Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Truyện Tích Phật Giáo


...... ... .

 

 

Thả một bè lau

Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán

Nhất Hạnh

----o0o---

TAN SƯƠNG ĐẦU NGÕ 

HOA ĐÀO NĂM NGOÁI

 

Chúng ta hãy đi trở lại mười lăm năm trước:

 

Nỗi nàng tai nạn đã đầy,

Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.

Từ ngày muôn dặm phù tang,

Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

 

Mười lăm năm là một đường hầm dài rất tối. Chúng ta đã từng thử làm người bạn đồng hành của Thúy Kiều, đi ngang qua con đường hầm tối mười năm đó. Kiều đã tìm thấy ánh sáng. Bây giờ anh chàng mới bắt đầu. Tội nghiệp!

 

Kim Trọng đi hộ tang cho ông chú ở Liêu Dương, sáu tháng trở về:

 

Vội sang vườn Thúy dò la,

Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa.

Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,

Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rờ.

Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

 

Cứ tưởng tượng về thì cảnh sẽ như xưa mà người cũng như xưa. Nhưng mọi sự đã hoàn toàn đổi khác. Trong tâm mình chứa chất một hình ảnh. Mình nghĩ rằng hình ảnh đó sẽ mãi còn như vậy. Nhưng sự thật của cuộc đời là vô thường. Chỉ cần mấy ngày thôi mà tình trạng đã hoàn toàn đảo ngược. Sau tai nạn, gia đình Thúy Kiều phải bán nhà. Từ một gia đình giàu có, họ phải đi may thê, viết mướn, làm công cho người ta và cư trú trong một túp nhà rất lụp xụp. Kim Trọng trở về thấy ngôi nhà cũ hoàn toàn cô liêu. ‘Đầy vườn cỏ mọc lau thưa, Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời.’ Hình ảnh trong lòng chàng trai đem so với hình ảnh hiện tại thì hoàn toàn khác nhau. Sự ngạc nhiên của Kim Trọng bắt đầu từ sự so sánh hai hình ảnh đó.

 

Trước sau nào thấy bóng người’ nhưng: ‘Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.’ Cây hoa đào năm ngoái chỗ hai người trao cành kim thoa vẫn nở hoa rực rỡ, cười với gió mùa xuân (gió đông). Câu này lấy tứ từ bài thơ của thi sĩ Thôi Hộ đời Đường:

 

Tích niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiểu đông phong.

 

(Năm xưa, cũng ngày này, tại cổng nhà này, (nàng đứng dưới cây hoa đào) gương mặt phản chiếu màu hồng của hoa đào, người ấy không biết bây giờ đã đi đâu rồi, trong khi hoa đào vẫn cười với gió mùa xuân y hệt như năm ngoái.)

 

Cây hoa đào năm ngoái đã che chở cho Thúy Kiều. Bây giờ không còn Thúy Kiều nữa nhưng đến mùa, hoa đào vẫn nở, vẫn đẹp, vẫn tự do, hạnh phúc. Con người không có hạnh phúc và tự do vì con người có sự mê đắm. ‘Đào hoa y cựu tiếu đông phong’: hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Chỉ có chàng Kim là méo miệng, không cười được. Nhiều khi người ta ước ao làm một cây đào hay một cây thông cho khỏe. Trong con người mình có những tình tự tham đắm, khổ đau, lo lắng và mình thấy hạnh phúc của mình không bằng hạnh phúc của một cây đào hay một cây thông. Nguyễn Công Trứ ngày xưa cũng đã có tâm tình đó cho nên một hôm thi sĩ nói: ‘Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.’ Khi có những hồi hộp, khổ đau, lo lắng thì nhìn một cây thông ta cũng thấy nó hạnh phúc, vững mạnh hơn ta quá nhiều. Thiền ôm cây (tree hugging meditation) rất lợi ích. Mỗi khi ở trong tình trạng như vậy ta có thể tới ôm cây để tiếp nhận được sự vững chãi và tươi mát của cây. Trúc Lâm Đại Sĩ, tức vua Trần Nhân Tông khi đã đi tu, một lần trả lời câu hỏi của một thiền sinh về chuyện tu học, đã nói:

 

Vườn nhà vắng mặt người chăm sóc

Lý trắng đào hồng tự nở hoa.

 

Khỏi phải lao tác mệt nhọc, khỏi phải tranh đấu. Trong con người mình có sẵn giác tánh, cho giác tánh đó có cơ hội thì tự nhiên nó sẽ nở hoa. ‘Vườn nhà vắng mặt người chăm sóc, Lý trắng đào hồng tự nở hoa.’ Ở đây ta thấy hình ảnh một cây đào. Ngày xưa bên Tàu có một thiền sư tên Linh Vân đi chơi tháy hoa đào nở thì giác ngộ. Khỏi tu gì hết! Nhưng chắc chắn trước đó ông cũng đã đi thiền hành, đã tập hơi thở rồi cho nên đến lúc thấy hoa đào ông mới giác ngộ chứ! Có biết bao nhiêu người thấy hoa đào nhưng có giác ngộ gì đâu! Nhất là anh chàng Kim Trọng. Thấy hoa đào, càng thấy càng rầu, không giác gì cả! Trước mặt chúng ta là hai hình ảnh trái ngược. Một là hình ảnh cây đào rất giải thoát. Có nàng Kiều hay không có nàng Kiều đứng một bên thì cây cũng tỉnh bơ, vân cười với gió mùa xuân. Một anh chàng khác, không tên ‘đào’ mà tên Kim, không thể tiếp xúc được với hoa đào; bởi vì thiếu một người thì cây hoa đào không có nghĩa gì nữa. Trên đời không còn gì có nghĩa nữa nếu nàng (hay chàng) không có mặt. Un seul être vous manque et tout est dépeuplé.’: chỉ thiếu một người thôi là cả thế gian này trở nên trống rỗng, lạnh tanh. Đó là một câu thơ của Lamartine. Do tâm mình ra hết. Khi mình đã vướng vào một cái và cho đó là thế giới của mình rồi thì mình bỏ hết tất cả những gì còn lại trong thế giới kia. Nếu nàng không có mặt đó thì không có cái gì có mặt đó hết. Gió càng không mát, trăng cũng không trong, đào cũng không hồng, không có cái gì ra cái gì hết. đó là một sự bất công rất lớn. Có phải vậy không? Tại sao vũ trụ, thiên nhiên, sự sống mầu nhiệm như vậy mà mình cho là zero hết khi mình chỉ thiếu có một cái thôi? Mà cái đó chưa chắc mình đã thật sự thiếu. Có thể nó có đó mà mình không thấy. Những người đã từng đau khổ vì mất mát một người thân (cha, mẹ, con, cháu, người yêu, hay thầy, trò của mình) có thể hiểu được tâm trạng của Kim Trọng lúc này. Trong những lúc thiếu thốn như vậy, tốt hơn là trở về với thiên nhiên. Tiếp xúc với thiên nhiên ta sẽ được an ủi rất nhiều và sẽ có thể thấy trở lại, tiếp xúc trở lại với người ta đã mất. Có một lần tôi đi thiền hành ở Xóm Thượng với một người cha trẻ mất con. Tôi chỉ cho người đó tiếp xúc với những bông hoa, đọt lá, giúp người cha đó tìm lại và tiếp xúc với đứa con vừa mới mất. Nếu mình mất cha, mẹ, người yêu hay con cái mình cũng phải làm như vậy. Phải trở về với thiên nhiên. Thiên nhiên có thể an ủi được mình, chỉ cho mình cách tiếp xúc lại được với người mình thương. Cũng thi sĩ Lamartine nói: Mais la nature elle là qui t’invite qui t’aime. Plonge-toi dans son sein qu’elle t’ouvre toujours. Et tandis que tout change pour toi, la nature est la même. Et la même soleil se lève sur tes jours. (Nhưng này bạn, dù bạn có khổ đau thì thiên nhiên vẫn còn đó. Thiên nhiên vẫn yêu bạn. Bạn nên lặn hụp vào trong lòng của thiên nhiên vì thiên nhiên đang mở hai cánh tay để đón bạn. Trong khi đối với bạn tất cả đều thay đổi, thì thiên nhiên vãn là thiên nhiên cũ. Không phản bội bạn, sẵn sàng mở hai cánh tay đón nhận bạn. Mặt trời hôm nay, mọc lên, chiếu xuống cuộc đời bạn vẫn là mặt trời cũ. Bạn đừng quên.) Đó là lời khuyên của thi sĩ. Bạn đừng nói rằng ‘Un seul être vous manque et tout est dépeuplé’: Chỉ thiếu một người là không còn gì nữa hết! Nói như vậy là bất công. Trở về, tiếp xúc với thiên nhiên là con đường thoát cho những người đột nhiên mất một người thân. Cây đào đang nở hoa là một sứ giả của Bụt, của chân như mầu nhiệm. Cây đào nói: ‘Bạn ơi, đừng đau khổ nữa! Có tôi đây!’ Nhưng Kim Trọng đâu đã nghe được, đâu đã tiếp xúc được. Sự đam mê đã lớn quá rồi, trong lòng chỉ còn có một hình ảnh. Không có cái phản chiếu hình ảnh đó thì coi như cuộc đời không còn gì nữa cả. “Nếu đời không có em thì đời không có giá trị gì hết!’ Đó là lời tuyên bố của những người đang kẹt vào sự đam mê.

 

Xập xèo én liệng lầu không.

Có lan mặt đất rêu phong dấu giày.

Cuối tường gai góc mọc đầy,

Đi về này những lối này năm xưa.

 

Tất cả những hình ảnh của quá khứ hiện ra. Khi đã bị hình ảnh của quá khứ trấn ngự trong tâm rồi, đem ra so với hình ảnh hiện tại thì thấy bây giờ mình đã mất hết. Trong khi đó thế giới vẫn còn là thế giới. Người ta tự tử là vì tưởng rằng mình đã mất hết rồi. Kỳ thực người ta không mất gì cả. ‘Chúng ta đã được gì hôm qua và sẽ mất gì sáng nay’ là một câu thơ tôi viết tron bài Hoa Mặt Trời.

 

 

 

QUÁ THƯƠNG CHÚT NGHĨA ĐÈO BỒNG

 

Chung quanh lặng ngắt như tờ

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

Láng giềng có kẻ sang chơi,

Lân la sẻ hỏi một hai sự tình.

Hỏi ông ông mắc tụng đình,

Hỏi nàng nàng đã bán mình chuộc cha.

Hỏi nhà nhà đã dời xa,

Hỏi chàng Vương với cùng là Thúy Vân

Đều là sa sút khó khăn,

May thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi,

Điều đâu sét đánh lưng trời,

Thoát nghe chàng đã rụng rời xiết bao.

Hỏi han di trú nơi nao193

Đánh đường chàng mới tìm vào tận nơi.

 

Phải hỏi thăm mấy ngày trời mới tìm được tới chỗ gia đình viên ngoại. Tới nơi thì thấy gì:

 

Nhà tranh vach đất tả tơi

Lau treo rèm nát trúc gài phên thưa.

Một sân đất cỏ dầm mưa,

Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẫn đường.

Đánh liều lên tiếng ngoài tường,

Chàng Vưong nghe tiếng vội vàng chạy ra.

 

‘Vương Quan ơi! Vương Quan!’ Vương Quan là bạn học Kim Trọng, gọi Vương Quan chứ còn gọi ai được nữa! Kim đâu có quen với hai ông bà viên ngoại mà cũng đâu có quen với cô em gái của Kiều.

 

Dắt tay vội rước vào nhà,

Mái sau viên ngoại ông bà ra ngay.

 

Trong nhà này bây giờ ai cũng đã biết tất cả những bí mật giữa Kim và Kiều rồi. Thấy Kim, Vương Quan kéo ngay chàng vào trong nhà. Hai ông bà nghe nói có chàng Kim tới cũng ra hết. Vì thương lắm. Thương con bao nhiêu thì thương chàng bấy nhiêu. Bây giờ đã hiểu thì thương. Lúc trước thì chưa chắc.

 

Khóc than kể hết niềm tây:

‘Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa?

‘Kiều nhi phận mỏng như tờ,

‘Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng.

‘Gặp cơn gia biến lạ dường,

‘Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

‘Dùng dằng khi bước chân ra,

‘Cực trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần.

 

Càng nghe nói chàng Kim càng thấy gia đình này đã biết hết chuyện mình.

 

Trót lời nặng với lang quân,

‘Mượn tay em nó Thúy Vân thay lời.

 

Chúng ta hãy nhớ lại chuyện công chúa Huyền Trân. Sau khi vua Chàm mất, theo nguyên tắc công chúa phải lên giàn hỏa đốt theo vua Chàm. Nhưng nhờ công chúa có mang nên người ta hoãn lại, đợi công chúa hạ sinh em bé rồi mới làm lễ hỏa thiêu. Đó là tục lệ của Ấn Độ. Vua Anh Tông, anh ruột của công chúa Huyền Trân, đã tổ chức một cuộc bắt cóc cứu công chúa về. Thấy bên mình làm như vậy là tráo trở, đã gã con cho người ta rồi mà làm như vậy là không tử tế. Thượng Hoàng (Trúc Lâm Đại Sĩ) sai đệ tử là thiền sư Bảo Phác xuống nói chuyện với vua Anh Tông nên làm một hành động gì để xin lỗi. Để tâm được yên, vua Anh Tông cho ba trăm người thợ khéo nước Chàm đã cống hiến cho nước Việt được về nước. Ở đây cũng vậy. Thúy Kiều đã hứa lỡ cho Kim Trọng, bây giờ phải bán mình chuộc cha nên rất áy náy. Vì vậy nàng xin với cha mẹ ba bốn lần gả em gái mình cho chàng Kim. Ngày xưa ở Đông Phương (với chế độ đa thê) có khi hai chị em cưới cùng một chàng. Ở Việt Nam người ta gọi là: ‘hoa thơm hái cả cụm.’ Nếu Thúy Vân là một cô gái mới thì cô ta sẽ nói: ‘Tui đâu có mắc nợ anh chàng hồi nào mà bắt tui phải trả nợ!’ Nhưng ở đây tình chị em liên đới nên chị mắc nợ thì em trả dùm cho chị. Trong xã hội cũ, gia đình là một khối thì người ta chấp nhận và làm chuyện đó được. Các cô gái mới bây giờ thì chắc không chịu đâu!

 

‘Trót lời nặng với lang quân,

‘Mượn con em nó Thúy Vân thay lời.

‘Gọi là trả chút nghĩa người,

‘Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên.194

‘Kiếp này duyên đã phụ duyên,

‘Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh.

‘Mấy lời ký chú đinh ninh,

‘Ghi lòng để dạ cất mình ra đi.

‘Phận sao bạc bấy Kiều nhi,

‘Chàng Kim về đó con thì đi đâu?’

 

Chuyện chỉ xẩy ra mới cách đây sáu tháng. Vết thương còn tươi. Hai ông bà nhắc lại thì đau lòng, và khóc.

 

Ông bà càng nói càng đau,

Chàng càng nghe nói càng dàu như dưa.

 

Nỗi đau của ông bà làm cho ông bà không thấy được rằng nỗi đau của anh chàng cũng rất lớn. Dàu là dập nát, vò nhàu. Quý vị có thấy dưa cải không? Gắp một gắp dưa cải nhìn thì thấy nó nhàu nát, nhăn nhíu. Cái lòng của Kim Trọng lúc này là như vậy.

 

Vật mình vẫy gió tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.

 

Đau khổ cho đến nỗi thân hình của Kim Trọng giống như một con giun bị người ta cuốc nhằm. Quằn quại, đau đớn. Cả thân và tâm đều đi vào địa ngục. Thân quằn quại mà tâm cũng quằn quại. Đường hầm mười lăm năm cô nàng đã đi qua rồi, anh chàng bây giờ mới bắt đầu. ‘Vật mình vẫy gió tuôn mưa, Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.’ Đau khổ tuôn ra như mưa như gió. Mình không còn là mình nữa. Một người thông minh, bặt thiệp, linh mẫn bây giờ giống như một cái xác không hồn, không còn gì nữa cả. Đó là chứng bệnh tương tư thất tình.

 

Đau đòi đoạn ngất đòi thôi,

Tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê.

 

Có những lúc cơn đau đi lên, ngưng lại một chút rồi lại đau lên một chập khác. Giống như cơn sốt, sốt xong, bớt sốt rồi sốt lại. Chữ đoạn và chữ thôi có nghĩa là từng chập một. Đau, ngất một hồi, bớt đi, nghĩ nhớ tới lại đau, lại ngất. Những cái đau đó hoàn toàn do tâm mình hết. Mỗi khi hình ảnh kia hiện lên thì mình đau trở lại. Rõ ràng khi một người lâm vào trạng thái đam mê thì người dó rất đau khổ. ‘Đau đòi đoạn ngất đòi thôi, Tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê.’ Những người nào đã đi ngang qua cái cầu này đều thấy rằng những điều cụ Nguyễn Du viết là có thiệt. Chắc chắn cụ cũng đã đi ngang qua đó rồi. Đó là tình trạng của người thất thình đau khổ. Tình yêu đúng là một tai nạn vì người yêu nào cũng phải đi qua những cái cầu này. Cụ Nguyễn Du là một thi sĩ có khả năng diễn tả tình cảm con người một cách tuyệt diệu. Nói về tình yêu đoạn nào cũng hay. Ngôn ngữ về tình yêu của cụ thật xuất sắc. Tả đau khổ của một chàng trai mất người yêu mà đến mức như thế thì thiết tưởng những nhà văn của thế kỷ hai mươi này ít ai sánh được.

 

Thấy chàng đau nỗi biệt ly

Nhịn ngừng ông mới vỗ về giải khuyên:

‘Bây giờ ván đã đóng thuyền,

‘Đã đành phận bạc khôn đền tình chung.

‘Quá thương chút nghĩa đèo bòng,

‘Nghìn vàng thân ấy dễ hòng bỏ sao?’

 

- ‘Này con, thân con quý lắm! Con đừng bỏ cái thân con.’ Trong tình trạng thất tình như vậy người ta không muốn sống nữa. ‘Một người không có mặt thì cả thế giới này cũng như không!’ Tình trạng đó là tình trạng rất nguy hiểm. Anh chàng chỉ muốn chết. Gia đình của Thúy Kiều là tăng thân cứu Kim Trọng, nếu không có họ có thể Kim Trọng đã tự tử. Lạ thay, tình thương đáng lý phải đem lại sự an ủi ấm áp, hạnh phúc mà trái lại, nó đưa ta đến gần cái chết. Tình ái, đam mê thường đưa người ta tới cái chết. Trong rất nhiều trường hợp, tình yêu và cái chết là hai cái rất gần nhau. L’amour et la mort gần như đồng nghĩa. Rất dễ sợ! Trong đạo Bụt có nói về tình thương, diễn tả bằng những ngôn ngữ rất rõ ràng: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Tình thương phải có tác dụng hiến tặng niềm vui (Từ), làm vơi nỗi khổ (Bi), có sự vui vẻ (Hỷ) và không kỳ thị (Xả). Tình đam mê rất kỳ thị. Chỉ có một người có giá trị thôi còn tất cả những người khác không có giá trị gì cả. Chỉ có một hiện tượng là đẹp thôi còn tất cả những hiện tượng khác đều không đẹp. Đó là kỳ thị, là không Xả. Tình thương đó đem tới toàn những khổ đau Thực tập tình thương trong đạo Bụt cho chúng ta thấy được rõ ràng thứ tình nào đem lại hạnh phúc và thứ tình nào dìm mình vào hố sâu của đau khổ, cô đơn, đưa mình tới cận kề cái chết.

 

‘Quá thương chút nghĩa đèo bòng, Nghìn vàng thân ấy dễ hòng bỏ sao?’ Cha mẹ Thúy Kiều đã đóng vai trò cha mẹ của chàng sinh viên này. Nhờ có hai ông bà và hai người con còn lại mà Kim Trọng không tự tử. May cho Kim Trọng! Bốn người đó là ai? Bốn người đó là Thúy Kiều. Chính vì vậy mà Thúy Kiều đã giúp được Kim Trọng một lần nữa. Thúy Kiều đã từng giúp Kim Trọng một lần rồi, không phạm giới trong đêm đầu tiên hai người gặp nhau. Bây giờ là lần thứ hai Thúy Kiều giúp mà Kim Trọng không biết. Nhờ sự có mặt của hai ông bà viên ngoại và hai người em Kiều mà Kim Trọng đã không tự tử.

 

Dỗ dành khuyên giải trăm chiều

Lửa phiền càng dập càng khêu mối phiền.

 

Những lời khuyên tuy không có tác dụng ngay như sự có mặt của bốn người là rất quan trọng.

 

Thề xưa giờ đến kim hoàn,

Của xưa lại giở đến đàn với hương.

Sinh càng trông thấy càng thương,

Gan càng tức tối ruột càng xót xa.

 

Rất dại! Đem những vật cũ ra làm gì để cho người ta nhớ và càng khổ thêm!

 

Rằng: ‘Tôi trót quá chân ra,

‘Để cho đến nỗi trôi hoa giạt bèo.

 

Tức quá, bưỏi vì anh chàng là con nhà giàu có quyền thế; nếu anh chàng có mặt lúc đó thì đã có thể can thiệp vào được rồi, Kiều đâu phải bán mình lấy bốn trăm lạng!

 

‘Cùng nhau thề thốt đã nhiều,

‘Những điều vàng đá phải điều nói không!

‘Chưa chăn gối cũng vợ chồng,

‘Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?

‘Bao nhiêu của mấy ngày đường,

‘Còn tôi tôi gặp mặt nàng mới thôi.’

 

Đây là ngôn ngữ của một người yêu. ‘Bây giờ con không chết nữa nhưng con sẽ dùng tất cả sức con để tìm Kiều. Con sẽ có tin tức của nàng cho hai bác và hai em.’ Bây giờ chàng trai đã tìm được một lý do để sống!

 

Nỗi thưong nói chẳng hết lời,

Tạ từ sinh mới sụt sùi trở ra.

Vội về sửa chốn vườn hoa,

Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang.

Thần hôn195 chăm chút lễ thường,

Dưỡng thân196 thay tấm lòng nàng ngày xưa.

 

Kim Trọng về sửa sang cái nhà mình thuê lúc trước (có hiên Lãm Thúy) và rước gia đình và rước ông bà viên ngoại qua sống với mình. Kim đóng vai trò của một người con rể. Coi như Kiều là vợ chính thức của mình rồi.

 

Đinh ninh mài lệ chép thư

Cắt người tìm tõi đưa tờ nhắn nhe.

 

Lấy nước mắt mình mài mực để viết thư hỏi thăm tin tức của Kiều. (Đôi khi lấy nước trà mài mực cũng được.) Thuê người đi tìm hỏi và chuyển thư.

 

Biết bao công mượn của thuê

Lâm-Thanh mấy độ đi về dặm khơi.

Người một nơi hỏi một nơi,

Mênh mông nào biết bể trời nơi nao?

 

Người ta đưa Kiều đi Lâm Truy mà nói dối là đi Lâm Thanh. Hỏi Lâm Thanh thì làm sao mà tìm ra được! Nhất là thời đó đâu có nhà dây thép, điện tín, điện thoại. Trời đất rộng lớn như vậy thì làm sao tìm ra được tung tích một người.

 

Sinh càng thảm thiết khát khao,

Như nung gan sắt như bào lòng son.

 

Sắt son là niềm chung thủy cùng cực. Son lúc nào cũng đỏ, sắt lúc nào cũng cứng. Cái gan của Kim Trọng bằng sắt nhưng cũng có lúc bị nung nóng lên; lòng Kim Trọng là một tản son nhưng cũng có nhiều khi bị bào mỏng ra.

 

Ruột tằm ngày một héo don,

Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve.

Thẩn thờ lúc tỉnh lúc mê,

Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao.

 

Quý vị có thấy rõ ràng rằng yêu là khổ không? Không ăn, không ngủ, càng ngày càng ốm. Khóc ra nước mắt, tâm hồn lúc thức cũng như lúc ngủ đều đi vơ vẩn như một ma đói, đói tình. Cho nên người ta mới nói tình yêu là một tai nạn. Có ai muốn rước tai nạn vào lòng. Nhưng trong lòng, trong cơ thể mỗi người đều có hạt giống của đam mê. Lỡ mà vương vào tai nạn thì chỉ có một tăng thân mới cứu được mà thôi. Nếu không chết không vong thân là nhờ tăng thân. Trong trường hợp Kim Trọng, tăng thân đó là gia đình Thúy Kiều, không phải là gia đình Kim Trọng. Gia đình Kim Trọng nói: ‘Mày mê cái con nào mà bây giờ mày ốm nhom như vậy?’ Nhưng gia đình của Thúy Kiều thì vì đã hiểu cho nên đã thương. Nguyễn Bính nói: ‘Chao ôi, yêu có ông Trời cứu. Yêu có ông Trời giữ được chân’ Khi mình đã bị tai nạn rồi thì không ai cứu được cả. Trời cứu cũng không được nữa, huống hồ là người bạn! Nguyễn Bính không biết rằng tăng thân có thể cứu được. Cơ hội của quý vị là tăng thân. Quý vị thoát được là nhờ tăng thân: Ngày xưa tôi cũng nhờ tăng thân mà thoát được. Tăng thân là cơ hội duy nhất của chúng ta. Chúng ta phải coi tăng thân là một viên ngọc quý. Đôi khi chúng ta có giận, có hờn từng người trong tăng thân nhưng kỳ thực tăng thân luôn luôn là viên ngọc quý. Tăng thân lúc đó sáng suốt lắm, chỉ có mình là mê thôi. Chúng ta phải giúp nhau. ‘Chao ôi yêu có ông Trời cứu!’ là một câu nói rất đơn giản của một thi sĩ miền Bắc Việt Nam thế kỷ hai mươi. Yêu là một tai nạn. Nếu không phải là tai nạn thì sao phải ‘cứu’? Tây phương cũng nói yêu là ‘té xuống’, fall in love, tomber amoureux. Đang đi tự nhiên té xuống, sụp hầm sụp hố. Và yêu cũng là một cơn bệnh: love sickness.

 

Xuân huyên lo sợ xiết bao,

Quá ra khi đến thế nào mà hay!

Vội vàng sắm sửa chọn ngày,

Duyên Vân sớm đã xe dây cho chàng.

 

Sợ Kim Trọng chết, hai ông bà vội vàng sắp đặt gả Thúy Vân cho Kim Trọng. Anh chàng chấp nhận. Đã mất Thúy Kiều nh nếu có Thúy Vân thì cũng được an ủi, vì em của Thúy Kiều cũng có chứa đựng Thúy Kiều ít nhiều bên trong. Tình yêu là như vậy. những gì có liên hệ tới người yêu của mình, mình đều yêu hết. Khi thương thì thương hết tất cả đường đi nước bước, những thức ăn, thức uống của người yêu mình cũng yêu tuốt. Mà khi đã ghét thì ghét hết. ‘Yêu ai yêu cả đường đi, Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng.’ Con người yêu ghét tức cười như vậy. Không Xả, tức là không bình đẳng, vì tình yêu ấy chứa đựng rất nhiều tính phân biệt và kỳ thị. Cái đường người đó đi tại sao mình thương làm chi? Tông chi họ hàng người đó có dính gì tới mình mà mình ghét? Đó là một thái độ hết sức kỳ thị, không bình đẳng, Từ, Bi, Hỷ, Xả mới là tình yêu đích thực. Tâm trạng của Kim Trọng cũng thường thôi. Em gái của Thúy Kiều là Thúy Kiều trong một mức độ nào đó. Được cưới Thúy Vân, Kim Trọng cũng bớt đau khổ. Đó là thuốc của ông bà viên ngoại cho chàng Kim uống. Nhưng đó cũng là di chúc của Thúy Kiều.

 

Người yểu điệu kẻ văn chương,

Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì.

 

Cặp đó xem ra cũng được lắm. Nhưng:

 

Tuy rằng hai chữ vu quy,

Vui này đã cất sầu kia được nào!

Khi ăn ở lúc ra vào

Càng âu duyên mới càng đào tình xưa.

 

Tình yêu của Kim Trọng với Thúy Vân phát triển rất mau nhưng tình lưu luyên với Thúy Kiều vẫn không giảm bớt. Những lúc ngồi một mình Kim Trọng vẫn khóc, lòng dạ rối beng:

 

Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,

Tuôn châu đôi trận vò tơ trăm vòng.

Có khi vắng vẻ thư phòng,

Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa.

Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ,

Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm,

Dường như bên nóc bên thềm,

Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng.

 

Mỗi khi đốt hương đánh đàn một mình thì cảm thấy linh hồn Kìêu đang về với mình. Đó là do tâm mà ra cả. Bụt dạy ‘Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.’ Kim cứ nghĩ rằng Kiều đã chết rồi và hồn đang về đáp lại tiếng đàn của mình. Đó là kỷ niệm đêm đầu tiên hai người gặp nhau. Nhưng cụ Nguyễn Du rất ý thức, cụ nói:

 

Bởi lòng tạc đá ghi vàng,

Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.

 

- ‘Nó đã chết đâu! tại thương, tại khổ nên anh tưởng tượng ra như vậy chứ!’ Đây là kiến giải của cụ Nguyễn Du. Tất cả đều do tâm thức của mình. Mình nằm mơ thấy, nói: ‘Thiệt mà, tui thấy!’ Nhưng kỳ thực đó cũng từ trong tâm đi ra.

 

 

 

GIÁC DUYÊN ĐÂU BỖNG TÌM VÀO TẬN NƠI

 

Lấy Thúy Vân, có một liên hệ mới, niềm vui mới, đời sống của Kim Trọng tìm lại được sự thăng bằng. Nhưng tình cảm vấn vương với Thúy Kiều vẫn còn nhiều.

 

Năm tháng đi qua.

 

Những là phiền muộn đêm ngày

Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần?

Chế khoa197 gặp hội trường văn,

Vương Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày.

Cửa trời rộng mở đường mây198

Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần.199

 

Vương Quan và Kim Trọng thi đậu, vinh hiển. Quê hương, làng xóm cũng được thơm lây.

 

Chàng Vương nhớ đến xa gần,

Sang nhà Chung lão tạ ân chu tuyền.200

Tình xưa ân trả nghĩa đền,

Gia thân bèn mới kết duyên Châu Trần.

 

Vương Quan, sau khi thi đậu thì sang nhà láng giềng năm xưa là Chung lão để tạ ơn Chung lão để can thiệp, giúp đỡ, chỉ đường khi gia đình bị nạn. Có một bí mật nào đó mà ta chưa hay: chàng Vương yêu cô con gái của Chung lão. Bây giờ trở về, đã đậu khoa Hội, Chung lão bằng lòng gả con gái cho.

 

Kim từ nhẹ bước thanh vân,

Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương.

Ấy ai dặn ngọc thề vàng,

Bây giờ kim mã ngọc đường với ai?201

Ngọn bèo chân sóng lạc loài,

Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu ly.

Vâng ra ngoại nhậm Lâm Truy,

Quan sơn nghìn dặm thê nhi một đoàn.

 

Kim Trọng được vua cử đi làm quan ở Lâm Truy, chỗ ngày xưa nàng Kiều đã tới nơi mà gia đình đã tưởng là Lâm Thanh. Bây giờ số mạng gửi anh chàng đến đó.

 

Cầm đường ngày tháng thanh nhàn,

Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu hao.

 

Ngày xưa có nhiều người làm quan rồi nhưng vẫn giữ được phong cách nhàn hạ của người Nho sĩ. Làm việc quan xong rồi thì uống trà, lấy đàn ra gảy. Đời nhà Tống có ông Triệu Biện, đỗ tiến sĩ, đi làm quan nhưng vẫn giữ được sự thanh nhàn. Ông đem theo một cây đàn và một con chim hạc. Sáng, chiều tuy làm việc quan nhưng ông vẫn được nghe tiếng hạc, tiếng đàn. ‘Cầm đường ngày tháng thanh nhàn. Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao.’ Không giống như giới doanh thương business-man bây giờ, không có thì giờ để thở.

 

Phòng xuân trướng rủ hoa đào,

Nàng Vân nằm bổng chiêm bao thấy nàng.

Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng,

Nghe lời chàng cũng hai đường tin nghi.

 

Một đêm tại tư thất nơi phủ đường Lâm Truy, Thúy Vân nằm mơ thấy Thúy Kiều. Tỉnh dậy nàng kể cho chồng nghe. Kim Trọng sinh nghi: ‘Có lẽ Kiều đi Lâm Truy chứ không phải Lâm Thanh.’

 

Nọ Lâm-Thanh với Lâm-Truy,

Khác chi một chữ hoặc khi có lầm.

Trong cơ thanh khí tương tầm,

Ở đây hoặc có giai âm202 chăng là?

 

‘Thanh khí tương tầm’ nghĩ là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Cùng là một âm thanh thì ứng (echo) lại với nhau, cùng một chí khí thì đi tìm nhau. Ví dụ là người muốn học Phật pháp thì mình đi tìm những người học Phật pháp để làm bạn.

 

Thăng đường chàng mới hỏi tra,

Họ Đô có kẻ lại già thưa lên.

 

Có người thư ký già, họ Đô, biết chuyện, báo cáo. Đây là những lời báo cáo, tuy ngắn nhưng tóm tắt lại được quãng đời mười năm của Thúy Kiều. Nói rất gọn, như đánh dây thép vậy. Nếu quý vị muốn đánh dây thép thì phải học đoạn văn này để đừng đánh dư chữ mà tốn tiền.

 

‘Sự này là ngoại mười niên,

‘Tôi đà biết mặt biết tên rành rành.

‘Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,

‘Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về,

‘Thúy Kiều tài sắc ai bi,

‘Có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ.

‘Kiên trinh chẳng phải gan vừa,

‘Liều mình thế ấy phải lừa thế kia.

‘Phong trần chịu đã ê chề,

‘Dây duyên sau lại gả về Thúc Lang.

‘Phải tay vợ cả phũ phàng,

‘Bắt về Vô Tích toan đường bẻ hoa.

‘Bực mình nàng phải trốn ra,

‘Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia.

‘Thoắt buôn về thoắt bán đi,

“Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi!

‘Bỗng đâu lại gặp một người,

‘Hơn người trí dũng nghiêng trời uy linh.

‘Trong tay mười vạn tinh binh,

‘Kéo về đóng chật cả thành Lâm-Truy,

‘Tóc tơ các tích mọi khi,

‘Oán thì trả oán ân thì trả ân.

‘Đã nên có nghĩa có nhân,

‘Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen.

‘Chưa tường được họ được tên,

‘Sự này hỏi Thúc sinh viên mới tường.’

 

Ông thư ký họ Đô chỉ biết tin tức Kiều trong mười năm đầu, không rõ tên họ và tung tích của vị Đại Vương giúp Kiều (Từ Hải.) Ông khuyên Kim Trọng hãy mời Thúc Sinh đến để hỏi thăm về những việc đã xảy ra những năm sau này.

 

Nghe lời Đô nói rõ ràng,

Tức thì đệ thiếp mời chàng Thúc Sinh.

‘Nỗi nàng hỏi hết phân minh,

‘Chồng con đâu tá tính danh là gì?’

Thúc rằng: “Gặp lúc lưu ly,

‘Trong quân tôi hỏi thiếu gì tóc tơ.

‘Đại vương tên Hải họ Từ,

‘Đánh quen trăm trận sức dư muôn người.

‘Gặp nàng khi ở Châu Thai,

‘Lạ gì quốc sắc thiên tài phải duyên.

‘Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên.

‘Làm cho động địa kinh niên đùng đùng.

‘Đại quân đồn đóng cõi Đông,

‘Về sau chẳng biết vân mồng203 làm sao.’

 

Thúc Sinh đã cho Kim Trọng những tin tức về Kiều trong thời gian nàng sống với Từ Hải. Chàng nói chàng không có tin tức gì từ đó về sau.

 

Nghe tường ngành ngọn tiêu hao204

Lòng riêng chàng luống lao đao thẩn thờ.

Xót thay chiếc lá bơ vơ,

Kiếp trần205 biết rũ bao giờ mới xong?

Hoa trôi nước chảy xuôi dòng,

Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan!

Lời xưa đã lỗi muôn vàn,

Mảnh hương còn đó phím đàn còn đây,

Đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây,

Lửa hương biết có kiếp này nữa thôi?

Bình bồng206 còn chút xa xôi,

Đỉnh chung207 sao nỡ ăn ngồi cho an!

Rắp lòng treo ấn từ quan,

Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha.

Dấn mình trong áng can qua,

Vào sinh ra tử họa là thấy nhau.

 

Kim Trọng muốn từ quan, lội sông trèo núi đi tìm Kiều, dù cho có chết giữa đường đi nữa. Đó là ước muốn của Kim Trọng. Nhưng sự thật thì bây giờ chàng đã có thê nhi rồi, đâu còn sống nhờ cha mẹ như thời còn là sinh viên nữa mà làm được chuyện đó. Từ quan rồi thì lấy tiền đâu mà đi xe buýt, mà mua vé máy bay tìm nàng? Nhất là đã dính vào danh lợi của triều đình rồi thì khó bỏ lắm! Rốt cuộc, đâu có ‘treo ấn từ quan’, ‘vào sinh ra tử’ gì, chỉ ngồi đó viết thư và gửi e-mail mà thôi.

 

Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,

Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn!

Những là nấn ná đợi tin,

Nắng mưa đã biết mấy phen đổi dời!

 

Năm này sang năm khác chàng chờ đợi mà tìm không ra tin tức. Bỗng có chuyện xảy ra:

 

Năm mây bỗng thấy chiếu trời,208

Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.

Kim thì cải nhậm Nam-Bình,

Chàng Vương cũng cải nhậm thành Phú-Dương.

 

Vua ban sắc chỉ đổi Kim Trọng đi làm quan ở Nam Bình (thuộc tỉnh Phúc Kiến) và Vương Quan ở thành Phú Dương (thuộc tỉnh Chiết Giang.) Chính nhờ có biến cố này mà hai gia đình sẽ tìm được nàng Kiều.

 

Sắm sanh xe ngựa vội vàng,

Hai nhà cũng thuận một đường phó quan.

Xảy nghe thế giặc đã tan,

Sóng êm Phúc-Kiến lửa tàn Chiết Giang.

Được tin Kim mới rủ Vương,

Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa.

 

Trên đường đi, hai người hy vọng có thể tìm Kiều ở Hàng Châu (nơi sông Tiền Đường chảy ngang qua.)

 

Hàng châu đến đó bấy giờ,

Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành.

Rằng: Ngày hôm nọ giao binh,

‘Thất cơ Từ đã thu linh209 trận tiền.

Nàng Kiều công cả chẳng đền,

Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù.

Nàng đà treo ngọc trầm châu,

Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan.

 

Tới Hàng Châu, Kim và Vương hỏi thăm biết được là Kiều đã nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử.

 

Thương ôi! Không hợp mà tan,

Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng!

Chiêu hồn thiết vị lễ thường,210

Giải oan lập một đàng tràng bên sông.

Ngọn triều non bạc trùng trùng,

Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.211

Tình thâm bể thảm lạ điều,

Nào hồn tinh vệ212 biết theo chốn nào?

 

Hai gia đình thiết lập chay đàn bên sông để làm lễ giải oan siêu độ cho Kiều.

 

Cơ duyên đâu bỗng lạ sao,

Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.

Trông lên linh vị chữ bài,

Thất kinh mới hỏi: ‘Những người đâu ta?

‘Với nàng thân thích gần xa,

‘Người còn sao bỗng làm ma khóc người?’

 

Không biết sư chị Giác Duyên hôm ấy có Phật sự gì cho nên đã đi ngang qua chỗ làm chay. Cố nhiên là người tu, thấy đám chay thì sư chị ghé vào xem thử và do đó đã khám phá ra rằng đây là gia đình Trạc Tuyền đang cầu siêu cho sư em mình. Trong lòng sư chị có lẽ ngổn ngang nhiều tình cảm. Mừng rằng sư em mình sẽ được gặp lại gia đình và cũng rất mừng khi mình có thể đem cho gia đình này một tin tức làm họ sửng sốt bất ngờ và tạo ra hạnh phúc khôn cùng. Đó là một mảnh tin làm chấn động cả gia đình Kiều.

 

Nghe tin ngơ ngác rụng rời,

Xúm quanh kể họ rộn lời hỏi tra:

‘Này chồng này mẹ này cha,

‘Này là em ruột này là em dâu.

 

Trong các buổi hát đúm (hát đối giữa hai bên nam nữ) ở Việt Nam, có khi bên con gái hỏi bên con trai:

 

‘Truyện Kiều anh đã thuộc làu,

‘Đố anh kể được một câu sáu người.’

 

Nếu bên con trai giỏi thì họ sẽ hát:

 

‘Này chồng này mẹ này cha,

‘Này là em ruột này là em dâu.

 

(Sáu người là: chồng (Kim Trọng), mẹ, cha, em ruột (Thúy Vân và Vương Quan), em dâu (vợ Vương Quan.) Còn nếu bên con trai im thin thít thì bên con gái họ sẽ cười khúc khích cho đến khi bên con trai chịu thua mới đọc hai câu trên ra.)

 

‘Thật tin nghe đã bấy lâu,

‘Pháp sư dạy thế sự đâu lạ dường!’

Sư rằng: ‘Nhân quả với nàng,

‘Lâm-truy buổi trước Tiền-Đường buổi sau.

‘Khi nàng gieo ngọc trầm châu,

‘Đón nhau tôi đã gặp nhau rước về.

‘Cùng nhau nương cửa Bồ-Đề,

‘Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa.

 

- ‘Chùa ở gần đây, nếu quý vị muốn thì tôi xin đưa quý vị tới để gặp Kiều ngay bây giờ.’ Nghe xong mọi người thấy như từ địa ngục vừa được vớt lên thiên đường.

 

‘Phật tiền ngày bạc lân la,

‘Đăm đăm nàng cũng nhớ nhà khôn khuây.’

 

Trong nguyên lục sư chị Giác Duyên nói: ‘Quý vị nhớ Thúy Kiều lắm phải không? Thúy Kiều cũng tỏ bày niềm thương nhớ quý vị lắm.’ Ở chùa thỉnh thoảng Kiều cũng nhớ cha mẹ và các em.

 

Nghe tin nở mặt nở mày,

Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng?

Từ phen chiếc lá lìa rừng,

Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây.

Rõ ràng hoa rụng hương bay,

Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.

Minh dương213 đôi ngã chắc rồi,

Cõi trần mà lại thấy người Cửu-nguyên!214

 

Tưởng rằng kiếp sau mới mong thấy lại được nhau mà bây giờ sư chị lại nói Kiều đang còn sống và ở gần đây. Không có phép lạ nào hơn phép lạ này!

 

Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên,

Bộ hành một lũ theo liền một khi. 

 

Bỏ chuông mõ, bỏ cỗ bàn, mọi người đi theo sư chị Giác Duyên. Đây là đoạn rất vui.

 

Bẻ lau vạch cỏ tìm đi,

Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần.

 

Đường về chùa mà phải bẻ lau, vạch cỏ mà đi. Có lẽ đường chính hơi dài và vì thấy gia đình nôn nóng quá, ni sư cũng muốn Kiều mừng nên đã dẫn mọi người đi đường tắt. Tuy gia đình Kiều mừng như vậy nhưng vẫn còn nghi không dám mừng nhiều, sợ thất vọng: ‘Đôi khi ni sư này lộn, nhỡ đó là một người khác thì làm sao?’ Sự thật rõ ràng như vậy nhưng mà ta vẫn không tin là sự thật. Ta nói: “It is too good to be true.” (Không dám tin, vì sự thật đẹp quá.)

 

Quanh co theo dải giang tân,15

Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường.

 

Đọc tới câu này tôi có cảm tưởng ‘rừng lau’ là cái rừng có nhiều vấn đề, nhiều phiền não; ‘Phật đường’ là chỗ mình đã về, đã tới, vững chãi, thảnh thơi, đã hạnh phúc. Mỗi khi đọc tới câu này là tôi thấy hình ảnh đó. ‘Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường.’ Vấn đề là mình đã đi ra khỏi rừng lau hay chưa.

 

 

 

TƯỞNG BÂY GIỜ LÀ BAO GIỜ

 

 

Giác Duyên lên tiếng gọi nàng,

Buồng trong vội dạo sen vàng bước ra.

 

Ta có thể thấy tâm trạng Giác Duyên lúc đó. Nghĩ rằng mình sẽ mang lại một niềm vui rất lớn cho sư em. Thành ra mới tới cổng sư chị đã kêu: ‘Sư em ơi! Ra có khách! Có ai hỏi này!’ ‘Buồng trong vội dạo sen vàng bước ra.’ Đã thành ni cô rồi, phong thái của Kiều lại càng thêm thanh tao. Cố nhiên là Trạc Tuyền không chạy, đi đàng hoàng theo kiểu thiền hành.

 

Trông xem đủ mặt một nhà:

Xuân già còn khỏe huyên già còn tươi.

Hai em phương trưởng hòa hai,

Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa!

 

Kể cha, mẹ, em rồi mới tới người yêu. Đó là theo thứ tự theo luân lý Á Đông. Không được kể chàng trước, dù mình thương chàng ghê gớm. Phải có thứ tự. Và phải chào theo thứ tự đó. Không thể nào một người Á Đông mà chào theo kiểu ngược lại. Một người Mỹ có thể tới ôm anh chàng trước. Nhưng một người Việt hay một người Hoa thì không thể nào làm như vậy. Đó là đảo lộn trật tự của mấy ngàn đời. ‘Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa!’ Làm như phớt tỉnh ăng lê, hơi lạnh lùng. Kỳ thực, Á Đông bên ngoài là phải làm như vậy. Theo Á Đông, cha trước, mẹ sau. Vì cha đóng vai người anh, mẹ đóng vai người em. Ở Việt Nam vợ kêu chồng bằng ‘anh’. (Tây phương nghe chuyện này họ tức cười lắm!) Liên hệ vợ chồng là một thứ liên hệ anh em, người vợ luôn luôn làm em, vợ phải xưng ‘em’. Dầu người vợ có thông minh hơn, lớn hơn một hai tuổi, hay giàu có hơn thì cũng đóng vai trò người em.

 

Tưởng bây giờ là bao giờ,

Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao.

Giọt châu thánh thót quẹn bào,

Mừng mừng tủi tủi xiết bao là tình!

 

Khóc mừng, những giọt nước mắt của hạnh phúc. Mừng thì có mừng, nhưng trong tâm vẫn chất chứa nhiều đau khổ ngày xưa (cô đơn, thương nhớ…) cho nên vừa mừng vừa tủi, vừa tủi vừa mừng. Cái tủi làm cho cái mừng lớn hơn. Cái mừng làm cho cái tủi sống dậy.

 

Câu ‘Tưởng bây giờ là bao giờ’ tôi đã suy nghĩ nhiều giờ đồng hồ để tìm cách dịch ra tiếng Anh mà vẫn chưa dịch được. Ta đang đứng trước một sự thực quá đẹp, quá mầu nhiệm cho đến nỗi ta không dám tin sự thực đó là có thật. Mười lăm năm sống trong tuyệt vọng, không còn nghĩ rằng mình sẽ được gặp người thân. Ấy vậy mà không chuẩn bị gì cả, tự nhiên phép lạ hiện ra trước mặt. ‘Tưởng bây giờ là bao giờ.’ ‘Bao giờ’ tức là không phải ‘bây giờ.’ ‘Bao giờ’ là ‘when’, ‘bây giờ’ là ‘now’. Làm sao mà dịch được. Nếu cắt nghĩa thì mình cắt nghĩa thế nào? Giờ phút hiện tại mầu nhiệm quá cho đến nỗi mình phải nghi ngờ rằng giờ phút này thuộc về quá khứ hoặc đây là một nơi mơ ước của tương lai chứ không phải là một cái gì có thật trong hiện tại. Câu này hay ở nhiều chỗ. Thứ nhất là cái hay về nội dung, không biết sự thực đã là sự thực chưa, hay chỉ là một giấc mơ thôi. Thứ hai là cái hay về hình thức. Cả hai tiếng ‘bây giờ’ ‘bao giờ’ đều chuyển tải thời gian, đều có chữ ‘giờ’ đứng đằng sau. Thơ là hình ảnh và âm nhạc. Nếu không dùng hai chữ ‘giờ’ lập lại thì sẽ dỡ. Nếu nói: tưởng bây giờ là lúc nào? Thì sẽ không hay. Bây giờ và bao giờ là hai chữ giống nhau, như hai sợi tóc. Bây giờ là vần bằng, bao giờ là vần bằng. Hai chữ có thể trộn với nhau. Nếu dịch: ‘Is it true or is ti not true?’ thì dở quá đi! Giờ phút bây giờ có thực là giờ phút bây giờ không? Thực tại trong giờ phút này có phải là một thực tại hay chỉ là một hình ảnh của tâm trí mình? Đó có phải là một điều trong quá khứ mà mình mộng tưởng ra hay một điều trong tương lai mà mình mơ ước vào? ‘Tưởng bây giờ là bao giờ?’ sáu chữ rất mầu nhiệm! Ai dịch được thì giỏi. Nếu không dịch bây giờ thì bao giờ mới dịch? Tôi nghĩ truyện Kiều có những câu xứng đáng được viết để treo trong thiền đường. Giáo lý và thực tập của chúng ta là sống trong giờ phút hiện tại và thấy được những mầu nhiệm của giờ phút hiện tại. Ngày xưa Kiều còn là thiếu nữ mười sáu, mười bảy tuổi, mỗi ngày cô đều gặp những người thân. Hồi ấy Kiều có cái nhìn và cái cảm nghĩ như bây giờ không? Có tâm niệm trân quý người thân như trong giờ phút tái ngộ đoàn tụ này không? Tại sao cũng cảnh đó, người đó, những điều kiện đó mà cái thấy khác nhau như vậy? Tại sao bây giờ mình trân quý cái mình đang có một cách kỳ lạ, trân quý đến nỗi mình tự hỏi: Cái đó có thật không? Do những đau khổ mình đã trải qua, những giác ngộ mình đã đạt được mà mình tiếp xúc được với cái mầu nhiệm của thực tại. Cái gì trong đời sống mà không phải là mầu nhiệm! Sự kiện mình đang còn sống là một phép mầu. Một chiếc lá một bông hoa đều là một phép lạ, đều là mầu nhiệm cả. Khi còn có khả năng và điều kiện để tiếp xúc, để có hạnh phúc thì ta không chịu tiếp xúc để có hạnh phúc. Đợi khi mất rồi thì ta mới than khóc. Đọc truyện Kiều cũng giống như nhìn trăng, nhìn mây, đi thiền hành, tiếp xúc với thiên nhiên, hoa lá, con người. Nếu tâm ta sáng tỏ, nếu ta có năng lượng của chánh niệm thì ta có thể nhận diện rằng tất cả những gì đang bao quanh ta đều là phép lạ rất mầu nhiệm. Chính thân thể, tâm hồn ta cũng là những hiện tượng hết sức mầu nhiệm. Tất cả những cái đó, tác giả gọi là ‘bây giờ’. Trong sự sống, vì buồn đau, giận ghét, lo lắng mà chúng ta dày đạp lên cái bây giờ, loại cái bây giờ ra khỏi sự sống và không thấy được, không tiếp xúc được với những mầu nhiệm. Chúng ta nhớ một câu tương tợ cách đó mười lăm năm lúc Kim Trọng và Kiều được thực sự gặp nhau. Lúc đó gia đình Kiều đi ăn sinh nhật bên ngoại. Kiều ở nhà phá rào sang gặp Kim Trọng. Ở chơi vài tiếng đồng hồ Kiều phải về xem gia đình về chưa. Thấy gia đình chưa về thì lại tiếc, ‘đi chui’ sang nhà Kim Trọng một lần nữa. Kim Trọng đang ngủ gật, thấy người yêu xuất hiện Kim Trọng hỏi: ‘Đây là mộng hay là thực?’ Kiều trả lời: ‘Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?’ Hạt giống tuệ giác trong Thúy Kiều lúc đó có chưa chúng ta chưa bàn tới, nhưng chắc chắn đã có trong tâm hồn thi sĩ. Vì vậy đọc câu này chúng ta không thể nào không nhớ đến câu trước. Nếu ta không sống tỉnh thức và sâu sắc giờ phút hiện tại thì tất cả sẽ chỉ là một giấc chiêm bao. Tưởng bây giờ là bao giờ. Câu này có mang theo sự tội nghiệp. Vì khổ đau, vì ước mơ không thành tựu ta chưa bao giờ được sống thật, chưa bao giờ có hạnh phúc thật cả cho nên bây giờ thấy được hạnh phúc, thấy được mầu nhiệm ta lại nghĩ không biết có thật hay không. Kiều cũng phản ứng giống như gia đình Kiều khi nghe tin Kiều còn sống. Không dám tin, vì sự thật đẹp quá.

 

Về phương diện văn chương, đây là những lời cực tả niềm hạnh phúc của nhân vật. Về phương diện tâm lý, ý tứ câu này rất sâu sắc. Đã quen sống trong mộng, ta không có khả năng tiếp xúc với bản thân thực tại. Ta thường lẫn lộn mộng và thực. Khi cái thực tự hiển bày cho ta thì cái không có khả năng tiếp xúc. Hồi đi thăm tu viện Cấp Cô Độc, tôi có ngồi bên cạnh những bức tường đổ của cái thất ngày xưa Bụt ở, mân mê những viên gạch. Một phái đoàn khảo cổ của Nhật đã đến đây xin phép đào xới, khai quật và làm phát hiện nền móng của những tu viện ngày xưa thiết lập trong vườn Kỳ Đà. Tất cả đều đã đổ nát và bị phù sa che lấp, gai cỏ mọc đầy. Các nhà khảo cổ đã moi lên và trình bày lại tất cả. Có những thời gian tu viện Cấp Cô Độc rất hưng thịnh, các tu viện được xây sát nhau. Bây giờ khai quật ra chúng ta biết chỗ nào là thiền đường, tăng xá và thực đường. Tuy tất cả đều bị đổ nát nhưng móng của các bức tường vẫn còn nên ta có thể thấy rất rõ cách bố trí phòng ốc các tu viện. Những giai đoạn hưng thịnh của tu viện Cấp Cô Độc là những lúc các thầy tu học có hạnh phúc, tiếp xúc được với Bụt, Pháp và Tăng. Nhưng những giai đoạn đó không kéo dài được mãi mãi. Nhìn vào một vùng đất hoang vu cỏ mọc, chúng ta đâu có thể tưởng tượng ngày xưa nơi này đã từng hưng thịnh như vậy. Chúng ta hãy nhắm mắt lại và tưỏng tượng Làng Mai một trăm năm về sau. Chúng ta thấy gì? Có thể ta không thấy sư chị, sư anh, sư em, sư tổ, không thấy thầy, không thấy gì hết. Chỗ này có thể trở thành một siêu thị. Bây giờ trong giây phút hiện tại chúng ta có sư anh, sư chị, sư em đang ngồi với ta. Có thầy đang ngồi giảng. Có nước trà để uống. Có đường để đi thiền hành. Có bàn tay để nắm tay người bạn. Có hai mắt để nhìn và nhận diện ra đó là người anh, người chị, người em của mình. Chúng ta đang làm chuyện đó hay không? Hay chúng ta đợi một trăm năm sau để rồi thấy những điều có thể xảy ra chỉ là chuyện đã xảy ra trong một giấc chiêm bao mà thôi? Đưa tay ra và chạm vào người bên cạnh một chút xíu để coi thứ đó là thật hay giả. Chúng ta có khả năng làm chuyện đó hay không? Hay chúng ta cứ tự giam hãm mình trong cái buồn, cái giận, cai lo để không làm được chuyện đó? ‘Tưởng bây giờ là bao giờ, Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!’ là những tiếng chánh niệm giúp chúng ta tỉnh thức. Tất cả bí quyết của sự thực tập nằm ở chỗ đó. ‘Tưởng bây giờ là bao giờ’: ‘Is it now or never!’. Tôi chịu thôi, không dịch ra tiếng Anh hay tiếng Pháp! Tôi tin chắc tất cả quý vị216 đều hiểu, đều thấm rồi nhưng không nói ra lời đó thôi. Nói không ra lời thì phải có người giúp. Người đó là thi sĩ. Thi sĩ là người giúp mình nói những điều mình cảm mà không nói được. Nhưng đây là thi sĩ Việt cho nên mình cần thi sĩ Anh, thi sĩ Pháp. Chỗ mầu nhiệm của câu này, chắc dịch không được, là hai chữ bây giờ và bao giờ, lấp láy lại. Phải là một tay phù thủy cao tay ấn lắm mới có thể sử dụng những âm binh ngôn ngữ như thế được. Ngôn ngữ đối với một thi sĩ giống như âm binh mà một thầy phù thủy sử dụng. Bắt nó làm gì thì nó làm theo mình. Vị tổ thứ ba trong phái Trúc Lâm, thầy Huyền Quang, cũng là một thi sĩ lớn của Việt Nam. Thầy cũng có một câu thơ nói về chuyện chiêm bao trong khi mở mắt. Đó là bài Ngủ trưa trên núi. (Nghe tổ cũng ngủ trưa chúng ta thấy khỏe trong người quá phải không? Tổ ngủ trưa thì tại sao mình không được ngủ trưa?)

 

Vũ quá sơn khê tĩnh

Phong lâm nhất tháp lưong

Phản quan trần thế giới

Khai mãn túy mang mang.

 

(Cơn mưa đã qua, khe nước trong núi im lặng. Rừng phong ngủ một giấc mát. Nhìn lại thế giới bụi bặm bên dưới. Mắt mở nhưng vẫn say như thường.)

 

Tôi dịch:

 

Mưa tạnh khe núi tĩnh

Ngủ mát giữa rừng phong

Nhìn lại cõi nhân thế

Mắt mở vẫn say nồng.

 

Mắt mở nhưng vẫn say như thường. ‘Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!’ Lối sống đó người ta gọi là ‘sống say chết mộng’ (túy sinh mộng tử.) Đạo lý của nhà Phật là sống tỉnh thức. Phải mở mắt. Mở con mắt tuệ, con mắt chánh niệm chứ không phải là con mắt thịt. Mở con mắt thịt thì có thể vẫn còn mê. Mở con mắt chánh niệm thì lúc đó thì mình thật sự tiếp xúc được những mầu nhiệm của sự sống. Bụt có khi được gọi là ‘con mắt tuệ’. Ngày Bụt nhập diệt có một số thầy khóc. Trong những lời khóc than có câu: ‘Đức Thế Tôn không còn nữa! Con mắt của thế gian không còn nữa!’ (The eye of the world is no longer there.) ‘Con mắt của thế gian’ là Bụt. Con mắt này là con mắt trí tuệ, tỉnh thức. Bụt được diễn tả như con mắt của cuộc đời, tức là cái thấy tỉnh thức của cuộc đời. Nếu có con mắt đó thì mới không ‘túy mang mang’, không còn mê ngủ nữa.

 

 

 

TÁI SINH TRẦN TẠ ÂN NGƯỜI TỪ BI

 

Huyên già dưới gối gieo mình,

Khóc than mình kể sự tình đầu đuôi: