HƯ HƯ LỤC
Thích Nữ Như Thủy
---o0o---
Phần 1
Ngày
xửa, ngày xưa, có một cô công chúa Út con gái yêu của hoàng đế La Mã - một
ông hoàng giàu sang độc tài và rất hung bạo.
Lúc lớn
lên, nàng công chúa lại đem lòng thầm yêu trộm nhớ một chàng trai trẻ tuổi
trong đội Ngự lâm quân của cha mình. Nhà có ngạch vách có tai, câu chuyện
tình thơ mộng này chẳng bao lâu lại lọt vào tai ông hoàng. Sau một hồi
xoắn râu giận dữ, ông hoàng ra lệnh đưa chàng trai tốt phước (nhưng đang
tái sanh mặt mũi) ra trước đấu trường.
Chàng
trẻ tuổi được dẫn đến trước hai gian phòng và được quyền mở một trong hai
cánh cửa.
Nếu
chàng vô tội, thần linh sẽ giúp chàng mở cánh cửa hạnh phúc: một giai
nhân đang chờ chàng cùng với số của hồi môn đồ sộ.
Nếu
chàng có tội, cánh cửa sẽ mở lối cho một ả sư tử đói bụng, đang chờ chàng
bằng hai hàm răng bén nhọn.
Trong
giây phút định mệnh chàng ngự lâm bối rối nhìn quanh... và nơi khán đài
danh dự, chàng bỗng bắt gặp ngón tay điềm chỉ của công chúa. Lòng đang hy
vọng chàng liền mở một trong hai cánh cửa.
Nhiều
thế hệ đã trôi qua, các ông hoàng bà chúa đã biến mất... Nhưng người ta
vẫn chưa đồng ý với nhau về đoạn kết của câu chuyện.
Thuở
xưa, có một thiếu nữ gia đen kết hôn với một người gia trắng, cuộc hôn
nhân dị chủng này gây sự bất bình cho cả hai dân tộc da đen lẫn gia
trắng. Người vợ bị gia đình cô từ bỏ, trong khi xã hội da trắng cũng
không chấp nhận cô, tất cả đều khinh rẽ và đối xử với cô rất đen bạc.
Ðứa con
đầu lòng của người thiếu phụ đáng thương này chào đời như một ân sủng của
Thượng đế. Chú bé trắng trẻo khôi ngô khiến ai trông thấy cũng phải nựng
nịu. Chúng ta gọi nó là thằng cu Trắng cho tiện. Cu Trắng được nhận vào
lớp học dành riêng cho dân da trắng lúc nó lên 5 tuổi. Sự thông minh đĩnh
ngộ của thằng bé khiến mọi người phớt lờ đi nguồn gốc da đen của nó.
Cu Trắng
đi học được ít lâu thì người mẹ hạ sanh thêm một đứa em. Lần này Thượng
đế không thiên vị nữa, một thằng cu đen thủi đen thui chào đời. Chúng ta
gọi nó là thằng cu Ðen cho tiện.
Cu Trắng
đem lại cho bố mẹ nó bao nhiêu niềm vui thì cu Ðen đem đến cho họ bấy
nhiêu khổ sầu. Cu Ðen biết thân mình chỉ lẩn quẩn ở bên mẹ, không dám và
không được đi chơi với bố cùng anh.
Lên 5
tuổi, cu Ðen cũng được bố mẹ chạy chọt cho vào học chung trường với cu
Trắng. Nó bị bạn bè da trắng trêu chọc, hành hạ dữ dội. Cu Trắng cũng
khổ sở vì sự hiện diện của thằng em không ít. Cuối cùng cả hai anh em đều
bị chủng tộc da trắng đuổi ra khỏi trường.
Túng
thế, bố mẹ của chúng phải sắp xếp như thế này: Cu Trắng được gởi đến một
trường học nội trú của dân da trắng, thật xa để không ai biết đến nguồn
gốc da màu của mẹ và em nó. Còn cu Ðen thì được gởi về quê ngoại theo học
tại một trường nô lệ dành riêng cho dân da màu. Ông bố tiếp tục đi làm, bà
mẹ thui thủi một mình ở nhà mà lòng nhớ con khôn tả. Sự hợp chủng kỳ diệu
của hai dòng máu bất chấp sự kỳ thị của loài người đã khiến cu Trắng thành
một đứa bé thông minh vượt bực. Ðiều này là nguồn an ủi cho bà mẹ và nàng
thiếu phụ đáng thương này đặt hết hy vọng vào đứa con đầu lòng. Riêng
thằng cu Ðen, màu da đen đúa đã xác định hẳn số phần hẩm hiu của nó.
Ở trường
học dành riêng cho dân da trắng, cu Trắng được thầy cô yêu mến, bạn bè
kính nể, không một ai có mảy may ngờ vực về nguồn gốc da màu của nó.
Riêng thằng cu Trắng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ mọi người biết được sự
thật về mẹ và em mình, sẽ tống cổ nó ra khỏi trường. Vì thế cu Trắng rất
lấy làm khổ sở khi phải tiếp xúc với mẹ và em. Những ngày nghỉ học, cu
Trắng thường la cà ở nhà bạn bè để cho bà mẹ ở nhà mỏi mòn trông đợi, và
bà đã chết trong nỗi buồn thương đó, bố chúng cũng không sống được bao
lâu. Sau khi bố mẹ qua đời, cu Trắng liền cắt đứt liên lạc với em.
Về sau,
cu Trắng trở thành một chàng trai học thức, đẹp trai... Nó vào lính làm
đến đại úy, rồi giải ngũ về làm biện lý tại một thành phố lớn, sống một
cuộc đời giàu sang danh vọng như bao nhiêu người Âu khác, có khác chăng là
lòng lúc nào cũng hồi hộp lo sợ người ta khám phá ra dòng máu lai đen của
mình, dù cu Trắng đã khôn khéo thay tên đổi họ.
Riêng
thằng cu Ðen, thì không được may mắn như anh, màu da của nó đã xác định
sẵn địa vị của cu Ðen trong xã hội. Biết anh không thích mình nên cu Ðen
chỉ làm bạn với sách vở và những người bạn cùng màu da. Hai anh em đều
khôi ngô, thông minh như nhau. Có khác chăng là hai màu da và cu Ðen sống
hoàn toàn thoải mái không có nỗi lo sợ bị lộ tung tích ám ảnh suốt ngày
đêm như cu Trắng.
Sau mười
mấy năm trời cách biệt, một hôm cu Ðen tình cờ đến gần anh. Ðược cu Trắng
chấp thuận cu Ðen đến thăm anh. Vì cuộc gặp gỡ này một tai nạn xảy ra,
mọi người đều biết chàng cu Trắng là dân da màu. Tất cả những gì cu Trắng
đã dày công gây dựng như danh vọng, tình yêu, sự nghiệp đều nhất loạt sụp
đổ.
Em thân
mến!
Câu
chuyện trên đây được rút ra từ quyển sách “Hãy để ngày ấy lụi tàn” của một
văn sĩ người Anh. Ở đây tôi không cốt ý kể cho em nghe về một chuyện tình
bi thảm của thế gian giới, tôi chỉ muốn hỏi em về tâm trạng của anh chàng
cu Trắng trong mỗi con người chúng ta – tôi và em – Có phải dù chúng ta có
cố gắng gìn giữ tập luyện tu hành để tạo cho mình một dáng dấp đàng hoàng
thuần hậu, thánh thiện đến đâu đi nữa.... thì trong tận cùng thân tâm em
và tôi đều phải đau khổ và ghi nhận rằng cái lý lịch đen, tức phần ác xấu,
bất thiện vẫn còn ngũ ngầm ở đó. Và y hệt như anh chàng cu Trắng, nếu màu
da bên ngoài của chàng ta được xã hội ưu đãi, mến chuộng bao nhiêu thì
dòng máu lai đen nằm trong thân thể tạo thành một nỗi mặc cảm dày vò, bứt
rứt, bấy nhiêu. Có bao giờ em thấy điều đó không? Sau những đức tính từ
bi hỷ xả, tế nhị dịu dàng, đắc nhân tâm... những điều kiện ắc có và đủ để
tạo thành con người hợp thời trang, lịch sự nhất mực đó, có phải em đã
từng xót xa ghi nhận rằng những mầm móng tham sân, ganh ghét, độc ác, ích
kỷ vẫn còn nằm sờ sờ ra đó... Có lạ chăng là mọi người chưa nhận thấy...
Và vì thế, người chung quanh càng thương mến, ái mộ bao nhiêu thì em càng
thấy mình lố bịch, giả dối bấy nhiêu.
Trong
câu chuyện khi nào cu Ðen gặp gỡ hay liên lạc với cu Trắng thì cái thế
giới hư danh, ảo vọng của chàng cu Trắng liền bị đe dọa sẽ sụp đổ. Chúng
ta cũng thế sau biết bao là công khó tập luyện để có một phong thái tu
hành rất mực thì chỉ cần một cơn giận, một nụ cười mỉa mai, một cái nhìn
ganh tị đến viếng thăm... là tất cả cái bề ngoài sơn son thếp vàng đó liền
sụp đổ tan tành.
Bi kịch
của câu chuyện ở chỗ chàng cu Trắng chối bỏ dòng máu lai đen của chàng, cố
gắng khỏa lấp để mạo nhận mình là da trắng 100% nên lúc nào chàng ta cũng
phải nơm nớp lo sợ bị lộ tung tích.
Tại sao
chàng trai lại cam chịu sống một cuộc đời đầy sợ hãi, giả dối và bấp bênh
như thế? Chính cái thế giới phù hoa, những đặc quyền ưu tiên dành cho dân
da trắng đã khiến chàng thèm thuồng và ao ước được hưởng như họ.
Trở lại
của chúng ta ngay từ thơ bé, chúng mình đã được ba mẹ và thầy cô giảng dạy
rằng... phải cố gắng làm sao để trở thành một đứa bé ngoan ngoãn, tử tế,
dễ thương. Lúc dần dần lớn lên, xã hội lại cho ta một cái khuôn: thế nào
là một người lịch sự, đắc nhân tâm, được mọi người yêu mến. Và khi em
bước chân vào chùa, người xung quanh liền khen em là đại trượng phu, là sa
môn, là thầy của mọi người v.v...
Hơn lúc
nào hết đây là lúc em chối bỏ cái bản ngã thật sự của mình để cố gắng rập
khuôn theo một hình bóng, một nhân dáng nào mà người chung quanh em chờ
đợi và ca tụng. Ðó là lúc mà chàng cu Trắng đang cố gắng chứng tỏ mình là
dân da trắng 100%.
Em thân
mến!
Nếu em
đã thành công nghĩa là em đã trở thành một bậc chân tu thánh thiện, trắng
bạch như vỏ ốc, không ai có thể tìm ra một chút xíu tỳ vết nào... và nhất
là em rất bằng lòng về con người của em, và những đức tính mà em đã dày
công tập luyện, cùng những quyền lợi phụ tùng mà thế nhân đã cung kính
dành cho cái vỏ khả kính ấy, thì câu chuyện này xin ngừng lại nơi đây.
Nhưng
nếu em thoáng thấy đã có một cái gì trục trặc, bất ổn, giả dối... trong
con người đầy mâu thuẫn của mình, thì đâu hãy thử một lần, lấy hết can đảm
nhìn kỹ mình, nó ra sao thì nhận như thế đó. Hãy thử đừng nỗ lực, cố gắng
biến cải bản ngã khác mà em cho là tốt đẹp hơn. Chàng cu Trắng mà dám
nhìn nhận mình là dân da màu thì ... hơi đau thật đấy, có nghĩa là chàng
sẽ mất tất cả những uy danh và quyền lợi mà xã hội đã dành cho thế cấp da
trắng... Cũng thế khi em chịu nhận mình là một tôn giả chúng sanh đầy đủ
tham sân si... như trăm ngàn chúng sanh tầm thường khác thì em sẽ đánh mất
hết lòng ái mộ, tôn kính của người chung quanh đã dành cho em. Nhưng bù
lại chàng cu Trắng được sống hồn nhiên, thoải mái... không còn phập phòng
lo sợ bị lộ tẩy... em sẽ thấy có một khung trời kỳ diệu mở ra trước mặt.
Ðau đớn biết bao khi ta phải chứng kiến ngày lâm chung của cái huyễn ngã
mà ta đã khổ công che đậy, tập luyện... nhưng bù lại ta sẽ không còn sợ
hãi lo ngại... nghĩa là “vô hữu khủng bố, bô quái ngại” (không còn sợ hãi,
lo ngại... cái quái gì hết).
Chấp
nhận mình có những tánh xấu không có nghĩa là em sống si mê, buông mình
theo vô minh dục vọng, mà chấp nhận có nghĩa là bình thản quán sát, theo
dõi để thấu đáu toàn thể cái cơ cấu được mệnh danh là TA, là “bản ngã” của
ta. Ðây cũng chính là chỗ mà ngài Huyền Giác quả quyết khẳng định: “Vô
minh thật tánh tức Phật tánh” đó em!
Thuở
xưa, có một cô gái miền quê tên gọi là Bông. Một hôm, đến ngày chợ phiên
Bông được mẹ sai đi bán mật.
Trên
đường đi đến chợ, Bông vừa đi vừa nghĩ ngợi lan man...
“Khi
sáng, mẹ có hứa rằng... nếu bán được giá hời, mẹ sẽ cho riêng Bông một
quan tiền để tùy ý sử dụng. Bông sẽ mua cái gì nhỉ? À Bông sẽ mua nửa
chục con gà, những chú gà lông nõn như tơ, vừa bằng cái chén Tống ấy mà...
Ðàn gà gặp tay Bông biết nuôi thì phải biết... con nào con nấy mau lớn như
thổi... Chúng sanh con đẻ cháu nhiều vô kể, chỉ hiềm một nỗi là chúng hay
bơi xới cả ngày... cho nên một hôm, Bông bực mình bán quách đi cả, để mua
hai chú lợn con ủn ỉn về nuôi cho tiện. Phiên chợ cuối năm Bông lùa lợn
đi bán. Dạo cận Tết lợn bát rất được giá... Bông mua một chiếc áo dài màu
hoa cà, một chiếc quần sa teng trắng, một đôi hài cườm như lũ con gái ở
xóm lò lu thường mang. Vẫn còn nhiều tiền, mình mua cái gì nhĩ? Một
chiếc lược cài hay khăn voan choàng đầu? Một chiếc dù hay một thỏi
son?... À, phải rồi! Một chiếc trâm cài tóc. Tết đến Bông sẽ mặc quần áo
mới, đi hài cườm, chiếc trâm có nhận hạt thủy tinh lấp la lấp lánh trên
mái tóc nhung đen. Một chàng trai trẻ tuổi đến ngỏ chuyện làm quen với
Bông... Bông e thẹn nép mình dưới một khóm lá... để đỡ ngượn. Bông đưa
tay cài lại chiếc trâm, nghiên đầu, xõa tóc che bớt đôi má đỏ bừng vì
thẹn... thì... xoảng! Bông ngơ ngác thấy mình đang đứng giữa đường làng,
hũ mật đổ nhào xuống đất vỡ làm ba bốn mãnh... Áo lượt, quần là, cành trâm
cùng chàng trẻ tuổi đều tan biến đâu mất... Cô thiếu nữ hay mơ mộng này
không biết làm gì hơn là ôm mặt khóc òa...
PC: Cái
này gọi là: “Bừng con mắt dậy thấy mình tay không!”
Thuở
xưa, có một nàng công chúa bị quân địch bắt về giam giữ tại một hang núi
nọ. Quân giặc trói nàng bằng một chiếc cùm bằng sắt, nạn nhân liền phản
đối ấm ĩ, lúc nào cũng tìm cách thoát thân.
Cuối
cùng bọn giặc nhốt nàng vào một chiếc lầu sơn son thếp vàng thật đẹp, đổi
chiếc cùm bằng sắt bằng chiếc cùm vàng nạm ngọc... Nạn nhân liền đổi giận
làm vui, nghĩ rằng từ nay mình được sở hữu cả một gia tài khổng lồ nên
đành cam chịu cảnh tù tội, không bao giờ nghĩ cách thoát thân nũa.
Em thân
mến!
Những
chiếc cùm dù có làm bằng phẩm lượng khác nhau đi nữa, chúng cũng có cùng
mục đích là trói buộc, tước đoạt sự tự do của chúng ta. Cởi bỏ một chiếc
cùm bằng sắt, bằng gỗ... tuy là khó thật nhưng so với chiếc cùm bằng vàng
bạc, kim cương... thì mới là thiên nan vạn nan. Những người bị trói bằng
chiếc cùm quý có thể tự tử chết nếu được giải thoát. Em có thấy điều ấy
không?
Có lẽ vì
thế mà kinh Kim Cang có câu:
“Pháp
thượng ưng xả hà huống phi pháp”, nghĩa là “Cùm vàng cũng phải cởi nữa là
cùm bằng kẽm gai chăng?”
Xưa, có
một chú học trò được dịp lên phố chơi. Nhằm ngày chợ phiên một cuộc mất
cắp xảy ra tại quán trọ. Chú học trò liền bị quan huyện bắt nhốt vì người
ta nghi ngờ chú là thủ phạm.
Sau khi
trải qua những thủ tục tra hỏi phiền phức, quan huyện tìm ra thủ phạm
chính, chú học trò được trắng án ra về.
Khi về
làng gặp lại vị thầy dạy học, chú nhỏ tức tưởi kể lại tự sự, bộc lộ nỗi
hàm oan của mình.
Ông thầy
im lặng nghe xong câu chuyện, nghiêm nghị ra lệng đánh đệ tử 10 roi phạt.
Ðương sự rất ngạc nhiên nhưng không dám cãi lời thầy, riu ríu leo lên bộ
phản nằm chờ trận đòn mà lòng hoang mang vô kể.
Các bạn
chú thấy thế ngạc nhiên thưa:
-
Thưa thầy, trò này vô tội sao lại bị đòn?
Ông thầy
từ tốn giải thích:
-
Ðành rằng nó vô tội. Nhưng tại sao giữa phố chợ đông đảo, chỉ có
mình nó bị tình nghi là kẻ cắp? Ta đánh đây là phạt cái tội nó đã có bộ
vó của thằng ăn cắp để cho người ta nghi ngờ. Nếu nó không chỉnh đốn tư
cách lại ta e rằng nó sẽ bị hàm oan nhiều lần nữa!
Em thân
mến!
Ðây là
một trong những cách xử thế tuyệt diệu của người xưa. Cổ nhân đào luyện
thế hệ đàn em phải sống sao cho “cúi không thẹn đất, ngẩng không thẹn
trời.” Ðành rằng chú bé trên đây không hề gian tham, nhưng vị thầy không
bằng lòng khi thấy học trò mình chưa đủ tư cách chính nhân quân tử khiến
người ta mất lòng tin nơi mình. Trong khi đức Phật cũng đã từng dặn dò
chúng ta rằng: “Không phải nhờ ở lời khen của thế nhân mà con được đạo
giải thoát, cũng không phải vì lời chê của thế nhân mà con bị rơi vào địa
ngục, mà chính những ý nghĩ, lời nói và hành động của con sẽ quyến định
cảnh giới thiện hay ác tương xứng.”
Thông
thường chúng ta rất dễ nhẫn nhịn những lời khen (mà mình hoàn toàn không
xứng đáng) và ngược lại chúng ta không tài nào kham nhẫn nổi những lời vui
oan trách mắng vô căn cứ... Ðã bao lần em tức tưởi thuật lại nỗi hàm oan
của mình cùng bè bạn... Và có lẽ chưa lần nào em bị đánh đòn như chú bé
trong câu chuyện trên đây. Có lẽ vì thế mà chúng ta kém xa người xưa
chăng?
Có hôm
nào lỡ bị một nỗi hàm oan, em hãy thử một lần tự tìm xem mình đã có những
tác phong, cử chỉ, cung cách như thế nào để cho người ta phải nghĩ về mình
xấu tệ như thế đó. Nếu tìm thấy nguyên do nằm nơi mình, thì em đã bắt đầu
nắm được chìa khóa giải thoát rồi đó. Giải thoát cái gì em biết không?
Giải thoát em khỏi niềm sầu, nỗi khỗ, những tư tưởng bi quan, hắc ám vì
thấy trên cõi đời này sao mà không có ai chịu hiểu mình hết trơn hết
trọi...
Nước
Tống có người nhặt được viên ngọc quý. Anh mang đến biếu quan Tư Thành là
Tử Hản. Tử Hản không nhận, người được ngọc cố nài:
-
Bẩm thượng quan, đây là viên ngọc rất quý và hiếm có, ai cũng công
nhận điều ấy, xin ngài nhận cho tôi được vui.
Tử Hản
đáp:
-
Chú cho ngọc là quý, còn ta, ta cho tánh không tham là của quý.
Chú mang ngọc cho ta nếu ta nhận thì cả hai đều mất cái mà mình cho là quý
nhất, chi bằng của quý ai thì người ấy giữ.
Người
được ngọc thưa:
-
Chúng tôi là thường dân mà được ngọc thì dù biết là của quý, nhưng
nếu cố giữ thì sẽ thành họa. Vì thế mới mạo muội đến dân lên Ngài.
Tử Hản
bèn gọi thợ ngọc đến bán dùm viên ngọc. Xong ông trao tiền cho người được
ngọc mang về.
PC: Tổ
Bát Nhã Ba La được nhà vua dâng cúng một hạt bảo châu vô giá. Vua có ba
vị hoàng tử. Tổ cầm ngọc hỏi các vị hoàng tử rằng:
-
Trên thế gian này còn cái gì quý hơn viên ngọc này không?
Hay vị
hoàng tử lớn đều đồng ý nhau rằng viên ngọc là quý nhất. Duy có vị hoàng
tử út thưa:
-
Bạch thầy còn có một thứ quý hơn nữa đó là trí tuệ!
-
Làm sao chứng minh được điều đó?
-
Thưa, viên ngọc này chỉ là một vật vô tri, nó không thể tự xác định
là quý hay tiện. Phải nhờ trí huệ của loài người nhận định, nó mới trở
thành một viên bảo châu vô giá, bằng không, nó chẳng hơn một hòn sỏi.
Tổ khen
nhận. Về sau vị hoàng tử thông minh này xuất gia. Ðó chính là Tổ Bồ Ðề
Ðạt Ma.
Em thân
mến!
Với thế
nhân “của quý” là ngũ dục, tức là tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon,
ngủ kỹ. Kẻ sĩ biết đạo thì cho “của quý” là những đức tánh như không tham,
không sân... Riêng tăng đồ nhà Phật thì quý nhất là trí huệ. Chính nhờ có
trí huệ soi thấu bản chất của vạn hữu mà chúng ta mới biết được tánh chất
vô thường, huyễn ảo của ngũ dục. Cũng nhờ trí huệ mà chúng ta hiểu ra
rằng thiện ác, tốt xấu, thị phi... chỉ là những phân chia giả định của
loài người. Và cũng chính trí huệ là cái bền vững còn lại giữa thế gian
vô thường sinh diệt này. Có lẽ vì thế mà trong kinh điển nhà Phật thường
nhắc đi nhắc lại rằng: “Duy tuệ thị nghiệp” nghĩa là: “Chỉ có trí tuệ là
sự nghiệp” chăng?
Xưa, có
một ông già bán kẹo, đề trên thùng xe như thế này: “Ngày mai ăn khỏi trả
tiền”. Trẻ con xem thấy thích lắm, rủ nhau mua kẹo và định bụng rằng:
“Ngày mai mình sẽ ăn kẹo đã thèm. Vì ông bán kẹo đã nói vậy mà.”
Nhưng
ngày mai, ngày mai... ngày mai rồi ngày mai. Ông bán kẹo vẫn bắt bọn trẻ
phải đưa tiền mới trao kẹo cho. Vì ngày mai là một ngày không bao giờ có.
Em thân
mến!
“Ngày
mai ăn khỏi trả tiền” chỉ là một lối nói gạt trẻ con, vì ngày mai sẽ không
bao giờ đến, thật chăng là chính cái khoảng khắc ngắn ngủi hiện tại này
đây.
Nếu ta
bảo rằng: “Ngày mai ta sẽ học hành đàng hoàng, sẽ giúp đỡ người này kẻ nọ,
sẽ bắt đầu tu hành cẩn thận, sẽ thực thi những cải cách vĩ đại v.v... và
v.v... thì coi chừng đó có thể là lời hứa hẹn suông để ta được phép duy
trì tình trạng bê bối hiện tại... cho khỏi áy náy, cắn rứt lương tâm mà
thôi.
Ngày mai
rồi sẽ y hệt như ngày hôm nay mà thôi. Vậy thì, những gì có thể làm được
bây giờ, chúng ta hãy một, hai, ba bắt tay làm liền chứ đừng hẹn vào ngày
mai, là một ngày chỉ có trong ảo tưởng mà thôi.
Xưa, có
một chú bé bị mù cả hai mắt. Mỗi khi đi đâu chú đều phải cầm gậy dò
đường. Ngày và đêm chú đều sống trong bóng tối như nhau.
Một hôm
chú bé đến thăm bạn. Lúc ra về trời đã tối. Người bạn đốt một chiếc đèn
lồng trao cho chú, chú bé cười nói:
-
Tối hay sáng đối với tôi đều như nhau, anh trao đèn cho tôi làm gì?
-
Ðành rằng anh không cần đèn nhưng người khác phải nhờ cây đèn này
mới không đâm bổ vào anh chứ.
Chú bé
mù cầm cây đèn ra về, đi được một quãng chú bị người khác đụng phải, chú
bé tức giận quát:
-
Bộ đui sao mà không thấy cây đèn của người ta?
Người
kia cười to:
-
Ðèn của anh tắt rồi anh đui ơi!
Em thân
mến!
Giá trị của cây đèn là do ánh
sáng, thiếu ánh sáng thì cây đèn chỉ là một vật vô dụng mà thôi. Một pháp
môn hay nhất là chỗ nó giúp hành giả thấu rõ thực tướng của mình và muôn
pháp, tiêu sạch phiền não, đem lại an lạc cho mình và người chung quanh.
Nếu
chúng ta cứ cho rằng mình đã dự vào hàng ngũ xuất gia, thuộc vào hàng tông
môn chính phái, thầy tổ là bậc chân tu lỗi lạc, bạn bè mình là hạng anh
tài xuất chúng... chúng ta đã được học những pháp môn tối thượng thừa, cao
siêu hi hữu... và chúng ta cho thế là đủ, sanh tật khen mình chê người,
phiền não mỗi ngày một tăng trưởng thì... coi chừng chúng ta sẽ giống cậu
bé mù trên đây, cầm một cây đèn lồng thật tốt, thật đẹp... nhưng... tắt
queo cho mà coi!
Thuở xưa
có anh chàng đọc kinh, nghe nói về Phật thích lắm, nhất định đi tìm cho
gặp Ngài mới nghe. Anh chàng khăn gói quả mướp ra đi. Sau khi trải qua
không biết cơ man nào là núi sông, hầm hố, gian nguy hiểm trở... chàng vẫn
chưa được gặp Phật giống như hình dáng trong kinh đã diễn tả: “Thân Phật
sắc vàng, cao một trượng sáu, đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp hào quang
sáng chói.”
Hôm nọ
tại một triền non, chàng trai tình cờ gặp một cụ già râu tóc bạc phơ cốt
cách siêu phàm. Mừng quá chàng khẩn khoản:
-
Thưa cụ, cụ có biết Phật đang ngụ ở đâu không? Xin chỉ dùm con với.
Ông lão
mỉm cười:
-
Ồ, chỗ nào mà không có Phật? Trên quảng đường vừa qua chả lẽ con
không gặp được Ngài.
-
Thưa cụ trên đường đi con đã từng gặp vô số người, nhưng đều là
hạng phàm phu tục tử cả... con chưa từng thấy người nào có được vài tướng
tốt như trong kinh đã mô tả về Phật cả.
Ông cụ
cười ha hả:
-
Chú mày ngốc nghếch thật! Chú không biết rằng cái thân đầy đủ 32
tướng tốt và 80 vẻ đẹp đó, dân Ấn đã đốt thành tro và chia nhau xây tháp
thờ cúng cả rồi ư?
-
Thưa thế thì Phật chết rồi sao?
-
Hiện giờ đức Phật đang phân thân ở khắp mọi nơi. Ngài cũng mang
thân tồi và xấu như chúng sanh vậy. Con còn có muốn gặp Ngài nữa không?
-
Thưa dù với bất cứ hình dạng nào, nếu đích thực là Ngài thì con vẫn
vô cùng khác ngưỡng.
-
Vậy thì để ta mách nước cho con nhé... Con hãy quay về... Trên
đường về, nếu gặp một người nào mang guốc trái ở chân phải, guốc phải ở
chân trái thì chính người đó là một hóa thân của Phật. Hãy thừa sự và
cúng dường vị Phật ấy như trong kinh đã dạy...
Chàng
trai hối hả quay về, suốt quãng đường dài chàng không gặp đức Phật nào
mang hình dáng như cụ già diễn tả. Chán nãn chàng quay về nhà. Trời đã
khuya, bà mẹ còn chong đèn ngồi đợi con. Nghe tiếng gọi cửa bà mừng quá,
tụt xuống phản quờ quạng tìm đôi guốc rồi chống gậy tất tả ra mở cửa.
Chàng trai thấy mẹ tiều tụy, nước mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo, mang
lộn chiếc guốc trái qua chân mặt, guốc mặt sang chân trái. Chàng ôm chầm
lấy mẹ nghẹn ngào:
-
Ôi! Ðức Phật yêu quý của con.
Em thân
mến!
Trong
kinh Phật có dạy: “Gặp thời không có Phật thì hai vị Phật đáng tôn thờ là
cha và mẹ của mình, phải cung kính và thờ phụng hai vị này như tôn thờ đức
Phật Thích Ca và Di Lặc vậy.” Ðó là lời dạy cho hàng Phật tử tại gia.
Riêng
chúng ta hàng xuất gia đã lìa bỏ cha mẹ của xác thân này và để thừa sự
cúng dường tất cả chúng sanh là những cha cùng mẹ trong vô lượng kiếp của
mình.
Ngày
xưa, trong hàng môn đồ của Ðại sư Trí Khải - một danh tăng đời Ðường – có
một vị sư nhớ nhung cha mẹ, bèn bày tỏ cùng Ngài. Ðại sư dạy:
-
Là người xuất gia ông chớ nên vì cha mẹ một đời mà xao nhãng bổn
phận đối với cha mẹ nhiều đời, là tất cả chúng sanh đó vậy.
Câu
chuyện anh chàng đi tìm Phật trên đây do người Trung Hoa đặt ra để nhắc
nhở về chữ hiếu và bổn phận làm con. Nhưng qua câu chuyện này, em có thấy
rõ chỗ oái oăm của nó là chúng ta bôn ba đi tìm Phật khắp nơi, trong khi
Ngài ở kề cận bên mình mà chẳng hay. Vì thế mà có lẽ khi tăng Huệ Hải hỏi
Mã Tổ về Phật, Mã Tổ đáp:
-
“Hệt kẻ cỡi trâu đi tìm trâu” Em có thấy như thế không?
Trời vừa
dứt mưa, một bà cụ khoác áo tơi đi ra phố. Gặp một chú bé đang nghịch
nước bẩn bên vệ đường, bà cau mặt quát:
-
Thằng Cu! Mày có lên ngay không. Khiếp!
Thằng bé
phản đối:
-
Cháu xí cái vũng này từ hồi mới mưa lận. Bà kiếm cái khác đi,
thiếu gì!
Em thân
mến!
Bồ Tát
là những vị sách vở định nghĩa là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng
sanh.” (Trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh). Riêng chúng ta có thể
hiểu một cách giản dị như thế này: “Nếu chúng ta tin rằng mình và tất cả
chúng sanh đều có khả năng giác ngộ thì ta đã có mầm Bồ Tát trong lòng
rồi. Trên đường tu chừng nào thành Phật hãy hay, còn hiện tại chúng ta
hãy tùy thuận giúp đỡ người chung quanh bằng tất cả khả năng hạn hẹp của
mình... Vì tin tưởng nơi Phật tánh của mình và người nên Bồ Tát không bao
giờ mệt mỏi trên bước đường tự lợi, lợi tha...
Nhưng...
tâm Bồ Tát thì khó phát nhưng rất dễ thối thất... Em có biết tại sao
không? Em đừng tưởng là khi hành Bồ Tát hạnh đi đến đâu thiên hạ cũng rải
hoa và trải chiếu bông đón tiếp mình hết đâu... mà coi chừng vỡ mộng đấy
nhé! Như trường hợp của bà cụ trên đây chẳng hạn. Nếu các tôn giả chúng
sanh đang ưa thích điều gì mà mình cản trở thì coi chừng họ có thể nghi là
mình muốn đoạt cái sở thích ấy, trong trường hợp đó, nếu ta chưa đủ tài
thuyết phục họ thì phải chạy cho thật lẹ kẻo... u đầu, nếu em có giúp đỡ
ai điều gì thì... chớ nên hí hửng chờ người tuyên dương công trạng của
mình vì có hàng khối kẻ bàng quan đang bĩu môi phẩm bình rằng:
“Ðồ ngu!
Chuyên môn làm mọi thiên hạ.”
Hoặc là:
“Cái số
cực...” “Cái nghiệp nặng”. Chà coi bộ em muốn thối tâm rồi phải không?
Nếu mình là Bồ Tát thứ thiệt thì khỏi nói, đàng này thật kẹt cho hàng Bồ
Tát sơ tâm như bọn mình, có lẽ vì thế mà trong các kinh, đức Phật đã không
tiếc lời ca ngợi hạnh Bồ Tát, và Ngài cũng đã từng nhắc nhở với chúng ta
rằng:
“ Muốn
giảng kinh Pháp Hoa, tức là đi gieo rắc niềm tin rằng “Tất cả chúng sanh
đều có khả năng thành Phật”, Pháp sư phải ngồi tòa Như Lai, mặc áo Như
Lai, tòa Như Lai là tâm từ bi, áo Như Lai là giáp nhu hòa nhẫn nhục đó em
ơi!
Bé đi
chùa về chào ngoại, ngoại hỏi:
-
Con đi chùa có gì hay kể cho ngoại nghe với!
-
Ngoại à! Thầy dạy con niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà, ngoại nhớ
niệm nghe.
Bà ngoại
ngần ngừ hồi lâu đáp:
-
Xưa nay ngoại niệm Ðức Quán Thế Âm, bữa nay đổi niệm Ðức Di Ðà...
Sao ngoại sợ ông Phật kia giận ngoại quá...!
PC: Ðiều
này phải hỏi lại Ðức Quán Thế Âm mới rõ thực hư.
Kasi là
một nữ chủ được nhiều người ca tụng là hiền thục, nàng không bao giờ nói
lớn tiếng hay cau mặt với bọn gia nhân trong nhà.
Những
lời đồn đãi về Kasi khiến cho Asy, một cô tớ gái đâm ra nghi ngờ, Asy nghĩ
bụng: “Có thật là tiểu thơ của mình hiền thục hay không chứ? Hay là nhờ
mình chu toàn bổn phận nên tiểu thơ không có dịp lộ vẻ bất bình, điều này
phải trắc nghiệm lại mới được.” Và Asy liền tìm cách thử nữ chủ.
Một hôm
Asy cố tình thức dậy muộn, cô bé thấy nữ chủ cau mày khi cô dâng bữa điểm
tâm. Sáng hôm sau, Asy lại dậy muộn, nữ chủ của cô vừa cau mày, vừa quát
mắng ầm ĩ.
Sáng hôm
sau nữa, Asy lại dậy muộn, còn đang nằm nán trên giường thì cô bé đã thấy
nữ chủ chưa kịp chải tóc, nghiến răng, trợn mắt, vào tận giường lôi cô
dậy. Sáng ngày thứ tư, Asy lại dậy trễ, lần này cuộc trắc nghiệm lại
thành công mỹ mãn: nữ chủ đã vớ lấy cây cài cửa... và cô bé Asy ôm chiếc
đầu chảy máu, chạy thẳng ra khỏi nhà la khóc ầm ĩ:
-
Ối làng nước ơi! Xem đây. Xem đây! Hãy xem nữ chủ rất hiền thục
đánh tôi đây này...
Em thân
mến!
Trong
Trung Bộ Kinh, đức Phật đã kể lại câu chuyện trên cho các thầy tỳ kheo
nghe, và Ngài kết luận:
-
Này các tỳ kheo! Như Lai không gọi một vị tỳ kheo nào là dễ nói, dễ
dạy, tu hành đắc lực khi vị ấy còn nhận được đầy đủ tứ sự cúng dường (quần
áo, thực phẩm, thuốc men, mền mùng). Nếu nữ chủ Kasi phải thử thách qua
bốn lần mới chứng tỏ được mức độ hiền thục của cô ta, thì một thầy tỳ kheo
đệ tử của Như Lai, phải được thử thách khi chịu đựng sự thiếu thốn của
những nhu cầu cần thiết, mà vẫn không sờn lòng nản chí thì Như Lai và các
bạn đồng phạm hạnh của vị ấy mới có thể kết luận rằng: “Ðây là một vị tỳ
kheo phạm hạnh thanh tịnh dễ dạy, dễ nói... đã xuất gia vì sự giải thoát
cho mình, cho người chứ không phải vì cơm ăn áo mặc.”
Em thân
mến!
Bọn
chúng ta trong cảnh sống hiện tại đầy đủ hơn người xưa rất nhiều, chúng ta
chưa đến nỗi thiếu thốn vì cơm ăn, áo mặc, thuốc men, mền mùng... nhưng
không vì thế mà cuộc sống của chúng ta hạnh phúc hơn, tâm tư được thoải
mái hơn các vị tỳ kheo thời trước. Nếu em không tỉnh giác kịp thời thì,
một cơn bệnh dai dẳng, một lời nói trái tai, một chuyện bất như ý, vẫn có
đầy đủ mãnh lực biến chúng ta từ một tu sĩ dễ dạy, dễ nói, dễ thương...
thành một nhân vật không giống ai hết, có giống chăng là giống nữ chủ Kasi
thôi. Có phải thế không nào?...
Xưa có
một cô gái mù, nghèo nàn, xấu xí tên gọi là Mai. Ðến tuổi dậy thì Mai
không ngớt than khóc cầu trời khấn Phật, ước ao sao cho được sáng mắt để
làm lụng nuôi thân.
Tiếng
than thở của cô làm động lòng một cô tiên nhỏ trên thượng giới. Cô tiên
nghĩ thầm: “Thật là bất công khi để cho một mình cô gái này chịu đến mấy
tai họa, mình mà không ra tay giúp thì còn ai trồng khoai đất này.”
Một hôm
thừa dịp các bà tiên lớn ngủ say, nàng tiên bé bỏng liền ăn cắp chiếc đũa
thần vội vã bay xuống trần và gõ lên đầu cô gái xấu số... xong cô tiên
cũng vội vã bay về thượng giới lòng vui khôn tả xiết.
Việc đầu
tiên của Mai khi sáng mắt là hối hả chạy ra bờ suối để soi mặt. Thấy
khuôn mặt xấu xí của mình lung linh qua ánh nước, Mai lại khóc nức nở, vật
vã than trách:
-
Cô tiên nào ác thì thôi! Cho tui sáng mắt làm chi để thấy cái bản
mặt xấu xí thế này. Hu hu, thà chết quách cho rồi còn sướng hơn. Cô tiên
bé bỏng điếng hồn, cô không hờn giỗi khi nghe những lời vong ân bội nghĩa
của Mai. Cô chỉ sợ nàng Mai nhảy xuống suối tự vận thì các nàng tiên lớn
sẽ khám phá ra hành động nhanh nhẩu đoản của cô. Cô tiên ngẫm nghĩ:
-
Cô ta than khóc cũng phải. Nếu gương mặt mình mà xấu như cô ấy thì
có lẽ mình cũng sẽ than khóc suốt ngày. Thôi, thì làm ơn cho trót...
trước sau gì người lớn cũng biết chuyện này thôi kia mà.
Và nàng
tiên thơ ngây lại vung đũa thần lên. Mai liền biến thành một thiếu nữ khá
mặn mà sống bằng nghề gánh nước mướn.
Như một
nghệ sĩ lưu tâm đến tác phẩm nghệ thuật của mình, nàng tiên bé bỏng cũng
vén mây theo dõi đời sống của Mai bằng tất cả tấm lòng từ ái. Cô xót xa
không ít khi thấy Mai nhịn ăn nhịn uống, không dám mua gạo mà lại để dành
tiền mua dưa chuột, cà chua... đắp mặt cho nó mịn màng... xót xa cả ruột,
cô tiên lại vung chiếc đũa thần lần nữa... Mai liền có một làn da đẹp như
hoa đào.
Lần này
Mai vẫn nhịn ăn để mua quần áo, giày dép và đồ trang sức... Cô tiên lại
cảm thấy chạnh lòng, cô liền đánh cắp chiếc đũa thần lần nữa... nàng Mai
liền biến thành một tiểu thơ cành vàng lá ngọc, lược giắt trâm cài, quần
là áo lượt, nhiều không biết cơ man nào mà kể, không phải làm lụng mà vẫn
có ăn. Mai dành hết thì giờ cho việc trang điểm trau chuốt... suốt ngày
cô ngồi trước gương để tô lục chuốt hồng, chuyện mới lạ hơn là Mai nảy ra
ý định kén chồng... lần này khỏi cần sự trợ giúp của đũa thần nữa, cái
nhan sắc yêu kiều, tuổi trẻ cùng một gia tài kếch sù đã giúp Mai kén chọn
được một người bạn trăm năm ưng ý: một thanh niên đẹp trai, con nhà giàu,
học giỏi. Cô tiên an lòng, mỉm một nụ cười hiền hậu rồi chấp cánh bay về
thượng giới.
Ðến cổng
nhà trời, cô gặp bà tiên trưởng nhìn cô một cách nghiêm khắc, cô tiên
không hề nao núng, việc làm của cô tuy có sai nguyên tắc thật, nhưng mọi
việc há chẳng tốt đẹp, xuôi chèo mát mái đó sao? Một thiếu nữ tàn tật xấu
xí nghèo nàn nay đã trở thành một mệnh phụ phu nhân yêu kiều, sang giàu
tột bực... mà chẳng tốn hao công của gì của trần gian hết... Nếu bà tiên
già cho phép, cô tiên bé bỏng sẽ chẳng hề ngại lao ngọc mang đũa thần
xuống hạ giới, giúp cho thế nhân người nào cũng cầu được ước thấy cả...
cõi hồng trần sẽ hóa ra miền tiên cảnh cho mà xem...
Như đọc
được luồng tư tưởng của cô bé ngây thơ bà tiên già lạnh lùng lột đôi kính
trắng trao cho cô bé. Qua cặp kính cô sẽ nhìn thấy tương lai của nàng
Mai. Không đợi bà tiên ra lệnh cô tiên bé nhỏ vội vã mang kính vào...
Người đàn bà vô hạnh lại có nhan sắc khuynh thành đã gây không biết bao
nhiêu là điều rắc rối cho trần thế... Mai thay chồng như thay áo, con cái
vất vơ... Cô tiên nhỏ bỗng òa lên khóc, những giọt lệ tiên lóng lánh như
hạt trân châu lăn tròn trên đôi mà bầu bĩnh. Nàng Mai đang xui chồng,
người chồng thứ mười bảy này là một tướng lãnh quân phiệt, mở cuộc xâm
lăng trừng phạt nước láng giềng vì nghe đâu ông vua nước này bảo rằng bà
hoàng hậu của ông là một giai nhân vừa đẹp người vừa tốt nết hơn hẳn nàng
Mai gấp bội. Hai nước đang chuẩn bị chiến tranh, lệnh tổng động viên ban
hành, các trường học đều đóng cửa... Cô tiên nhỏ không còn thấy gì nữa, lệ
trào tuôn như suối làm nhoè cặp kính. Bà tiên già lại lạnh lùng vung
chiếc đũa thần lên và ra lệnh cho cô tiên lau sạch nước mắt. Nàng Mai trở
lại nguyên hình như cũ. Một cô gái mù xấu xí đang ngồi than thở trong
chòi tranh dột nát. Tất cả giống hệt như thuở ban đầu có khác chăng là
những điều vừa xảy ra kỳ diệu quá... khiến cô gái không thể nào chấp nhận
được sự thực phũ phàng... cô hóa điên từ đó. Sau khi sự vụ của nàng Mai
xảy ra, Thượng đế bèn ban sắc lệnh cấm chỉ chư tiên giao tiếp với người
trần. Ý của đấng tối cao muốn rằng mọi việc phải diễn tiến bình thường.
Phép lạ mà đem trình diễn ở cõi hồng trần thì chỉ đem lại những hậu quả
bất bình thường mà thôi. Vì thế mà ngày hôm nay chúng ta không có được
chiêm ngưỡng dung nhan một nàng tiên nào hết. Chư tiên mà có giáng trần
thì cũng vứt hết đũa ngọc và cánh đi, cũng đổ mồ hôi sôi nước mắt hệt như
chúng ta - những con người phàm phu tục tử vậy.
Và trên
đường đời, nếu gặp phải một cô gái xấu nết nào có sắc đẹp khuynh thành,
người ta lại ngờ rằng đó là tác phẩm hư hỏng của một cô tiên bé nhỏ nào
đó. Nhưng may mắn là những người đẹp thường chóng già hoặc chết sớm, nên
cõi hồng trần này sau những ngày gió mưa giông bão, mây giăng đen nghịt...
vẫn còn có khối ngày trời xanh nắng ấm, gió mát trăng thanh... nữa là!
Thuở
xưa, có ông lão họ Tái bị mất một con ngựa quý. Mọi người đến chia buồn,
han hỏi và tiếc dùm cho ông. Ông lão điềm nhiên nói:
-
Không sao! Mất của là điều rủi ro thật nhưng biết đâu trong cái
rủi có cái may!
Ít lâu
sau con ngựa trở về nhà và còn dắt theo một con ngựa khác - bạn của nó -
đẹp và quý hơn nhiều.
Bà con
lại tụ họp, tấm tắc:
-
Ông cụ thật có phước, tưởng đâu mất con ngựa quý, ai dè lại được
thêm con nữa.
Ông lão
họ Tái vẫn thản nhiên:
-
Biết đâu trong các may lại có cái rủi. Và cái rủi đó đã đến, cậu
con ông lão rất thích cỡi ngựa mới, dong ruổi cả ngày trên lưng ngựa nên
bị té gãy một chân. Thân bằng quyến thuộc đều đến chia buồn về tai nạn
đáng tiếc vừa xảy ra. Ông cụ vẫn mỉm cười:
-
Biết đâu trong cái rủi lại có cái may!
Chiến
tranh bùng nổ, các thanh niên đều phải ra chiến trường, cậu con trai nhờ
tàn tật nên được ở nhà hủ hỉ với cha già.
Tái ông
thất mã là thế đó!
Thuở xưa
có một đám người mù từ thuở sơ sinh, nghe nói đến con voi nhưng chưa từng
thấy nó ra sao cả. Một hôm nghe đồn có một con voi đi qua làng, đám người
mù liền nhờ người dẫn đường đến xem voi. Anh nải dễ dãi cho phép họ được
rờ rẫm con voi tùy thích. Lúc trở về đám người mù kháo nhau rằng:
-
Bác ạ! Lạ quá nếu không phải chính tay tôi sờ thì tôi không thể nào
tin được, con voi hệt như cái cột nhà... kinh thật! (Anh chàng này sờ nhằm
chân con voi).
-
Bác bảo sao? Con voi còn lâu mới giống cây cột nhà...” Anh mà sờ
nhằm chiếc đuôi quả quyết:
-
Nó giống cây chổi chứ lại...
Anh sờ
tai voi cãi:
-
Tôi thấy nó giống cây quạt mo.
Anh sờ
nhằm bụng bảo:
-
Tôi cho rằng nó giống cái chum tương.
-
Hừm, mắt với mũi các anh ra sao đấy. Tôi thì thấy nó như cái ống
điếu, anh chụp nhằm cái vòi hét.
Anh
chàng sau cùng sờ nhằm cái ngà cười khẩy:
-
Thật là đồ ngu, vừa đui vừa ngốc... con voi chẳng khác chi cái sừng
trâu mà lại khéo tưởng tượng.
Tức thì
cả bọn nhao nhao lên:
-
Sao? Mày dám bảo ông đui à... hử thằng kia...
-
Vừa đui vừa ngốc mới ăn nói ấm ớ như thế!
-
Này... ngu này... ngu này...
Ðoàn
người mù bèn lăn xả vào nhau đánh, thụi, cào cấu... Ai cũng cho là mình
đúng còn người kia đều là sai cả, nên kết quả là anh chàng nào cũng bị nện
một trận đích đáng.
Em thân
mến!
Chúng ta
đã từng nghe kể câu chuyện người mù sờ voi này từ thuở còn bé... Nhưng em
có nhận thấy rằng mình cũng giống hệt như anh chàng mù kia không?
Cái tâm
hư vọng sinh diệt liên miên của chúng ta cũng giống như con voi nọ mà
chúng ta là những anh chàng mù khốn khó. Vì không quan sát được hành tung
cùng hình tướng của tâm thức nên chúng ta hay khoát lên cho bản ngã mình
những nhân dáng riêng, tùy theo các hình tướng của vọng niệm mà chúng ta
bắt gặp được. Chẳng hạn như vừa thấy loáng thoáng các vọng niệm có vẻ từ
bi, hỷ xả... chúng ta liền hãnh diện nhủ thầm: “Ta đây là một nhân vật từ
bi hỷ xả cùng mình chứ không phải như anh kia chị nọ.” Gặp một người bạn
đang nóng giận ta liền hạ một từ ngữ: “Thật là một anh chàng cọc cằn, đê
tiện.” Những ý tưởng tự tôn và tự ty đều được thành hình từ đó.
Thấu đáo
rõ toàn thể tầm vóc của con voi để phá vỡ những kiến thức thiên lệch của
mình là chữa được tật... cãi lộn của bọn người mù. Thấu rõ được toàn thể
quá trình sinh diệt, đường lối về của các vọng niệm... là chuyện cần thiết
và cấp bách của người tu Phật. Muốn thấu đáo cho rõ ràng chúng ta phải
bình tĩnh quan sát không thiên vị, lo sợ hốt hoảng hay muộn phiền trước
những vóc dáng đặc tính nào của vọng tâm hết.
“Tham,
sân, phẩn, hận, phú, não, tật, xan” là những món phụ tùng mà cái bản ngã
nào của nhân loại cũng có... Giống như một chú voi thì phải có đầy đủ cả
đầu đuôi, bụng, lưng, ngà, tai vậy. Một con voi thiếu một bộ phận sẽ là
một con voi dị dạng có tật.
Nếu
chúng ta còn ngạc nhiên khi bắt gặp một tánh xấu của mình, khó chịu khi
thấy hành vi của người khác... là chúng ta chưa hiểu rõ tường tận về chú
voi của mình. Các chú voi đều giống nhau ở hình vóc đại cương kia mà.
Chính chỗ này một thiền sư đã bảo “như nhau dọc mũi ngang mày.” Thấy rõ
tướng của con voi, theo dõi những biến chuyển đa dạng của vọng tâm, quả là
một kỳ công lý thú, nhưng chuyển một con voi ngang tàng bướng bỉnh thành
một con voi ngoan ngoãn tốt nết là một chuyện đòi hỏi khá nhiều thời gian
và nhân lực. Cũng như biến đổi một cái tâm hỗn tạp, rắc rối đa sự thành
một cái tâm Phật không phải là chuyện dễ... không dễ nhưng không phải là
bất khả. Vì các kinh điển thường nhắn nhủ chúng ta rằng: “Phiền não tức
bồ đề, tâm chúng sanh tức là tâm Phật vậy.”
Tại âm
phủ một hồn ma đang quỳ đối chất với Diêm chúa, giữa hai vị công an của
diêm phủ là Ngưu Ðầu và Mã Diện.
Diêm
chúa ngồi trên chính bệ dõng dạc ra lệnh:
-
Phán quan đâu đọc hồ sơ của tên này xem.
Phán
quan liền cất giọng đọc rõ ràng và chậm rãi:
-
“Trần Văn Trụi, 82 tuổi, du thủ du thực, vô gia cư lẫn nghề nghiệp,
trúng gió chết tại chợ Bến Thành...”
Hồn ma
lễ phép đưa một tay lên xin góp ý:
-
Muôn tâu Diêm chúa cho con được phép cải chính.
-
Hử
-
Thưa, con đúng tên là Trần Văn Trụi thật nhưng mới 28 tuổi chứ
không phải 82 đâu ạ!
-
Sao! Phán quan đâu hắn nói thế có đúng không?
Phán
quan giật mình, kéo áo lau kiếng, xem lại sổ bộ, ấp úng:
-
Dạ... Dạ...
-
Ðúng hay sai chứ dạ cái gì?
-
Bẩm... đúng ạ!
-
Chèn đéc ơi! Mấy người làm ăn kiểu này thì chết tôi rồi. Ngưu Ðầu
đâu?
-
Dạ, có con đây ạ!
-
Mau lên giữ xác nó để người ta đem chôn bây giờ.
Tại làm
sao mà ra cớ sự này hử?
Ngưu Ðầu
vội vã ra đi. Phán quan gãi đầu ấp úng:
-
Dạ, dạ... tại mới mua chiếc kính nhìn chưa quen mắt nên ngu thần
đọc nhầm 82 thành 28 ạ... Xin thánh thượng bớt giận... thần sẽ đi thay
kính lập tức...
-
Nó sống đến bao nhiêu tuổi?
-
Muôn tâu... 82 ạ!
-
Vậy thì còn chờ đợi gì mà không dắt nó đi nhập xác?
Hồn ma
liền xen vào:
-
Tâu Diêm chúa! Những tưởng nhân gian mới làm ăn bê bối... dè đâu
đây cũng vậy. Con đang đi ăn phở với người yêu ở chợ Bến Thành thì thấy
hai cha nội này đến thộp cổ dắt đi... có lẽ bây giờ người yêu của con đã
uống thuốc chuột chết theo con rồi cũng không biết chừng.
Diêm
vương hạ giọng:
-
Thôi “Thiên tải nhất thì” mới có một vụ lầm lẫn, mũi dại lái chịu
đòn. Ngươi cho ta xin lỗi vậy, về dương gian đi, vui vẻ nhé!
-
Muôn tâu, xin ngài hãy bồi thường thiệt hại cho con.
-
Mi muốn gì? Giấy tiền vàng bạc nơi đây đâu thể đem lên dương gian
xài được...
-
Thưa... con chỉ muốn xin rằng luôn tiện ngài cho con liếc sơ qua
cái phiếu lý lịch số 3, tức là cung tình duyên gia đạo của con ấy, liệu
con có lấy được người mình yêu và nàng có thành thật yêu con không ạ!
-
A thằng nhãi... ! Biết trước vị lai để làm gì... chẳng sướng ích
chi đâu con ạ!
-
Muôn tâu... Nếu ngài không bằng lòng khi về dương gian con nhất
định sẽ làm ầm lên về cái chuyện này, con sẽ...
-
Tặc, thằng ranh! Ðừng có dở trò hăm dọa ta không ngán mi đâu... Mà
thôi! Phán quan đâu?
-
Dạ có thần đây.
-
Ðọc phiếu số 3 cho nó nghe đi...!
-
Vâng ạ.
Phán
quan liền lau kính hắng giọng đọc:
-
“Trần Văn Trụi, sinh ngày... tại Cao Lãnh, con nhà giàu, đẹp trai,
học giỏi. Ðương sự có số công danh, khoa cử, thi đâu đậu đó. Năm 27 tuổi
tốt nghiệp kỹ sư công chánh hạng bình được bổ nhiệm về Sài gòn.
Năm 28, y cưới vợ là hoa khôi
ở cầu Bông.
Năm 29 tuổi làm Trưởng ty
công chánh ở Tây Ninh.
Năm 30 tuổi bị gọi nhập ngũ
gắn lon trung úy.
Năm 31 tuổi có con trai đầu
lòng.
Năm 32 tuổi có con gái.
Năm 33 tuổi bị giật mìn chết
phanh thây ở cầu Ông Phủ.
Nếu còn âm đức y sẽ thoát
chết chỉ gẫy một chân và mù một mắt, vinh thăng đại úy rồi giải ngũ.
Năm 40 tuổi... hai đứa con
lớn của y bị chết đuối ở Vũng Tàu.
Năm 45 tuổi bị tê liệt, sốt
nằm nhà thương hai năm.
Năm 50 tuổi nhà cháy, vợ hóa
điên.
Năm 82 tuổi y mất trí nhớ, du
thủ du thực, đi xin ăn lẩn quẩn ở các chợ Cầu Muối, Bến Thành rồi trúng
gió chết...
Phán
quan đọc xong, hồn ma tháo mồ hôi hột, đứng chết sững. Diêm vương thúc:
-
Sao? Ðủ chưa... xong rồi đó, đi đi cha nội...
Hồn ma
vẫn còn chần chờ. Phán quan hối:
-
Lè lẹ lên, ở đó mà dang ca hoài, cái xác mi mà sình lên thì chỉ còn
nước đem chôn.
Trần Văn
Trụi đáp một cách xuôi vị:
-
Bẩm, hay là để cho thiên hạ chôn quách đi cho rồi.
Em thân
mến!
Biết rõ
vị lai không phải là một chuyện dễ chịu cho lắm. Hèn chi Phật và chư tổ
thường căn dặn chúng ta rằng: “Trong khi tu nếu chưa sạch phiền não mà rủi
ro có được thần thông, biết được quá khứ vị lai thì phải buông bỏ cho lè
lẹ kẻo phải lâm vào cảnh ngộ như chàng Trần Văn Trụi trên đây.
Xưa, tại
một làng ven biên giới có xảy ra tại nạn binh đao. Dân chúng phải bồng bế
nhau đi lánh nạn. Trong đoàn người di tản đó, có một thanh niên, con nhà
giàu, của cải vô số. Anh mặc vào người đến ba bộ đồ, mang theo một túi da
cùng bốn bao vải lớn chứa đầy ngọc ngà châu báu, ai thấy anh cũng bật
cười. Một vài người tốt bụng khuyên:
-
Con đường mình đi tỵ nạn rất hoang vắng, trộm cướp nhiều như
rươi. Anh mà mang hành lý cồng kềnh như thế này, tôi e lành ít dữ nhiều
đa!
Anh
chàng biện hộ:
- Ðây là
tài sản của riêng tôi, chưa chắc ai có được, người đâu của đó, thà chết
chứ tôi không bỏ lại được.
-
Nào ai có bắt chú vứt bỏ đâu... Có điều mang đi ngờ ngờ thế này thì
e rước họa vào thân đấy!
Giặc
tan, mọi người lục tục kéo về tất cả đều đủ mặt, duy có anh chàng nhà giàu
nọ thì không có ngày về. Anh đã bị cướp giết dọc đường.
Em thân
mến!
Cõi đời
mà chúng ta đang sống đây thuộc về dục giới, nghĩa là chúng sanh xem ngũ
dục là của báu. Ðó là những món sắc, thinh, hương, vị, xúc làm đẹp ý vừa
lòng thiên hạ. Chúng sanh thường chém giết nhau để tranh dành ngũ dục.
Hàng tu sĩ chúng ta cũng giống như đoàn người di tản nọ. Thật là hiểm
nguy cho kẻ nào trong bọn chúng mình còn đèo queo theo trong mình một ít
tiền của, tài năng, danh tiếng hoặc sắc đẹp mà lại cố tình biểu diễn cho
người khác thấy. Một tôn giả chúng sinh nào mà đã trông thấy “của báu”
của chúng ta rồi thì sinh mạng của khổ chủ quả là như chỉ mành treo
chuông... Hành giả khó mà vượt bể sinh tử được.
Ðức Phật
đã không phải là không có thâm ý khi bảo tăng đồ nhà Phật phải sống bần
hàn, vô sản và cạo quách đi mái tóc, ăn mặc xuềnh xoàng để “nếu còn một tí
ti sắc đẹp nào cũng tèm lem hết.” Và thật là khó coi khi có vị tu sĩ nào
cứ lo tô lục chuốt hồng bề ngoài, suốt ngày xăm soi, ve vuốt cái nhan diện
của mình. Nó cũng chướng mắt hệt như ta bắt gặp các hình ảnh cồng kềnh
của anh chàng nhà giàu trên đường chạy giặc trên. Riêng đối với các nhà
hành giả nào không có lấy một tí ti tài sắc, xin quí vị cũng chớ lấy làm
bi quan, mặc cảm, hờn duyên tủi phận... mà nên vui mừng vì con đường trở
về rất là an toàn. Ðã lên đường đi thì thế nào cũng có ngày đáo bỉ ngạn
100% đấy, thưa chư hiền hữu.
Thuở xưa
có một vị vua thuộc vào hành minh quân, thương dân như con đẻ. Nhưng dù
là minh quân, Ngài vẫn không sao tránh được một ít lỗi lầm đáng tiếc.
Lúc tuổi
đã cao, nhà vua nghĩ rằng giá mà thời niên thiếu Ngài được các bậc hiền
tài chỉ dẫn cho ba điều thắc mắc sau đây thì có lẽ Ngài tránh được rất
nhiều khuyết điểm. Ðó là những nghi vấn sau:
1.
Thời gian nào quan trọng nhất của một công việc?
2.
Nhân vật nào cần chú ý nhất đối với ta?
3.
Công việc nào là tối quan trọng và khẩn thiết nhất?
Ðức vua
cho nêu ba câu hỏi trên trước hoàng thành, truyền rao khắp các thị trấn,
làng mạc và hứa sẽ trọng thưởng cho người nào có lời giải đáp khôn ngoan
nhất.
Bố cáo
vừa được niêm yết thì các bậc hiền tài tuấn kiệt, thạc học minh triết lũ
lượt kéo nhau về kinh thành. Mỗi người đưa ra một ý kiến. Triều đình
phải thành lập một ban giám khảo, các quan thị lang làm việc tận lực, suốt
hai tháng liền mới đúc kết các khuynh hướng thiên sai vạn biệt thành một
vài trường phái nhất trí và dâng lên đức vua - vị chánh chủ khảo tối cao
của cả nước.
Ðáp lại
câu hỏi đầu tiên có người bảo rằng: Muốn biết thời gian nào quan trọng
nhất của một công việc, người ta phải thiết lập chương trình kế hoạch,
thời dụng biểu hẳn hoi. Xong ta sẽ thực hành diễn tiến công việc theo
từng thời điểm đã qui định sẵn đó... Nhưng ý kiến ấy liền bị nhà vua bác
bỏ vì không ai có thể tiên đoán những điều sẽ xảy ra mà lập một khuôn mẫu
sẵn, công việc đòi hỏi phải linh động mới được. Có trường phái lại cho
rằng: Một người không thể khôn ngoan hơn tập thể. Ðức vua nên thành lập
một nội các gồm nhiều đại biểu để soạn thảo kế hoạch trước khi thi hành và
làm theo quyết định chung. Một trường phái khác lại đề nghị đức vua cần
thành lập một hội đồng tiên tri để xủ quẻ trước khi thực thi một công
việc...
Như thế
đại để mọi người đều đồng ý với nhau rằng: Thời gian quan trọng nhất của
công việc là thời gian chuẩn bị nghĩ suy về công việc ấy.
Về câu
hỏi thứ hai, người ta càng bất đồng ý kiến với nhau: Thượng đế, đức vua,
quan tể tướng, các giáo sĩ, bốc sư... được đề nghị là những nhân vật quan
trọng nhất.
Câu hỏi
thứ ba cũng được giải đáp trong một tình trạng tương tự - công việc nào
phải được xem là quan trọng nhất? Thưa đó là việc nước, việc nhà, việc
ăn, việc mặc, học hành, giao tế, tâm linh, hành chánh, kinh tế, quân sự
hay là tôn giáo? Các đề mục đều được các khối óc khôn ngoan tinh tế nhất
đề cập đến...
Và vị
chánh chủ khảo - tức là đức vua ấy không chấp nhận câu giải đáp nào cả...
Nhiều
năm trôi qua... ba câu hỏi rơi dần vào quên lãng... cho đến một hôm, nhà
vua nghe đồn rằng ở trên một đỉnh núi phủ đầy mây nọ có vị đạo sĩ được coi
là bậc giác ngộ, nhưng vị chân tu này không bao giờ chịu hạ sơn để giao
tiếp với các nhà quyền quý. Tiếng đồn về đạo sĩ khiến nhà vua để ý và một
hôm ngài quyết định cải dạng thường dân đến tham vấn vị ẩn tu.
Ðến nơi
nhà vua gặp đạo sĩ đang cuốc đất. Vua vái chào và nêu lên ba câu hỏi. Ðạo
sĩ chỉ mỉm cười đưa tay vỗ nhẹ nhà vua rồi tiếp tục công chuyện. Ðã được
báo trước về tánh khí lạ lùng của đạo sĩ, đức vua không nản lòng, ngồi
xuống một tảng đá chờ đợi. Hồi lâu, buồn tay, đức vua mời đạo sĩ nghỉ tay
trao cuốc cho vua làm giúp. Nhiều giờ trôi qua đức vua vẫn xới đất, còn
đạo sĩ thì nhổ cỏ quanh quẩn bên am tranh. Khi đôi tay vương giả bắt đầu
chai phồng đức vua ngừng cuốc, nghỉ một giây lâu và nói với đạo sĩ:
-
Tôi từ xa lặn lội đến đây cầu thầy chỉ giáo cho ba điều nghi vấn.
Nếu thầy biết xin vui lòng chỉ dẫn cho, bằng không cũng xin cho biết để
tôi trở về kẻo tối. Ðạo sĩ mỉm cười định nói câu gì đó thì chợt cả hai
người cùng nghe tiếng chân chạy dồn dập. Nhà tu bảo đức vua:
-
Bác xem có ai đến kìa!
Nhà vua
quay lại thì thấy một người vừa ngã quỵ xuống đất, toàn thân nhuộm máu.
Hai người già không ai bảo ai, đều hối hả đến bên người bị nạn. Nạn nhân
chỉ còn thoi thóp thở. Vua phụ lực với đạo sĩ băng bó các vết thương.
Hai người im lặng làm việc cho đến lúc ngừng tay thì mặt trời đã lặn ở
đỉnh núi bên kia.
Ðưa nạn
nhân vào thảo am, đặt người bệnh trên chiếc chõng tre độc nhất của căn
lều, họ chia nhau mấy củ khoai rừng luộc và vì quá mệt đức vua ngã mình
xuống nền đất thiếp đi.
Sáng hôm
sau khi nhà vua giật mình thức giấc thì nắng đã nhuộm hồng chiếc thảo am
và chim rừng kêu rộn rã. Ðức vua phải bàng hoàng hồi lâu mới rõ mình đang
ở đâu và làm gì... Ðạo sĩ đã đi làm vườn sau khi đặt một rổ khoai luộc bên
cạnh ông khách.
Trên
chõng tre nạn nhân đã hồi tỉnh và đang nhìn đức vua bằng cặp mắt long
lanh. Ðức vua đến bên người bệnh, đặt một bàn tay lên vầng trán nóng như
lửa của anh ta và cất tiếng thăm hỏi bệnh tình. Nạn nhân bỗng òa lên
khóc:
-
Xin bệ hạ tha tội cho ngu thần...
Vô cùng
ngạc nhiên đức vua bảo:
-
Khanh là ai mà lại biết trẫm?
-
Bệ hạ không biết thần đâu. Hạ thần chính là em trai của võ tướng
Trần Ðoàn, người bị bệ hạ giết oan trong mùa thu năm Tân Dậu. Thần đã thề
trước linh cửu của anh là sẽ giết bệ hạ để báo thú. Biết bệ hạ lên núi
này thần mai phục sẵn. Không ngờ đợi đến tối mà bệ hạ vẫn chưa xuống núi,
thần liền đi tìm... và bị chợt chân té xuống triền núi.&