HƯ HƯ LỤC
Thích Nữ Như Thủy
---o0o---
Phần
5
Ngày xửa ngày xưa, có một anh chàng nọ mặt mũi cũng dễ coi nhưng phải cái
hơi ngu, chúng ta gọi anh là Tâm cho tiện.
Một hôm Tâm kết bạn với Ý là một tên du thủ du thực, đa mưu túc trí,
chuyên nghề lường gạt chôm chỉa mà sống. Thấy Tâm chất phác dễ tin, Ý bèn
dỗ ngọt dẫn Tâm đến một chốn xa xôi hẻo lánh chăn dê cho người để lấy tiền
lập nghiệp. Tên bất lương lấy trước sáu tháng tiền công của bạn rồi ra đi
với hứa hẹn là sẽ tìm nơi tậu nhà cửa ruộng vườn cho Tâm.
Sáu tháng sau, Ý đến vui vẻ báo tin:
- Chú Ba
à! Số chú thật là may mắn. Món tiền hôm trước chú đưa cho anh chả thấm
vào đâu… anh phải bù đắp thêm gấp bội và đã tậu cho chú đầy đủ cả nhà cửa
ruộng vườn khang trang lắm! Anh những ước mong sao chú được trở về đó để
anh lo bề gia thất cho chú xong xuôi thì có chết anh cũng cam lòng… ngặt
vì tiền cưới xin hơi đắt. Vậy chú hãy cố gắng làm công thêm một năm nữa
nhé.
Chàng Tâm cảm động trước lòng lo lắng của ông anh kết nghĩa nên “y giáo
phụng hành.” Và tên bất lương lại cuỗm thêm một năm tiền công nữa… rồi ra
đi.
Một năm sau, Ý lại trở về báo tin là đã lo cưới hỏi xong xuôi cho bạn. Cô
vợ đảm đang hiện ở trong ngôi nhà mới mua dạo trước và hết lòng chăm sóc
tài sản cho đấng phu quân.
Từ dạo đó, chàng Ý thường lai vãng đến trại dê để báo tin nhà và thúc hối
Tâm lo tiền thang thuốc cho vợ, hiếu hỷ cho ông nhạc, quà biếu bà mẹ vợ,
đồ chơi cho lũ em vợ v.v…
Vài năm sau, Tâm lại phải làm thêm ca đêm để có tiền gởi cho ông anh kết
nghĩa chăm sóc dưỡng nuôi giùm bầy con đông đúc cả gái lẫn trai.
Ðàn con tưởng tượng mỗi ngày một gia tăng, bổn phận làm cha làm chồng càng
ngày càng nặng, rút dần mòn sức khoẻ chàng trai khờ dại.
Một hôm biết mình sắp kiệt sức, Tâm ngỏ lời với bạn rằng chàng muốn về
nương cậy vợ con trong lúc tuổi già sức yếu, thì Ý liền sa sầm nét mặt,
giọt ngắn giọt dài, báo hung tin:
- Chú
ơi! Biết nói sao bây giờ đêm qua một cơn hỏa hoạn đã thiêu rụi cả nhà cửa
ruộng vường lẫn vợ con chú cả rồi… cuộc đời quả thật là vô thường. Anh
không biết làm gì hơn là cùng chia sẻ những cái tang đau đơn này với chú
vậy!
Em thân mến!
Câu chuyện được ngừng lại nơi đây, vì khó mà tin nổi rằng trên đời này lại
có một người khờ dại như chàng Tâm.
Nhưng… phần chúng ta, có lầm chăng khi chấp nhận những vọng tưởng điên đảo
chợt có chợt không là bản tâm của mình? Dưới sự dẫn dắt của cái tâm này
chúng ta có đầy đủ quê hương cha mẹ họ hàng thân quyến. Và nếu thêm nữa
là những thứ phụ tùng rắc rối như vợ chồng con cái.
Cho đến lúc sức mòn lực kiệt… thì cuộc đời vô thường đòi lại tất cả những
cái “có” của chúng ta… Phần ta còn trơ trọi hai bàn tay không.
Tý bắc ghế định lấy kẹo ăn vụng. Ngờ đâu trợt chân té nhào. Tý lồm cồm
bò dậy, tức tối muốn khóc…
Chợt thấy con nô đứng bên cạnh, Tý móc cho nó một đá, mắng:
- Ai bảo
mày nhìn lom lom cho ông té vậy? Ðồ khốn khiếp!
Xin lỗi nhỏ:
Mỗi lần té nặng vì bắc ghế trèo lên cao để ăn vụng kẹo ngũ dục, chúng ta
có nên tìm một con chó để đá cho đỡ tức và trút hết trách nhiệm lên cái
mông vô tội của nó không? (Ðỡ tức lắm thưa chư tôn giả! Nhất là loài cẩu
vốn không biết nói nên chỉ biết cong đuôi vừa chạy vừa kêu ăng ẳng… Nhưng
coi chừng! Ðừng đá nhằm loài người mà bị chửi và bị đòn đấy!)
Tóm lại cách tốt nhất là trút hết trách nhiệm lên đầu ông trời, thượng đế,
con tạo hoặc nhân quả, nghiệp báo, định mệnh… còn khối thứ đỡ đòn cho
chúng ta đấy, bạn ạ!
Bé đi về thăm ngoại, bà ngoại đãi bé Tý một tô cháo gà nóng hổi, thơm
phưng phức. Tý húp liền một miếng nhăn mặt:
- Sao
hổng ngon chi hết ngoại ơi!
Ngoại nghe Tý chê, vội vã đem lên một ít muối bỏ vô tô khuấy đều.
Tý thưởng thức xong reo:
- Ngon
số dzách ngoại ơi! Hỏng dè có thêm một chút xíu muối mà cháo ngon chi
lạ!
Lúc chào ngoại ra về, Tý xin ngoại một gói muối bự, đến một chỗ vắng, Tý
trút hết gói muối vào miệng… Eo ơi! Nó mặn đến dộp lưỡi, bỏng miệng.
Em thân mến!
Tất cả các pháp dù là Phật pháp đi nữa, chúng ta đều dùng một cách dè dặt
như là muối biển vậy. Vừa miệng hay dộp lưỡi đều tùy thuộc vào cách sử
dụng của ta chứ muối thì hoàn toàn vô tội.
Nếu bây giờ khi đọc sách bắt gặp những đoạn văn kể chuyện người xưa tu
hành quên ăn, nhịn ngủ ngồi mãi chẳng nằm… em cảm thấy thán phục và nghĩ
rằng có lẽ nhờ những điều đó mà cổ nhơn đắc đạo và em bắt chước cái hình
ảnh mà em vừa tưởng tượng ra và thán phục ấy, em cũng nhịn ăn, bỏ ngủ, cái
mặt chừ bự thì coi chừng em sẽ bị dộp lưỡi như bé Tý vậy.
Tô cháo ngon lành là do rất nhiều yếu tố đóng góp chứ đâu phải chỉ nhờ
muối không thôi đâu, phải không nhỏ?
Thuở xưa tại một vùng biên địa hạ tiện dân chúng đều mù chữ. Mãi cho đến
một hôm có người đến tự xưng là thầy giáo đến thăm làng và dõng dạc tuyên
bố:
- Mọi
người ai ai cũng có khả năng biết chữ hết. Nhiệm vụ của tôi khi xuất hiện
ở ngôi làng này là giúp cho bà con cô bác phát triển khả năng đó, để thành
một người biết chữ như tôi không khác. Mọi người nghe nói đều hồ hởi phấn
khởi với sự hướng dẫn của thầy giáo. Nhiều lớp học được thành lập, nhiều
người đến lớp học. Thầy giáo phát cho mỗi người một quyển vần A B C.
Trong nhóm người tụ hội nơi lớp học người ta ghi nhận có những sự kiện
sau:
Một số người cho rằng khả năng biết chữ chỉ là một ân sủng thiên liêng
dành cho hạng người ưu tú nhất trong nhân loại, nên sau khi trêu chọc số
người ghi danh học, họ bỏ về.
Riêng phần học trò với chút ít niềm tin rằng mình có thể biết chữ, đã tìm
cách phát triển khả năng ấy bằng những cách như sau:
1- Những
người rất cảm kích trước tấm lòng của thầy giáo đã khổ công lặn lội đến
đây, nên họ xin ảnh của thầy giáo về thờ chung với quyển vần A B C, sớm
hôm lễ bái dâng hương hoa không hề chểnh mảng.
2- Hạng
người kế vô cùng cảm phục tài năng của thầy giáo nên cùng nhau rắp tâm bắt
chước thầy từ cách đi đứng, nói năng, ăn mặc đến nếp sinh hoạt hàng ngày.
Họ bắt chước tài tình đến độ giống thầy giáo như đúc có khác chăng là họ
hoàn toàn không biết chữ.
Dĩ nhiên bằng lối học trên, chúng ta dự đoán được kết quả là sau bao nhiêu
cố gắng không anh học trò nào biết chữ cả.
Em thân mến!
Câu chuyện được dừng lại nơi đây vì trên thế gian này không có một lớp học
nào kỳ quặc như thế cả. Các học trò đi học dần dần đều được biết chữ
hết. May mắn biết là chừng nào… Nhưng còn chúng ta, những người học Phật
và chưa giác ngộ (như Phật), có nên xét lại lối học của mình không? Như
ông thầy giáo kia, chư Phật đều tuyên bố: “Tất cả chúng sanh đều có Phật
tánh và chư Phật ra đời đều một lý do duy nhất: chỉ cho chúng sanh nhận ra
và hằng sống với tri kiến Phật của chính mình.” Và chúng ta đã học đạo
giác ngộ bằng cách nào?
Nếu chúng ta chỉ tôn thờ lễ bái và cúng dường kinh tượng bên ngoài thì coi
chừng, ta sẽ vấp phải lỗi lầm của hạng học trò thờ cuốn vần A B C như
trên.
Hoặc chúng ta chỉ hâm mộ tôn kính thầy, tổ chư Phật, rồi rập khuôn cuộc
đời ta y hệt như cuộc sống của những người mà ta hâm mộ thì có lẽ, bề
ngoài chúng ta sẽ có một cái vỏ đĩnh đạc nghiêm trang, nhưng bên trong lại
dẫy đầy phiền não, tương tự như hạng học trò bắt chước thầy trên không
khác.
Vậy thì chúng ta học Phật bằng cách nào đây?
Em
Tôi định viết cho em
Một bài thơ tuyệt diễm
Kết hợp bằng những ngữ từ
Chân thành và âu yếm
Xong
Tôi sẽ trang trọng đặt cho nó một cái tên thật kêu
Như “Tình yêu” chẳng hạn
Tôi định vẽ cho em
Một bức tranh cực kỳ thanh tú
Những nét mực sẽ nhẹ nhàng
Như sóng vỗ lao xao
Và trước khi ký tên
Tôi sẽ hạ một dòng chữ bay nghiêng
(A ROSE TO…)
“Một bông hồng cho…”
Cầm bút tay run
Hồn say lảo đảo
Tim đập dập dồn
Tôi bối rối nhìn lên
Giữa những cành lá xanh tươi của khu vườn mùa hạ
Bình minh lên rực rỡ
Dịu dàng êm từng đọt là chồi cây
Mộng đêm qua…
… Chỉ còn là…
… Một thoáng mây…
Bất chợt
Tôi nhận ra rằng:
Em
Chỉ là một hình bóng của chính tôi
Một nhân dáng về em
Dù đẹp như thiên thần
Hay tệ như ác quỷ
Cũng chỉ là
Một ảo tưởng
Trong trăm nghìn ảo tưởng
Sinh khởi liên miên
Bất kể đêm ngày
Nếu tôi bảo rằng: “Ðã yêu em”
Thì hóa ra
Tôi đã yêu
Một ảo tưởng của chính mình
Cũng vì thế mà
Thay vì
Làm một bài thơ tuyệt diễm
Chân thành và âu yếm
Hay
Vẽ một bức tranh
Ðẹp như mơ
Tôi đành chỉ bật cười
Với những giọt nắng long lanh
Trên ngàn cây hoa lá
Từ dạo đó
Trên những con đường trải cỏ xanh
Hay phủ đầy gốc gai sỏi đá
Tôi vẫn đi bằng bàn chân trần trụi
Với nụ cười và ánh mắt sơ khai
Ngôn từ đã khép lại
Như những lối mòn sau bước chân phiêu lãng
Và
Những bước chân ra đi
Cũng chính là những bước quay về.
Ba Bà Hoàng Hậu
Ngày xửa ngày xưa, có một ông vua trẻ. Ðức vua cai trị một vương quốc
giàu có xinh đẹp nhưng đẹp nhất có lẽ là ba bà hoàng hậu của đức vua.
Ba vị hoàng hậu này vừa có sắc vừa có tài nên cả ba đều được đức vua sủng
ái như nhau. “Mỗi người có một vẻ, mười phân vẹn mười.”
Cho đến một hôm, nhà vua bỗng nảy ra một ý nghĩ: “Trong ba mỹ nhân này
thế nào cũng có một người tuyệt diệu hơn hai người kia… Nhưng ta không tài
nào nhận ra được, có lẽ vì nhìn mãi có quen mắt đi chăng? Hay là ta hỏi ý
kiến bọn cung phi vậy.”
Ðức vua bèn mở một cuộc trưng cầu dân ý tại hậu cung để tìm xem trong ba
mỹ nhân ai là người đẹp nhất, kết quả cũng không lấy gì làm sáng sủa lắm
vì ai cũng cho rằng cả ba vị hoàng hậu đều đẹp ngang nhau.
Nhà vua lại đem nội vụ ra bàn với đình thần. Kết quả cũng tương tự như
trên. Quan tể tướng khuyên đức vua nên dừng cuộc khảo nghiệm lại vì e nó
chẳng được lợi ích gì mà đôi khi lại mang đến hậu quả khó lường được.
Thay vì nghe theo lời khuyên sáng suốt của vị trung thần lão thành ấy thì
đức vua của chúng ta lại nổi cơn thịnh nộ, truyền lệnh cho quan tể tướng
phải giải quyết cho xong công việc trong vòng ba hôm.
Sau một lúc im lặng, quan tể tướng kính cẩn thưa:
- Muôn
tâu thần trộm nghĩ rằng bọn hạ thần chỉ sở trường về chuyện cung kiếm văn
thơ… còn chuyện đẹp xấu, tướng hảo ra sao thì chắc phải nhường cho những
vị bốc sư. Kinh thành ta có một vị bốc sư nổi tiếng. Hay là bệ hạ cho
mời y vào y sẽ phân biệt rõ ràng hơn chăng?
Nhà vua nguôi giận. Một ông thầy bói được lập tức triệu vào cung để chiêm
ngưỡng dung nhan ba người đẹp. Vị bốc sư không chịu cho biết kết quả ngay
mà xin khất lại ngày hôm sau để về “tra tự điển” lại.
Lão bốc sư đi rồi, quan tể tướng bèn bỏ nhỏ với đức vua:
- Muôn
tâu thánh thượng! Hạ thần trộm nghĩ rằng quý đức bà mỗi người một vẻ đẹp
riêng, tùy theo nhãn quan và sở thích của từng người, ý kiến của chúng
thần có thể bất đồng nhau, nhưng vì sợ uy quyền của đức bà nên bọ hạ thần
không dám nói lên ý kiến của mình mà chỉ kết luận chung rằng cả ba đều tài
sắc ngang nhau… Nếu thần không lầm thì lão bốc sư này cũng lâm vào một
tình thế khó xử như bọn hạ thần nên lão mới khất lại vào ngày mai đó thôi!
- Thế
thì khanh giải quyết bằng cách nào?
- Muôn
tâu bệ hạ giả mạo ba bức thơ, ký tên của ba đức bà, hẹn lão ấy đến ba địa
điểm riêng. Nếu y đến địa điểm nào thì đức bà ấy sẽ là người đẹp nhất.
- Hay
lắm! Khanh hãy thi hành ngay cho trẫm.
Ba bức thư tức tốc được gởi đi và lão bốc sư liền đi đến chỗ hẹn với bà
hoàng đẹp nhất.
Ðức vua truyền lệnh chém đầu lão thầy bói.
Và từ đó đức vua đặc biệt sủng ái vị hoàng hậu vào chung kết này. Hai bà
hoàng hậu còn lại vô cùng tức tối, họ âm mưu với nhau dùng độc dược giết
chết bà hoàng hậu đẹp nhất.
Chuyện bại lộ, đức vua truyền lệnh xử tử luôn hai hoàng hậu còn lại.
Ba vị hoàng hậu xinh đẹp nhất nước đều chết hết. Ðức vua còn lại một mình
để thấy hoàng cung sao mà trống trải lạnh lẽo, bất kể xuân hạ thu đông.
Em thân mến!
Vạn pháp trên thế gian này mỗi pháp đều có một đặt tính riêng những chi
chúng ta bắt đầu “ưu tiên một” cho pháp nào tức là hệ tâm vào nó thì sự
việc bắt đầu trở nên rắc rối. Có lẽ vì vậy mà đức Phật thường khuyên
chúng ta là hãy để yên cho các pháp trụ ở bản vị của nó, chớ xen vào phân
biệt để tự chuốc khổ cho mình và làm di họa cho người chung quanh.
Cũng thế, trong sự tương giao với bạn bè lân cận, mỗi người của chúng ta
đều mang một cá tính riêng biệt, chiếm một vị trí, cách thế khác nhau,
chẳng ai giống ai… Và chúng ta cũng khó mà kết luận rằng ai quan trọng cho
ai… Mùa xuân có hoa lan, mùa thu có hoa cúc, mỗi loài hoa đều có hương sắc
riêng của nó, không thể bắt loài hoa này bắt chước hoa kia được. Em có
thấy rằng số phận rủi ro luôn luôn đến với người mà chúng ta đặc biệt ưu
ái không? Vậy thì, ta có nên ngu ngơ đem cái tình thức phân biệt của mình
xen vào các mối tương giao ấy, để cảm thấy cuộc đời này sao mà lạnh lẽo,
bất kể bốn mùa xuân hạ thu đông hay không?
Làm Sao Ðây
Một hôm đến ngày chợ phiên, bác Xả dắt con đi chợ mua một con lừa. Hai
cha con vui mừng leo lên lưng lừa cho nó chở về nhà. Ði được một quãng
bác nghe tiếng người bình phẩm:
- Trời
đất ơi! Ác thế thì thôi. Cả hai cha con đều thượng lên lưng con lừa thì
nó sống làm sao cho nổi. Bác Xả nghe nói có lý, vội tụt xuống để con cỡi
lừa còn mình đi bộ. Khi ấy bác lại nghe người qua đường bình phẩm:
- Thật
là thời thế đảo điên, con đi lừa, cha đi bộ… bất hiếu thế thì thôi, thảo
nào!
Bác Xả lại lên lừa, thằng con xuống đi bộ. Bấy giờ người ta liền nói:
- Tôi
chưa từng thấy thằng cha nào nhẫn tâm như thế, con thì đi bộ còn mình thì
ngất nghểu trên lưng lừa… chao ôi!
Hai cha con đành đi bộ, con lừa lững thững theo sau. Khách bàng quan lại
bình phẩm:
- Rõ
khổ! Có một con lừa để làm gì mà cả hai bố con phải đi bộ. Ngu ơi là
ngu…!
Em thân mến!
Trong cuộc tương giao với người chung quanh, chúng ta cần lưu ý đến dư
luận để sửa sai những khuyết điểm của mình. Nhưng dư luận không phải là
một thước đo hoàn hảo lắm nên đôi khi chúng ta không khỏi lúng túng như
hai cha con bác Xả trên đây. Có phải thế không em?
Ba Cái Bánh Ít
Xưa có một lão thầy pháp đi hành nghề, dắt theo một chú đệ tử nhỏ.
Trong lúc cầu đảo cho gia chủ, lão lén lấy được ba cái bánh ít và dúi cho
thằng đệ tử đang đứng quạt hầu sau lưng.
Ðám xong, hai thầy trò ra về. Trên đường về lão thầy pháp bảo đồ đệ lấy
bánh ít ra ăn lót dạ. Thằng bé ấp úng nói:
- Khi ấy
con tưởng thầy cho con nên con ăn hết cả rồi…
Hai thầy trò đành tiếp tục đi, thầy trước trò sau. Ðược một quãng, ông
thầy quay lại mắng đệ tử:
- Bộ tao
là tù nhân sao mà mày đi tò tò phía sau như công an áp giải tội phạm vậy?
Trò nghe quở, lật đật chạy đi trước. Ông thầy lại nạt nộ:
- Bộ mày
là thầy tao sao mà dám đi trước tao?
Chú bé liền đi ngang hàng với ông thầy, bấy giờ ông thầy liền trợn mắt
quát:
- Bộ mày
là bạn bè tao sao mà dám đi ngang hàng với tao?
Chú học trò khổ sở, lúng túng, đành vòng tay thưa:
- Bạch
thầy, vậy đệ tử phải đi cách nào cho đúng lễ đây?
Ðến lúc này, ông thầy pháp mới chịu nói rõ ý mình:
- Mày
muốn đi kiểu nào cũng được… miễn sao có ba cái bánh ít trả lại tao thì
đúng lễ ngay.
PC: Sự thật, đôi khi khó nói biết là bao. Có lẽ vì vậy mà loài người phải
có thật nhiều từ ngữ để nói một cách dài dòng như lão thầy pháp trên đây
vậy.
Kỷ Thuật Nhà Nghề
Xưa, có một vị quan muốn may áo mới. Quan cho vời một chàng thợ may đến.
Thợ may nhận vải đo ni tấc xong kính cẩn thưa:
- Bẩm
quan, xin Ngài cho con biết Ngài đã làm quan được bao nhiêu năm rồi ạ?
Ông quan ngạc nhiên hỏi:
- Cái
nhà chú này thật lắm chuyện! Công việc của chú là may áo thì cứ gắng mà
may cho khéo, hỏi chi thêm những chuyện chẳng dính dáng gì đến mình làm
chi thế?
- Bẩm
quan! Con hỏi câu ấy cũng nằm trong phạm vi nghề nghiệp của con. Con mà
may khéo cũng nhờ những câu hỏi tỉ mỉ ấy!
Ông quan ngạc nhiên:
- Hử!
Chú mày nói rõ cho ta nghe… xem sao.
- Bẩm
quan… khó nói quá!
- Mi cứ
nói đi.
- Bẩm,
nhưng nếu có điều gì sơ thất thì xin Ngài thứ lỗi cho con.
- Ừ!
- Bẩm…
theo kinh nghiệm nhà nghề của con thì đức ông nào mới được bổ nhiệm… đều
phải may vạt áo trước dài hơn vạt áo sau, ngực to và bụng nhỏ…
- Sao
thế?
- Bẩm!
Vì các ngài thường hay ngẩng mặt lên và ưỡn ngực ra phía trước ạ…
Bẩm… ngược lại, đức ông nào đã nhậm chức lâu năm thì con phải may vạt áo
sau dài hơn vạt áo trước… vì quý ngài thường phải vào lòn ra cúi với cấp
trên mới giữ chức lâu như thế…
Dạ bẩm, còn các quan trung niên, nghĩa là được tiến cử không quá lâu hay
quá mau thì con may cả hai vạt bằng nhau. Ngài đã hỏi thì con xin thưa
như thế.
Xin đức quan thí cho những điều không phải và cho con biết ngài làm quan
đã bao lâu rồi ạ!
Em thân mến!
Kỹ thuật của bác thợ này, đâu chỉ áp dụng may áo cho các quan thôi đâu… có
phải thế không?
Ðông Thi Nhăn Mặt
Thuở xưa, có một thiếu nữ tên là Tây Thi rất xinh đẹp. Tây Thi có bệnh
đau bụng, mỗi lần gặp cơn đau, nàng ôm mặt rên rỉ, nhan sắc càng yêu kiều,
khiến ai nấy cũng phải tấm tắc mủi lòng.
Cùng làng có Ðông Thi một thiếu nữ xấu xí. Nghe dân chúng trầm trồ về sắc
đẹp của Tây Thi trong những cơn đau bụng, muốn được mọi người chú ý khen
ngợi như Tây Thi, Ðông Thi cũng giả vờ đau bụng và ôm mặt nhăn nhó rên
la.
Nào ngờ, dân chúng tưởng đâu quỷ hiện hình nên gọi nhau bồng con cõng vợ
chạy trốn cả.
Em thân mến!
Như một người đẹp thì nhăn nhó, ho hen, tằng hắng gì, người ta cũng chiêm
ngưỡng cả. Một bậc đã giác ngộ thì nhấc tay cất bước đều là hành vi giác
ngộ. Nếu chúng ta chưa phải là Tây Thi thì chớ có biểu diễn… sắc đẹp,
chưa phải là thiền sư Ðơn Hà thì hãy khoan đốt tượng, chửi Phật, mắng Tổ
đó nghen!
Ăn Trộm Dạy Con
Xưa, có một tên đạo chích rất lành nghề, một hôm con trai y ngỏ ý học nghề
của cha, tên ăn trộm liền dẫn con đi thực tập.
Hai cha con đến một nhà giàu có đánh bả cho lũ chó chết mê mệt xong đạo
chích đào ngạch khoét vách , dắt con chun vào nhà.
Cả nhà đang ngủ say như chết, tên trộm thấy một cái rương to còn trống bèn
giở nắp rương ra, bảo con:
- Con
chun vào đây, hốt hết đồ đạc bỏ vô bao cho cha.
Thằng con y lời, đạo chích bèn đóng nắp gài khoen lại … rồi lẻn ra khỏi
nhà, hô hoán lên ầm ĩ:
- Ăn
trộm! Ăn trộm!
Chủ nhà bừng tỉnh, thấy nhà bị khoét vách, dáo dác tìm kiếm hồi lâu, không
thấy động tĩnh chi hết liền đi ngủ lại.
Thằng con lão chích nằm chết điếng trong rương, tái tê vì sợ và hận cha
khôn tả. Hồi lâu hắn nghĩ ra một kế thoát thân, bèn lấy tay sột soạt vào
thành rương và giả tiếng chuột kêu “chí chí” để đánh lừa chủ nhà.
Nghe chuột kêu, chủ nhà vội thức giấc đốt đèn mở rương đuổi chuột, thằng
bé liền nhỏm dậy, tắt đèn, xô té chủ nhà tông cửa chạy một mạch. Chủ nhà
lục tục kéo nhau, vừa chửi vừa đuổi theo.
Thằng bé chạy đến đường cùng thì gặp một cái giếng, nó vội vàng ôm một cục
đá to liệng xuống giếng và tri hô.
- Thằng
ăn trộm rớt xuống giếng rồi làng xóm ơi! Mọi người đổ xô nhau kéo đến
giếng để bắt trộm, thằng bé chạy một mạch về nhà.
Gặp cha, thằng bé òa lên khóc và không tiếc lời để oán trách cha, đạo
chích chỉ mỉm cười nói:
- Khoan
đã, con hãy kể cho cha nghe con đã thoát thân bằng cách nào?
Cậu con thuật lại từ đầu chí đuôi, lão chích vỗ tay cười ha hả:
- Hay
quá! Con tôi đã thành nghề rồi!
Em thân mến!
Hốt của bỏ vô bao và vác về nhà xài khi có người dắt đi đào ngạch, khoét
vách sẵn… là một điều mà bất cứ thằng cu con nào cũng làm được, nhưng phải
tìm cách thoát thân một mình thì chỉ có thằng cu này. Vì như vậy mà lão
chích mới cười ha hả khi nghe con mình thuật lại đầu đuôi câu chuyện.
Còn chúng ta nhờ nghiệp lực dẫn dắt chui vào thế gian này, tôi và em giống
như thằng cu con, đang lúi húi hốt ngũ dục nhét cho đầy túi tham của mình
thì “ầm” một cái cửa rương khóa chặt. Ðó là lúc chúng ta bị bủa vây và
đối diện với bát phong: lợi, xúy, mắng nhiếc, khen tặng, vinh nhục, vui
buồn v.v… òa lên khóc than và không tiếc lời oán trách cha mẹ, thượng đế…
thì ai cũng làm được. Nhưng làm sao để tự tại trước bát phong thì… tùy
theo sự khéo léo của từng người. Nghệ thuật ăn trộm, nghệ thuật sống hay
nghệ thuật học thiền chỉ là một mà thôi em ạ!
Quyển Kinh Ði Lạc
Ðiệu Bi có một quyển kinh nhật tụng rất quý. Một hôm tụng xong Ðiệu đi
ngủ ngay quên cất quyển kinh đi.
Một chú chuột chạy qua thấy quyển kinh mừng rỡ:
- Má bầy
trẻ mà được món này lót tổ thì còn gì bằng.
Thế là chú chuột na quyển kinh về một chiếc hang ở dưới gầm tủ. Bà chuột
định xé quyển kinh ra lót tã cho sắp nhỏ thì bỗng nghe tiếng “meo meo” của
ông mèo. Bà chuột liền lẩn mất.
Mèo đi đến gặp quyển kinh liền leo lên nằm khoanh đánh một giấc ngon
lành. Ngủ xong, mèo vươn vai, xoa bụng nói: chiếc chiếu này êm quá, mình
ngủ một giấc ngon chi lạ! Và mèo bỏ đi.
Con lu lu đang đi chơi thơ thẩn, bỗng thấy quyển kinh bèn than tuốt ra
vườn, nghĩ bụng: “Mình đem cái này ra kiếm con Nô, hai đứa chơi trò ném
banh mới được.”
Chơi chán, Nô và Lu bỏ quyển kinh giữa đường. Cu Bình đi học về bắt được
reo: “A! Mình có giấy dán diều và xếp ghe chơi rồi.”
Thế là quyển kinh được dán thành con diều bay lên trời, xếp thành ghe trôi
bềnh bồng trong mương nước.
Một phần còn lại, được lũ mối xé nhỏ ra, khênh về tổ, nấu nướng và ăn tiệc
mừng sinh nhật của mối chúa.
Em thân mến!
Chỉ có quyển sách thôi mà Ðiệu Bi gọi là kinh nhật tụng, chú chuột cho là
đồ lót ổ, con mèo dùng như một chiếc chiếu, chó Lu đem làm đồ chơi, cu
Bình dán thành con diều và lũ mối thấy đó là món ăn khoái khẩu.
Tại sao thế?
Ðức Phật dạy rằng, tùy theo từng biệt nghiệp của chúng sanh mà mỗi kẻ có
một lối nhìn kiến chấp, quan niệm về vạn hữu hoàn toàn khác nhau. Và điều
rắc rối nhất ai ai cũng cho rằng quan điểm và cách sử dụng của mình là hay
nhất, thông minh nhất, hợp lý nhất v.v…
Và đó cũng chính là điều điên đảo nhất của chúng ta. Có phải thế không?
Người Hướng Ðạo
Một hôm, trên đường đi dạo, sư bỗng khám phá ra một khoảng đường trơn trợt
trong khuôn viên chùa, ai sơ ý là té dễ như chơi.
Ðộng lòng bi mẫn, sư bỏ cả một buổi ngủ trưa để hì hục đóng, sơn và vẽ một
tấm bảng báo động.
Xong, đem cắm ở quãng đường trơn trợt dễ té.
Ngẫm lại công trình của mình, sư khoan khoái đi tới đi lui, nhìn ngắm nghĩ
bụng:
- Thật
là an toàn! Có tấm bảng báo động nơi đây thì bảo đảm chẳng có ai trợt
chân cả…
Ngờ đâu sau một bước đi lui, sư trở thành người trợt chân đầu tiên.
Em thân mến!
Trong quãng đường vừa qua, ít nhất cũng đã hơn một lần chúng ta bị té kiểu
này. Cái đau của thể xác không thấm vào đâu so với niềm tủi hổ, có phải
không?
Nhưng không sau! Mỗi lần té xong, mình vẫn còn có thể đứng dậy được… Và
nếu còn gặp quãng đường nào cần vẽ bảng báo động chúng ta vẫn sẵn sàng bỏ
ngủ trưa để “ăn cơm nhà đi làm chuyện hàng xóm” miễn sao có người nhờ tấm
bảng của mình mà khỏi bị trợt chân thì… dù té bao nhiêu lần, mình vẫn thấy
vui…
Em có thấy thế không?
Xưa có một chú bé tên là cu Lém. Lém đi chơi và ngủ quên ở một miếu thờ
thổ thần.
Nửa đêm Lém giật mình tỉnh giấc vì bước chân của một con quỷ trắng. Con
quỷ này mang trên vai một xác chết của cụ già. Nó hí hửng ngồi xuống định
ăn thịt xác chết thì bỗng có tiếng chân hối hả chạy đến. Lại thêm một con
quỷ đen xuất hiện. Cả hai con đều tranh nhau xác chết, không ai chịu thua
ai. Quỷ trắng bèn nhờ cu Lém làm trọng tài. Cu Lém đành phải tuyên bố:
-
Tôi thấy ông trắng vác xác chết vô trước. Vậy cái xác này là của ông.
Quỷ đen liền tức giận bẻ một cánh tay của cu Lém bỏ vô miệng nhay rau ráu.
Quỷ trắng thấy cu Lém vì binh vực mình mà bị cụt tay bèn bẻ một tay của
xác chết đền cho cu Lém, nhờ pháp thuật của con quỷ, tay cu Lém liền ngay
không hề hấn gì.
Quỷ đen thấy vậy, bèn bẻ thêm một cánh tay kia của cu Lém cho vào miệng
nhai. Quỷ trắng lại đền cho Lém cánh tay còn lại của xác chết.
Cứ thế, lần lượt hai chân, đầu và mình của cu Lém đều chui vào bụng con
quỷ đen. Ngược lại, đầu mình tay chân của xác chết cụ già được ráp cho cu
Lém.
Gà gáy sáng, hai con quỷ biến mất, cu Lém trở về nhà. Thấy nó bước vào ,
ba má cu Lém ngạc nhiên chắp tay chào hỏi:
-
Thưa cụ! Cụ tìm chúng cháu có việc chi ạ!
Em thân mến!
Ngày và đêm cũng đã tranh nhau biến đổi thân xác của chúng ta, y hệt như
hai con quỷ trắng và đen đã thay đổi thân xác của thằng cu Lém. Ðó là một
điều hiển nhiên… Không ai còn lạ lùng gì nữa. Có lạ lùng chăng là loài
người của chúng ta, ai cũng ngỡ rằng mình không bao giờ già và không bao
giờ chết vậy. Hỡi ơi! Chuyện khó tin mà lại có thật!
Uttiga là một thanh niên Bà La Môn ở kinh thành Xá Vệ. Sau khi làm đầy đủ
bổn phận của một cư sĩ tại gia như bố thí cúng dường. Uttiga đến yến kiến
Phật và xin được xuất gia. Ðức đạo sư chấp nhận cho chàng được toại
nguyện.
Sau ngày xuất gia và thọ tỳ khưu giới, Uttiga đâm hoảng chàng tự nghĩ:
“Không ngờ muốn làm một sa môn phải giữ đến 250 giới… chỉ nhớ thôi cũng đã
đủ mệt rồi… Nói gì đến thọ trì… Thôi chết rồi!
Và thầy tỳ kheo Uttiga đâm ra lúng túng vì thầy không tài nào nhớ nổi 250
giới cấm. Uttiga đến gặp Phật và xin hoàn tục vì chàng không tài nào xoay
sở với ngần ấy giới luật phải giữ. Ðức đạo sư ân cần khuyên hỏi:
-
Này tỳ kheo! Con xin hoàn tục vì các điều giới quá nhiều khiến con không
nhớ nổi, chứ không phải vì con nuối tiếc dục lạc thế gian, có phải thế
không?
-
Bạch Thế Tôn! Ðúng như vậy! Con nghĩ rằng khi sống đời cư sĩ, chỉ phải
giữ có năm giới cấm… là những điều mà con có thể thi hành được. Còn hôm
nay, 250 giới của tỳ kheo, con không tài nào nhớ hết thì làm sao mà vâng
giữ chi bằng con xin hoàn tục để khỏi vi phạm đến giới pháp cao sâu vi
diệu của tăng đoàn.
-
Này tỳ kheo! Nếu Như Lai rút 250 giới lại thật tóm tắt, chỉ còn một vài
điều giới thôi, thì con có thể tiếp tục đời sống xuất gia hay không?
-
Bạch Thế Tôn, được như thế thì còn gì bằng.
-
Này tỳ kheo bắt đầu từ hôm nay, con chỉ giữ có một giới này thôi. Ðó là
canh chừng thật chặt chẽ những móng tâm động niệm của con, biết rõ từng ý
nghĩ khởi lên là thiện hay ác.
Này tỳ kheo! Làm sao biết đó là ý tưởng thiện hay ác? Ý tưởng ác là
những ý tưởng mà nếu đem ra nói hay làm, sẽ gây tai hại cho mình cho người
hoặc cả hai. Ðối với những ý tưởng như thế, con phải canh chừng theo dõi
nó từ lúc mới sanh khởi, lan rộng cho đến khi diệt mất.
Này tỳ kheo! Thế nào là những ý tưởng thiện. Ðó là những ý tưởng mà khi
đem ra thi hành sẽ không làm hại mình, hại người hoặc hại cả hai… Ðối với
những ý tưởng loại này con cũng phải theo dõi từ lúc chúng sanh khởi, lan
rộng cho đến khi hoại diệt mất.
Này tỳ kheo! Với một điều giới như thế, con có thể giữ được hay không?
Thầy tỳ kheo Uttiga cung kính thưa:
-
Bạch Thế Tôn, con có thể giữ được và con xin Thế Tôn cho phép con ở lại
tịnh xá tu học.
Rồi thầy tỳ kheo Uttiga với một điều giới duy nhất như thế tinh cần tu
tập. Không may cho thầy một cơn bệnh nặng chợt đến khiến thầy phải gián
đoạn công phu. Cơn bệnh này tiếp nối cơn bệnh khác, không dứt khiến thầy
Uttiga vô cùng sầu khổ, một hôm trên giường bệnh thầy chợt nghĩ:
“Trong khi ta lâm bệnh khổ, thân thể khó chịu vô vàn như thế này, các ý
tưởng sinh khởi liên miên không bao giờ dứt. Nếu cái thân xác thịt này
không được tiếp tế thức ăn, nước uống và không khí thì có lẽ nó đã chết từ
lâu. Còn cái vọng tâm của ta, nếu không được tiếp tế bằng những ý niệm
thì có lẽ nó cũng đã chết từ lâu lắm rồi. Thân ta tuy hiện đang bị bệnh
khổ bức bách nhưng nó không phải là một cái cớ để ta buông lung. Huống
chi đấng đạo sư đã thương tình tóm tắt 250 điều giới trong chỉ mỗi một
giới mà ta còn lơ là thì thật là đáng trách.
Nghĩ như thế tỳ kheo Uttiga tinh cần tu tập. Chẳng bao lâu thầy đắc A La
Hán ngay khi còn nằm trên giường bệnh. Người ta còn ghi lại được một bài
kệ đơn giản của vị La Hán này như sau:
“Trong khi ta lâm bệnh
Niệm khởi lên nơi ta
Trong khi ta lâm bệnh
Không phải thời phóng dật.”
Trường hợp của thầy tỳ kheo Uttiga cũng là trường hợp của em và tôi. Dù
đã thọ năm giới, 10 giới, 250 giới hay 348 giới đi nữa, tuy số lượng có
sai biệt nhưng tinh thần của giới luật không ngoài hai điểm: “Dứt ác, làm
lành.” Ðó chính là giới răn mà đấng đạo sư đã tóm tắt cho thầy Uttiga.
Giữ gìn giới đạo này, nhà thiền gọi là “chăn châu” đó em.
Thử thời thuyết đạo hãn tri âm
Chỉ vị như tư tán đạo tâm
Hề tợ Tử Kỳ đa sảng sấm
Thính lai nhất đạt Bá Nha cầm.
Thiền sư Tịnh Giới
Ðời nay hiếm kẻ tri ân
Ðến nghe thuyết giảng đạo tâm mơ màng
Tử Kỳ lòng quả chư nhàn
Thoảng nghe đã hiểu cung đàn Bá Nha.
Ôi dư cốt dốt độc hoàng chương
Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương
Thủ ba suy thương hòa mộc dạc
Tùng giao nhân tiếu lão tăng mang.
Thiền sư Huyền Quang (VN)
Củi hết lò còn vương vấn khói nhẹ
Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh
Tay cầm dùi mõ tay nâng sáo
Thiên hạ cười ta cứ mặt tình.
Song triêu nguyệt đáo thiền sàng mất
Tùng thiếu phong xuy tỉnh khách miên…
Ðầu giường trăng dọi song thưa
Gió ru thông hát khách đưa giấc nồng.
Dasaka
Trong thời Phật còn tại thế Dasaka sinh trưởng trong một gia đình nô bộc
dưới quyền của nhà cự phú Cấp Cô Ðộc. Chàng giữ nhiệm vụ canh gác tinh xá
Kỳ Hoàn để chư tăng không bị khách lạ khuấy nhiễu trong khi tọa thiền.
Ðược chiêm ngưỡng từ dung của đấng đạo sư cùng nếp sống thanh tịnh của
tăng đoàn, Dasaka ao ước được thoát kiếp nô lệ và xuất gia tu học. Nguyện
vọng này được thực hiện ngay, với sự bảo trợ của trưởng giả Cấp Cô Ðộc,
chàng gác dan Dasaka biến thành tỳ kheo Dasaka.
Sau ngày xuất gia Dasaka vẫn giữ nguyên thói lười cố hữu. Mỗi ngày, sau
khi khất thực và nhận đầy đủ thức ăn, tỳ kheo Dasaka thường tìm một chỗ
thanh tịnh và nằm khoèo xuống ngủ. Trong những giờ học kinh, sư thường
tìm cách lẩn tránh ra phía sau hội chúng, ngồi tựa lưng vào một gốc cây và
thả hồn vào cõi mộng. Những sự kiện này không thoát khỏi ánh mắt của đức
đạo sư. Một hôm nhằm lúc Dasaka vừa mở mắt sau một giấc ngủ dài, đang
vươn vai để ngủ tiếp, đức đạo sư liền đọc một bài kệ:
“Những ai mê ngủ ham ăn
Lăn qua trở lại ngủ lăn suốt ngày
Như con heo mập ăn hoài
Người ngu tiếp tục chuỗi ngày thai sanh.”
Bài kệ rõ ràng đang chỉ trách một người ham ăn mê ngủ là Dasaka… khiến sư
hốt hoảng và hổ thẹn đến toát mồ hôi. Từ đó tỳ kheo Dasaka tinh cần tu
tập. Công khó của thầy cuối cùng cũng được đền bù xứng đáng. Sau một
thời gian hạ thủ, tỳ kheo Dasaka đắc quả A La Hán.
Ðức A La Hán Dasaka không làm thêm một bài kệ mới nào. Ngài chỉ đọc lại
bài kệ cảnh tỉnh của đấng đạo sư đối với ngài trên, như một lời tuyên bố
về chánh trí của La Hán Dasaka.
Em thân mến!
Chúng ta có đồng minh rồi đó!
Bảng Chỉ Ðường
Tu viện ở cách xa đường tráng nhựa, tận cùng trong một thôn xóm hẻo lánh
nên khách thập phương đến viếng chùa thường ngao ngán và bị lạc đường vì
lối vào chùa là một con đường có nhiều ngã ba.
Theo lời yêu cầu của nhiều người, chư sư cho cắm các bảng chỉ đường tại
các lối tẻ.
Từ khi có bảng chỉ đường số người lạc đường lại tăng lên gấp bội, ngay cả
những người đã đến chùa nhiều lần. Chư sư ngạc nhiên, liền mở cuộc điều
tra.
Thì ra… các chú mục đồng tinh nghịch đã thừa lúc vắng người, đem bảng chỉ
đường cặm sang một lối khác.
Chư sư liền đem tấm bảng chỉ đường về chùa cất.
Em thân mến!
Tấm bảng chỉ đường vẫn còn đó, chữ đẹp và rõ ràng trên nền sơn còn mới,
nhưng lại bị một bàn tay chơi xấu hướng về một lối đi sai, thì cũng phải
dẹp bỏ gấp, vì chẳng những nó không làm tròn bổn phận chỉ dẫn, mà còn làm
sai lạc cho những người quen lối nữa… Trong trường hợp ấy duy trì bảng chỉ
đường là một điều ngu xuẩn, em có thấy như thế không?
Vậy thì, em đã hiểu tại sao Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma người khai đường cho Thiền
tông Trung Hoa đã tuyên bố:
“Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật”… chưa?
Thiền Tông không câu nệ vào văn tự kinh điển, không phải vì chư sư xem
thường lời Phật dạy. Nhưng trong trường hợp này, kinh điển giống như
những tấm bảng chỉ đường đẹp và rõ ràng thật đấy song đã bị những bàn tay
tinh nghịch đổi chỗ mất rồi, thì đành phải “truyền riêng ngoài giáo” vậy.
Em có thấy như thế không?
Bát Cháu Lú
Xưa, có một vị thú y mệnh chung thần hồn xuống âm phủ, sau khi được diêm
vương xét xử, hồn ma được đưa đến quán cháo lú ăn trước khi đi đầu thai.
Vào quán cháo, hồn ma tình cờ gặp phải một bầy chó mà thuở sanh tiền ông
thường chữa bệnh cho chúng. Bầy chó vốn có nghĩa rất mừng rỡ khi gặp lại
ông. Ðến lúc bà hàng dọn cháo, ông nhịn phần mình cho bầy chó ăn.
Công an ở diêm phủ dắt hồn ma đi đầu thai làm một thằng Cu. Nhờ không ăn
cháo lú, nên thằng Cu này nhớ rõ tiền kiếp mồn một. Ðược 5 tuổi, thằng Cu
khẩn khoản xin ba má dắt đi thăm thân bằng quyến thuộc cũ. Ba má nó thấy
lạ nhưng vẫn chìu con. Cuộc tao ngộ giữa thân quyến và thằng Cu diễn ra
trong một không khí éo le và cảm động. Thằng Cu được gặp lại bà vợ cũ,
con trai, con gái, cháu nội, cháu ngoại. Bằng giọng nói ngọng nghịu của
đứa bé lên 5, Cu kể vanh vách tiền kiếp của mình cùng thăm hỏi hàn quyên
với vợ con, cháu chít nữa.
Sau câu chuyện này thằng Cu không thể sống bình thường như bao nhiêu thằng
bé khác, gánh nặng của tiền kiếp hằn sâu trên thân xác thơ dại của thằng
bé, những mối dây thân ái trong quá khứ khiến thằng bé quên mất nhịp sống
hiện tại. Cuối cùng ba má nó đành đưa nó vào chùa, không phải để tu học
mà là để đi dưỡng tâm thần. Cậu con trai út của ông bác sĩ thú y cũng
tình nguyện vào chùa để chăm sóc người cha bé con của mình và tu tâm dưỡng
tánh luôn thể.
Em thân mến!
Ba Kiến Châu đã kể câu chuyện trên cho tôi và các bạn nghe, mẫu chuyện mà
ông đã lượm lặt được trên những nẻo đường xuôi ngược. Ba tôi còn quả
quyết rằng câu chuyện trên hoàn toàn có thật. Những nhân