LINH
VỊ NƠI HẬU TỔ
Dương Kinh Thành
---o0o---
Bài viết riêng cho GÐPT Ðức Tâm
Hồi ấy, khi tuổi tráng niên của tôi còn đủ sức
dặm ngàn mây gió, một buổi dừng chân là một kỷ niệm đáng nhớ. Lần này, một
ngôi chùa ni ven tỉnh lộ miền duyên hải. Ðược ni sư trụ trì cho phép nghỉ
lại chẳng những một đem mà nhiều đêm cũng được chỉ bởi vì ni sư phát hiện
ra tôi (...) “Tạo điều kiện cho con để con cống hiến cho văn hóa Phật giáo
mình, có chi mô”. Ni sư chân tình đến thế. Việc đầu tiên và là thủ tục của
tất cả những ai đến chùa là lễ Phật. Trước khi lễ Phật phải lễ Tổ, và
chuyện của tôi dừng lại ngay chốn này. Tôi ngạc nhiên: Linh vị của vị Tổ
thứ ba của ngôi chùa này chỉ là một thúng kiến thủ tinh trong suốt, trong
đó chỉ là vài cọng tre khô, cũ kĩ, có dấu mọc đục, dính vài miếng giấy
màu, loại dùng bao tập học sinh hồi đó, tất cả được chư ni cột gọn bằng
một cái nơ vàng hiền hậu. “HÌnh ảnh, linh vị của vị này cũng có, chư tôn
đức ngày xưa chỉ thở ri, sau này chúng tôi có ý muốn bày thêm linh vị và
ảnh ra nhưng nghĩ lại làm rứa răng phải, bao đời nớ tới ni vẫn một lòng y
giáo phụng hành”.
Tôi
giật thót người vì sự hiện diện bất ngờ của ni sư sau lưng tôi thì ít mà
giật mình là ở cái việc lạ lùng đến thế của một ni tổ ngày nào.
Chuyện kể ràng ngày đó 196... vùng này còn lắm hoang sơ, cư dân thưa thớt,
đói nghèo là chuyện nắng mưa thường ngày. Chùa này ngày đó cũng ọp ẹp vài
gian mái tranh, vậy mà chiến tranh cũng không từ bỏ nơi này, ập xuống
triền miên khiến cảnh khổ ngày càng thêm khổ. Rồi có một hôm, hình như
chiến tranh muốn xóa tên ngôi làng bé nhỏ nên cày xới nó suốt ba ngày đêm
không ngớt. Dân làng di tản gần hết, người còn lại chẳng ai khác hơn là
các thây chết những con người xấu số không qua được ngày chiến chinh. Ðêm
thứ tư, khi tiếng súng đạn tạm lắng, thầy (ni sư trụ thỉ lúc ấy và theo
cách gọi của ni giới dành cho vị Bổn sư của mình) được vị thị giã chở hối
hả về chùa trên chiếc xe đạp cọc cạch leo lét ánh đèn bão đong đưa nơi ghi
đông. Về không phải để thăm chùa còn lại những gì hoặc về không phải để
lấy vài món đồ lúc di tản hối hả chưa kịp mang theo; mà về để lấp vài thi
thể của chư ni và của vài người dân Phật tử qanh vùng và để nơi chánh điện
ngôi chùa đổ nát nằm giữa vùng chiến sự thầy trò cất lên lời kinh siêu
độ, an ủi mãnh đời xấu số đã chịu phận cộng nghiệp với đất nước thuở loạn
ly. Trước khi xe đạp quẹo vào đường để dẫn vào chùa, no sư bảo dừng lại,
ni sư dáo dác tìm nơi phát ra tiếng nấc yếu ớt: -“Ðây, đây” – vị thị giả
phát hiện – Mô Phật! Bạch thầy một bé gái 9 tuổi!
Ni sư
tiến lại gần vị thì giã cầm đèn bão gơ cao lên, đôi mắt già nua cố gắng
thu hết hình ảnh tang thương trần thế, rơi hai giọt lệ:
-
Răng mà khổ ri? Cha mẹ mô mà...!
Người nằm bên vũng máu kia là mẹ em bé, còn em hoảng loạn sơ hãi cộng với
đói khát không còn sức phát ra tiếng khác. Nhưng là không, em nằm tựa bên
xác mẹ mà tay vẫn ôm chặt chiếc lồng đèn (có lẽ ngôi sao) đã gãy vụn (chả
trách sao tôi cứ ngạc nhiên khi bước vào ngôi chùa này mà đầu tiên nơi đầu
ngõ lại có một ngôi mộ nằm ở cách giao lộ tuyệt đẹp). Em bé được ni sư
bồng vào chùa và đến mấy ngày sau trên giường nằm điều dưỡng sức em vẫn
không rời nhúm lồng đèn gãy nát ấy.
-
Thôi con bỏ nó đi, để sư cô làm lại cho cái mới.
Mỗi
lần có ai dụ dỗ thế, em lập tức bật khóc và càng khóc lớn hơn như tưng
thêm sức mạnh cho đôi bàn tay ghì chặt thêm chiếc lồng đèn. Chẳng những
thế không cầm được chiếc lồng đèn trên tay từ việc ăn uống tắm rửa v.v...
em không chịu vâng lời. Biết việc đó ẩn chứa một tiềm tàng duyên khởi nào
đó ni sư dặn dò chúng tôi nên tránh thắc mắc đến lồng đèn và ngược lại
phải càng tỏ ra trân trọng chiếc lồng đèn như chính em trân trọng mỗi lần
đụng đến.
Sau
đó qua những lời kể của em, chắp vá lại thì sự việc đã rõ ràng. Cũng không
đến nỗi bí hiểm ly kỳ nhưng trên hết vẫn lấp lánh sáng ngời nghĩa cử hiếu
đạo. Tất cả chỉ vì nghèo khổ mà ra cả, thế nhưng nó không phải là lý do để
đổ tháo sự tha hóa vào đấy vô tội vạ.
Cái
nghèo đáng nói ở đây là nhờ nó mà sáng ngời chữ hiếu đạo, nhờ nó mà có một
đường đi thẳng lối và nhờ nó mà con người ta cảm thấy hạnh phúc. Tôi không
dám mở đóng ngoạc kép cho hai từ hạnh phúc này vì lẽ làm như vậy hóa ra
mai mĩa em bé, nhưng nếu ai còn thắc mắc chưa vượt qua lớp vỡ lòng thì tôi
sẽ không ngần ngại chỉ hình ảnh cô bé ôm chiếc lồng đèn đưa vào ngực một
cách đầy hạnh phúc đó sao! Sợ mất hạnh phúc đó sao!
Lồng
đèn ngôi sao! Dễ làm, chỉ cần chặt hai ống trúc bằng nhau, chẻ dọc đều và
chọn ra mười cây. Tiếp theo xếp thành hình ngôi sao năm cánh bằng nhau rồi
dùng thun hoặc kẽm buộc lại mỗi đàu, làm hai cái như thế sau đó đặt chồng
chúng lên nhau, hai mặt xanh xoay ra ngoài, đùng thun hoặc kẽm buộc năm
cánh của mặt ngôi sao lại, sau tiếp chặt năm cây chống bằng nhau và chèn
vào giữa mỗi nách ngôi sao, ngôi sao đã nổi, việc còn lại là dán giấy màu
(hồi đó là giấy kiếng là sang lắm, chỉ dùng giấy màu bao tập thôi, dễ dán,
dễ mua) còn trúc tre làng nào mà chẳng có.
Vậy
đó, dễ làm, dễ có mà lại có những gia đình muốn có một cái đèn ông sao cho
con chơi cũng là một điều khó. Hứa với con sẽ làm một cái để có chơi với
chúng bạn mà lời hứa cứ đi theo mấy mùa trung thu qua, đến mùa trung thu
kia mới dán được dù méo xẹo, dán giấy thìn chấp vá nhưng em vui đùa quá là
vui, em chơi tung tăng với nó qua ba mùa trung thu, lần này là lần thứ tư,
ngay cái đêm định mệnh này, mẹ không có thì giờ đâu mà làm cho con chơi dù
mẹ có hứa, thậm chí nếu gặt lúa mướn kỳ này bộn sẽ dành tí ra phố huyện
tìm mua cho con cái lồng đèn con cá hay con bướm gì đó nhưng con chả thèm
đâu vì con biết nếu mình bộc lộ ý thích ham vui chỉ làm tăng thêm nỗi lo
lắng, cực nhọc cho mẹ, thôi con chơi cái này tới lớn luôn. Lúc đó hình như
mẹ bị “bụi bay vô mắt” hay sao đó mà cứ thấy bà xoay lưng kéo vạt áo lau
hoài. Ôi! nhìn cái lưng mẹ càng ngày càng còng thêm; lưng áo vệt muối
giăng đầy, sờn tua quá nhiều.
- Mẹ
mi khóc đấy!
- Mẹ
mi nghe rứa vui mới biết là con rất thương mẹ...
Quý
sư cô nói thế nhưng con cũng biết: con sinh ra, ba con đâu mất, cũng chả
biết hai bên ông bà nội ngoại là ai, ở đâu, cho nên tất cả đều là hình
dáng của mẹ con thôi. Mẹ con cho con cục kẹo, cái bánh, con ráng nhai và
ăn, ăn cho thiệt lâu vì sợ mau hết, mẹ may cho con cái áo mới con bận, bận
hoài đến chật thì thôi. Huống chi là cái lồng đèn này, xin quý sư cô cho
con giũ nó, dù nó không còn là nguyên vẹn nữa.
Cô
Nhã đem đến chiếc hộp bằng cacton, nó có chiều dài gần bằng chiếc hộp
đựng đèn cầy lớn, được dán giấy hoa rất cẩn thận, có nắp đậy hẳn hoi:
Ðây
nì, thầy biểu cô dán cho con cái hộp ni để đựng cái lồng đèn cho kín, giữ
được lâu và để nơi mô cũng được.
Từ đó
trong cái hộp là cái lồng đèn đầy ắp kỷ niệm, luôn để ở đầu nằm. Lớn hơn
chút chiếc hộp để ở bàn học và khi thọ tì kheo rồi nó lại trịnh trọng nằm
nơi cao nhất trong phòng.
Vì
nó, nhờ nó thậm chí tại nó mà có ngày hôm nay. Cái đêm ấy vì đang giấc
ngủ, mẹ lay dậy bồng em chạy đi hòa theo dòng người hỗn loạn, khi con tỉnh
ngủ là lúc mẹ bồng con chạy khá xa khi đó em khóc ré lên vì không phải sợ
cảnh đau khổ, lửa khói mà là vì không có chiếc lồng đèn, không có nó em
khóc hoài. Ðến ngày hôm sau chịu không thấu cái ước muốn của “con nhà
nghèo” mẹ bồng con đi ngược dòng người, đi ngược làn tên mũi đạn để lấy
cái lồng đèn, cho con mang theo suốt cả cuộc đời.
Sau
này khi trở thành một vị ni sư, kế thế trụ trì ngôi chùa này, phía sau
lưng bàn Phật nơi tư thất vẫn là cái hộp giấy cũ kĩ ấy không khác, không
dán mới. Lâu lâu người ta thấy ni sư lấy ra để trước mặt, lau lau phủi
phủi rồi gởi chút ngậm ngùi xa xăm. Hèn chi có những khi nói chuyện nhân
các lễ Vu lan (tôi không dám dùng từ thuyết pháp vì thực ra là như thế bởi
giáo luật rất nghiệm ngặt về vấn đề pháp sư nơi ni giới) hay những khi
được mời thỉnh giảng ở các trường hạ mọi người đều thấy ni sư để cái hộp
trước mặt mãi không nói gì liên quan đến nó.
Khi
thân huyển giã sắp trở về tứ đại, trên giường nằm ni sư vẫn để chiếc hộp
nằm xuôi bên theo cánh tay, dù ai có nói gì ni sư vẫn lặng thinh như muôn
một, có trả lời cũng chỉ là cái cúi đầu kèm theo câu “ngạn ngữ” A DI ÐÀ
PHẬT. Còn tôi, tôi có thể nói rằng ni sư quá CHẤP NÊ, bám víu cái huyển
giã, nhưng đấy, quan trọng là cái khô khốc này đây, đúng là huyền giã
trong một thế giới huyển giã cho nên ni sư phải chấp nê vào cái tốt nhất:
sự hiếu đạo – nhân bản để làm bè cứu sinh. Ðời vốn là biển khổ song mê,
phao, bè, tàu, thuyền... cũng trên sông mê bến khổ. Ðấy, nhưng tạm thời
muốn còn hơi thở để không muốn bị nhấn chìm; hãy chấp vào mấy thứ đó để mà
tiếp tục thở, để thực hiện những hoài bão tốt đẹp còn dỡ dang.
Lúc
chúng tôi quây quần bên giường bệnh, ni sư thều thào:
“T.
đâu: Ð. Nữa, còn N.H đâu? Răng hôm ni đứa mô cũng sụt sùi tề. Thôi nghe
thầy dặn nì: Cha mẹ thầy, thầy thờ thầy thắp hương bái lạy hàng ngày, vì
rứa khi ta về với Phật các con cũng không nên bận tâm chi và hãy hóa vãn
chiếc hộp này trong ngày Bách Nhật luôn, hãy thờ sư ông (vị ni sư – và là
bổn sư cứu ngày xưa) và các sư bác... đủ rồi. Ðừng làm linh vị ta, áng mặt
thầy ta, ta có tội...” Chỉ đến đó thôi rồi nghẹn lời, tay mò mẫm chiếc hộp
chư ni tiếp đưa và ni sư ôm vào lòng để rồi lần đầu tiên chúng tôi thấy
nước mắt ni sư. Cũng từ lúc đó ni sư đã ni sư đã về với Phật.
Vị ni
sư tuyển tôi tận cổng, đứng trước ngôi mộ của người mẹ gục ngã năm nào của
vị ni sư nọ, ngay ngã rẽ ra đường cái, hình như “bụi cũng bay vào mắt
tôi”, tôi biết tôi khóc vì cảm thấy quá bé nhỏ trước lòng hiếu hạnh đầy
nước mắt này.
Trung thu 2546
Giác Ðạo
---o0o---
Vi tính: Nguyên Trang
Trình bày : Nhị Tường
Cập
nhật : 01-04-2002