
hướng dẫn Ngài tiếp tục đến Tổ Sư đường. Ngài hỏi tôi phòng nầy là phòng
gì? và long vị ở giữa thờ ai vậy?
Tôi trả lời rằng:
- Đó là long vị của Tổ Lâm Tế
và Ngài không nhất thiết phải thi lễ nơi đây.
Tôi nói lời ấy trong khi Ngài
chuẩn bị thi lễ. Bởi lẽ một bạc Thánh Tăng không nhất thiết phải làm điều
đó. Vì Ngài là hóa thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, và bên trên bàn thờ Tổ đó
vẫn hình ảnh những vị phàm Tăng.
Tôi tiếp tục hướng dẫn Ngài về
Tăng phòng VIP của chùa. Lúc nầy chỉ còn Ngài, một Thị giả của Ngài, Hòa
Thượng Thiền Định, Hòa Thượng Thích Minh Lễ, tôi và một vài cận sự của
Ngài vào đây.
Tôi đưa tay mời Ngài ngồi vào
ghế bành thật lớn cho xứng đáng với vị trí của Ngài; nhưng Ngài chỉ về 1
trong 4 ghế nhỏ hơn kê đối diện và Ngài đòi ngồi vào đó. Tôi và Hòa Thượng
có ý khẩn khoản mời Ngài ngồi ghế lớn bên nầy. Đoạn Ngài cười và tôi hỏi:
- Xin lỗi Ngài có muốn dùng
nước gì không?
Ngài trả lời:
"No"
Nhưng Hòa Thượng Thiền Định một
mặt sai người đi lấy nước, mặt khác Hòa Thượng tự tay lấy chai nước suối
gần đó để rót một ly và mời Ngài.
Ngài đã ngụm hai ngụm, rồi
cười. Tiếp theo đó Ngài hỏi rằng:
Trong tu viện nầy có bao nhiêu
Tu sĩ?
Tôi trả lời:
- Có 10 người Tăng và Ni.
Ngài cười
Tôi hỏi Ngài có phải đi rửa mặt
không?
Ngài bảo không cần thiết. Chỉ
có vị Thị giả của Ngài vào phòng rửa mặt mà thôi.
Trong khi chúng tôi hầu chuyện
Ngài, nhân viên an ninh vẫn đứng đó và ngoài cửa các anh em Gia Đình Phật
Tử canh gác thật chu đáo, không cho một ai vào hết, chỉ có máy quay phim
anh Phạm Cường quay cho Chùa Viên Giác và máy của Chùa Thiện Hòa là được
phép vào đây mà thôi.
Tôi và Hòa Thượng Thiền Định,
Hòa Thượng Minh Lễ hướng dẫn Ngài vào ghế ngồi, trong khi đó mọi vị khách
quý đã đứng dậy để cung đón Ngài. Bàn tiệc hôm nay có 33 vị. Mỗi vị Đại
diện một Tổ chức quan trọng của mình trong 3 Tôn Giáo có mặt tại Hannover.
Thêm sự có mặt của ông Dr. Meihorst, người Cố vấn cho Chùa Viên Giác và là
Chủ Tịch của các Kỹ Sư tại Tiểu Bang Niedersachsen.
Đồng thời bà vợ ông Thị Trưởng
thành phố Hannover, Schmalstieg cũng có mặt tại đây, trong buổi tiệc nầy.
Trong một bài báo ngày hôm sau 19.6.95, bà đã tuyên bố với phóng viên báo
chí Neue Presse rằng:
"Bà đã gặp một con người
trọn vẹn như chưa bao giờ bà gặp được một con người như thế. Ngài là người
tượng trưng cho cởi mở, vị tha và từ bi vô lượng".
Bên Chi Bộ Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất tại Đức có tôi, Thượng Tọa Thích Minh Phú, Ni Sư Thích
Nữ Diệu Tâm và Sư Cô Thích Nữ Diệu Ân. Thầy Từ Trí, Thầy Hạnh Tấn, Sư Cô
Thích Nữ Như Viên và Sư Cô Thích Nữ Diệu Hạnh lo điều khiển cho 12 em
thiếu nữ Chùa Phật Bảo mặc áo dài màu vàng dâng vật thực để cúng dường.
Chị Mỹ Anh một thông dịch viên dũng đã nói tiếng Anh giới thiệu các món ăn
cho quan khách.
Sau khi tôi giới thiệu với Ngài
về Đại diện của các Tôn Giáo và các Tổ chức, thì các thiếu nữ Phật Tử mang
món tráng miệng vào. Theo thực đơn hôm đó có 4 món khai vị (thông thường
chỉ 1 hay 2 món là đủ); nhưng hôm đó quý chùa và quý Sư cô đã trổ tài nên
màu mè hoa lá đã được phô trương một cách hoan hỷ lạ thường.
Theo dự định chỉ có 8 món thôi;
nhưng qua thực đơn cho thấy hơn 15 món. Chùa Phật Bảo 5 món. Chùa Quan Âm
3 món, Chùa Bảo Quang 3 món, Chùa Viên Giác 3 món, Chùa Thiện Hòa 1 món và
cuối cùng là món trái cây của nhà hàng Jasmin Carten của Thị Chơn cúng
dường.
Món khai vị thứ hai có 4 con
rồng làm bằng củ cải trắng. Rồng phun lửa thật sống động, sau khi lửa cháy
hết, các cô thiếu nữ lại mang vào bàn tiệc. Ai cũng hoan hô về mặt tổ chức
lịch duyệt nầy.
Đến món "Én liệng quả địa cầu"
của Sư cô Diệu Ân cũng được mọi người trầm trồ và nói với nhau rằng: Họ
chưa bao giờ dùng được những món chay ý vị như thế. Trong khi đó một ông
cận vệ sơ ý như thế nào đó đã đụng phải một bình bông, vỡ tan, nghe giòn
tai như tiếng pháo. Một người Đức bên cạnh thốt lên "sehr gut" (rất
tốt) là ý nghĩa của người Tây phương khi đám cưới tiệc tùng, chén dĩa
không bể, họ phải tự đập cho bể để thấy điềm hên. Trong khi đó, người Á
Châu mình thì kiêng cữ điều nầy nhiều lắm.
Cứ thế tiếp tục món nầy lên,
món khác xuống, thoăn thoắt như thoi đưa. Một số vị trong Bộ Ngoại Giao
Tây Tạng ở Thụy Sĩ và vị Thị giả ngồi một bàn bên cạnh để dùng trưa, chứ
không ngồi chung bàn với Đức Đạt Lai Lạt Ma và quan khách.
Tôi có nói với Thầy Từ Trí là
tối đa đến 1 giờ 25 phút mọi món phải được mang lên để cho Ngài và khách
dùng. Vì Ngài còn phải về phòng ngơi nghỉ nữa.
Trước khi dùng đến phần tráng
miệng, tôi có đứng lên thưa rằng:
Hôm nay quả là một nhân duyên
chúng con mới cung đón được Ngài và xin Ngài cũng như những vị khách quý
xin ghi vài lời vào Sổ Vàng Lưu Niệm nầy để kỷ niệm.
Ngài hoan hỷ để viết ngay vào
sổ bằng tiếng Tây Tạng. Tôi chẳng biết Ngài đã viết những gì. Vì sau khi
tiễn đưa Ngài đi, tôi không có thì giờ để hỏi những người Tây Tạng khác về
nội dung của những chữ ấy. Vì ngày hôm sau 19.6.95 tôi đã phải đi Canada
rồi. Hy vọng khi về lại Đức tôi sẽ hỏi anh Phunksok, Hội Trưởng Hội Phật
Giáo Choeling về ý nghĩa của những dòng nầy.
Tiếp đó là Hòa Thượng Thích
Thiền Định, Hòa Thượng Thích Minh Lễ và những vị khách quý đã ký tên vào
Sổ Lưu Niệm nầy. Đây là một bảo vật của Chùa Viên Giác lưu niệm về sau, để
cho biết rằng dấu chân của vị Thánh Tăng đã có mặt tại chùa nầy vào ngày
tháng ấy.
Đoạn, Ngài đứng dậy để chuẩn bị
rời khỏi phòng, Sư cô Diệu Hạnh hướng dẫn các em quỳ xuống thi lễ Ngài,
trên tay mỗi người có một khăn choàng trắng. Ngài đã ân cần cúi sát người
xuống lấy tay xoa đầu, hoặc nắm tay của các Phật Tử để ban cho một hồng ân
từ ái.
Tôi đưa Ngài ra ngoài cửa
phòng, bên hành lang có một số anh em Phật Tử đứng canh gác. Một số khác
đang cúi đầu xuống dể chờ Ngài đi qua. Đến chỗ bàn vong, Ngài hỏi hình ai
mà nhiều quá vậy? Và vị nào đứng đó.
Tôi trả lời Ngài:
- Bạch Thánh Tăng (His
Holiness). Đó là những người đã quá vãng và hình Bồ Tát Địa Tạng ở dưới
địa ngục để cứu khổ độ sanh.
Trở lại căn phòng VIP, tôi mời
Ngài ngồi và thưa hỏi Ngài một vài việc cần thiết. Sau đó tôi nhờ Ngài ký
cho một số sách bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đức đã viết về Ngài mà
trước đó mấy ngày họ đã nhờ tôi làm việc ấy. Trong ấy có một quyển của một
người Đức viết về nước Tây Tạng năm 1959 với nhan đề là: "Tôi đã ở Tây
Tạng 7 năm". Tôi lật một số trang và nói rằng: những hình ảnh nầy đây
xưa lắm Ngài có nhớ chăng?
Ngài nói:
- Đây là anh của tôi. Đây là mẹ
của tôi và đây là em gái của tôi.
Sau đó tôi nhờ Ngài chú nguyện
vào 2 khăn lau mặt để gởi về Việt Nam cho các Phật Tử họ thờ. Có lúc tôi
điện thoại về Việt Nam để thăm, tiện thể báo tin việc Ngài sẽ viếng Chùa
Viên Giác. Có người nhờ các Phật Tử khác mang các khăn nầy tới để Đức Đạt
Lai Lạt Ma chú nguyện để họ thờ. Quả thật tiếng tăm của Ngài và lòng từ bi
của Ngài đã bay xa quá, hơn mấy từng mây và mấy từng không gian cách trở;
nhưng nó không dừng lại ở đó. Đúng là phép Phật nhiệm mầu. Mặc dầu quê
hương Ngài đã bị mất; nhưng trong hiện tại Ngài đã có tất cả. Ngược lại,
Trung cộng đã có được đất đai; nhưng đã làm mất hết lòng dân. Vì thế, sớm
muộn gì rồi Ngài cũng sẽ trở về quê hương xứ sở của Ngài, như người Việt,
một ngày không xa, họ sẽ đoàn tụ trong tình tự quê hương của họ.
Tôi qùi xuống trứơc mặt Ngài để
thưa về chương trình chiều nay:
"13 giờ 45 phút Ngài sẽ đi làm
lễ trên phòng Phật Giáo Tây Tạng.
Đúng 14 giờ con sẽ đón Ngài ra
Đại điện để thăng tòa thuyết pháp.
Cuối giờ kính mong Ngài làm lễ
chú nguyện vào 2 đĩa gạo để phía trước dùm. Vì bao nhiêu người Phật Tử
muốn có được ơn pháp nhủ ấy. Nếu còn thì giờ xin Ngài cho chúng con xin
đặt một số câu hỏi và cuối cùng con sẽ dâng quà kỷ niệm và cúng dường
Ngài".
Tôi thưa Ngài, Ngài sẽ nói bằng
tiếng gì?
Ngài bảo: Tiếng Tây Tạng.
Tôi tiếp, vậy sẽ được dịch sang
Đức ngữ và Việt ngữ.
Ngài trầm ngâm một chút rồi
nói: Vậy là 3 ngôn ngữ, rồi cười.
Trong khi tôi lay hoay xếp đặt
mấy quyển sách mà Ngài đã ký, thì những vệ sĩ mang thêm một số sách và sổ
lưu niệm khác vào để cho Ngài ký nữa. Ngài dở sổ lưu niệm trong ấy óc viết
chữ Tây Tạng, Ngài đọc và nói gì đó với mấy người Tây Tạng, nhưng rồi cũng
nắn nót viết từng chữ vào.
Tôi mời Ngài lên long sàn nghỉ
10 phút, nhưng Ngài bảo: Thôi, được rồi. Đoạn, Ngài vào phòng tắm để rửa
mặt và chuẩn bị đi làm lễ trên phòng Tây Tạng. Khi Ngài bước ra, các người
cận vệ đưa Ngài lên lầu ngã sau để đi đến Tây Đường. Vì ngã trước đã chật.
Có hơn 45 người Đức đã ngồi chờ sẵn trên đó rất thành kính. Tôi không biết
15 phút trên ấy Ngài đã làm gì, nhưng chắc chắn là có chú nguyện vầ thiền
định. Vì lúc ấy tôi phải ở dưới để chuẩn bị đón Ngài lên Đại điện.
Chiều hôm trước tôi đã lên
phòng nầy để thăm, thấy mấy Phật Tử người Đức nầy đã tụ họp lại để chưng
dọn bàn thờ và dọn dẹp sạch sẽ. Họ cũng đã làm cho Ngài một cái Ngai theo
lối Tây Tạng truyền thống.
15 phút trôi qua, Ngài đã trở
xuống, tôi đón Ngài lên Đại điện. Trên đường đến bàn thờ vong, có Ni sư
Thích Nữ Diệu Tâm và Sư cô Thích Nữ Diệu Ân đang đứng đó, gặp Ngài, nhị vị
nầy quì xuống chắp tay thi lễ. Ngài đã lấy tay xoa lên đỉnh đầu hai vị, ôm
sát họ vào lòng như tình mẹ thương con. Đúng là Quan Âm tái thế. Ngài hỏi
Bishuni? Tôi "Yes! his Holiness". Các vị nầy chắc cảm động lắm và biết đâu
nhờ định lực của Ngài mà họ sẽ đắc quả trong tương lai.
Tôi hướng dẫn Ngài lên Phật
điện, tất cả chư Tặng Ni đồng loạt đứng lên, toàn thể đồng bào Phật Tử
Việt cũng như Đức đã đông nghẹt cả Chánh điện, trang nghiêm thành kính
đứng lên. Tôi đưa Ngài đi đến Ngai vàng, hướng dẫn ngài lên tam cấp; nhưng
Ngài đi trệt qua phía trước, đỡ một Phật Tử đang thi lễ nằm sát đất tại
đó. Đoạn Ngài bước ra ngay trước giữa Ngai vàng và Chánh điện lạy 3 lạy,
sau đó Ngài mới thăng tòa, ngồi bán già và bắt đầu cười với mọi người. Một
không khí trang nghiêm kính cẩn hướng về Ngài. Còn nơi Ngài tỏa ra một
tình thương vô biên rộng lớn cũng như một trí tuệ sâu thẳm của một bậc Đại
Giác Ngộ, đã chinh phục hầu hết tất cả mọi người Việt cũng như Đức tham dự
buổi thuyết giảng hôm đó.
Tôi đứng ngay ngắn trước mặt
Ngài và cúi mình xuống thật sâu, quì xuống thật vững và nắm mọp người
xuống để đảnh lễ Ngài 3 lần và trở về vị trí bên cạnh.
Trong khi đó Hòa Thượng Thích
Thiền Định đứng lên đọc lời tán dương Ngài bằng tiếng Việt và tiếng Pháp,
còn bản tiếng Anh, Hòa Thượng bảo tôi đọc. Nội dung của bài tán dương nói
lên việc thế giới ngày nay đang băng hoại về mọi lãnh vực của tinh thần.
Còn ngài là hiện thân của từ bi và chân lý. Mong rằng Ngài sẽ luôn luôn
tiếp tục tranh đấu cho đường hướng bất bạo động ấy. Mọi người đã vỗ tay
tán thưởng.
Tôi trở về lại chỗ ngồi của
mình, ngồi gần với Thượng Tọa Thích Minh Phú. Nơi đó đã để sẵn một bức
tranh sơn mài Chùa Một Cột để kính tặng Ngài và trước mặt tôi có để một
khay cẩn xà cừ, trên ấy có để một cái đĩa.
Trên đĩa ấy có để một bì thư
trắng, trong đó có 10.000 Đức Mã để cúng dường Ngài. Ngồi từ đây tôi có
thể quan sát được hết mọi người, từ trên hàng ghế cạnh tường có các vị
Giám mục, Tu sĩ, cho đến ông Dr. Meihorst. Phía bên kia tường óc ghế ngồi
của phu nhân ông Thị trưởng Thành phố Hannover và những khách quý.
Câu nói đầu tiên Ngài bảo rằng:
"Hôm nay tôi đến đây không phải
với tư cách của một Đạt Lai Lạt Ma, mà là với tư cách một người tạn như
những người Việt Nam hiện ở nơi đây".
Thế là một tràng pháo tay vang
dội cả Đại điện chứa 604 người có giấy mời, 30 quan khách, hơn 100 đoàn
sinh Gia Đình Phật Tử và hơn 30 Tăng Ni.
Ngài nói rằng:
Những người Phật Tử truyền
thống, có nghĩa là khi sinh ra đã là Phật Tử, xin cố gắng gìn giữ nề nếp
tôn giáo của mình. Vì đây chính là sợi dây vô hình gắn chặt mình với quê
hương và nguồn cội.
Rồi Ngài chuyển qua đề tài "Tứ
Diệu Đế" một cách linh hoạt. Ngài nói về Khổ Đế, về Tập Đế, Diệt Đế và Đạo
Đế.
Về Khổ Đế, Ngài nói nếu cứ đóng
cửa hoài như vậy thì cũng khổ lắm. Sao hôm nay nóng thế?
Thế là một tràng pháo tay lại
vang lên, hai cánh cửa giữa nơi Đại điện được mở ra, ngồi bên trên nầy
nhìn ra thấy Đức Phật A Di Đà đang ngự trị trên một tòa sen tại đó.
Không biết có phải đèn quay
phim chiếu dọi nhiều quá, hay lại vì người đông mà hôm đó nóng thế, trong
khi đó bên ngoài nhiệt độ chỉ 10 độ C mà thôi. Theo tôi, có lẽ nhờ thần
lực gia trì của Ngài mà Đại điện nơi đây đã nóng hẵn lên. Vì trước đó đèn
pha cũng chiếu như thế nhưng Đại điện vẫn lạnh như thường. Phải chăng một
vị Thánh có đủ quyền uy như thế?
Ngài nói về thánh thiện và tội
lỗi và Ngài nói:
Muốn chứng được quả vị giác ngộ
giải thoát chỉ cần giữ giới cho thanh tịnh và thực tập thiền định, hướng
về nội tâm thì sự an lạc mới vĩnh cửu.
Ngài đã nhấn mạnh rất nhiều lần
về điều nầy. Và đây cũng chính là đường về nội tâm của Đạo Phật vậy.
Ngài đã kêu gọi Đại diện các
Tôn giáo khác hãy có trách nhiệm trong vấn đề hòa bình của nhân loại và
cũng đừng nên nhân danh Tôn giáo nầy hay Tôn giáo nọ để chinh phục kẻ
khác, mà hãy tự mình nêu cao giá trị nội tâm của mình. Đó mới là con đường
hòa bình vĩnh cửu của nhân loại.
Đoạn nầy được vỗ tay lâu nhất,
cả phần tiếng Đức và tiếng Việt. Hôm đó ông Christof dịch tiếng Tây Tạng
ra tiếng Đức rất hay và Hạnh Tấn dịch từ tiếng Đức sang tiếng Việt cũng
rất trôi chảy, nhuần nhuyễn.
Phần phát bồ đề tâm, Ngài không
đề cập đến nhiều có lẽ vì ít thì giờ và Ngài dừng bài thuyết pháp lại vào
lúc 15 giờ 40 phút.
Tôi có trờ tới để thưa Ngài là
cho phép Phật Tử hỏi chừng 10 phút. Ngài đồng ý và các câu hỏi được bắt
đầu.
Có một người Đức xin được đặt
câu hỏi. Nhưng Ngài bảo hôm nay đặc biệt cho người Việt Nam, nên người Đức
ấy lại thôi. Đây là lần thứ 3 Ngài đã lưu tâm về vấn đề ấy. Lần thứ nhất
khi ở phi trường, phóng viên đài truyền hình NDR hỏi Ngài tại sao Ngài đến
Hannover?
Ngài bảo rằng: Tôi đến đây vì
những người Việt Nam.
Cả 3 lần như chúng ta thấy, quả
Ngài đã rất quan tâm đến vấn đề của Việt Nam chúng ta rất nhiều. Chúng ta
không may mắn được như nhân dân Tây Tạng, có một bậc chân tu thực chứng
như Ngài, nên vấn đề hòa hợp, thống nhất vẫn còn triền miên khổ hải. Còn
Ngài, là hiện thân của chân lý, nên người Âu Mỹ đã xem Ngài là một sứ giả
của hòa bình, nên năm 1989 Ngài đã được lãnh Giải thưởng Nobel Hòa Bình
cũng nằm trong ý nghĩa đó.
Trước đây Ngài đến Đức, các
chính trị gia ít lưu tâm; nhưng sau bao nhiêu tháng ngày hoạt động kiên
trì, mềm dẻo của Ngài đã làm mềm lòng những người cầm quyền tại Âu Mỹ.
Bằng chứng là ngày mai 19.6.95, Ngài điều trần trước Quốc Hội Đức về vấn
đề Trung Cộng vi phạm nhân quyền tại Tây Tạng một cách trầm trọng.
Nghe qua bài pháp có người rất
thấm thía. Ngồi bên trên nhìn xuống, tôi thấy có người đang ngử gục và sau
nầy nghe kể lại rằng dưới Hội Trường với hệ thống trực tiếp truyền hình,
ban đầu đã đầy người, cũng rất trang nghiêm thành kính; nhưng vào cuối giờ
chỉ còn lại những người Đức đang thành kính lắng nghe. Còn người Việt thì
hầu hết đi ra ngoài và hay thích nói chuyện riêng. Đó có lẽ là dân tộc
tính của người Việt Nam mình chăng?! Nhưng phải thành thật mà nói, trên
Đại điện chùa Viên Giác hôm đó gần 800 con người với 800 quả tim, 800 khối
óc, ai ai cũng đều cùng một nhịp thở và thấm sâu từng lời nói, từng động
tác của Ngài trong khi thuyết giảng. Nhìn xuống xa hơn, tôi thấy Chánh
điện bên trái và bên phải vẫn còn trống, như thế, ít nhất Đại điện chùa
Viên Giác phải chứa đến 900 người mới chật hoàn toàn.
Ngài đã nói một dung bài pháp
như Đức Phật đã nói tự mấy ngàn năm nay; nhưng điều căn bản ở đây, nếu có
thật tu mới thực chứng được. Cũng như có ăn mới có no. Nếu không tu cũng
như không ăn thì sẽ không bao giờ chứng và no được. Đó là một chân lý cần
phải hiểu rõ.
Trước và sau đó có nhiều người
đem con của mình tới cho Ngài xoa đầu cho bớt bệnh, hoặc muốn gần Ngài để
được thần lực chở che v.v
Tôi có nói rằng: Ngày xưa Phật đã bảo � ai tu
cũng thành Phật cả, tự mình chẳng lo tu, khi thấy người ta thành Phật rồi,
mình lại đến ké nhờ ơn đức ấy, quả thật là khó nói. Mọi người đều hiểu ý
tôi, cười � nhưng rồi việc đâu cũng vào đó. Vì họ thấy tu hành sao khó
khăn quá, thôi cứ chờ cho ai đó tu có kết quả thì mình cậy nhờ vậy. Đó là
một cái bệnh lười của chúng sanh. Chúng sanh lúc nào cũng sợ đọa vào trong
3 đường dữ; nhưng việc ác không chừa và việc thiện chẳng làm dữ; nhưng
việc ác không chừa và việc thiện chẳng làm, thì làm sao tránh được lao đao
trong đường sinh tử?
Khi Ngài chuẩn bị chấm dứt câu
trả lời cuối, tôi và Thầy Minh Phú đại diện cho Chi Bộ Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất tại Đức mang tấm tranh và khay tịnh tài cúng dường ra
phía trước, để dưới chân Ngài.
Khi Đức Thụ vừa địch xong những
câu trả lời ra tiếng Việt cuối cùng, chúng tôi lại thi lễ tạ ơn Ngài 3 lễ,
đoạn trao bức tranh sơn mài và khay lễ 10.000 Đức Mã để cúng dường và làm
lộ phí cho Ngài cũng như phái đoàn. Ngài đưa tay ra đỡ lấy rồi trao qua
cho những nhân viên ngoại giao tháp tùng với Ngài.
Ngài đã trao tặng Chùa Viên
Giác một tượng Phật bằng đồng, thếp vàng, trên ấy có bọc một dải lụa trắng
và tôi đã để tượng Phật ấy lên đầu thật lâu, trong bao nhiêu tiếng vỗ tay
vang dội ở phía dưới. Đây là một pháp bảo vô giá mà Chùa Viên Giác đã có
được.
Ngài xuống tòa trong khi bao
nhiêu tiếng vỗ tay vang dội cả Đại điện ngày hôm ấy. Suốt cả 2 tiếng đồng
hồ tôi không nghe một tiếng động nào cả. Quả thật, thần lực của Ngài đã
chinh phục tất cả mọi người.
Gia Đình Phật Tử đã ngồi chận
lối giữa mục đích để làm hàng rào danh dự, nên khi Ngài chuẩn bị đi ra, 2
bên nơi nầy đã dạt ra một lối trống ở giữa, Ngài đã bước ra trong nụ cười
từ ái, với những cái vẫy tay và cái chào thân thiện.
Hòa Thượng Thích Thiền Định
tiễn Ngài ra đến chỗ tượng Đức Phật A Di Đà; còn tôi và Hòa Thượng Thích
Minh Lễ, Sư cô Diệu Hạnh và Tăng Ni cũng như Phật Tử tiễn Ngài ra đến
đường Karlsruher bằng chân trần không mang giày, chỉ có vớ mà thôi.
Khi Ngài ra đến nơi tượng A Di
Đà, Ngài đã mang giày vào để đi tiếp con đường mà Ngài còn cần phải đi nữa
để mang lại hòa bình, lợi tha cho nhân dân Tây Tạng cũng như thế giới.
Khi xuống đến những bậc thang
cấp cuối cùng Ngài đã vẫy tay chào. Mọi người vỗ tay tiễn đưa Ngài một
cách rất thành kính. Khi chuẩn bị lên xe có một người Đức thuộc đài truyền
hình nào đó muốn đặt một câu hỏi. Ngài hoan hỷ trả lời bằng tiếng Anh và
bên cạnh đó có ai đưa một bảng hiệu bằng tiếng Anh "Nhân quyền cho Việt
Nam và Tây Tạng". Bảng bên kia bằng tiếng Đức cũng nội dung đó. Khi trả
lời phỏng vấn xong, một số người đã đưa tay qua từ bên kia chiếc xe Audi
cho Ngài bắt, Ngài đã trườn qua xe để vỗ mạnh vào bàn tay đối diện bên
kia, đoạn Ngài làm lễ chú nguyện vào một đĩa gạo, rồi Ngài vào xe với 2
nhân viên ngoại giao.
Xe ngài đã đi, nhưng lòng người
còn ở lại đầy ắp yêu thương của một bậc Thánh nhân đã trang trải trong
suốt 4 tiếng đồng hồ qua tại Chùa Viên Giác. Một số khác lên nhặt những
hạt gạo rơi nơi Chánh điện, gạo mà Ngài đã chú nguyện và chắc chắn nay mai
sẽ gởi về các địa phương để biếu các Chi Hội Phật Tử những hạt gạo nhiệm
mầu nầy. Một số khác nhặt những cành hoa dưới chân Ngài và như còn luyến
tiếc đây đây những gì mà họ muốn nắm giữ.
Tối hôm ấy tôi đã không ngủ
được, vì quá vui mừng xúc động. Còn trước đó một đêm cũng không ngủ được,
vì lo lắng cho ngày mai khi Ngài tới. Lúc Ngài đến trời mưa hoa cúng
dường, lúc Ngài đi ánh sáng thái dương rọi chiếu, như mang trí tuệ đến cho
tất cả mọi người.
Sáng hôm sau 19.6.95 khi lên
Đại điện giờ thiền và tụng kinh Lăng Nghiêm, tôi cảm nghe như sức gia trì
vẫn còn mãnh liệt đâu đây. Thế rồi tôi cũng lạy Phật, lạy Tổ để ra đi vào
ngày hôm ấy.
Viết đến đây tôi lại quên một
vấn đề quan trọng nữa là, hôm qua 18.6.95 sau khi Ngài đã giảng pháp xong,
Ngài có tụng kinh gia trì về trí tuệ. Sau đó Hòa Thượng Thích Thiền Định
bắt Bát Nhã cho đại chúng tụng và hồi hướng. Không khí thật thành kính
trang nghiêm. Tại sao cũng một bài kinh Bát Nhã đó, mà hôm nay trang
nghiêm thánh thiện quá vậy?
Nhìn người Việt Nam rồi nhìn
người Đức khắp hết Đại điện, tôi thấy ai cũng rạng rỡ tấm lòng.
Sau khi mọi người nghe pháp,
tôi có hỏi cảm tưởng của một số vị; họ bảo rằng hoan hỷ quá. Trong đời họ
chưa bao giờ cảm nhận được một sự an lạc như vậy. Sự an lạc ấy do từ tha
lực của Đức Đạt Lai Lạt Ma và cũng chính phần lớn đều do tự lực của chính
mỗi người đã trân trọng với một thời pháp trang nghiêm như thế.
Trong quyển "Tự Do Trong Lưu
Đày" (Freedom In Exil) Ngài có khẳng định lại một điều mà các Phật Tử
Việt Nam của chúng ta cũng cần nên lưu ý. Ngài bảo: Chữ Đạt Lai Lạt Ma
người Trung Quốc dịch là Hoạt Phật hay Phật Sống là sai; mà Đạt Lai có
nghĩa là Trí Tuệ hay Biển Trí Tuệ hay Hoa Sen Trắng. Lạt Ma có nghĩa là
một vị Thầy. Nếu dịch nghĩa chung của 2 chữ nầy, có nghĩa là: Một vị Thầy
có đầy đủ trí tuệ. Chẳng qua đó chỉ là hóa thân của Đức Bồ Tát Quan Thế
Âm. Có nhiều người chưa chứng đạo, tự khoe mình đã chứng. Ngược lại, những
người đã chứng đắc như Ngài, Ngài ít khi nào nói về cái sở chứng của mình.
Điều ấy cũng giống như Đức Phật còn tại thế vậy. Mặc dầu Ngài có thần
thông rất đa dạng; nhưng khi Ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông để thi
triển thần lực với ngoại đạo, vẫn thường hay bị Đức Phật quở trách.
Có nhiều người hỏi Ngài bao
nhiêu tuổi?
- Ngài cười.
Nhưng cũng có nhiều người trả
lời thế cho Ngài rằng:
- Ngài chừng 700 tuổi.
Nếu tính trung bình cho mỗi vị
Đạt Lai Lạt Ma là 50 tuổi thọ, thì qua 14 đời Đạt Lai, đều ấy quả là số
tuổi hiển nhiên của Ngài.
Có nhiều người Âu Châu đặt
nhiều câu hỏi thẳng thắn với Ngài rằng:
- Theo họ biết, cũng như theo
truyền thuyết của Phật Giáo Tây Tạng là không có đời Đạt Lai Lạt Ma thứ 15
nữa. Điều ấy có đúng không?
Ngài bảo với các phóng viên
rằng:
- "Bây giờ tôi chưa chết, làm
sao biết được".
Đó chỉ là một cách trả lời khéo
mà thôi.
Có lúc, một số nữ tín đồ Phật
Giáo người Âu Châu hỏi Ngài rằng:
- Tại sao cho đến bây giờ đã 14
đời Đạt Lai Lạt Ma rồi mà chưa có vị nào người nữ?
Ngài trả lời rằng:
- "Tại sao không?"
Những câu trả lời của Ngài rất
vi diệu và đã làm hài lòng với tất cả những ai tò mò muốn hiểu biết về Tây
Tạng, về tái sinh, dầu cho đó là một Học giả, một Giáo sư Đại học, một Thư
ký, một Tu sĩ, một Chính trị gia, một Thương gia v.v
và v.v
Càng ngày người Âu Châu và Mỹ
Châu càng theo Phật Giáo Tây Tạng càng nhiều hơn nữa, mà ngay cả người
Việt Nam mình cũng thế. Mới đầy theo, có lẽ vì tính cách huyền bí; nhưng
khi đi sâu vào nội tâm, tu theo Phật Giáo Tây Tạng có sở chứng rất nhiều.
Dĩ nhiên, các trường phái Phật Giáo khác, nếu chúng ta đi sâu vào thiền
định hoặc nghiêm trì giới luật, chúng ta vẫn có thể chứng đắc như thường.
Nhưng đa số nghiêng về phía Tây Tạng, vì Tây Tạng có được một nhà lãnh đạo
cả giáo quyền lẫn thế quyền lỗi lạc như Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Trong 2 quyển sách vừa nêu
trên, Đức Đạt Lai Lạt Ma có nhận định rằng: Mặc dầu số người Tây Tạng tu
hành đông; nhưng thật ra sở tu và sở chứng của họ cũng ít lắm. Điều ấy cho
ta thấy rằng bất cứ trong một tổ chức quần chúng nào cũng thế, nó phức tạp
và ô hợp lắm. Ngay cả cộng đồng Tăng lữ của Việt Nam cũng vậy, dĩ nhiên
cũng có một số vị xuất sắc, nhưng không nổi bật về việc ấn chứng cũng như
việc tu trì; nên khi ra làm việc đạo tại ngﯦ#7841;i quốc nầy, chỉ có được
bề nổi bên ngoài, phần nội tâm thì còn phải tu trì nhiều hơn nữa.
Ngài cũng đã đề cập trong sách
trên rằng: Những nghi lễ tôn giáo của Tây Tạng quá rườm rà, cần phải bỏ
bớt, và chính Ngài cũng có ý thay đổi về địa vị của Đạt Lai lạt Ma, cốt
làm sao cho dân tộc Tây Tạng tiến bộ nhiều hơn nữa.
Trong một quyển sách khác, nhan
đề là "Khi chim Sắt Bay", do Vũ Nguyen Khang ở Đan Mạch dịch, có
đăng trong Viên Giác lâu nay và trong Viên Giác số 88 xuất bản vào tháng 8
năm 1995 cũng có đề cập chi tiết về cuộc sống của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài
có nói rằng: Tôi nói tiếng Anh được; nhưng lười học lắm, vì vậy những ngữ
vựng ít ỏi lắm. Tuy Ngài nói vậy thôi vậy, nhưng Ngài rất vững vàng về
ngôn ngữ nầy. Tôi đã có nhiều lần nghe Ngài giảng về Phật Pháp bằng tiếng
Anh tại Hamburg, cũng như nghe các câu phỏng vấn trên đài truyền hình Đức
và Pháp cũng như Mỹ khi Ngài trả lời.
Tháng 3 năm 1995 vừa rồi, tôi
và một phái đoàn 13 người Phật Tử Việt Nam từ Đức sang Ấn Độ để chiêm bái
các Phật tích. Trong 13 người ấy chỉ có 6 Phật Tử mà đến 7 Tu sĩ. Dĩ nhiên
chuyến đi gặt hái được rất nhiều thành quả tốt đẹp về nội tâm; nhưng cũng
đã có nhiều người muốn tìm hiểu sâu hơn về Phật Giáo Tây Tạng.
Khi đến chiêm bái Bồ Đề Tràng
vào một buổi chiều, tôi tình cờ gặp một vị Lạt Ma tái sanh mà nhiều người
rất ngưỡng mộ. Đó là Ngài Lin Rimpouchie. Theo ấn chứng của tái sanh cho
biết rằng: Ngài là vị Thầy cũ của Đức Đạt Lai Lạt Ma tái sanh. Đức Đạt Lai
Lạt Ma có hai vị Thầy, nay đều đã viên tịch và nay cũng đã tái sanh. Một
vị hiền từ như người mẹ, đó là vị Lin Rimpouchie nầy và một vị khác khắc
khe như một người cha cũng đã tái sanh và tìm lại được rồi. Cả hai vị đều
có ảnh thờ chung với Đức Đạt Lai Lạt Ma, hai vị nầy ngồi hai bên Ngài.
Tôi, một Tăng sĩ Phật Giáo Việt
Nam, dĩ nhiên là tin vào luân hồi rồi và tôi cũng đã đọc rất nhiều về sách
tái sanh của Tây Tạng, nhưng tôi muốn biết chắc thực hiện tượng tái sanh
ấy như thế nào, nên cũng phải tìm hiểu thêm.
Vị Lin Rimpouchie hôm đó đi
nhiễu tháp, tình cờ khi đến gần chỗ tôi ngồi lại bước qua và hỏi tôi bằng
tiếng Anh: - What are you doing here?
Tôi trả lời:
- I�m waiting anny Vietnamese
here.
Vị ấy mới 10 tuổi thôi. Nghe
đâu đi Mỹ chỉ có 3 tháng, sau khi về nói tiếng Anh rất lưu loát. Tôi hỏi
tiếp:
- Have you been in Europe?
Vị ấy trả lời rằng:
- May be!
Đoạn tôi hỏi:
May I take one picture (Photo)
together With you? Vị Lin Rmpouchie trả lời rằng:
- No probleme.
Rồi vị ấy chạy đi,trông rất hồn
nhiên, dễ thương như những đứa trẻ 10 tuổi khác.
Sau khi đi về Đức, tôi đưa tấm
hình ấy cho mọi người xem, ai cũng vui và nói rằng tôi rất có phước nên
mới được gặp vị thầy của Đức Đạt Lai Lạt Ma mhư thế. Tấm hình ấy Thầy Từ
Trí chụp dùm rất tự nhiên. Vị Lin Rimpouchie ấy ngoẹo cổ vào mình tôi và
mĩm cười rất duyên dáng trong tư thế đứng. Nơi đó là nơi mà𠨡i người nữ
Phật Tử đầu tiên đến quy y với Đức Phật lúc Ngài mới thành Phật và chưa
thành lập Tăng đoàn. Chỉ có quy y Phât, quy y Pháp mà thôi. Nơi đó ngày
nay một trụ đá cò dựng ở đó và khắc ghi về sự tích này để lưu niệm.
Tối hôm đó, quý Thầy quý Cô
khác đi đến chỗ vị Lin Rimpouchie này ở để vấn đạo. Tôi ở lại chùa Phật
Giáo Việt Nam tại Bồ Đề Đạo Tràng, không đi. Vả lại ngững Thầy Cô khác
cũng dấu tôi không cho tôi biết, sau này xem lại Vidéo mới thấy được. Cung
cách tiếp đón và chúc phước, nói năng bằng tiếng Anh lưu loát, chỉ học
trong 3 tháng mà nói được như thế quả là một việc hết sức huyền diệu, mà
một đứa trẻ ngoại quốc 10 tuổi khó có thể có được.
Tôi định đem tấm hình chụp
chung với vị Lin Rimpouchie khoe với Đức Đạt Lai Lạt Ma khi Ngài đến chùa
Viên Giác vào ngày 18.6.1995 vừa qua; nhưng bận quá. Vả lại tự mình hiểu
đủ rồi, cần gì phả sỗ sàng với Thánh vương như vậy. Dẫu biết rằng với Đức
Đạt Lai Lạt Ma là một vị Thánh Tăng đơn giản chưa có ai bằng; nhưng cũng
có nhiều vị Lạt Ma kiểu cách và trịch thượng lắm. Bằng chứng khi đến đảnh
lễ một số vị Lạt Ma, có vị thi lễ lại, nhưng cũng có vị ngồi yên trong tư
thế như là chuyện đương nhiên. Trong khi đó với Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngai
vàng và pháp tòa đã dành riêng cho Ngài; nhưng Ngài phải tự mình đảnh lễ
Phật và pháp tòa, sau đó mới thăng tòa thuyết pháp. Khi người khác thi lễ
Ngài, Ngài cũng cuối sát xuống để cụng đầu hoạt lấy tay đỡ người quì mọp
dưới chân mình lên. Quả thật chưa có vị Thánh Tăng nào có được một cử chỉ
khoang dung độ lượng như thế và bình dân không ai bằng. Có lẽ Ngài nhờ
bình dân, đơn giản như vậy mà thu phục được nhân tâm của nhân loại chăng?
Trên quả đất ngày nay có 5 tỉ người; nhưng ít nhất Ngài cũng đã chinh phục
hơn phân nửa số đó. Có người đã gặp được Ngài, nhưng đa số không phải ai
cũng có được nhân duyên ấy. Những người dân Tây Tạng chưa chắc đã gần được
Ngài, mà chỉ sống trong tình thương yêu của Ngài. Nếu có, ngày nay đa số
qua hệ thống truyền hình và báo chí, nhiều người đã biết đến ngài.
Viết đến đây tôi cũng xin mở
một dấu ngoặc để nói về việc thi lễ đối với chư Tăng Việt Nam. Dĩ nhiên
Việt Nam vẫn có nhiều vị Cao Tăng, Đại Đức, đạo cao đức trọng; nhưng cũng
có lắm vị phàm Tăng, ham được người ta cúng dường và lễ bái mình. Đi đâu
cũng muốn có sự đón đưa thật linh đình. Đến đâu nếu chưa kịp chuông trống
bát nhã cung nghinh, không đảnh lễ kịp thời thì có ý buồn rầu, trách móc.
Khi người đối diện không xưng con, không khép nép với mình, tự nhiên thấy
mình bị tự ái, hờn mát và không vui vẻ với nhũng câu chuyện sau đó.
Nhiều vị Tăng nghỉ rằng Phật tử
đãnh lễ mình là chuyện đương nhiên, cứ ngồi ì ra đó cho họ lễ; nhưng đâu
có biết rằng, vì phước mình chưa đầy đủ, làm như thế chỉ có bị trừ chứ
không có cộng. Phước đức đã hao mòn mà tội lỗi mà da tăng. Chỉ khi nào
người lạy và kẻ được lạy, không còn phân biệt bỉ thử thì việc lạy ấy mới
có ích. Tuyệt nhiên không nên ép buộc, nhất là ép buộc vì vấn đề tâm linh.
Ví dụ: Đức Đạt Lai Lạt Ma sờ
vào đầu ai, ôm người đó vào lòng, lấy tay của mình ôm một số người đông,
trong khi đón rước Ngài, ai ai cũng muốn được vinh dự đó. Nếu bình thường
một vị tăng nào đó, làm cử chỉ ấy, trong nó hơi hề. Vì mọi người chung
quanh chưa có ý tự nguyện như vậy và chính vì đức độ của mình chưa có, nên
chưa ảnh hưởng đến những người chung quanh. Nhung Ngài thì ngược lai.
Sáng hôm ấy ngày 19.6.95 tôi
lạy Phật lạy Tổ xong, ra đi với một xách hành trang nặng trĩu sự vui mừng.
Người ta đi đâu thường hay buồn; nhưng hôm đó sao tôi lại vui quá. Vui vì
đã làm xong một bổn phận và vui rồi đây Chùa Viên Giác sẽ là nơi quy
ngưỡng của nhiều người. Trong đó kẻ cả các Tu sĩ và các Phật Tử, Việt cũng
như Đức.
Xe dừng lại dừng lại nơi bến
"gare", tôi vội xuống xe đi nhanh về phía quầy bán báo. Tờ Hannoversche
Allgemeine Zeitung tôi đã thấy ở Chùa rồi, có đăng hình và bài về ngày hôm
qua. Tôi mua hai tờ khác nữa. Đó là tờ Neue Presse và tờퟴ báo Bild. Tờ
nào cũng tường thuật rất tỉ mỉ và rất thuận lợi cho chiều hướng phát triển
của Phật Giáo tại Đức. Nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử và triết học cũng
như Tôn giáo đều phải thừa nhận rằng:
Tất cả mọi chuyển động của thế
giới về các ngành nầy đều xuất phát từ Đức. Ví dụ triết gia Schopenhauer
mở đầu cho kỷ nguyên của Phật Giáo du nhập vào Đức từ thế kỷ thứ 19.
Nietzsche, một triết gia đại của Đức đã có cái nhìn không xa triết lý của
Phật Giáo bao nhiêu. Hermann Hess, người đã viết tác phẩm "Đường Về Nội
Tâm" rất nổi tiếng. Nhà Bác học Einstein đã quả quyết rằng: Tất cả
những phát minh của ông đều dựa trên tinh thần khoa học của Phật Giáo. Rồi
Karl Marx, cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản cũng đều từ đất nước nầy phát
sanh. Nhà tôn giáo cải cách Luther Martin cũng người Đức. Vì những lý do
trên, nên nhiều nhà phê bình có nhận định rằng: Thế kỷ thứ 21 là thế kỷ
của Phật Giáo và điều xuất phát từ nước Đức đa diện nầy. Có lẽ nhận xét ấy
không sai. Vì trong hiện tại kinh sách Phật Giáo bằng tiếng Đức xuất hiện
vô số kể trong lãnh vực học đường, khoa học hay cả tại các nhà thờ của hai
Giáo Hội Thiên Chúa Giáo và Tin Lành.
Sau khi đi ẤᮠĐộ vào tháng 3 năm
1995 về, tôi có đến gặp Đức Giám Mục Hofmeier địa phận Hildesheim, khi
dùng cơm xong tại giáo xứ, Ngài có nói tôi chỉ sơ qua về giáo lý căn bản
của Phật Giáo cho Ngài và ông Helmut Hanefeld đã chỉ cho Ngài và các vị
Cha xứ, các Dì Phước thực tập thiền hôm đó. Đoạn Ngài hỏi tôi rằng:
- Có phải Phật Giáo hay hơn
Thiên Chúa Giáo hay sao mà người ta bỏ Đạo Chúa theo Đạo Phật nhiều vậy?
Tôi trả lời rằng:
- Thưa Ngài, mỗi một thứ thuốc
hợp cho mỗi một căn bệnh khác nhau. Có lẽ ở Âu Châu lâu nay dùng loại
thuốc giống nhau, nên căn bệnh đã quen rồi. Bây giờ có loại thuốc mới, nên
họ muốn thay đổi chăng!
Tôi cũng trấn an Ngài rằng:
- Xin Ngài đừng lo. Mỗi tôn
giáo là một bông hoa đẹp, chúng tôi hiện diện ở đây chẳng khác nào làm cho
vườn hoa tâm linh của quê hương nước Đức nầy càng đẹp đẽ hơn lên thôi.
Đức Giám Mục mỉm cười.
Ba tờ báo lớn tại Hannover đều
tường thuật một cách đầy đủ và rất tỉ mỉ, tôi đã dịch ra từ tiếng Đức phía
dưới bài nầy, xin quý vị đón xem. Về hình ảnh cả 3 tờ báo, tờ nào cũng có
một số hình khác nhau.
Như tờ Hannoversche Allgemeine
Zeitung, phần trang đầu đăng hình màu, Đức Đạt Lai Lạt Ma đang choàng
chiếc khăn chúc phước màu trắng cho ông Thị trưởng Thành Phố Hannover, vào
trang ruột bên trong đăng 2 hình trắng đen. Hình thứ nhất là hình Đức Đạt
Lai Lạt Ma chắp tay chào mọi người khi đến Tòa Thị Chính. Hình thứ 2 đăng
3 em thiếu nữ Phật Tử Chùa Phật Bảo, trên tay đang nâng 3 đĩa đồ chay có 3
con rồng làm bằng củ cải trắng.
Tờ Bild Zeitung có số độc giả
bình dân tương đối nhiều tại Hannover, bên trong có đăng 4 hình màu. Hình
lớn nhất là hình Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi trên Ngai vàng do Sư Cô Diệu Ân
thiết kế rất hùng dũng. Hình thứ 2 nhỏ bên tay trái là hình ông Thị trưởng
Thành phố Hannover dắt tay Đức Đạt Lai Lạt Ma. Hình thứ 3 ở giữa chụp toàn
cảnh Chùa Viên Giác có hồ sen và Bảo Tháp 7 tầng cùng Chánh điện. Hình thứ
4 chụp Ngài đang vẫy tay chào mọi người, trong khi Ngài ở trong chiếc xe
Audi đời mới.
Riêng tờ Neue Presse có 4 hình
màu cũng rất độc đáo. Hình thứ nhất chụp toàn cảnh cung nghinh Ngài khi
mới vào cổng chính Chùa Viên Giác có mặt tất cả chư Tăng và lọng cung
nghinh Ngài. Hình thứ 2 bên trái chụp hình Ngài đang đỡ một người đàn bà
Thái Lan đảnh lễ dưới chân Ngài ở một công trường đi bộ gần Tòa Thị Chính.
Hình thứ 3 Ngài thăm hỏi trẻ em tạn Việt Nam khi mới vào cổng và hình thứ
4 chụp Ngài đang ký Sổ Vàng Lưu Niệm tại Tòa Thị Chính. Đứng bên cạnh Ngài
là ông Thị Trưởng và các chính trị gia của Tiểu Bang Niedersachsen.
Khi tôi lên xe ICE, là một loại
xe sang trọng nhất của nước Đức hiện nay. Loại xe nầy Nhật đã chế từ năm
1967. Tính ra Đức đi sau Nhật chừng vài chục năm về kỹ nghệ hóa. Chỉ có
điều là đồ Đức chắc và bền gấp 10 lần đồ Nhật; nên nhiều người cũng rất ưa
dùng đồ của Đức. Trên chiếc xe nầy, như một phòng khách di chuyện tự động,
nơi đó họ có thể ngủ, đọc sách hoặc chuyện vãn v.v
Tôi thì không, mỗi khi
lên xe nầy thường hay viết bài, đôi khi cũng đọc sách. Xe ICE lòng rộng,
các ghế ngồi tựa như ghế trong máy bay, nhưng rộng rãi hơn. Trong xe nầy
có thiết trí Tivi, điện thoại công cộng, cho biết xe chạy ở tốc độ bao
nhiêu và trước khi xuống xe, hành khách đều có thể biết được là cửa tự
động mở bên phải hoặc bên trái v.v
Thế giới văn minh quá mà con
người thì còn khổ đau nhiều quá. Biết nói sao đây? Tôi ngồi bên cạnh một
người đàn bà Đức. Người ấy đang đọc tờ Hannoversche Allgemeine Zeitung, dở
ngay trang trong tường thuật về Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau đó bà ta gợi
chuyện với tôi về chuyến đi nầy, tôi đã đưa bà thêm 2 tờ báo khác để bà
đọc. Sau khi bà đọc xong, bà ta nhìn tôi và nói rằng Hoheit (Bệ hạ) (ý chỉ
Đức Đạt Lai Lạt Ma) đến thành phố Hannover và đã mang đến cho mọi người cư
dân tại đây một hòa bình nội tâm miên viễn.
Tôi nghe một người Đức nói được
câu nói ấy, cảm nhận sâu tận đáy lòng, tôi có nói về Ngài cho bà ta nghe
và bà ta đã nghe một cách chăm chú.
Mỗi danh xưng cho mỗi người,
mỗi một địa vị nó khác nhau; nhưng bà dùng chữ Hoheit ở đây không sai mấy.
Vì Ngài cũng là bậc Quân Vương nữa mà. Nếu dùng tiếng Đức để chỉ cho Ngài,
họ nói là Seine Heiligkeit, tiếng Anh gọi là His Holiness. Có nghĩa là
Thánh Đế hoặc Thánh Vương. Nếu dùng chữ Hoheit chỉ có nghĩa là Bệ Hạ hay
Hoàng Thượng mà thôi. Vì thế khi nói với Ngài thường xưng 2 chữ His
Holiness trước. Nếu chỉ hỏi "How are you today?" là không ổn rồi. Cũng như
khi xưng với một vị Hòa Thượng, tiếng Đức phải nói là Hochehrwuerdige,
tiếng Anh gọi là The most Venerable, tiếng Pháp nói Le très Vénérable. Nếu
muốn dùng nói đến Thượng Tọa thì xưng Venerable bằng tiếng Anh. Tiếng Đức
nói Ehrwuerdige. Tiếp Pháp nói Vénérable. Tất cả những chữ nầy nó có nghĩa
là "Bậc đáng Tôn kính". Nếu chỉ dùng chữ Ladies and Gentlements trong một
buổi tiệc mà có mặt của các vị chức sắc Tôn Giáo quả là điều sai lầm rất
lớn.
Khi xuống xe lửa để đổi xe đi
phi trường Frankfurt bà ta xin địa chỉ của Chùa và nói rằng: Đây đúng là
một nhân duyên và hy vọng sẽ có một ngày nào đó tôi sẽ đến Chùa để thăm
Thầy.
Đạo Phật như thế đó. Đơn giản
lắm, đi vào lòng người một cách nhẹ nhàng, không bằng dao to, búa lớn.
Không bằng bạo lực, không bằng chiến tranh và thù hận, mà bằng tình thương
miên viễn đối với mọi người và mọi loài.
Tôi đã miên man suy nghĩ về một
con người. Con người đã thật là Người và chính Người ấy hôm nay ngày
19.6.95 đang điều trần trước Quốc hội Đức về vấn đề vi phạm nhân quyền của
Trung Cộng nơi quê hương của Ngài. Nơi đó giờ đây có 6 triệu người Tây
Tạng; nhưng có đến 7 triệu người Trung Cộng. Đúng là lấy số đông để đi áp
chế thiểu số. Để xem rồi đây sự thật sẽ trở lại bên nào? Chắc chắn một
điều nó không đến với người có quyền thế, mà sự thật bao giờ cũng sẽ trả
về cho lẽ phải của nó. Đó là chân lý từ ngàn xưa.
Bản án ở đây không nằm ở người
tu, mà bản án sẽ kế tội vào Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã vi phạm Tuyên ngôn
Quốc tế Nhân quyền. Ban đầu tôi nghĩ nếu để câu chuyện nầy vào Chương Một
của quyển sách nầy nó không phải lắm. Tuy nhiên sau khi viết gần hết
Chương nầy, tôi thấy nó hay hay và ý vị làm sao. Cũng một nhà tu nhưng là
một bực Thánh. Cũng là một nhà tu nhưng phải chịu ở tù. Cũng là một nhà tu
nhưng phải vương vòng tục lụy. Cũng một nhà, rất thoát tục; cũng là một
nhà tu; nhưng oan trái phũ phàng? Phải chăng tất cả đều do nghiệp lực của
mình và phước duyên của mình đã tạo? Tạo phước và tạo tội thì dễ tạo.
Nhưng tạo ra cho có cái Đức để đời noi theo không phải là chuyện giản đơn
thuần khiết.
Đến phi trường Frankfurt sau
khi cân hành lý xong, tôi đi mua 7 tờ báo khác tại đây để tìm thêm có tờ
nào đăng về việc Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Hannover không? Nơi đây tôi có hơn
một tiếng đồng hồ, nên tôi đã ngồi xem kỹ từng trang báo một.
Trong 7 tờ ấy có 3 tờ đăng tin
và không có tờ nào đi hình. Đó là tờ Die Welt "Thế Giới Thời Báo", có số
độc giả khá đông, có đi tin. Tờ Frankfurter Rundschau và tờ Frankfurte
Neue Presse. Cả 3 tờ đều nói về sự hiện diện của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại xứ
Đức, về Chùa Viên Giác và Trung Tâm Phật Giáo Tây Tạng tại Hannover.
Hơn 8 tiếng đồng hồ có được
trên máy bay, bay từ Frankfurt tới Toronto, rồi từ Toronto đến Montréal
tôi đã ngồi dịch hết phần tường thuật về Đức Đạt Lai Lạt Ma của 6 tờ báo
trên. Một phần vì tính cách thờ sự của nó. Phần khác, khi đến Montréal đọc
cho các Thầy và các Đạo Hữu nghe về công việc Phật sự mà tôi đã làm vào
ngày hôm qua.
Ngồi trên mây, bồng bềnh như
nơi tiên cảnh, đầu óc tôi cứ mơ màng về Ngày Hội Lớn hôm qua và mãi cho
đến ngày nay cũng như mai hậu, hình ảnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã in đậm
dấu nơi tâm khảm của tôi.
Hy vọng rằng với một ít tâm tư
chân thành này con xin dâng lên Ngài để hiểu rõ cho đàn hậu học, luôn luôn
hướng về chân lý và tình thương. Mong rằng Dân Tộc và quê hương của Ngài
sắp thoát ra khỏi vòng lao lý và quê hương, tình người cũng như Đạo Pháp
nơi xứ sở của con tình thương cũng sẽ được trải rộng, như sở của con tình
thương cũng sẽ được trãi rộng, như cánh tay của Ngài đã dang đón nhân loại
và người người thường yêu nhau và hiểu biết nhau hơn.
CHƯƠNG HAI
NHỮNG CHUYỆN HÀM OAN
Khi nói đến vấn đề gì có tínhh
cách ngang trái, bẽ bàng, khó khăn để diễn tả sự việc, oan ức cho người
trong cuộc, người ta thường đề cập đến câu chuyện "Nỗi Oan Thị Kính"
hay câu chuyện "Quan Âm Diệu Thiện", hoặc giả câu chuyện "Tình
Duyên Tái Thế" được phóng đại từ cốt truyện "Thoát Vòng Tục Lụy"
hay "Thiên Kim Tiểu Thư, Vạn Kim Hòa Thượng" để cho người đời biết
rằng, đi tu chưa hẳn đã là thành Phật. Đi tu chưa hẳn đã là dứt hết nợ
trần và đi tu cũng chưa hẳn đã là quên mình trong quá khứ để tìm đến một
tương lai yên tĩnh đẹp đẽ hơn.
Ở đây người viết sẽ lần lượt
đưa các độc giả lui về quá khứ, xem lại chuyện xưa, để hiểu cho chuyện nay
và thiết nghĩ nhắc lại chuyện xưa ở đây cũng chẳng phải là một việc thừa
thãi. Vì quá khứ bao giờ cũng là một chiếc cầu bắt nhịp với tương lai và
hiện tại.
Câu chuyện thứ nhất được kể lại
như sau:
Có một người con gái tên là Thị
Kính. Khi lấy chồng đã hết mực thờ chồng, nhân một hôm người chồng đang
ngủ, Thị Kính thấy chồng mình là Thiện Sĩ có cái râu mọc dưới cằm trông
khó coi; vì thế nên mới lấy kéo định hớt cái râu kia. Nào ngờ đâu bà già
chồng độc ác nghi quấy cho nàng dâu rằng: Thị Kính có ý giết chồng. Nỗi
oan nầy biết tỏ cùng ai, có biện minh thế nào đi chăng nữa thì mẹ chồng
mình cũng chẳng hiểu được chút nào! Không biết đây có phải là nỗi oan ức
giửa mẹ chồng nàng dâu chăng? Người mẹ vì thương con trai mình mà nghi oan
giá họa cho con dâu? Và người vợ vì thương chồng mà không dám nói lên sự
thật mà mình đã làm như thế, như thế đó. Cũng là tình thương, nhưng hai
thứ tình thương nầy lại không gặp được nhau? Tại sao lại ít kỷ quá như
vậy?
Câu chuyện không dừng ở đây. Để
cho nỏi oan ức của mình được vơi đi, nàng quyết chí vào chùa xuất gia tầm
đạo, để quên đi nổi niềm cay đắng của trần gian. Nhưng quan niệm ngày xưa
cũng cay đắng đủ điều, vì trọng nam khinh nữ, nên nàng không chọn bên chùa
ni đi tu, mà chọn qua chùa nam để cải trang thành nam nhi mà tu cho dễ.
Ở đây một trong hai lý do nêu
trên không biết có đúng được phần nào không? Chỉ có người đương thời mới
hiểu được. Nếu ngày ấy Thị Kính vào chùa nữ để xuất gia học đạo, tu hạnh
giải thoát thì đâu có cái oan thứ 3 là Thị Mầu trêu ghẹo.
Cái oan thứ hai của người con
gái thuở bấy giờ là bị chèn ép nhiều quá, nên nàng đã không chọn giải pháp
quyên sinh mà là đi tu để cho nhân tâm thế đạo có thay đổi được chăng?
Khi đã cải nam nhi để đi tu có
được pháp danh là Kỉnh Tâm, vẩn bị một người đàn bà trắc nết tên là Thị
Mầu, đã tư tình với ai đó, bụng mang dạ chửa, không biết đổ tội cho ai,
nên mới lên chùa tìm cách lân la với chú tiểu Kỉnh Tâm và đổ thừa cái bào
thai kia là tác phẩm của chú tiểu trong bao ngày chăng gió. Làm như là
người tu ai cũng dễ đổ thừa được như thế. Đây là nổi oan thứ 3 của nàng
Thị Kính.Ai biện bạch được cho mình đây? Không lẽ bây giờ tự dưng mình
khai là nữ nhân mạo nhận nam nhân để vào chùa xuất gia học đạo? Nói như
vậy chẳng khác nào thú tội với người ta là: "lạy ông tôi ở bụi nầy". Chi
bằng lặng yên để nhận tội với dâng làng và Sư Cụ rằng cái bào thai ấy
chính do mình gây nên. Vì thế dây chuông oan nghiệt mới kết thúc cuộc đời
của một người trai không thành trai mà gái cũng chẳng thành gái.
Điều nầũng dở mà hay. Cũng
hay mà dở. Dở ở điểm nhút nhát không dám nói lên sự thật; nhưng hay ở điểm
thực hiện được điều trong Luận Bảo Vương Tam Muội đã dạy là: Oan
trái không cần biện bạch. Vì còn biện bạch là nhân ngã chưa xả. Đúng
là hạnh của Bồ Tát Quan Thế Âm. Chỉ có Bồ Tát mới chịu đựng được như thế.
Chịu đựng cho đến cuối cùng rồi sự thật sẽ trả về cho sự thật, nam nữ, đen
trắng, thật giả
đời sẽ luận công tội khi nhân chứng không còn hiện hữu
trên cuộc thế nầy nữa.
Tuy rằng hay như vậy, nhưng dở
ở chổ là yếu đuối quá, nhiều khi đến nhu nhược không nói lên được tất cả
những sự thực cho thế nhân biết rõ về mình đương thực hành hạnh Bồ Tát để
độ sanh.
Còn câu chuyện thứ hai là câu
chuyện của một nàng Công chúa. Vì muốn đi tu, đã làm cho mẹ mình thương
nhớ quá phải bị mù lòa. Phụ vương giận dữ, nên bắt nàng làm đủ điều như
nhặt thóc, gánh nước, bửa củi v.v
mục đích không phải để đày đọa Công
chúa nhưng vì muốn rằng, sức chịu đựng không nổi, nàng phải hồi gia. Nhưng
tâm Công chúa đã quyết nên đã ở lại chùa luôn. Phụ vương quá bực tức cho
nên mới cho quân lính đến đốt chùa. Vì tội đốt chùa nên phụ vương bị bệnh
phong đơn. Trong khi đó Công chúa được siêu sinh về cõi Tịnh Độ. Đức Phật
A Di Đà vì muốn cứu khổ chúng sanh, nên mới sai Công chúa Diệu Thiện trở
lại trần gian để độ cho cha mẹ mình sớm quy y Tam Bảo và trở về con đường
chân thiện mỹ.
Nhờ giọt nước cành dương và nhờ
hối tâm của phụ hoàng và mẫu hậu, nên mắt của mẹ đã sáng, và bệnh phong
của cha cũng đã hồi phục. Câu chuyện đến đó là chấm dứt, nói lên nỗi vui
mừng của vua và hoàng hậu khi đã hối tâm; nhưng cũng đã diễn tả được sức
chịu đựng kiên nhẫn dẻo dai của một nàng Công chúa và Tăng chúng trong
chùa. Dầu cho chùa có bị đốt nhưng quyết không thối bồ đề tâm. Điều ấy đã
làm cho vua cha bực tức. Kết quả như trên đã rõ. Đây cũng là một hạnh từ
bi lợi tha của Bồ Tát Quán Thế Âm muốn độ cho cha mẹ của mình trở về con
đường lương thiện.
Câu chuyện thứ ba hơi rắc rối
một chút; nhưng chỉ xin tóm lược cốt chuyện mà thôi. Nguyên trước đây 700
năm có một người học trò nghèo, thi không đậu; nhưng chữ rất tốt và hay
vào chùa làm công quả, gióng chuông niệm Phật và đặc biệt là hay tụng kinh
Dược Sư để cầu nguyện cho kiếp sau được đẹp đẽ hơn.
Trong làng ấy có một nàng tiểu
thơ cũng hay đi chùa và mê thơ họa. Một hôm thấy bản Tâm Kinh chép tay đẹp
quá nên mới muốn gặp người ấy để giải bày tâm sự. Sư Cụ biết là cả hai
không nên gặp; nhưng có lẽ vì tiền duyên nghiệp báo nên hai người đã phải
gặp nhau để cuối cùng rồi thề với nhau rằng kiếp sau phải đẹp trai hơn và
người khác thì mong rằng kiếp sau sẽ giàu có hơn.
Đến kiếp nầy chàng tuổi trẻ đã
xuất gia học đạo. Nàng đầu thai vào ngôi nhà trưởng giả giàu có trong
làng. Một hôm nàng đi chùa đã gặp vị Hòa Thượng Hương Đăng có pháp danh là
Ngọc Lâm, có đôi mắt tuyệt trần, sao mà giống đôi mắt người xưa của 700
năm về trước quá? Nàng về nhà, với Thiên Kim Tiểu Thư, với cành vàng lá
ngọc; nhưng đã mê mẫn tinh thần một Hòa Thượng có biệt danh là Vạn Kim Hòa
Thượng.
Mối tình ngang trái ấy, một
tăng một tục, đã không được cha mẹ nhà gái đồng ý. Vì làm như thế lỗi đạo
và không hợp với nề nếp gia phong của gia đình giàu có; nhưng cuối cùng vì
thương con nên phải cưới rể cho nàng.
Đêm tân hôn là một đêm quá hấp
dẫn và lôi cuốn mọi người vào câu chuyện tình có một không hai trong cuộc
thế nầy. Nhiều người đã vẽ vời suy nghĩ, không biết một gã Hòa Thượng sẽ
cư xử với một Tiểu thư như thế nào trong đêm động phòng hoa chúc? Người
khác thì thêu dệt gấm hoa, thêm mắm dậm muối cho câu chuyện được đượm
nồng.
Cuối cùng thì hương đã tàn và
tình đã nguội, nên chàng đã về lại chùa với bao nhiêu lời dị nghị đắng cay
của Tăng chúng nơi bổn tự. Ngày lại tháng qua thì người con gái ấy đã thấm
thía cho chuyện tình, nên muốn xuất gia đầu Phật. Còn chàng thì đã thành
Quốc sư khi đã cứu được vua nhân một lúc chìm thuyền. Bây giờ chàng là tột
đỉnh của triều đình. Nàng là người yêu của 700 năm trước đã trở về với
Đạo. Nhưng không biết có phải đây là diệu kế để dễ cận kề chàng và đưa vị
Quốc sư nầy về lại lời thề xưa hay đó chỉ là một hình ảnh giấu che một tâm
sự não nề nào?
Tác giả cốt truyện trên đây là
Hòa Thượng Thích Tinh Vân, người rất có uy tín với Phật Giáo Đài Loan ngày
nay. Ngài đã xây chùa Phật Quang Sơn tại Đài Loan như là một thế giới cực
lạc nho nhỏ. Ngài cũng đã xây ở Mỹ một chùa lấy tên là "Tây Lai Tự" gần 30
triệu Mỹ kim và ngày nay khắp nơi trên thế giới nơi nào cũng có chùa của
Ngài xây dựng. Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã dịch sách của Ngài trên đây
lấy tên là "Thoát Vòng Tục Lụy", mới đây Việt Nam đã dựng thành
phim. Còn ở Đài Loan dựng một cuốn phim dài 35 tiếng đồng hồ có tựa đề là
"Tình Duyên Tái Thế". Xem cũng lâm ly bi đát lắm; nhưng kết cuộc
của câu chuyện không giống như trong sách của Ngài đã viết là nàng Tiểu
Thư kia đã đi tu và có pháp danh là Giác Chúng. Ở đây, phim nầy, các nghệ
sĩ cứ cho Tiểu Thư đi theo Quốc sư Ngọc Lâm dài dài cho đến kết cuộc câu
chuyện: nhưng rồi cũng chẳng biết là nàng đã làm sao về sau nầy.
Dĩ nhiên đã là tiểu thuyết,
trong đó phải có nhiều giả sử; nhưng nếu Tác giả trong cốt chuyện phải là
một ông quan tòa công bình nhất thì mới mong vụ xử kiện thành công một
cách vẹn toàn, ai cũng chẳng thiệt hại nhiều hơn, mà cán cân công lý bao
giờ cũng phải công bình và chính trực thì mới nói lên được hết ý nghĩa của
một phiên tòa.
Đó là những câu chuyện của
người Trung Quốc dựng lên, còn chuyện của Việt Nam thì như thế nào? Đa số
chúng ta, ai cũng biết là tiểu thuyết Việt Nam mình nghèo nàn lắm. Nói vậy
có nhiều người sẽ phê bình ngay là không đúng sự thật. Nhưng phải thú thật
là tất cả các bộ tiểu thuyết Việt Nam mình chưa có một bộ nào đồ sộ như
một trong các bộ tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung cả. Việt Nam mình tự
hào thì nhiều nhưng tự tu, tự học và tự sửa đổi thì hiếm hoi lắm. Đó là
chuyện đáng buồn hay đáng vui?
Ở đây xin đơn cử một vài chuyện
oan của Việt Nam như sau. Trong đó có chuyện tình "Lan và Điệp" và
chuyện "Hồn Bướm Mơ Tiên".
Chuyện tình Lan và Điệp nó nhạt
nhẽo vô ý vị quá. Chuyện kể một người con gái vì yêu không được một người
con trai nên mới vào chùa xin xuống tóc xuất gia. Ngày lại tháng qua nàng
đã tạm quên đi tình trường nóng bỏng. Nhưng chàng Điệp kia cũng không dằn
lòng mình được nên đã tìm đến chùa Sư nữ kia để tìm nàng. Trong khi ấy
Điệp thấy Lan đang chôn xác bướm xuống mồ nhằm quên đi một mối tình xa xưa
cũ. Điệp buồn rầu quá muốn nối lại tình xưa; nhưng nàng đã cự tuyệt. Có
bản kịch thì tác giả cho hai người gặp lại nhau như Kim Kiều tái hợp sau
15 năm xa vắng nhưng cũng có bản cải lương thì cho hai người cắt dứt dây
chuông rồi chôn vùi cuộc tình của mình về nơi quên lãng.
Chuyện chỉ có thế thôi. Thấy nó
vô vị quá mà không biết bao nhiêu đào kép nổi tiếng của Việt Nam đã đóng
tuồng nầy. Nếu người đi tu chỉ vì vấn đề tình phụ thì đâu có gì để xứng
đáng mà tuyên dương giáo pháp Phật Đà? Nếu tình đã mất thì đi tìm tình
khác chứ cần gì phải vào chùa để làm náo động cảnh thiền môn? Nếu ai đi tu
cũng vì chuyện tình như thế cả, hóa ra thiền môn chỉ toàn là những trái
tim sắp rụng vì tình à? Xin những nghệ sĩ và văn sĩ Việt Nam hãy điều
chỉnh lại dùm cách suy nghĩ và viết lách của mình cho có thêm chất lượng
một chút.
Một chuyện khác của Khái Hưng
nằm trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn là nhóm mà đa số thanh niên nam nữ thời
thập niện 30 đến 60 đều ưa thích. Ưa thích có nhiều lý do dựa vào tính
cách thời đại của nó. Việc trọng nam khinh nữ. Việc nam nữ bình quyền.
Việc cách mạng, việc hủ tục và tập tục v.v
và v.v
Đây là tác phẩm đầu
tay của Khái Hưng cũng liên quan đến chùa chiền; nhưng cũng không nói lên
hết được tính cao thượng của Đạo Phật.
Truyện kể có một sinh viên tên
Ngọc, nhân lúc nghỉ hè lên chùa thăm Sư Bác của mình. Tình cờ gặp chú tiểu
Lan, một cô gái giả trai đi tu (tại sao phải giả trai như vậy? Đâu thiếu
gì chùa nữ lúc bấy giờ?).
Cả một cuốn sách mấy chục trang
chỉ nói lên được một ít tính văn chương, còn hoàn toàn ý nghĩa của cốt
truyện thì chẳng có gì để đáng lưu tâm cả. Khi còn nhỏ, ai học về văn
chương cũng khen là nhóm Tự Lực Văn Đoàn hay; nhưng xét ra từng phần một,
nhất là phần đạo giáo, chưa có tác phẩm nào có giá trị cả. Riêng tôi, một
nhà tu đã ở chùa 31 năm ăn cơm của đàn na tính thí mòn răng, mặc áo, đắp y
thay đi thay lại không biết mấy trăm thước vải rồi, không biết sẽ giúp
được gì cho Phật Giáo đây? Do đó tôi cố gắng sẽ viết một câu chuyện với
nội dung như đầu đề đã chọn.
Tôi không phải là một nhà văn.
Vì không tốt nghiệp khóa văn chương nào cả; nhưng tôi thích gởi gắm tâm sự
của mình vào câu chuyện của các nhân vật, nên những khó khăn cạm bẫy của
cuộc đời. Hoặc giả từ đó sẽ rút ra một bài học cho chính mình để sử thế.
Thông thường trước khi viết
chuyện người viết phải có một dàn bài chung, và đây chính là nội dung của
câu chuyên.
Nam sinh ra trong một gia đình
giàu có ở đồng bằng sông Cửu Long, ruộng cò bay thẳng cánh, với vị trí
thiên nhiên đó, với tư cách là đứa con một trong gia đình đó, chàng đương
nhiên sẽ kế nghiệp cha mẹ để chăm sóc ruộng nương, trở thành một ông chủ
miệt vườn nho nhỏ; nhưng một hôm đi thăm vườn về. Nam gặp một vị Du Tăng
Khất Sĩ đang đi khất thực, thấy hình ảnh ấy khoan thai, dịu dàng quá, nên
nam đã xin cha mẹ đi xuất gia, nhưng vì là con một trong gia đình nên ông
bà đã không đồng ý. Cuối cùng rồi Nam cũng trốn ra tận miền Trung để thế
phác xuất gia.
Khi tu học tại một chốn già lam
nọ, Nam bây giờ có pháp danh là Pháp Tánh đã khám phá ra nhiều điều hay và
cũng lắm điều dở trong chốn thiền môn. Đã có lần Pháp Tánh muốn trở lại
gia đình để trở thành một chủ điền của miền quê sông Cửu, có tiền của dồi
dào hơn là sống chen chúc trong chốn chùa chiền nghèo nàn, ngày hai bữa
chỉ đón nhận được sự cúng dường của Đàn Na Tín Thí hoặc chỉ dùng được
những món ăn khi đi khất thực nhận được mà thôi.
Một hôm trên đường đi khất thực
về, có một thiếu nữ tên Duyên thấy chàng Pháp Tánh sao đẹp trai quá mà đi
tu để làm gì? Theo nàng nghĩ thế, nên nàng quyết chí tìm đến chùa để dự
lễ, nghe kinh và tìm hiểu làm quen với chú tiểu Pháp Tánh ấy.
Thế rồi hai người quen nhau;
nhưng chú Pháp Tánh vẫn không có ý bỏ đạo. Vì chính lúc nầy, chú lại không
muốn ra đời. Đùng một cái miền nam Việt Nam mất, chú sống bao nhiêu năm
với chủ nghĩa cộng sản thấy không thích hợp, nên tìm cách ra nứơc ngoài để
tu niệm. Khi đến một đất nước bình yên ở Âu Châu, Thầy Tịnh Thường (là
pháh tự của Sư) thấy không thích hợp, nên tìm cách đi đến một nơi tại Mỹ
Châu. Nơi đây Thầy Tịnh thường đã trở lại hàng ngũ Tăng Già của mình và
cũng chính vì vấn đề vàng, bạc, kim cương hột xoàn v.v
nó đã mang nhà Sư
với pháp tự Tịnh Thường đi vào con đường tù tội cả 6,7 năm trời. Và sau
đây là vụ án.
CHƯƠNG BA
HOA ĐỔNG CỎ NỘI
Ông bà mình thường hay nói:
"Sống cái nhà, già cái mồ" thật chẳng sai chút nào! Tại sao ba má Nam khi
còn trẻ, ông bà hay đắm mình vào cuộc sống, còn bây giờ mới tuổi lục tuần
đã lo ăn trung thọ và hay nói về sự chết chóc và chọn nghĩa trang làm mồ
mả để làm chi cà?
Còn Nam, tuổi mình còn nhỏ, hay
thích rong chơi, đánh đu, đá bóng và nhất là thú bắt cá lòng tong, thia
thia, không làm sao Nam có thể nghĩ xa hơn được những gì mà cha mẹ Nam đã
nghĩ. Một hôm mẹ Nam quở rằng:
Đã lớn tồng ngồng như thế mà
còn chơi những trò chơi ấy làm gì? Con thấy có được không?
Thưa mẹ. Chứ ở miền quê nầy,
ngoài cây cỏ, hoa lá, cá thia thia ra, đâu có gì nữa để chơi đâu mẹ.
Nam trả lời từng tiếng một, có
ý cho mẹ nghe rõ và mẹ của Nam cũng sực nhớ lại tuổi của mình cách đây mấy
mươi năm về trước cũng chỉ thế thôi. Và đến khi đi lấy chồng sinh ra Nam
là con một, ở đây quanh quẩn rồi cũng ruộng và vườn, vườn và ruộng, đâu có
gì để phải trách con nặng lời như vậy. Chẳng qua là nói cũng chỉ để nói
cho có chuyện mà thôi.
Một hôm sau khi đi thăm ruộng
về, Nam khoe đủ mọi chuyện với mẹ, trong ấy có một chuyện, mà theo Nam nó
hấp dẫn đứa thiếu niên như chàng rất nhiều.
Thưa mẹ! Hôm nay trên đường về
nhà, con có gặp một vị Sư Khất Sĩ. Con trông thấy ông ta hiền lành quá và
con đã cho ông mấy đồng, nhưng ông ta không lấy.
- Ừ, bậy nè con. Nhà Sư không
bao giờ lấy tiền, tại sao con làm thế?
- Con đâu biết; nhưng nếu không
có tiền thì nhà Sư sống bằng gì hở mẹ?
- Ông ta sống bằng của tín thí
đó mà! hoặc giả khi đi khất thực, như hôm nay con thấy đó, người ta sẽ
cúng dương cho ông và ông ta sẽ dùng của dâng cúng đó để độ nhật qua ngày.
- Mà mẹ ơi! Khất thực là gì?
Tín Thí là gì? và cúng dường là gì vậy? Con đâu hiểu hết những danh từ
nầy, mong mẹ dạy cho con nghe đi.
Đoạn bà ôn tồn bảo con hãy ngồi
xuống và nói:
- Theo mẹ nghĩ, con sinh ra
trong gia đình mình vốn mấy đời theo Phật, đã làm phước rất nhiều, nhưng
ít hiểu biết về Phật Giáo quá. Gần đây quý Thầy có giảng dạy giáo lý ở
chùa, mẹ có đi nghe, nên chỉ lại cho con đây.
- Khất thực có nghĩa là đi xin
ăn. Mà những người tu ấy đi xin không phải như những người đi xinh bình
thường đâu. Họ đi có hàng ngũ và chỉ vào những buổi sáng thôi, không có
nhà Sư nào đi khất thực vào buổi chiều đâu. Nếu có, đó chỉ là sư giả hiệu
vậy. Vì Phật chỉ dùng ngọ, và các nhà Sư ấy cũng thế.
- Thưa mẹ, tại sao họ không tự
đi làm để nuôi thân được mà phải đi xin vậy?
- AṠvậy! Con nói thế tội chết !
Đâu phải vì nhà họ nghèo mà đi tu đâu! Đâu phải vì họ không làm lụng được
mà đi xin đâu. Họ thực hành cái hạnh nhẫn nhục và phá chấp đó. Nhẫn nhục
có nghĩa là khi đi xin, gặp người mắng, người nhiếc cũng phải an nhiên tự
tại. Còn phá chấp có nghĩa là hạ mình xuống để thấy mình không còn là gì
cả. Khó thực hiện lắm con ơi!
Còn tính đồ, tín thí gì mà mẹ
mới nói đó, là gì hở mẹ? Con hãy bình tâm nghe mẹ nói đây:
- Đệ tử của Phật có hai hạng là
người xuất gia và kẻ tại gia. Người xuất gia sống không có gia đình, luôn
cư ngụ tại chùa. Còn người tại gia ở tại nhà như gia đình mình vật thực
dâng cúng vào chùa thì gọi những người nầy là tín thí. Còn tín đồ là người
theo tôn giáo đó vậy.
Người xuất gia vì muốn hoá độ
chúng sanh và thoát ly sanh tử luân hồi; nên phải tự tu, gia tâm nội lực,
dành hết mọi thì giờ cho việc thiền định để mong cầu giải thoát, nên người
tại gia như chúng ta đây phải có bổn phận hộ trì những vị ấy, để những vị
ấy có đầy đủ thì giờ để tu hành.
- Còn cúng dường là gì hở mẹ?
- Thật sự ra phải nói cho đầy
đủ là Cúng Dường Tam Bảo. Có nghĩaa là cúng dường 3 ngôi báu là Phật, Pháp
và Tăng. Đây chính là những điều mà trong thế gian khó có được; nên chúng
ta là Phật Tử cần phải hộ trì.
- Nhưng thưa mẹ! Tại sao nhà Sư
lại không nhận tiền?
- Ở xứ ta như con biết đó, có
nhiều tông phái Phật Giáo lắm. Có tông phái nhận tiền để sửa sang chùa
viện, làm việc bố thí phát chẩn cho dân nghèo, nên gọi là Đại Thừa Phật
Giáo. Có phái cũng đi khất thực; nhưng ăn mặn không ăn chay. Và vị Sư mà
con thấy đó thuộc về Giáo hội Phật Giáo Khất Sĩ, họ cũng đi xin, nhưng
không ăn mặn và không lấy tiền. Phật dạy rằng; Người tu không được kinh
doanh, buôn bán, chỉ trừ ra việc làm lợi cho Tam Bảo thì được; vì ấy không
lấy là phải. Vì Chùa, Tịnh xá đã có Phật Tử xây cho rồi. Còn miền quê
mình, đi đâu quý Sư đi nhờ xe cộ, đâu phải trả tiền mà nhận tiền làm gì hả
con?
Mấy lời giải thích của mẹ làm
cho Nam hiểu biết thêm nhiều về Đạo Phật ở xứ mình và việc làm của các vị
Sư. Kể từ ngày hôm đó trở đi, Nam rất siêng cúng dường mỗi khi quý Sư đi
ngang nhà khất thực.
Một hôm Nam đón đường một vị Sư
để hỏi: