CAO TĂNG DỊ TRUYỆN
(TRUYỆN KỂ CÁC VỊ CAO TĂNG TRUNG QUỐC)
Hạnh Huệ
biên soạn
---o0o---
PHẦN 1
1. LÃO TỬ (LÝ NHĨ)
Sanh năm
Ðinh Tỵ
Ðời Chu Ðịnh
Vương năm thứ ba (604 trước Công nguyên), ngày mười bốn tháng chín, Lão Tử
sanh ở nước Sở, quận Trần, huyện Khổ, làng Lại, xóm Khúc Nhơn, họ Lý tên
Nhĩ, tự là Bá Dương, húy là Ðam. Ở trong thai mẹ 81 năm, xẻ hông trái mà
sanh, mới sanh đầu đã bạc trắng nên hiệu là Lão Tử; sanh ở dưới cây Lý nên
có họ Lý. Mặt vàng, mi đẹp, tai dài, mắt to, mũi có hai cột, tai có ba
cửa, trong hội Thích Ca, Lão Tử là Bồ tát Ca Diếp. Kinh nói “Ca Diếp ứng
sanh Chấn Ðán, hiệu là Lão Tử, đặt giáo không ngoài để trị quốc,
mượn thuật thần tiên để trị thân”. Từ Phật diệt độ đến Lão Tử sanh là 346
năm. (1)
Lão Tử vào
Lưu Sa (2)
Chu Giản
Vương năm thứ tư (582 trước Công nguyên, Lý Nhĩ ra làm quan Thủ Tạng Sứ,
mười ba năm đổi làm Trụ Hạ Sử, suốt năm mươi bốn năm không đổi chức. Người
đời gọi là Sử Ấn. Kính Vương nguyên niên (519 trước Công nguyên, Ngài 86
tuổi, vì vương thất quá nhiều (lăng trì), ông bỏ Chu, đi về Tây vào Hàm
Cốc Quan. Quan Sinh Y Hỷ thấy mây tía từ Tây đến, biết có đạo nhân sẽ đi
qua, bèn rước vào làm lễ. Ngài làm Ðạo Ðức Kinh năm ngàn lời đưa cho Y Hỷ
rồi vào Lưu Sa năm Nhâm Ngọ. Ðến nước Kế Tân thấy tháp chùa tự thương mình
không đến kịp bèn đối trước tượng nói kệ:
Ta sinh sao quá muộn
Phật ra đời sớm quá
Chẳng thấy Thích Ca Văn
Trong lòng thường áo não.
(Ngã
sinh hà dĩ vãn,
Phật xuất nhất hà tảo,
Bất kiến Thích Ca Văn,
Tâm trung thường áo não).
Không biết sau thế nào.
(1) Theo sử
Trung Quốc – Chu Thư dị ký, Phật đản sanh ngày mồng tám tháng tư
năm Giáp Dần, đời Tây Chu Chiêu Vương năm thứ 24 (1028 trước Công nguyên)
(2) Lưu Sa:
Vùng sa mạc Taklamakan, phía Tây Trung Quốc. Trên đường sang Ấn Ðộ ngài
Huyền Trang từng đi ngang đây.
2. KHỔNG TỬ
Khổng Phòng
Thúc ở nước Lỗ, ấp Tưu, làng Bình, con Phòng Thúc là Bá Hạ, con Bá Hạ là
Thúc Lương Hột. Ông này trước cưới con gái họ Châu sanh con là Mạnh Bì,
bất tài. Sau cưới con gái họ Nhan là Chưng, cầu khẩn ở núi Ni Khâu mà sanh
Khổng Tử bèn đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Tối hôm sanh (năm Canh Tuất)
có hai con rồng lượn quanh nhà, Ngũ Lão giáng giáng xuống trước sân, phòng
của Nhan Thị nghe tiếng nhạc trời. Khổng Tử thân cao chín thước sáu tấc;
lưng rộng mười vi, tay dài quá đầu gối, xương trán gồ lên như hình chữ
nhật, hà mục, hải khẩu, mặt rồng, trán vuông, hàm én, râu rồng, nhìn như
cọp, lông mi có mười hai vằn, mắt có sáu mươi bốn lý. Ngày 4 tháng 11 năm
thứ hai mươi mốt đời Chu Linh Vương (551 trước Công nguyên) tức năm thứ
hai mươi hai đời Lỗ Nhượng Công vậy. Trên hội Thích Ca, Khổng Tử là Nho
Ðồng Bồ tát, Nhan Hồi là Nguyệt Quang Bồ tát. Kinh nói: “Trong cõi Diêm
Phù, có nước Chấn Ðán, ta sai ba Thánh ở đó giáo hóa, nhân dân từ ái, lễ
nghĩa đầy đủ”. Phật diệt độ đến Khổng Tử sanh là 400 năm.
Thái Tể nhà
Thương hỏi Khổng Tử rằng:
- Phu Tử là
bậc Thánh chăng?
- Khâu học
rộng nhớ nhiều, chẳng phải Thánh nhân.
- Tam vương
là Thánh chăng?
- Tam vương
khéo dùng trí dũng, Thánh thì chẳng phải chỗ Khâu biết.
- Ngũ Ðế là
Thánh chăng?
- Ngũ Ðế khéo
dùng nhân tín, còn Thánh thì Khâu chẳng biết.
- Tam Hoàng
là Thánh chăng?
- Tam Hoàng
khéo dùng thời chính (thời cơ, chính trị) còn Thánh thì Khâu chẳng biết.
Thái Tể cả
kinh hỏi:
- Như thế thì
ai là Thánh nhân?
Phu Tử động
dung hồi lâu đáp:
- Khâu nghe
phương Tây có bậc đại Thánh, không trị mà chẳng loạn, không nói mà tự tín,
không giáo hóa mà tự hành, mênh mông người chẳng thể đặt tên.
3. PHẬT GIÁO VÀO TRUNG HOA
Niên hiệu
Vĩnh Bình năm thứ tư (61 TL), Hán Minh Ðế đêm mộng thấy người vàng, thân
cao hơn một trượng, cổ đeo vòng mặt trời, ngực đề chữ vạn, bay đến sân
điện, ánh sáng chói lọi. Sáng lại, vua hỏi quần thần, Thái sử Phó Nghị tâu
rằng:
Thần theo
Chu Thư dị ký, ngày mồng tám tháng tư năm Canh Dần, năm thứ hai mươi
bốn đời Chiêu Vương (Tây Chu). Sáng sớm chợt có gió lạ nổi lên, cung điện
nhà cửa thảy đều chấn động, có ánh sáng năm màu vào sâu mọi chỗ, biến khắp
bốn phương, màu xanh hồng. Vua hỏi Thái sử Tô Diêu đây là điềm gì? Thái sử
đáp: “Tây phương có Ðại thánh nhân sanh”. Vua nói: “Ðối với đây (Trung
Hoa) thế nào?” “Lúc này không có ông ta. Sau một ngàn năm, lời dạy mới
đến”. Vua sai khắc lên đá để nhớ, ở trước đền thờ Nam Giao. Tính năm thì
đến nay là năm Tân Dậu được một ngàn không trăm mười năm. Bê hạ nằm mộng
có lẽ ứng với đấy.
Vua thầm tính
rồi sai các ông Trung Lang, Tương Thái Âm, Bác sĩ Vương Ðạo, Tần Cảnh ...
18 người đến Tây Vức, thăm dò đạo này.
Hán Minh Ðế
niên hiệu Vĩnh Bình năm Ðinh Mão (67 TL), Phật giáo bắt đầu vào Trung Hoa.
4. SA MÔN NHIẾP MA ÐẰNG,
TRÚC PHÁP
LAN đến LẠC DƯƠNG
Các ông Thái
Âm ... đến nước Nguyệt Chi, một lãnh thổ gần Thiên Trúc, gặp hai Phạm tăng
là Ma Ðằng và Pháp Lan muốn dâng kinh tượng đến nước Trung Hoa, bèn cùng
trở về phương Ðông. Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười (67 TL) đến Lạc
Dương. Ma Ðằng vào triều hiến kinh tượng. Vua rất vui truyền đến ở Hồng Lô
Tự, Pháp Lan đi đến sau.
Niên hiệu
Vĩnh Bình năm thứ mười bốn (Kỷ Tỵ) (*) vua xuống chiếu ở ngoài cửa Tây Ung
lập riêng một chùa, mời hai ngài đến ở. Vì Bạch Mã chở kinh đến nên đặt
tên chùa là Bạch Mã. Vua đến chùa hỏi Ma Ðằng:
- Sau khi
Phật ra đời vì sao không giáo hóa đến đây?
Ma Ðằng đáp:
- Nước Ca tỳ
la vệ ở Ấn Ðộ, ba đời chư Phật trong tam thiên đại thiên thế giới, trăm ức
nhật nguyệt đều ở đây xuất hiện. Thiên thần rồng quỷ có nguyện lực đều
sanh ở đó nhận sự giáo hóa, ngộ đạo. Chỗ khác Phật tuy không đến, nhưng
ánh sáng chiếu khắp mọi nơi. Một ngàn năm trăm năm đều có thánh nhân
truyền lời dạy của Phật đến để giáo hóa.
Vua rất vui.
Hai ngài hỏi tiếp:
- Phía Ðông
chùa có quán gì?
Vua đáp:
- Xưa có đống
đất tự nhiên nổi lên, dẹp đi lại nổi, đêm có ánh sáng lạ, dân gọi là mộ
Thánh. Do đó thờ, nghi là thần Lạc Dương.
Ma Ðằng nói:
- Theo Kim
Tạng ở Thiên Trúc ghi. Vua A Dục chôn Xá lợi Phật khắp thiên hạ tới 84,000
chỗ. Nay ở Trung Hoa có mười chín chỗ, đây là một.
Vua thất kinh
liền đến lễ bái. Chợt có một vầng ánh sáng tròn hiện trên mộ, ba thân hiện
trong ánh sáng. Thị vệ hô “Vạn tuế!”. Vua mừng nói:
- Nếu không
gặp hai đại sĩ, đâu biết được Di hựu của Thượng Thánh.
Rồi xuống
chiếu xây tháp lên trên theo cách thức của hai ngài. Tháp hoàn thành có
chín tầng, cao hai trăm thước. Năm sau ánh sáng lại hiện, có cánh tay sắc
vàng lộ trên đỉnh tháp ca thước như trong lưu ly thấy hương trời. Vua lại
đến chiêm bái. Ánh sáng theo bước chân xoay vòng, từ ngọ đến giờ thân (3
giờ chiều) mới diệt.
Vua đối với
Phật pháp rất kính tín. Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười bốn (71 TL), đạo
sĩ Ngũ Nhạc là Trữ Thiện Tín, Phí Thúc Tài ... đố kỵ, bài xích nói:
- Phật pháp
hư ngụy.
Ma Ðằng, Pháp
Lan tâu vua:
- Pháp xuất
thế của Phật, nước lửa chẳng thể hoại. Xin vua cho cùng đạo sĩ thí nghiệm.
Vua sắc Thiện
Tín ... đem hết kỳ kinh, bí quyết sẵn có cùng sa môn đem kinh Phạn vào
ngày rằmg tháng Giêng, lập đàn đốt để nghiệm. Các kinh của đạo sĩ đều bị
đốt sạch, chỉ có kinh tượng Phật vẫn còn nguyên. Bọn Thiện Tín xấu hổ
chết. Bao nhiêu đạo sĩ đều đê đầu khâm phục. Ngài Pháp Lan ở trong đại
chúng xướng kệ:
Chồn chẳng phải sư tử
Ðèn chẳng phải sáng trời trăng
Ao không có sức chứa của sông biển
Gò chẳng tươi tốt như núi rừng
Mưa pháp rưới thế giới
Giống lành được nứt mầm
Hiển thông pháp hy hữu
Nơi nơi giáo hóa quần sanh.
(Hổ phi sư tử loại
Ðăng phi nhật nguyệt minh
Trì phi giang hải nạp
Khưu vô sơn nham vinh
Pháp vân thùy thế giới
Thiện chủng đắc khai manh
Hiển thông hi hữu pháp
Xứ xứ hóa quần sanh).
Vua càng thêm
kinh dị. Hai tăng học chữ Tàu, sau dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương, Thập Ðịa
Ðoạn Kết, Phật Bổn Sanh, Pháp hải Tạng, Phật Bổn Hạnh ... năm kinh.
Niên hiệu
Vĩnh Bình năm thứ mười sáu (73 TL) Nhiếp Ma Ðằng nhập diệt. Trúc Pháp Lan
tự dịch năm bộ kinh mười ba quyển.
(*) Có lẽ là
Vĩnh Bình thứ 12 năm Kỉ Tỵ hoặc Vĩnh Bình 14 năm Tân Mùi.
5. AN THẾ CAO
Sa môn An
Thanh tự Thế Cao người nước An Tức (*), đến kinh đô dịch kinh. Trong
khoảng 23 từ Mậu Tý (148) (**) đến Canh Tuất (170) (***) Ngài dịch được 90
bộ, 115 quyển.
Năm Tân Dậu,
Ngài đến Lô Sơn, ở đây có thần miếu rất linh, dân chúng đến dâng lễ cầu
phước đông đến hơn ba mươi thuyền. Thần giáng cơ bảo:
- Dưới thuyền
có Sa môn, nên mời lại.
Dân chúng mời
Ngài đến, Thần lại giáng cơ nói:
- Tôi xin
thưa cùng ông xuất gia học đạo. Tôi ưa bố thí mà sân nhiều, nay làm thần
miếu, thọ mạng có thể hết sớm, không biết lúc nào, lại sợ đọa vào địa
ngục. Nay tôi có ngàn khúc lụa và một số bảo vật, ông hãy vì tôi làm Phật
sự, tạo tháp để cho tôi được sanh chỗ lành.
Ngài bảo thần
miếu hiện hình. Thần hiện thành con rắn lớn, khóc lóc như mưa. Ngài bèn
thâu lụa, bảo vật rồi từ biệt đi. Ðến Dự Chương, Ngài dựng chùa Ðại An,
xây dựng tháp ở Giang Hòa. Chẳng bao lâu thần miếu chết, về báo đã được
sanh cõi lành. Sau người ở Sơn Tây, thấy xác rắn trong đầm, đầu đuôi đài
đến mấy dặm.
Ðến nay,
huyện Tầm Ðương vẫn còn thôn Ðại Xà.
(*) Nước An
Tức (Parthic) – phía Ðông Bắc Ba Tư ngày xưa.
(**) Thời
Ðông Hán – Hoàn Ðế niên hiệu Kiến Hòa.
(***) Thời
Ðông Hán – Linh Ðế niên hiệu Kiến Ninh.
6. MÂU BÁC
Nhà Hán niên
hiệu Sơ Bình (190 – 194), có Mâu Tử tránh đời ẩn cư, nghiên cứu Phật đạo,
làm 37 thiên Lý Hoặc, rất được sùng mộ. Luật sư Lương Tăng Hữu thu thập và
lưu truyền.
7. TÀO THỰC
Trần An Vương
Tào Thực, tự là Tử Kiến, con giữa của Tào Tháo, mười tuổi đã thuộc thơ văn
trên mười ngàn chữ. Hàm Ðan Thuần trông thấy kinh hãi cho là người nhà
trời. Ông mỗi lần đọc kinh Phật đều hết lòng tán thánh cho là tông chí
đạo, rồi chế cách tụng thành bảy thanh, thăng giáng khúc chiết. Người đời
tụng theo đó. Khi ông dạo Ngư Sơn, nghe có tiếng lạ lùng, giọng điệu ai
oán, ông phỏng theo đó để tán tụng kinh Phật. Ông có viết Biện Ðạo Luận có
ý chê Hoàng Lão (Lão giáo).
8. KHƯƠNG TĂNG HỘI
Tam Tạng
Khương Tăng Hội hành hóa đến nước Ngô. Sư là con của Ðại Thừa Tướng nước
Khương Cư, tên Tăng Hội, đi tu. Ðến Kiến Chương, cất am tranh, lập bàn thờ
tượng Phật, hành đạo. Người nước Ngô lấy làm lạ. Ngô Tôn Quyền biết được,
liền nói:
- Hay là như
mộng của Hán Minh Ðế, Phật đạo đã truyền đến chăng?
Bèn sai người
vời Sư đến hỏi. Tăng Hội trình bày việc Như Lai tịch diệt và nói:
- Như Lai
nhập diệt đã ngàn năm rồi nhưng linh cốt xá lợi vô cùng linh ứng. Xưa vua
A Dục thờ tám mươi bốn ngàn tháp. Ngay đây cũng có di hóa (xá lợi để lại).
Ngô Tôn Quyền
nói:
- Nếu Thầy
cầu được xá lợi, ta sẽ tạo tháp phụng thờ. Còn cầu không linh nghiệm, Thầy
sẽ bị nghiêm phạt.
Tăng Hội xin
kỳ hạn bảy ngày. Trở về bảo quyến thuộc:
- Phật pháp
hưng thịnh hay bị phế bỏ đều do lần này. Mọi người nên chí tâm cầu khẩn.
Qua bảy ngày,
chẳng thấy hiệu nghiệm. Tăng Hội lại xin triển hạn bảy ngày nữa, cũng
chẳng thấy gì. Ngô Tôn Quyền nói:
- Mau đem ông
thầy này bỏ vào vạc nấu!
Tăng Hội thầm
nghĩ: “Ðức Phật từ bình thường, lẽ nào phụ lòng ta”. Rồi năn nỉ cho thêm
bảy ngày. Ðến canh năm, nghe co tiếng leng keng, Sư liền trổi dậy nhìn vào
bình, thấy hiện ngũ sắc, bèn kêu to:
- Quả đúng
như nguyện của ta!
Hôm sau Sư
đem vào triều. Ngô Tôn Quyền cùng công khanh xúm vào xem, khen:
- Thật là
điềm hiếm có!
Tăng Hội nói:
- Oai thần
của xá lợi, tất cả thế gian không gì làm hoại được.
Tôn Quyền sai
lực sĩ lấy chùy đập, ánh sáng vẫn rực rỡ. Vua bèn lập chùa, dựng tháp, đặt
tên làng là Phật Ðà, chùa là Kiến Sơ. Ðây là ngôi chùa, tháp đầu tiên của
Giang Nam.
Tôn Quyền hỏi
Thái phó Hám Trạch:
- Phật giáo
vào Trung Quốc năm nào của thời Hán Minh Ðế? Do đâu lại không đến phương
Ðông?
Hám Trạch
nói:
- Niên hiệu
Vĩnh Bình năm thứ mười một Phật pháp mới đến, cách đây một trăm bảy mươi
năm. Ðến năm thứ mười bốn, đạo sĩ Ngũ Nhạc là nhóm Trừ Thiện Tín đấu phép
với tăng Ấn Ðộ. Thiện Tín thua, hổ thẹn mà chết. Người Trung Quốc không
được xuất gia, nên không có người truyền bá. Hơn nữa, vì loạn ly nhiều
năm. Bây giờ Phật giáo mới đến nước ta.
Tôn Quyền
nói:
- Ðã có Khổng
Tử viết kinh sách dạy dỗ đời sau; rồi Lão, Trang tu thân tự vui; phóng
lãng chốn núi rừng, tâm hồn đạm bạc. Vậy còn thờ Phật làm chi nữa?
Hám Trạch
thưa:
- Hai đạo
Khổng Lão là pháp trời chế ra để dùng, nên không dám ngược ý trời. Phật
giáo thì chư thiên vâng làm, không dám trái ý Phật. Xem đó thì rõ hơn,
kém.
Ngô Tôn Hạo
sau nối ngôi cha, hạ lệnh dẹp đền chùa, miếu mạo. Quần thần can:
- Tiên đế cảm
điềm lành mà lập chùa, Chúa công chẳng nên phá hủy!
Tôn Hạo bèn
cho gọi Sư lại hỏi:
- Phật nói có
báo ứng thiện ác, Thầy có thể giảng cho ta nghe chăng?
Sư nói:
- Minh chủ
lấy hiếu từ trị thiên hạ, thì đế hiệu Xích Ô được rõ ràng, người dân sống
lâu. Dùng nhân đức nuôi vạn vật thì suối ngọt tuôn trào, lúa tốt nảy mầm.
Lành có cảm ứng, ác cũng vậy. Nếu làm ác ở chỗ kín đáo, quỷ sẽ giết, làm
ác ở chỗ công khai, người sẽ giết. Kinh Dịch nói “Tích thiện dư khánh”
chứa điều lành thì niềm vui có dư, còn dù văn thơ hay, cầu phước cũng
chẳng đến. Tuy đó là cách ngôn của nhà Nho, mà thực làm sáng tỏ lời Phật
dạy.
Tôn Hạo nói:
- Thế thì Chu
Khổng đã nói rồi, đâu cần Phật giáo?
Sư nói:
- Chu Khổng
chẳng muốn nói sâu, nên chỉ dạy sơ lược. Phật giáo chẳng dừng ở lời cạn
cợt, nên chỉ rõ ràng tường tận cái cốt yếu. Tất cả đều tốt. Thánh nhân chỉ
sợ làm thiện không được nhiều. Bệ hạ sao lại không ưa?
Tôn Hạo không
đáp được, bèn bỏ lệnh hủy chùa.
9. TĂNG KỲ VỰC
Sư ở Thiên
Trúc, lúc mới đến Giao Châu và Quảng Châu, người ta thấy có nhiều điều
linh dị. Sư đến Lạc Dương, thấy các tỳ kheo ăn mặc hoa lệ bèn nói:
- Thật trái
giới luật! Chẳng phải ý Phật!
Sư xem các
cung thất ở đế đô, liền nói:
- Ðại khái
giống cung trời Ðao Lợi. Nhưng người khác với trời, làm dân chúng khổ cực,
sửa sang như thế, không phí hay sao?
Niên hiệu
Thái An năm đầu (303). Sư biết Lạc Dưong sắp có loạn, liền từ giã về Thiên
Trúc. Có vị tăng xin được hỉ dạy. Sư cho nhóm chúng, lên toà nói:
Giữ miệng, nhiếp thân ý.
Cẩn thận chớ phạm ác,
Tu hành tất cả thiện,
Như vậy được độ thế.
Nói xong Sư
làm thinh. Mấy trăm người đều thỉnh Sư về nhà mình thọ trai. Sư nhận lời
hết. Hôm sau, năm trăm nhà đều có Sư đến thọ thực.
10. PHẬT ÐỒ TRỪNG
Sư người
Thiên Trúc, họ Bạch. Ðời Tấn, niên hiệu Vĩnh Gia năm thứ tư (310), Sư đến
Lạc Dương, tự nói mình hơn trăm tuổi, hớp không khí mà sống, rành về chú
thuật. Bên hông Sư có một lỗ hổng, lấy bông nhét lại. Ban đêm lấy bông ra,
có ánh sáng từ lỗ chiếu ra. Mỗi khi gặp suối, Sư móc bao tử, ruột ra rửa,
xong lại nhét vào bụng. Sư định cất chùa ở lạc Dương để hoằng hóa Ðại pháp
nhưng giặc Lưu Diệu làm loạn nên không thành.
Thời Thạch
Lặc Truân Cát Pha tàn sát dân chúng rất nhiều, bộ hạ ông ta là đại tướng
Quách Hắc Lược lại rất mộ Phật pháp. Sư liền truyền ngũ giới cho ông. Sau
Quách Hắc lược đi chinh phạt, Sư thường báo trước sự thắng bại, Thạch Lặc
nghi bèn hỏi ông ta, Hắc Lược nói:
- Có một sa
môn trí thuật phi thường bảo rằng tướng quân sẽ chiếm được khu Hạ. Thần đã
nhận Ngài làm thầy. Chỗ thần tâu rõ trước sau đều là lời của Ngài.
Thạch Lặc vui
mừng nói:
- Trời ban
cho ta!
Bèn gọi Sư
đến hỏi:
- Phật đạo có
linh nghiệm gì?
Sư biết Thạch
Lặc không đạt được lý thâm sâu, chỉ có thể dùng đạo thuật để biểu diễn,
liền rút một bát nước, đốt hương chú nguyện, giây lát có hoa sen xanh hiện
ra. Thạch Lặc nhân đó tin phục, Sư cũng nhân đó can:
- Vua lấy đức
trị nước thì tứ linh sẽ hiện điềm lành.
Thạch Lặc rất
vui. Sau đó vì phẩn nộ, Thạch Lặc định hại các đạo sĩ và làm khổ Sư. Sư
bèn tránh mặt. Thạch Lặc sai người kiếm chẳng ra, thất kinh nói:
- Ta có ý
hướng về Thánh nhân, Thánh nhân lại bỏ ta mà đi!
Ðêm đó, Thạch
Lặc không ngủ được, thao thức nghĩ đến Sư, muốn được gặp. Sư biết ông ta
đã hối lỗi, sáng hôm sau bèn đến, Thạch Lặc nói:
- Hôm qua
ngài đi đâu?
Sư đáp:
- Chúa công
có lòng giận nên tôi phải tạm tránh. Nay Ngài đổi ý, tôi mới dám đến.
Thạch Lặc
cười to.
Sau Thạch Lặc
chết, em là Hổ nối ngôi, hết lòng phụng sự Phật Ðồ Trừng, Sư bảo Hổ:
- Ðế vương
thờ Phật cần “Cung - Kiệm - Từ - Nhẫn” khen ngợi đạo pháp, không
làm điều bạo ngược, không hại người vô tội. Dân có làm ác thì giáo hóa họ.
Ai không sửa đổi mình mới nên dùng hình phạt, nhưng nên thương xót chớ lạm
dụng hình phạt nhất là những tội tử hình.
Niên hiệu
Vĩnh Hòa thứ tư (348), tháng mười hai, Sư bảo đệ tử:
- Họ Thạch
sắp diệt! Nước chưa loạn ta đã tịch rồi!
Bèn sai người
đến từ giã Thạch Hổ, Thạch Hổ hoảng kinh nói:
- Ðại Hòa
thượng vội bỏ nước ta! Sắp có nạn chăng?
Liền đến chùa
thăm Sư. Sư nói:
Ra sống, vào
chết, đó là đạo thường. Phân định dài ngắn, không do thêm, bớt. Có điều
đáng hận là quốc gia để tâm vào Phật pháp, lập chùa độ tăng, mong được
phước đức, mà cai trị lại bạo ngược, hình phạt hỗn lạm, thật trái lời Phật
dạy, trọn không được phước đức. Nếu phô bày nhân chính thì lộc có thể kéo
dài.
Thạch Hổ khóc
lóc nghẹn ngào, biết Ngài sẽ tịch, liền đục đá làm mộ phần. Ðến ngày tám,
Ngài ngồi yên thị tịch thọ một trăm bảy mươi tuổi.
Sư vào đạo
một trăm lẻ chín năm mà rượu chẳng thấm môi, ăn không quá ngọ, việc phạm
giới chẳng làm, lập tám trăm chín mươi ba chùa, độ hơn bảy ngàn tăng. Sư ở
chỗ nào, mọi người không dám hướng về đó khạc nhổ, phóng uế, họ thường dặn
nhau:
- Chớ khởi
ác, Ðại Hòa thượng biết đó!
Ðại giáo vào
phương Ðông, đến thời Sư rất thịnh hành. Về sau, có vị tăng từ Ủng Châu
đến, thấy Sư đi vào cửa Tây. Bèn kể lại cho Thạch Hổ, Thạch Hổ cho mở mộ
ra xem, chỉ thấy còn khối đá.
11. TRÚC PHẬT ÐIỀU
Sư là đệ tử
của ngài Phật Ðồ Trừng, sau trụ chùa Thường Sơn nhiều năm. Sư có thần
thông, thường phân thân đi nơi khác, hoặc vào núi suốt năm, đem theo mấy
đấu cơm khô, lúc trở về vẫn còn dư cơm.
Có vị tăng
theo Sư dạo núi, gặp tuyết xuống nhiều. Sư vào hang cọp ngủ, cọp cũng đến
nằm chung. Sau tự báo ngày thị tịch, mọi người xa gần kéo nhau đến. Sư
nói:
- Thân người
vô thường, nếu có tâm rộng rãi trong sạch, thì hình hài mạng số tuy khác,
nhưng vẫn đồng khế hợp nhau.
Nói xong,
ngồi ngay ngắn mà tịch.
Ðệ tử đi núi,
lại thấy Sư ngồi trên núi. Mọi người đảnh lễ hỏi:
- Hòa thượng
vẫn còn sống sao?
Sư đáp:
- Ta vốn
thường còn.
Nói xong, Sư
biến mất. Chúng mở quan tài, chỉ thấy y và giày.
12. PHÁP SƯ CHI ÐỘN
Sư tự là Ðạo
Lâm, xuất gia khi đã đứng tuổi. Niên hiệu Hưng Ninh năm thứ hai (364), Sư
đến kinh đô giảng đạo, thực hành kinh Bát Nhã. Sư kết bạn phương ngoại với
Tạ An Vương, Nghĩa Chi, An Hạo, Vương Thân Chi ...
Niên hiệu
Thái Hòa năm thứ hai (367), Sư ở ẩn tại Diệm Sơn. Có người đem ngựa đến
cho, Sư nhận nuôi, nói:
- Ta thích
ngựa thần.
Có người cho
bạc, Sư thả đi, bảo:
Chim trời
chẳng lẻ giữ để vui tai mắt mình.
13. THÍCH ÐẠO AN
Sư quê ở
Thường Sơn, họ Vệ, theo Nho giáo. Năm mười một tuổi xuất gia với Phật Ðồ
Trừng, Sư đọc sách một ngày cả vạn lời, biện tài vô địch. Sư thông minh
như thế nhưng dung mạo quá xấu. Người đời gọi là “Tất đạo nhân, kinh tứ
lân” (Ðạo nhân đen thui, làm kinh hãi bốn bên).
Khi Phật Ðồ
Trừng thị tịch, Sư thống lãnh đồ chúng ở núi Lục Hồn. Niên hiệu Ninh Khang
nguyên niên (373), Sư đến Nhượng Dương lập chùa Ðàn Khê, có cao sĩ Tập Tạc
Xỉ đến tự xưng: “Tứ Hải Tập Tạc Xỉ”, Sư ứng tiếng đáp: “Di thiên
Thích Ðạo An”.
Niên hiệu
Thái Nguyên năm thứ tư (379), vua Tần Phù Kiên công phạt Nhượng Dương,
rước được Ngài rất mừng, bảo tả hữu rằng:
- Ta dùng
mười vạn binh lấy Nhượng Dương, vừa được một người rưỡi.
Tả hữu hỏi:
- Là ai?
Ðáp:
- An Công là
một, Tạp Tạc Xỉ là nửa người.
Sư ở Trường
An hoằng dương chánh pháp. Niên hiệu Thái Nguyên thứ mười bốn (389), vào
ngày 27 thánh giêng, Sư thấy có một dị tăng ra vào ở lỗ hổng cửa sổ. Sư
hỏi quê quán, dị tăng lấy tay chỉ hướng Tây Bắc, tức thì mây vẹt ra, thấy
lầu các như huyễn hiện lên, Tăng bảo:
- Ðó là cõi
trời Ðâu Suất.
Ngày tám
tháng hai, Sư ngồi kiết già thị tịch.
Sư mỗi lần sớ
kinh nghĩa đều cầu Thánh nhân chứng minh. Một lần cảm được tôn giả Trường
Mi giáng. Sư đưa bản sớ giải của mình cho Tôn giả xem. Tôn giả rất thán
phục, khen là hợp hết tâm Phật, rồi hứa sẽ ngầm giúp Sư truyền bá rộng
rãi. Sư biết Tôn giả này chính là ngài Tân Ðầu Lô, bèn thiết trai cúng
dường. Sư có mười đệ tử thông đạt sự nghiệp sớ giải này.
Một đệ tử Sư
là Pháp Ngộ truyền pháp ở Trường Sa, đồ chúng mấy trăm người. Một hôm có
người lén uống rượu, Pháp Ngộ làm ngơ không cử tội. Sư biết được, bèn gởi
roi đến. Pháp Ngộ ôm roi khóc nói:
- Trông coi
chúng không công minh, khiến Thầy ở xa phải lo.
Rồi phủ phục
nhận phạt.
Trên cánh tay
Sư có một lõi thịt, nổi lên như cái ấn, có thể nhấn lên nhấn xuống mà
không ra khỏi bắp tay. Người đời gọi Sư là Bồ tát Ấn Thủ.
Sư có đệ tử
là ngài Huệ Viễn, Tổ Sư tông Tịnh Ðộ, lập Liên Xã để niệm Phật cầu vãng
sanh.
14. THÍCH HUỆ NGUNG
Sư vào núi
thiền định, quỉ núi hiện đủ hình tướng đều bị Sư điểm hóa mà ẩn đi. Một
hôm, trời tuyết lớn, có một cô gái hình dung yểu điệu, y phục đẹp đẽ, đến
nói với Sư:
- Thượng nhân
có đức lớn nên trời sai tôi đến hầu hạ Ngài.
Rồi dùng đủ
lời cám dỗ. Sư an nhiên chẳng động, bảo cô gái rằng:
- Lòng ta như
tro nguội, đừng đem túi da đó thử thách làm chi!
Cô gái bèn
cưỡi mây mà đi, quay lại khen rằng:
Nước biển cạn được,
Tu di nghiêng được,
Bậc thượng nhân kia,
Kiên trinh vượt bực.
15. CƯU MA LA THẬP
Sư người
Trung Thiên Trúc, cha tên Cưu Ma La Viêm, làm Tướng quốc mà bỏ vinh hoa đi
chu du. Vua nước Quy Tư đem em gái gả cho ông, sanh ra Cư Ma La Thập. Sư
còn bé mà tinh thần linh mẫn, bảy tuổi đi theo mẹ đến chùa . Thấy bát sắt,
thử nhấc để lên cổ, rồi sực nhớ: “Bát này rất nặng, sao ta nhấc nổi?”. Sư
nhấc lại, bát không nhúc nhích, liền ngộ được vạn pháp duy tâm. Sự học
rộng nhớ giỏi của Sư không ai bì kịp.
Năm Sư hai
mươi tuổi, mẹ Sư từ giã vua, đến Thiên Trúc, bảo Sư rằng:
- Giáo lý
Phương đẳng thâm sâu, chẳng thể suy lường. Chỉ có con mới truyền được đến
phương Ðông. Nhưng việc này đối với con có chỗ bất lợi, chả biết phải làm
sao đây!
Sư đáp:
- Chỉ cần cho
đại pháp được lưu truyền, con tuy chịu khổ sở cũng không có gì hối hận.
Mẹ Sư đến
Thiên Trúc, tu đắc quả A na hàm.
Phù Kiên
chiếm nước Tần, công phạt Nhượng Dương, rước được Ðạo An. Ðạo An khuyên
Phù Kiên đến Tây Vực rước Sư. Gặp ngay lúc Thái sử tâu:
- Ðức tinh
hiện ở rừng, thuộc địa phận Tây Vực, sẽ có bậc đại trí đến Trung Quốc.
Phù Kiên nói:
- Trẫm nghe
nước Quy Tư có ngài La Thập, chẳng phải là đây sao?
Bèn sai tướng
Lữ Quang, bảo:
- Trẫm chẳng
phải tham đất mà dụng binh. Nhưng nghe ngài La Thập hiểu sâu về pháp
tướng, làm tông phú cho kẻ hậu học. Ngươi nếu khắc phục được Quy Tư, nên
đón Ngài về.
Lữ Quang đem
quân phá Quy Tư, đưa La Thập về. Giữa đường, nghe tin Phù Kiên bị Diêu
Trường hại, bèn dừng lại không về nữa. Vì thế Sư không đến được kinh đô
nhà Tần. Sau Diêu Trường cũng nghe danh Sư, muốn thỉnh nhưng Lữ Quang
không chịu. Diệu Trường chết, con là Diệu Hưng lại thỉnh nữa, cũng không
được, liền đem quân đánh Lữ Quang. Lữ Quang thua phải hàng. Tần mới rước
được Sư.
Tháng mười
hai, Sư đến Trường An. Tần chủ sai đưa Sư vào vườn Tiêu Dao ở Tây nội dịch
kinh. Sư xem lại kinh sách cũ thấy nhiều chỗ sai lầm, không phù hợp với
bản tiếng Phạn, bèn tập hợp sa môn Tăng Triệu, Tăng Duệ ... để dịch lại.
Sư ở đất Tần,
thường giảng kinh ở chùa Thảo Ðường. Tần chủ Diêu Hưng, triều thần và sa
môn khoảng mấy ngàn người, nghiêm túc lắng nghe. Một hôm Diêu Hưng bảo với
Sư:
- Ðại sư
thông minh, biện tài vô song. Sao lại để hạt giống Pháp không nối tiếp
được!
Rồi đem mười
cung nữ ép nhận. Sư từ đó không ở trong tăng phòng, cất nhà riêng ở. Chư
tăng có người muốn bắt chước. Sư bèn lấy một bát đựng đầy kim, bảo mọi
người:
- Nếu ai bắt
chước ta ăn được bát này thì cho phép cất nhà riêng để ở.
Sư nói xong,
lấy bảy cây kim đưa vào miệng nhai nuốt. Chư tăng nể phục bèn thôi.
Phật Ðà Da Xá
(Giác Minh) đến Cô Tàng, nghe La Thập nhận cung nữ nhà Tần, liền than:
- La Thập như
bông vải, có thể khiến gặp gai góc sao?
Sư nghe tin
Da Xá vì mình mà lặn lội từ xa đến, nên khuyên Tần chủ tiếp đón. Sứ giả
đến nơi, Da Xá nói:
- Chiếu chỉ
của vua từ xa đến, lẽ ra nên đem ngựa tiếp đón long trọng như lễ La Thập,
mới là đàn việt chiêu đãi kẻ sĩ. Bần đạo nên đến phía bắc Bắc Sơn thôi!
Sứ trở về.
Diêu Hưng lại đi giục đi thỉnh nữa, Da Xá liền đến. Tần chủ nghinh tiếp,
lập tịnh xá riêng, cúng dường như bậc vương giả. Da Xá không nhận gì cả.
Ðến giờ ăn, chỉ ăn ngày một bửa thôi.
Cưu Ma La
Thập ưa thích Ðại thừa, muốn được diễn giảng, Sư thường than:
- Ta nếu cầm
viết, làm luận Ðại thừa thì Ca Chiên Tử cũng không bì kịp. Nay người hiểu
sâu quá ít ỏi, biết luận gì bây giờ?!
Sư vì Diêu
Hưng mà tạo hai quyển Thành Thật Luận.
Ðời Hậu Tần,
niên hiệu Hoằng Thủy thứ mười lăm (41), tháng tư Ngài có bệnh, bèn đọc ba
biến thần chú, sai đệ tử ngoại quốc (Thiên Trúc) tụng để tự cứu chữa nhưng
chưa đúng sức. Sư biết bệnh mình nguy kịch, bèn nhóm chúng bảo:
- Chúng ta
nhân nơi Phật pháp mà được gặp nhau, nhưng vẫn chưa được trọn tấm lòng.
Tôi sợ người sau có thể trách mình còn mờ tối, dở tệ lầm lẫn dẫy đầy mà
truyền bá những bản kinh dã dịch. Mong rằng sự truyền bá sau này được trôi
chảy. Nay tôi thành tâm xin phát nguyện trước chúng: “Nếu chỗ truyền chẳng
lầm, nghĩa khế hợp với tâm Phật, thì cho tôi sau khi thiêu thân, lưỡi vẫn
còn nguyên vẹn”.
Nói xong, Sư
thị tịch. Khi trà tì, củi tàn, thân cháy hết mà lưỡi Ngài vẫn tươi hồng
như màu sen. Sư thọ bảy mươi hai tuổi.
Ban đầu, Sư
thường cùng mẹ đến yết kiến tôn giả Bắc Sơn ở nước Ðại Nguyệt Thị. Bắc Sơn
bảo mẹ Sư:
- Hãy khéo
gìn giữ Sa di này. Năm ba mươi lăm tuổi, tỳ ni sẽ không thiếu sót, độ
người như ngài Ưu Ba Cúc Ða.
Ngài Bôi Ðộ ở
Bành Thành, nghe tin ngài La Thập tịch, than rằng:
- Ta cùng
người này tạm biệt đã hơn ba trăm năm, mờ mịt chẳng biết đâu gặp lại, nay
thì lại chậm đến đời sau vậy.
Ðệ tử Sư hơn
ngàn người. Bốn vị: Ðạo Sinh, Tăng Triệu, Ðạo Dung, Tăng Duệ là Tứ thánh
dưới cửa Ngài.
Kinh luận Sư
dịch hơn 390 quyển.
16. HỔ KHÊ TAM TIẾU
Huệ Viễn trụ
ở chùa Ðông Lâm, dưới chùa có dòng Hổ Khê. Mỗi khi tiễn khách, đến đây thì
dừng lại. Niên hiệu Nghĩa Hy thứ ba (407), đạo sĩ Lục Tu Tĩnh cùng thi sĩ
Ðào Tiềm vào núi gặp Sư. Sư đưa tiễn, cầm tay trò chuyện, bất giác qua Hổ
Khê. Cọp bèn rống lên. Ba người quay lại nhìn nhau cười to. Ðời lưu truyền
làm Tam Tiếu Ðồ.
17. TÔN GỈA BÔI ÐỘ
Ban đầu Sư
thị hiện ở Ký Châu, diện mạo rất khô cằn, lạnh lùng, thường cưỡi cây trên
sông Bôi Ðộ, thần hóa khôn lường. Sư không tu tế hạnh, có lúc đập băng mà
tắm, lúc lại mang guốc lên núi, hoặc đi chân không vào chợ, vác một cái bị
mà thôi, chẳng có gì khác.
Một hôm Sư
đến Quảng Lăng, gặp nhà họ Lý trong làng đang cúng trai tăng, Sư đặt bị
giữa sân rồi vào thẳng trai đường mà ngồi, mọi người đều nhìn mà Sư vẫn tự
nhiên.
Khi ấy, có
mấy người thấy chiếc bị để chắn giữa đường, bèn dời qua một bên, nào ngờ
dùng hết sức mà không nhúc nhích. Ăn xong, Sư vác bị lên, cười nói:
- Tứ thiên
vương!
Có đứa bé họ
Lý lén nhìn thấy trong bị có bốn đứa bé cao mấy tấc, mi mắt như tranh vẽ.
Họ Lý thấy lạ, bèn thỉnh Sư lại cúng dường rất lâu. Một hôm, Sư đòi áo cà
sa, họ Lý chưa lo kịp, Sư nói:
- Tôi ra
ngoài kia một chút!
Ðợi đến chiều
cũng chưa thấy Sư trở lại, lại nghe trong không có mùi hương lạ, mọi người
theo tìm thì gặp Ngài ở dưới chân Bắc Sơn, trải cà sa rách trên đất, an
nhiên thị tịch, trên đầu và dưới chân có hoa sen mọc, cả người tỏa hương
thơm, qua đêm bỗng héo. Người ta chôn Ngài đã mấy hôm, sau lại có người từ
phương Bắc đến nói rằng thấy Ngài vác bị đi về hướng Bành Thành. Họ Lý mở
quan tài, chỉ thấy có đôi giày.
Ngài đến Bành
Thành, có ông Hoàng Hân tin sâu Phật Pháp, thấy Ngài bèn chào hỏi rồi
thỉnh về nhà. Nhà ông lại quá nghèo chỉ ăn gạo tẻ mà thôi, nhưng Ngài ăn
vào lại ngọt như mạch nha. Sau Ngài đi về phương Ðông đến Ngô Quận, thấy
người chài đang lưới cá, Ngài theo xin, người chài nổi giận không cho.
Ngài lượm hai cục đá nhỏ ném xuống nước, phút chốc có hai con trâu húc vào
lưới làm rách nát rồi trâu biến mất.
Chu Linh Kỳ,
dân ở Ngô Quận, từ Cao Ly trở về, bị gió thổi đến một hòn đảo, thấy một
ngôi bảo tự. Tăng trong chùa đang dọn cơm, ông liền đến vái chào, xin giúp
trở về làng. Vị tăng ấy hỏi:
- Ông biết
đạo nhân Bôi Ðộ chăng?
- Biết!
Vị tăng chỉ
một cái đãy treo trên vách, có tích trượng và bình bát, nói:
- Ðây là của
Bôi Ðộ. Nay tôi gởi ông đưa bình bát này cho ông ta.
Và viết thơ.
Xong đưa gậy trúc xanh bảo đặt trước thuyền. Linh Kỳ theo lời, ba ngày
liền đến Thạch Ðầu. Bôi Ðộ bỗng đi đến, nhận thơ xem rồi cười to, lấy tay
tung bình bát lên không, rồi đón lấy nói:
- Ta chẳng
thấy bình bát này cách đây đã bốn ngàn năm.
Ðời Tống,
niên hiệu Nguyên Gia thứ ba, tháng 9 Sư thị tịch. Sau khi diệt độ, người
ta vẫn gặp Ngài luôn. Ngài có làm bài ca “Một Bình Bát” như sau:
Sợ kinh khiếp!
Ðều là liên miên tạo xoa sát (mạt thát).
Như đói ăn muối càng thêm khát,
Uổng cả một đời đầu cạo miết
Cứu cánh chẳng thể biết gốc ngọn
Ném tử thi đi, chỗ nào thoát?
Khuyên anh nổ lực cầu giải thoát
Việc nhàn rốt cuộc phải nắm bắt
Lửa rớt trên thân cần phải phủi
Chớ đợi gần chết kêu Bồ tát.
Trượng phu nói năng hải khoáng đạt
Chớ học phàm phu ưa vuốt ve
Theo thời, kết quả học bỏ hết
Cũng học nhu hòa, ăn gạo dở
Cũng cạo đầu, cũng đắp y
Học phàm phu tạo sanh hoạt
Nói thẳng với anh, anh chưa đạt
Lại làm trường ca, ca một bát.
Một bát ca, một trong nhiều,
nhiều trong một.
Chớ cười người quê ca một bát
Từng đem một bát độ ta bà.
Trời xanh lồng lộng trăng vừa lên
Lúc này ảnh – không gồm vạn tượng
Bao chốn phù sinh tự thị phi
Một nguồn thanh tịnh không lai vãng.
Lại chớ đem tâm tạo bọt nước
Trăm lông máu chảy ai dạy thế.
Chẳng bằng ngồi lặng đất Chân như
Trên đảnh mặc cho chim làm ổ.
Mấy đời con Kim Luân Thánh Vương
Chỉ là Chân như Linh giác này
Dưới cội Bồ đề độ chúng sanh
Ðộ hết chúng sanh không sanh tử.
Chẳng sanh chẳng tử, chân Trượng phu
Không hình không tướng, đại Tỳ Lô
Trần lao diệt hết, Chân như đấy.
Một viên tròn sáng, châu vô giá.
Mắt không thấy, tai chẳng nghe.
Chẳng thấy, chẳng nghe, thật thấy nghe.
Từ xưa một câu, không ngôn thuyết
Hôm nay ngàn lời gượng phân tích.
Hãy lắng nghe!
Người người đều có tánh Chân như
Giống như hoàng kim ở trong quặng
Luyện đi luyện lại, thể vàng sạch.
Chân là vọng, vọng là chân.
Nếu trừ chân vọng lại không người
Chân tâm chớ dối sanh phiền não
Cơm áo tùy thời nuôi sắc thân.
Tốt cũng mặc, xấu cũng mặc
Tất cả vô tâm chớ dính mắc
Cũng không tốt, cũng không xấu
Hai mé thản nhiên, đạo bình đẳng.
Thô cũng ăn, tế cũng ăn
Chớ học phàm phu nhìn trên tướng
Cũng không thô, cũng không tế
Hương tích cõi trên không cội rễ.
Ngồi cũng đi, đi cũng ngồi
Dưới cây sanh tử, quả Bồ đề
Cũng không ngồi, cũng không đi
Không sanh đâu cần kiếm vô sanh!
Sanh cũng được, tử cũng được
Xú xứ đương lai thấy Di Lặc
Cũng không sanh, cũng không tử
Ba đời Như Lai đều như thế.
Lìa thì dính, dính thì lìa
Trong cửa huyễn hóa không nghĩa thật
Không thể lìa, không thể dính,
Chỗ nào lại cầu không bệnh thuốc?
Nói thời im, im thời nói
Nói nín ngang dọc không chỗ nơi.
Cũng không nói, cũng không nín
Chớ gọi Ðông Tây là Nam Bắc.
Sân tức hỉ, hỉ tức sân,
Ta tự hàng ma, chuyển Pháp Luân
Cũng không sân, cũng không hỉ
Nước chẳng lìa sóng, sóng tức nước.
Tiếc thời bỏ, bỏ thời tiếc
Chẳng lìa trong ngoài và ở giữa
Cũng chẳng tiếc, cũng chẳng bỏ
Tịch tịch liêu liêu không chỗ nắm.
Khổ thì vui, vui thì khổ.
Chỉ tu hành này dứt cửa nẻo
Cũng không khổ, cũng không vui
Xưa nay tự tại không dây nhợ.
Dơ tức sạch, sạch tức dơ
Hai bên rốt cuộc không sau trước
Cũng chẳng dơ, cũng chẳng sạch
Ðại thiên đồng một tánh chân như.
Thuốc là bệnh, bệnh là thuốc
Cuối cùng hai việc cần nêu hết
Cũng không thuốc, cũng không bệnh
Chính là chân như tánh giác linh.
Ma làm Phật, Phật làm ma
Trong gương tìm bóng, sóng trên nước
Cũng không ma, cũng không Phật
Ba đời xưa nay không một vật.
Phàm tức thánh, thánh tức phàm
Keo trong màu xanh, trong nước lam
Cũng không phàm, cũng không thánh
Vạn hạnh tổng trì, không một hạnh.
Giả trong chân, chân trong giả.
Tự là phàm phu khởi vọng trần
Cũng không chân, cũng không giả
Nếu không lúc gọi đâu vâng dạ!
Xưa nay không họ cũng không tên
Chỉ vậy đằng đằng chân tin bước
Có lúc quán chợ cùng hàng thịt.
Một đóa sen hồng trên lửa sanh
Cũng từng gậy trúc dạo kinh lạc
Thân dường mây nổi không vướng mắc
Huyễn hóa từ lâu tợ ở nhờ
Nhà người chỗ chạm lại thanh hư
Nếu tìm giới!
Ba độc lở loét bao giờ khỏi?
Nếu kiếm thiền!
Ta tự tung hoành tìm đá ngủ
Thật đáng thương, chẳng phải điên
Thế gian, xuất thế, thiên trung thiên
Người đời chẳng hiểu được ý này
Ðánh nhằm bên Nam, động bên Bắc.
Nếu kiếm pháp!
Trong núi Kê Túc hỏi Ca Diếp
Ðại sĩ giữ y ở trong này
Xưa nay chẳng cần cầu giữ vỏ.
Nếu tìm kinh!
Pháp tánh Chân Nguyên không thể nghe.
Nếu kiếm luật!
Cùng tử chẳng nên dạy chạy ra.
Nếu tìm tu!
Tám vạn phù đồ cầu chỗ nào?
Chỉ biết lá vàng dừng tiếng khóc.
Bất giác mây đen che mặt trời
Chớ lạ lời cuồng không thứ lớp
Sàng lưới dần vào tế trong thô
Chỉ cái tế trong thô cũng không
Tức là viên minh chân thật đế.
Chân thật đế vốn không chân
Chỉ là danh văn, tức là trần
Nếu hướng trong trần hiểu chân thật
Liền là đường đường người xuất thế.
Người xuất thế, chớ tạo tác
Ðộc hành, độc bộ, không thênh thang
Không sanh, không tử, không Niết Bàn
Xưa nay sanh tử không quan hệ.
Không thị phi, không động tĩnh
Chớ dối đem thân vào giếng không
Không thiện ác, không đến đi
Cũng không gương sáng treo đài cao
Kiến giải sơn tăng chỉ như thế
Chẳng tin tùy họ tạo kiếp tro.
18. THÍCH ÐẠO SINH
Sư họ Ngụy,
người rất dĩnh ngộ, không ưa sự ồn náo trần tục, cạo tóc xuất gia thọ
giới. Ban đầu Sư vào Lô Sơn, ở U Thê bảy năm. Sau dạo đến Quan Trung, theo
ngài La Thập thọ nghiệp. Tăng chúng khâm phục như thần.
Lúc trước, Sư
thấy phần đầu kinh Niết Bàn nói “Trừ hạng Nhất xiển đề ra, tất
cả đều có Phật tánh”. Sư bèn nói: “Xiển đề sao lại riêng không có Phật
tánh được? Kinh này đến đây chưa đủ. Rồi xướng thuyết “Xiển đề đều sẽ
thành Phật".
Các vị sư
khác đời ấy đều trách mắng Sư, cho là tà thuyết, theo luật đáng bị tẩn
xuất. Sư bèn thề:
- Nếu tôi nói
không hợp với nghĩa kinh, thì xin cho hiện thân chịu ác báo. Nếu thật khế
hợp tâm Phật, nguyện lúc xả thọ mạng, ngồi tòa sư tử.
Và Sư rũ áo
vào Hổ Khưu sống lặng lẽ. Khi tâm có chỗ hội, Sư đến chùa Thanh Viên, ngồi
dưới rặng tùng, xếp đá làm đồ chúng, giảng kinh Niết Bàn. Một hôm giảng
đến chỗ Xiển đề, bèn nói có Phật tánh. Lại nói:
- Lời của ta
có hợp với tâm Phật chăng?
Hàng đá đều
gật đầu. Mùa hạ năm đó, sấm rền Phật điện Thanh Viên, người ta chợt thấy
một con rồng bay lên múa lượn, ánh sáng trời phát ra, bóng hiện ở vách
Tây. Chùa liền được đổi tên là Long Quang. Người đời đó than:
- Rồng đã
bay, Sư chắc cũng đi!
Mấy ngày sau,
quả nhiên Sư trở về Lô Sơn, để lại một di ảnh rơi trong hang núi. Tăng
chúng đều đến chiêm lễ.
Sau Sư nghe
Ðàm Vô Sấm dịch lại phẩm sau của kinh Niết Bàn, quả nhiên có nói: “Người
Nhất xiển để tuy đoạn thiện căn, vẫn có Phật tánh”. Sư rất mừng rỡ.
Niên hiệu
Nguyên Gia năm thứ chín (432). Sư đến Kim Lăng, chưa bao lâu trở lại Lô
Sơn. Trụ tịnh xá Lô Sơn, giảng kinh Niết Bàn.
Tháng mười
một, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười một (434)*, Sư thăng tòa luận nghĩa mấy
phen, mọi người nghe đều vui vẻ. Chợt thấy phất trần rơi xuống đất, Sư
ngồi ngay ngắn, nghiêm trang tựa ghế mà tịch, thọ 80 tuổi. Sớ luận để lại
là những tác phẩm rất quý báu.
* Có
thuyết nói Sư tịch năm Nguyên Gia thứ 9 (432).
SAU
NHỊ TỔ
19. HUỆ TƯ
Tham Ðại
Sư Huệ Văn
Huệ Tư, họ Lý
người Vũ Tân, đỉnh đầu có cục thịt nổi lên, đi như trâu, nhìn như voi. Lúc
trẻ rất hiền từ, nổi tiếng ở xóm làng, thường mộng thấy Phạm Tăng khuyên
xuất gia, bèn từ cha mẹ cạo tóc, đắp y và thọ Ðại giới. Ngày chỉ ăn một
bữa, tụng Pháp Hoa ngàn biến. Niên hiệu Thừa Thánh năm thứ ba (554) đời
Lương, nghe ngài Huệ Văn ở Bắc Tề có đồ chúng đến mấy trăm, Sư liền đến đó
xin thọ pháp. Ngày đêm nhiếp tâm, hông không dính chiếu; ngồi hạ hai mươi
mốt ngày Sư được túc mạng thông. Bỗng có chướng nổi lên, tay chân yếu ớt,
không thể đi được. Ngài tự gnhĩ: “Bệnh từ nghiệp sanh, nghiệp từ tâm khởi,
nếu nguồn tâm không khởi, thì ngoại cảnh có hình trạng gì? Bệnh nghiệp
cùng với thân đều như bóng này”.
Ngài quán như
thế xong, thân thể nhẹ nhàng như cũ. Hết hạ, vẫn không được gì, thầm ôm
lòng hổ thẹn; dựa vào vách, lưng chưa tới vách, hoát nhiên khai ngộ Pháp
Hoa tam muội.
Trụ Ðại Tô
Dạy chúng:
- Nguồn đạo
không xa, biển tánh rất gần. Chỉ hướng mình tìm, chớ theo người khác tìm.
Tìm thì chẳng được mà được cũng chẳng phải chân thật.
Ngài nói kệ:
Ðốn ngộ nguồn tâm mở kho báu
Ẩn hiển linh thông hiện chân tướng
Ðường bộ thường đi, ngồi một mình
Hóa thân trăm ức không kể xiết
Dù cho đầy dẫy khắp hư không
Lúc xem chẳng thấy một mảy bụi
Ðáng cười vật chừ, không so sánh
Miệng nhả châu sáng chiếu rỡ ràng
Tầm thường thấy nói không nghĩ nghị
Một lời nêu tên, ngay lời nhận.
(Ðốn ngộ tâm nguyên khai bảo tạng
Ẩn hiển linh thông hiện chân tướng
Ðộc hành độc tọa thường nguy nguy
Bách ức hóa thân vô số lượng
Túng linh biến tắc mãn hư không
Khán thời bất kiến vi trần tướng
Khả tiếu vật hề vô tỷ huống
Khấu thổ minh châu quang hoảng hoảng
Tầm thường kiến thuyết bất tư nghì
Nhất ngữ tiêu danh ngôn hạ đương).
Ngài thường
đăng tòa giảng kinh Ðại Bát Nhã, bị các Luận sư ganh ghét đánh thuốc độc.
Ngài nhất tâm niệm Bát Nhã, thuốc độc liền tiêu, sai môn nhân Trí Khải
giảng thay. Trí Khải giảng đến “Một tâm đủ vạn hạnh” chợt có chỗ nghi,
thỉnh Sư giải quyết. Ngài nói:
- Như điều
ông nghi là ý thứ lớp của Ðại Phẩm, chưa phải là ý chỉ viên đốn của Pháp
Hoa. Xưa ta ở trong hạ, một niệm chống phát các pháp hiện tiền. Ta đã thân
chứng, chẳng cần phải nghi.
Trí Khải hỏi:
- Thầy chứng
Thập địa chăng?
Ðáp:
- Ta một đời
mong được nhập vào Ðồng luân (Viên Thập Trụ); vì lãnh đồ chúng sớm quá,
làm tổn mình ích cho người. Nên chỉ ở Thiết luân thôi (Viên Thập Tín).
Huệ Tư thường
cầm gậy như ý chỉ Trí Khải bảo:
- Có thể nói
là pháp giao cho pháp thần, còn pháp vương thì vô sự.
Rồi Ðại Tô bị
phòng vệ, đại chúng không an. Huệ Tư bèn bảo ngài Trí Khải rằng:
- Ta từ lâu
muốn đến Nam Nhạc mà hậu pháp chưa có chỗ ký thác. Nay ông có thể truyền
đăng, chớ làm người cuối cùng đoạn dứt hạt giống Phật. Ông có duyên với
nước Trần, nên đến đó làm lợi ích.
Trí Khải vâng
lời đi đến nước Trần, trụ chùa Ngoã Quan; khai đề kinh Pháp Hoa. Còn ngài
Huệ Tư, niên hiệu Quang Ðại năm thứ hai (568) tháng 6, đem hơn bốn mươi
Tăng về Nam Nhạc. Lên ngọn Chúc Dung, gặp Nhạc thần đang đánh cờ. Thần
nói:
- Sao Sư đến
đây?
Ngài bảo:
- Xin đàn
việt một miếng đất bằng tọa cụ.
- Ðược!
Sư phóng gậy
để định chỗ (nay là chùa Phước Nghiêm). Nhạc Thần xin thọ giới. Sư thuyết
pháp cho, nhân đó nói:
- Ta ở nhờ
núi này, chỉ hạn mười năm. Sau xong việc sẽ đi xa. Tiền thân của ta từng
đi đến chốn này.
Ði lần đến
hành Dương, gặp một chỗ suối rừng đẹp lạ.
Ngài nói:
- Ðây là chùa
cổ. Ta ngày xưa từng ở đây.
Ngài sai đào
đất, thấy nền đất vẫn còn.
Ngài lại chỉ
chân núi nói:
- Xưa ta ngồi
thiền ở đây. Giặc đến chém đầu ta.
Rồi tìm được
hài cốt đã khô đầy đủ. Từ đây tạo hóa càng thạnh. Trần chúa gọi là Ðại
thiền.
Ngài trụ ở
Nam Nhạc, có một lão túc nhắn người đến bảo:
- Sao chẳng
xuống núi giáo hóa chúng sanh, cứ ngắm nhìn Vân Hán (cảnh đẹp) làm gì?
Ngài đáp:
- Ba đời chư
Phật bị ta nuốt trọn. Còn có chúng sanh nào để giáo hóa nữa.
Niên hiệu
Thái kiến năm thứ chín (577) ngày 6 tháng 6. Ngài bảo môn nhân rằng:
- Nếu có được
mười người chẳng tiếc thân mạng, thường tu Pháp Hoa, Bát Nhã, Niệm Phật
Tam muội, Phương đẳng, Sám hối, hẹn phải kiến chứng thì tùy chỗ cần ta sẽ
cung cấp cho. Nếu không có người như thế thì đã xa cách ta rồi vậy.
Lúc đó, chúng
cho là việc khổ hạnh khó khăn nên không ai đáp lại. Ngài bèn đuổi chúng ra
rồi nhập diệt. Có một thầy nhỏ tên Linh Biện kêu khóc. Sư mở mắt nói:
- Sao được
kinh động ta? Ðồ ngu, đi ra!
Rồi Ngài niệm
Phật chắp tay mà tịch, nhan sắc như lúc sống, hương lạ đầy thất.
20. TRÍ KHẢI
(538-597)
Trí Khải tự
Ðức An, họ Trần ở Hoa Dung, cha được phong làm Khai quốc hầu, mẹ họ Từ,
lúc có thai mộng nuốt một con chuột trắng và mây hương năm màu vòng quanh
ở bụng. Ðêm đản sanh, ánh sáng khắp nhà. Mắt Ngài có hai đồng tử, da không
dính bụi. Khi nằm thường chắp tay, ngồi thì hướng mặt về Tây. Năm bảy tuổi
vào chùa nghe Tăng tụng phẩm Phổ Môn, liền niệm theo, chợt tự nhớ hết văn
bảy cuốn rành rõ như đã học. Mười lăm tuổi lễ Phật, chợt thoảng như giấc
mộng, thấy có núi lớn gần mé biển, trên đỉnh có vị Tăng vẫy tay, lại dẫn
vào một ngôi chùa nói: “Ông sẽ ở đây. Ông sẽ chết ở nơi này”.
Sau Ngài xuất
gia, thọ giới cụ túc, rồi đến núi Ðại tô yết kiến ngài Huệ Tư. Huệ Tư vừa
gặp liền bảo:
- Xưa, trên
núi Linh Thứu, ta và ông cùng nghe kinh Pháp Hoa, nay ông lại đến!
Huệ Tư dạy
làm đạo tràng Phổ Hiền thuyết Tứ An Lạc Hạnh. Trí Khải nhập quán hai mươi
mốt ngày, tụng kinh Pháp Hoa, đến phẩm Dược Vương, nói: “Ðây là chân tinh
tấn, gọi là chân pháp cúng dường Như Lai". Liền ngộ Pháp Hoa Tam muội,
thấy một hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan, túc mạng thông liền phát, đem
chỗ chứng bạch với ngài Huệ Tư. Huệ Tư nói:
- Chẳng phải
ông thì chẳng chứng được. Chẳng phải ta thì không biết được. Ðây là Pháp
Hoa Tam muội, là phương tiện ban đầu, là Triền Ðà la ni ban đầu vậy. Dù
cho bậc thầy văn tự có đến ngàn vạn cũng không thể cùng ông biện luận.
Trong những
vị thuyết pháp, Ngài là đệ nhất.
Trí Khải trụ
chùa Ngõa Quan ở Kim Lăng tám năm. Vào tháng 8 niên hiệu thái Kiến năm thứ
bảy nhà Trần (575) dẫn đồ chúng trụ núi Thiên thai. Ngọn Phật Lũng có Ðại
sư Ðịnh Quang bảo đệ tử rằng:
- Chẳng bao
lâu sẽ có bậc thiện tri thức thù thắng, dẫn đồ chúng đến đây.
Không bao
lâu, Trí Khải đến. Ðịnh Quang nói:
- Còn nhớ
ngày xưa, lúc đưa tay vẫy dắt không?
Ðến am, đêm
đó trên không có tiếng chuông. Ngài hỏi:
- Là điềm gì
vậy?
Ðáp:
- Ðây là kiền
chùy để nhóm Tăng chúng, là tướng ở được. Ngọn này là Kim địa, tôi đã ở.
Ngọn phía Bắc là Ngân địa, ông sẽ ở đó.
Ngài Trí Khải
thường một mình đến ngọn Hoa lĩnh tọa thiền. Bỗng nhiên đêm sau, gió lớn
làm trốc cây, sấm chớp rền núi, qủy ma (ly mỵ) ngàn bầy, một hình biến
trăm dạng, biến hóa chớp nhoáng không thể tính kể. Lại hiện hình cha mẹ,
thầy, Tăng, chợt dựa ôm, bình thường thương khóc lóc.
Ngài vẫn an
tâm không tịch, thầm niệm thực tướng, hai duyên mạnh yếu chẳng thể làm
động. Lúc sao mai vừa mọc, thần tăng khen:
- Chế phục kẻ
địch, thắng được kẻ oán, đáng gọi là dũng, có thể qua được sự khó khăn này
không ai bằng ông.
An ủi xong,
lại thuyết pháp cho Ngài. Ngài nói:
- Ðây gọi là
Thực đế, nên học Bát Nhã, nên tuyên Ðại bi. Từ đây về sau tự thực hành và
dạy người khác. Ta đều chịu ảnh hưởng pháp này.
Trí Khải đến
Kinh Châu, Ngọc tuyền nhập định trong cây to. Một hôm có con rắn lớn, dài
hơn mười trượng, há miệng hướng vào, âm ma la liệt, tên đá như mưa. Trải
qua một tuần ngài Trí khải vẫn không có vẻ sợ, còn thương xót nó mà nói:
- Ngươi tạo
các nghiệp sanh tử, tham đắm chút phước thừa, chẳng tự bi hối.
Nói xong các
yêu ma biến mất. Tối đó mây tan, trăng sáng, Ngài thấy có hai người uy
nghi như vua đến trước cung kính nói:
- Tôi là Quan
Vũ. Cuối đời Hán nhiễu nhương, Cửu Châu tàn phá, Tào Tháo bất nhân, Tôn
Quyền tự cố thủ. Tôi là nghĩa thần nhà thục Hán, mong khôi phục ngôi vua,
nhưng thời sự trái nhau, có chí mà không toại nguyện, chết đi còn chút
công nghiệp được làm vua núi này. Ðại đức thánh sư sao phí sức thần mà đến
đây?
Ngài đáp:
- Muốn ở đất
này kiến lập đạo tràng để báo đáp đức sinh thân.
Quan Vũ nói:
- Xin thương
xót con ngu muội, rủ lòng nhiếp thọ. Cách đây một xá (30 dặm), có núi như
thuyền úp, đất đó thâm hậu, đệ tử sẽ cùng Tử Bình, dựng chùa để cúng. Mong
thầy an thiền bảy ngày, sẽ hoàn tất.
Khi Ngài xuất
định, thấy đầm sâu ngàn thước trở thành đất bằng, mái chùa tráng lệ, đẹp
đẽ ưa nhìn. Ngài bèn dẫn chúng vào ở; rồi diễn pháp một ngày. Thần bạch
Ngài rằng:
- Ðệ tử hôm
nay được nghe pháp xuất thế gian, mong rửa lòng đổi niệm, cầu thọ giới quy
y, mãi mãi làm gốc Bồ đề.
Ngài bèn
truyền ngũ giới.
Năm Ðinh Tỵ
tháng 11 (597), Tùy Vương sai sứ rước Ngài. Khi sắp đi, Ngài bảo môn nhân:
- Ta đi lần
này không trở lại. Các ngươi nên thành tựu chùa Phật Lũng Nam.
Lại nói thêm:
- Ðó là nhà
vua sắp đặt, các ông thấy được, còn ta chẳng thấy.
Ngài đến
trước tượng đá ở chùa Thạch Thành, Diệm Ðông, dừng lại quay nhìn thị giả
bảo:
- Ta biết
mạng dứt tại đây, không tiến đi nữa, dây đàn đứt tuyệt hôm nay.
Rồi Ngài
xướng đề kinh Quán Vô Lượng Thọ xong, lại nói:
- Bốn mươi
tám nguyện trang nghiêm Tịnh độ. Ao hoa, cây báu, tuy dễ đến mà không có
người, khi lửa, xe cùng hiện mà một niệm cải hối còn được vãng sanh, huống
là người giới định huân tu, đạo lực thánh hạnh, công chẳng phế bỏ.
Lúc đó Phật
đá phóng đại quang minh trùm khắp hang núi. Môn nhân thỉnh:
- Chưa rõ Ðại
sư ở địa vị nào? Sanh thế nào?
Ðáp:
- Ta nếu
không lãnh chúng thì sáu căn được tịnh, vì bỏ mình lợi người nên chỉ lên
Ngũ phẩm. Ông hỏi là sinh thế nào à? Các thầy bạn của ta theo hầu Quan Âm
đều đến rước ta.
Nói xong Ngài
tịch.
21. PHÁP SƯ TĨNH ÁI
Ẩn núi
THÁI ẤT
Ban đầu Tĩnh
Ái nghe Chu Vũ Ðế phế giáo (547) khẳng khái than rằng:
- Ăn hạt dẻ
nhà Chu mà quên việc này, đáng gọi là trung sao?
Ngài liền đến
cung vua xin yết kiến, hết lòng bày tỏ sự báo ứng phước họa của việc hủy
bỏ giáo pháp, chỉ bày dẫn chứng rõ ràng.
Vua đổi nét
mặt bảo:
- Chiếu chỉ
đã ban hành, không thể thu lại được.
Rồi chối từ.
Ngài lui ra, khóc nói:
- Ðại giáo bị
bế tắc, ta làm sao cam đứng nhìn cho được.
Ngài bèn trở
về núi Chung Nam. Vua muốn được yên, sai vệ sĩ tìm Ngài. Ngài nghe được
bèn chạy vào núi Thái Ất, kêu khóc bảy ngày đêm không ngớt, soạn hai mươi
quyển Tam Bảo Lục. Tháng 7 niên hiệu Tuyên Chính khai nguyên (578), bảo đệ
tử rằng:
- Ta sống
chẳng bổ ích cho đời, nay muốn xả thân.
Chúng kêu
khóc. Ngài sai thị giả ra khỏi núi, rồi trích máu viết một thiên thư kệ.
Ngài ngồi trên tảng đá, mặc áo trong, tự mổ bụng bày trên đá, đem ruột gan
treo trên cây tùng, ngũ tạng đều phơi ra, còn gân thịt, tay chân, đầu mặt
miệng lóc ra gần hết, lấy dao khoét tim, đưa lên, ngồi ngay ngắn mà tịch.
Còn hài cốt không vấy chút máu, chỉ thấy sữa trắng chảy ra, đọng ở đá.
Người nghe ai cũng rơi lệ.
22. PHỤC HƯNG PHẬT GIÁO
Khai
Hoàng Nguyên Niên (581)
Chu Vũ đế phế
giáo làm vua hai mươi năm. Tùy Văn Ðế lên ngôi đổi niên hiệu là Khai
Hoàng. Xuống chiếu lập chùa Tăng ở núi Ngũ Nhạc, lại lập một ngôi già lam
ở chiến trường Tương Châu. Vua rắp tâm hoằng pháp. Mùa Ðông năm đó, có các
sa môn Trí Chu ... đem hai trăm sáu mươi bộ kinh đúng hẹn từ Tây Vức trở
về. Vua bèn giao cho Hữu Ty, mời người phiên dịch.
Vua họ Dương
tên Kiên, người Hoa Âm, lúc mới sanh hào quang đỏ chiếu trong nhà, khí tía
đầy sân. Bên cạnh nhà có chùa ni. Ni cô tên Trí Tiên, người đời gọi là
Thần Ni. Gặp lúc nóng bức, mẹ lấy quạt quạt cho lạnh muốn gần chết. Ni cô
từ ngoài đến bảo người cha rằng:
- Ðứa bé này
do Phật trời ban cho. Thân như xá lợi, chẳng thể tiêu hoại.
Bèn gọi ông
là Na La Diên, Ni cô lại nói:
- Ðứa bé này
sẽ đến chỗ khác thường. Nhà thế tục ô uế, nên đem đến chùa nuôi dưỡng.
Người cha bèn
giao đứa bé cho Ni cô. Một hôm Ni cô ra ngoài. Người mẹ đến ôm con, chợt
thấy con hóa thành rồng, vẩy sừng đầy đủ, kinh sợ té xuống đất. Ni cô trở
về thấy nói:
- Tại sao dám
chạm đến con ta, làm cho nó muộn được thiên hạ.
Ðến năm bảy
tuổi, Ni cô bảo vua rằng:
- Con sau là
bậc đại quý, sẽ từ phương Ðông đến. Lúc Phật pháp diệt, nhờ con mà hưng
thịnh lại.
Vua mười ba
tuổi mới trở về nhà. Ðến khi Chu Vũ Ðế phế giáo, Ni cô ẩn tại nhà Dương
Kiên, chưa được bao lâu thì tịch. Sau Dương Kiên quả nhiên từ Sơn Ðông vào
làm thiên tử, đại hưng Phật pháp, như lời Ni cô nói.
Lên ngôi rồi,
mỗi lần thăm quần thần đều truy niệm A Xà Lê để làm “khẩu thật” (*), lại
nói:
- Trẫm hưng
ngôi vị đều do Phật pháp, lại thích ăn mè đậu. Ðời trước như từ dòng đạo
nhân mà đến. Vì lúc nhỏ ở chùa, đến nay ưa nghe tiếng chuông trống.
(*) Khẩu
thật: Câu chào hỏi, hay câu làm chứng lời mình không dối.
23. ÐẠI SĨ TĂNG GIÀ
Ðại sĩ Tăng
Già từ nước Toái Diệp dạo Tây Lương, niên hiệu Tổng Chương năm thứ hai
(669) hiển hóa ở Lạc Dương; tay cầm cành cành dương lẫn lộn trong dòng tu.
Có người hỏi:
- Thầy họ
chi?
Ðáp:
- Tôi họ chi.
Hỏi:
- Sư người
nước nào?
Ðáp:
- Tôi người
nước nào.
Ngài thường ở
trên sông Tứ muốn lập già lam. Nhân có dân Túc Châu là Hạ Bạt phá chỗ ở.
Tăng Già nói:
- Ðây vốn là
chùa.
Cho người đào
đất quả nhiên thấy bia cũ đề: Chùa Hương tích; lại được tượng vàng. Tăng
Già nói:
- Phật Phổ
Quang Vương.
Bèn lấy đây
làm tên chùa.
Trung Tông
rước Tăng Già ở Tứ Châu vào cung. Mời ở chùa Tiến Phước độ Huệ Nghiễm, Huệ
Ngạn, Mộc Xoa ba người. Sau thị tịch. Vua ra lệnh đến núi Tiến Phước thân
dựng tháp.
Chợt mùi hôi
thúi xông lên khắp thành. Vua cầu khẩn xin đưa về Lâm Truy.
Khấn xong,
mùi hương lạ thơm ngào ngạt.
24. HUỆ MÃN
Huệ Mãn họ
Trương, ở Vĩnh Dương nối pháp Mã Tang Na. Theo hạnh đầu đà chỉ chứa hai
kim, mùa đông xin vải vá, mùa hạ bỏ ra. Tâm chẳng sợ sệt, ngủ không mộng
mị, thường đi khất thực. Ðến già lam thì chẻ củi làm giày (guốc), không ở
đến đêm thứ hai. Niên hiệu Trinh Quán năm Nhâm Dần (642) ở bên chùa Thiện
Hội ở Lạc Dương, trong ngôi mộ cổ gặp tuyết lớn. Sáng sớm vào chùa gặp Ðàm
Khoáng. Ðàm Khoáng ngạc nhiên hỏi từ đâu tới, Huệ Mãn nói:
- Pháp có đến
sao?
Ðàm Khoáng
sai người tìm lối đến, bốn bên tuyết ngập năm thước. Khi nghe có việc (bắt
Tăng ghi sổ sách) bó buộc, chư tăng bỏ trốn. Huệ Mãn vẫn ôm bát đi khắp
xóm làng chẳng ngại ngùng gì. Tùy được, tùy tan, vẫn ung dung nhàn nhã. Có
người thỉnh thọ trai. Huệ Mãn bảo:
- Thiên hạ
không còn tăng, tôi mới nhận lời mời này.
Lại thường
dạy người:
- Chư Phật
thuyết tâm, khiến cho chúng ta biết tâm hư vọng. Nay lại lập thêm tâm
tướng, thật trái ý Phật rất xa, còn lại tăng thêm luận nghị, quá trái đạo
lý.
Thường đem
bốn quyển Lăng Già cho là tâm yếu. Sau ở trong Ðào Trị không bệnh ngồi
tịch.
25. BẢO CHÍ (CHÍ CÔNG)
Ngài là người
Kim Lăng. Ban đầu vợ của họ Chu dân Ðông Dương nghe tiếng của trẻ con khóc
trong trong tổ chim ưng; bắc thang lên cây thấy được, đem về nuôi làm con.
Năm bảy tuổi Ngài nương Tăng Kiệm ở Chung Sơn xuất gia chuyên tu thiền
quán. Ðến lúc xuất thế, lấy kéo, thước, phất tử treo đầu gậy vác đi. Ði
qua làng xóm, trẻ con ùa theo Ngài; hoặc đòi uống rượu hoặc nhiều ngày
nhịn ăn, thường gặp người ăn cá thì theo đòi ăn. Người ăn chia cho mà có
tâm khinh bạc, Ngài bèn mửa trong nước, thức ăn đều trở thành cá sống.
Ngài thường qua lại núi Hoàn Sơn, Kiếm Thủy, để tóc, đi chân không, mặc áo
gấm, mặt vuông mà sáng láng như gương, tay chân đều như móng chim; thường
thường đề thơ, lúc đầu xem như không hiểu được, sau đều thấy ứng nghiệm.
Ban đầu Tề Vũ
Ðế giận Ngài mê hoặc mọi người, cho bắt nhốt vào ngục Kiến Khang. Ngày ấy,
người ta thấy Ngài du hành trong phố chợ. Kiểm soát lại, vẫn thấy Ngài
trong ngục. Chiều đó, Ngài bảo sứ rằng:
- Ngoài cửa
có hai xe thức ăn, bát vàng đầy cơm. Ông nên lấy đi.
Qủa nhiên,
Thái tử Văn Huệ, Cánh Lăng Vưong đưa đến Kiến Khang để cúng dường. Vua
nghe được, hối hận tạ lỗi rước Ngài vào cung cấm. Khhi vua nghỉ ở hậu
cung, Ngài bèn tạm ra ngoài. Ði rồi mà người ta vẫn thấy hành đạo ở Hiển
Trường. Vua kinh ngạc sai sứ đến hỏi. Sứ thưa:
- Chí Công ra
ngoài lâu rồi mà hiện đang ở trong (tỉnh) cung.
Vua càng cho
là thần kỳ. Sau Ngài mượn thần lực cho vua thấy Cao Tổ đang bị khổ chùy,
đao ở dưới đất. Từ đây vua bỏ hẳn chùy, đao.
Vương Trọng
Thái hỏi Ngài:
- Kẻ sĩ này
sẽ đến địa vị nào?
Ngài không
đáp, cởi sợi dây bên trái của đầu trượng đưa cho. Sau quả nhiên Thái làm
đến chức Thượng thư Tả thừa. Từ Lăng lúc còn bé, cha bế đến yết kiến Chí
Công. Ngài xoa đỉnh đầu:
- Ðứa bé này
là kỳ lân đá ở trên trời.
Sau quả nhiên
hiển vinh ở đời.
Năm Nhâm Ngọ
(502), Lương Vũ Ðế lên ngôi, mời Ngài vào triều. Một hôm vua nghiêm trang
hỏi rằng:
- Ðệ tử chưa
trừ được phiền não. Lấy gì để trừ?
Ðáp:
- Hai mươi.
Hỏi: