NGHĨ VỀ VHNT PHẬT GIÁO
TRUYỆN NGẮN
Một trận địa còn bỏ ngõ
Dương Kinh Thành
---o0o---
Nếu không muốn nói rằng chúng ta chưa thật
sự quan tâm đến lãnh vực này trong sự nghiệp truyền bá chánh pháp, thì còn
lại là hiện trạng tre đã dần tàn mà chưa có một chồi măng nào nhủ mọc.
Trong khi đó, cùng một lãnh vực nạy, từ bên ngoài xã hội đã tỏ ra sung
sức, vươn ngòi bút đến tận ngưỡng cửa tam quan nhaf chùa! Nhưng ngòi bút
ấy dù với nét mực đậm nhạt khác nhau, vô tình hay hữu ý, vẫn làm chúng ta
nhức nhối và không khỏi băn khoan, tự nhìn lại mình để suy nghĩ.
Phần sau bài này chúng ta sẽ thử cùng nhau đưa ra các sự so sánh giữa
thiện ý và và chưa thiện ý từ những ngòi bút bên ngoài cổng tam quan đó. Ở
đây, trước hết, tạm thời chúng ta nên chấp nhận sự thật như một sự thế hòa
quyện, để từ đó chọn ra hai tiêu biểu trái ngược nhau hầu định hình, gợi
mở lên trách nhiệm trên mặt trận địa còn bỏ ngỏ này trong giai đoạn Phật
giáo phát triển, giữa thời đại bùng nổ thông tin. Nói như vậy vì lẽ trong
vô số những tác phẩm (bài viết này chỉ xin nói ở khía cạnh truyện ngăn)
tuy chưa thật sự nhuần nhuyễn, đúng Phật giáo, vẫn chấp nhận được ở cấp độ
có thiện ý. Còn lại hoặc chuyên sâu hơn đó là trách nhiệm của các nhà hoạt
động văn hóa Phật giáo.
TỪ MỘT TRUYỆN NGẮN CHẤP NHẬN ÐƯỢC
Ðó là “Lúa Hát” của tác giả Võ Thị Thu Hà (1). Ðức Phật trong truyện ngắn
này đúng là vị Phật sẵn có ở mỗi con người, người đọc cảm thấy được Ngài
rất gần gũi giữa chốn đời thường, đan xen và bật lên từ chính nghiệp thân
cá nhân. Sự gần gũi đó như một người thân tín, không hề có ấn tượng sợ hãi
hay nô lệ chờ ban phước lành. Bởi thế, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi
nhân vật chính trong truyện “dám” đem Ngài xuống ngồi cạnh bên mình để trò
chuyện và gởi gấm bao uẩn khúc trong lòng, như thế ngoài Ngài ra (kể cả
cha mẹ – chồng con) không thể còn ai để thố lộ một cách tin cẩn được. Xin
được tóm lược ngắn gọn như sau:
Truyện kể về một phụ nữ chân quê, thật thà, giỏi chịu đựng và chịu thương
chịu khó, tất cả chỉ vì chồng con. Xã hội nông thôn đó đây hãy còn cảnh
chồng chúa vợ tôi, phu xướng phụ tùy, đã làm bộc lộ nên một phụ nữ như
thế; tuy tác giả không hề đưa ra điều đó nhưng người đọc sẽ dễ dàng cảm
nhận được qua lời đối thoại giữa chị và anh tài xế xe khách, đặc biệt với
Phật nơi ngôi chùa chị ghé vào. Vậy thì tác giả chỉ cần cho anh chồng xuất
hiện với một câu nói ngái ngủ khi chị chuẩn bị bước ra giữa trời sương
sớm: “Nhờ mua diêm và muối đấy”, rất vô tư lự và quyền lực.
Trong quá nữa truyện ngắn là cuộc đối thoại giữa chị và anh tài xế xe
khách mà theo mô tả là một người từng trải, nhưng tốt và có suy nghĩ. Chị
say sưa kể về lúa – phân – cần – giống và tục lệ nước muối ở làng mình
trước khi về làm dâu xứ này, suốt ngày mãi mê với lúa, hai bàn tay đã chai
thô.
“...Cô kể tiếp đi – người lái xe nhắc – Chồng cô... chẳng hạn.
- Ôi! Chồng tôi có gì mà kể? Suốt ngày cứ đánh trâu ra đồng, còn tối thì
cánh đàn ông tụ tập nhau hút thuốc rê với nốc rượu. Lúc anh ấy tức lên thì
rút vào tôi và thằng Cu Lim một trận tím người. Nhưng anh ấy tốt lắm cơ.
Chẳng bao giờ bỏ tôi đi với người khác. Ðàn ông các anh bây giờ...
“Cô nghe tiếng thở dài nơi lồng ngực người đàn ông.
“Khi xuống xe, người tài xế từ chối nhận tiền và biếu chị chiếc bậc lửa”
vì không còn cần đến nó nữa – anh ta nói” và còn nhờ chị vào chùa thắp hộ
nén hương. Chị ngây thơ đáp: “Trong chùa người ta có lửa mà? “...”
Chiếc bật lữa, biểu thị sự quan tâm mà chị vẫn cô tình bằng sự chơn chất
hồn nhiên. Hình như chi tiết này tác giả muốn đánh đố người đọc so sánh
giữa chồng cô và anh tài xế ấy và đây là lời nguyện cầu, hay nói đúng hơn
là lời thì thầm, trò chuyện với Phật. Ðây là cốt lõi chuyện ngắn LÚA HÁT,
là cánh cửa hé mở cho người đọc nhìn xuyên thấu cuộc đời của chị. Chúng ta
đọc tiếp:
“...Cô bước vào chùa... những đốm lửa lập lòe phả khói trong những am thờ.
Cô xoay chiếc bật lửa trong tay và xòe lửa. Cô cắm hương rồi quỳ xuống
chắp tay vái ba vái:
- Lạy Ðức Phật từ bi, con đầu xanh tuổi trẻ, thắp nén hương này lạy Ngài
phù hộ độ trì cho chúng con là...
“Cô cúi lạy thành kính và bỏ vào thùng công đức một đồng tiền lẻ. Xong đâu
đó cô bật lửa châm tiếp ba nén hương nữa. Lòng thầm nghĩ đến đứa con trai
đang tha thẩn chơi trên hè đất.
- Con trai con còn dại lắm. Vắng con một ngày là nó bẩn như bùn. Lúa nhà
con đang làm cỏ. Cỏ làm xước hết tay con. Người thành phố bàn tay sao nõn
nà thế, họ còn bày những cái máy giặt đầy đường. Nhà quê chúng con thì...
Ngày xưa chưa đi lấy chồng con cũng được mẹ cho đi chơi trên này và may
cho con một cái áo dài. Nhưng đến lúc cưới thì con không được mặc – cô mĩm
cười khi nghĩ đến người mẹ – Mẹ con là người lành hiền, suốt ngày bị ba
con chửi. Thỉnh thoảng ông túm tóc mẹ con quật xuống đất. Chúng con khóc
xin cha tha cho mẹ nhưng ông không tha. Ông bảo giống đàn bà chúng con là
giống hư hỏng bẩn thỉu. Lúc đó Phật ở đâu hở Phật? Mới hôm vừa rồi chồng
con đem hết tiền đi đánh bạc. Con khóc thì hắn cũng khóc. Tại sao thế hở
Phật? Ðáng lẽ con không khóc mới phải, con không chịu được nước mắt của
chồng. Ngày xưa mẹ dạy con đàn bà không được khóc, đàn bà là linh hồn con
cái. Ðàn bà phải luôn mĩm cười...
- Nếu Phật gặp cha mẹ con ở đâu đó thì nhắn hộ con là con nhớ hai người
lắm và nhắn là con bây giờ biết làm đủ thứ, con biết nghe lúa thở, chúng
còn biết hát nữa. Ðôi khi con vỗ về chúng, thế là chúng xanh mướt. Con
biết nếm vị của đất, con yêu mãnh đất của con. Lúc rỗi thì con nặn bi cho
Cu Lim chơi. Nhưng thằng Lim rồi chắc cũng giống như cha nó thôi. Xin Ðức
Phật từ bi sữa lỗi cho nó... Ôi! suýt nữa thì con quên. Có người nhờ con
thắp hộ nén hương anh ta dâng Phật...
.....
Tính chân thật đến vậy là cùng. Người đọc vừa thương vừa giận pha lẫn nỗi
rưng rức đến chạnh lòng. Nỗi khổ đau trên đời vốn muôn hình muôn vẻ mà con
người cố tình hoặc ngây dại lãng quên. Ðiều đó bằng những dòng cuối truyện
ngắn LÚA HÁT tác giả đã bộc lộ rõ ràng bằng hình ảnh cô nôn nao sung sướng
được về đến làng; dọc đường khoe những thứ mua sắm được nơi thành phố.
“Ðặc biệt hơn “ Cô cũng chẳng còn nhớ đến anh lái xe sáng nay, chẳng cần
biết anh trôi giạt phương nào, bởi anh không phải là cuộc đời cô. Nhưng có
một điều là luôn luôn cô phải nhớ đến, đo là sự có mặt của chiếc bậc lửa.
Sớm trưa chiều tối, ngọn lửa từ sợi bấc nhỏ ấy sẽ hiện diện và sưởi ấm nếp
nhà đôi vợ chồng trẻ và đứa con trai cả họ.
“Nhưng cả đồng lúa của họ, cả bầu trời và Ðức Phật của họ (2), và cả họ
nữa, sẽ chẳng bao giờ biết rằng có một mối tình đã tan vỡ...”
Ðó cũng là những dòng kết của truyện ngắn LÚA HÁT, cũng bằng ba dấu chấm
lửa ấy. Như vậy, bằng phương pháp hoán dụ, tác giả đã đem đến cho người
đọc sự vừa lòng, an hưởng hạnh phúc, dù thứ hạnh phúc ấy với riêng mình là
đau khổ (chồng chúa vợ tôi, con dại cái mang, đồng lúa, chai sạm...) – nói
theo ngôn ngữ nhà Phật là TRI TÚC – VỪA ÐỦ, khi anh tài xế kia với niềm
hạnh phúc tan vỡ, thêm một mái ấm gia đình, tối thiểu như cô ta mà sự hiện
diện chiếc bậc lửa là lời nhắn nhủ sâu kín nhất. Vì vậy, khá khen cho cách
dùng từ “Ðức Phật của họ”, của tác giả trong trường hợp này rất chuẩn. LÚA
HÁT! Tức là lời hát mộc mạc, bình dị mà êm ả của một khung nền hạnh phúc
trong tầm tay, với phường châm Phật học “Hãy bằng lòng với hiện tại, nuối
tiếc quá khứ là hèn nhát, vọng tưởng tương lai là mê muội”. Tất nhiên, đây
không phải là “Truyện Phật giáo”, viết cho Phật giáo hay viết đúng theo
Phật giáo và nó nằm ngoài các cuộc thi viết truyện ngắn Phật giáo xưa nay.
Chính vì thế, khả năng xác suất – cho dẫu là vô tình của tác giả – cũng
rất đáng cac ngợi. Nếu văn học chưa phát triển và tỏa rộng được, hoặc có
hoặc rất ít như xưa nay, thì hãy chấp nhận như thế; xem như chân lý Phật
giáo vốn sẵn hòa quyện với đất, với người muôn màu muôn vẽ vậy.
Dĩ nhiên, khi đọc những truyện có liên quan ít nhiều đến Phật giáo như
vậy, chúng ta luôn có tâm trạng hồi hộp, lo lắng; sợ người ta viết không
đúng về Phật giáo trước công chúng. Ðiều đố sẽ xác đáng hơn nếu chúng ta
vượt thòara được thực trạng hiện nay là chỉ đóng vai trò chờ đợi – lắng
nghe (xem) – cần phân thiệt lợi để rồi sau cùng... phản ánh, kiến nghị như
vừa qua đã không ít lần xảy ra. Ðó là tín hiệu không có gì lạc quan cho
lắm. Vì vậy nên truyện ngắn LÚA HÁT ra làm dẫn dụ cho ý nghĩa tích cực để
nêu bật được trách nhiệm, đồng thời định vị về mặt luận cứ để thử so sánh
những truyện ngược lại (vô tình hay cố ý công kích Phật giáo) sẽ thấy được
tác hại vô cùng to lớn. Vấn đề Phật pháp hòa quyện vào đời sống cộng đồng
dân tộc đã là chuyện hiển nhiên sự thật, nhưng cũng chớ quá xu xoa cho
rằng “hiểu thế nào cũng ra Phật giáo” bằng kiến giải chủ quan, bởi tư
tưởng đó chỉ đúng ở một phạm ngạch Phật học nhất định, còn lại và rộng
khắp là cả một biển trời mù mịt với đủ đầy giai tầng trí thức trong cộng
đồng xã hội.
Chúng
ta đã có lần nào tổ chức cuộc thi truyện ngắn Phật giáo chưa? Nếu có nó
thành công ở mức độ nào và có truyện nào tương xứng như LÚA HÁT đã dẫn
trên không? Theo thiển ý người viết bài này có lẽ là chưa. Sự yên ả, bình
lặng hiện nay đủ để làm luận cứ xác minh câu hỏi đó. Nói như vậy để rồi
chúng ta thử nhìn xa thêm một bước bằng hai truyện ngắn được thí dụ nữa
với rất nhiều điều thú vị. Ðó là hai truyện ngắn được viết từ điển tích
Phật giáo đàng hoàng (chén sữa nàng STA và KHÚC GỖ NÀNG GINCA); được in
trang trọng trong hai số báo trang trọng (Xuân 94 và Kỷ niệm 200 số Báo)
và lại ở một tờ báo chuyên ngành (báo Sân Khấu TP.HCM) rất nghiêm túc. Làm
sao tranh khỏi những vấp váp sai sót khi nó nằm ngoài trách nhiệm và kiểm
soát của Phật giáo! Cái thế CHẲNG – ÐẶNG – ÐỪNG đôi khi buộc chúng ta phải
thầm cảm ơn những truyện ngắn đại loại, vì nó đã “thay mặt” được Phật giáo
chúng ta trên văn đàn! Sự “lấn sân” đó cũng đủ cảnh tỉnh tư tưởng ỷ lại và
thiếu quan tâm. Có vị còn có thái độ “phớt tỉnh Ăng-lê” mà cho rằng: sống
và hãy để người khác sống (live and leltive). Tinh thần hoán đổi lạ lẫm đó
thật ra không ổn vì “sau khi sống ở nhà các vua chúa, tôi tự lên ngôi vua
ở nhà tôi” (Voltaire) được chăng? Ở đây không có đất sống cho tư tưởng “dĩ
hòa vi quý” mà chỉ có trách nhiệm và không trách nhiệm, mà càng không thể
giải mã bằng cách ẩn dụ thiền ngữ để khỏa lấp đi sự thiếu sót của chúng ta
trên bước đường nhập thế tuyệt vời của Phật giáo hằng bao nhiêu thế kỷ
qua. Thời đại phát triển mọi mặt như vũ bảo hiên nay, rất cần có những
bước đột phá cần thiết, dựa trên nền tảng bất biến chân lý Phật giáo, hầu
mới mong kịp hòa nhập sâu sắc hơn nữa vào trực diện thế giới mới, vượt xa
sự tụt hậu và đi bên trên sự dị ứng với khoa học và vài tôn giáo thế giới
hiện nay đang lâm vào thế đối kháng. Phật giáo có thế mạnh ổn là không bận
tâm vào việc sửa sai chân lý, cải đổi phương pháp tu học, còn lại là ý chí
tiến thủ, không ngại va đập để trưởng thành, điều này Phật giáo chúng ta
còn cần phải mạnh dạn đặt vấn đề và để từ đó luôn không ngừng học hỏi. Một
bối cảnh có thật là các tầng lớp Tăng Ni trẻ ngày nay có đầy đủ kiến thức,
lại luôn là điều đối kháng, quan ngại nơi các thành trì bê tông cứng nhắc
với đầy đủ nhãn hiệu, xem ra tư thế bất khả xâm phạm; vô tình biến nó trở
thành những lá bùa trấn yểm không hơn không kém.
Trở
lên, văn học Phật giáo cũng chung cùng số phận hẫm hiu tội nghiệp như
người bạn Nghệ thuật sân khấu Phật giáo. Bỏ ngõ vườn không nhà trống cho
cơn lốc xã hội tự do tung hoành, được không hay chớ.
ÐẾN MỘT TRUYỆN NGẮN KHÔNG CHẤP NHẬN ÐƯỢC.
Ðó là
“Ðường Tăng” của tác giả T.Q.D. (3). Nhắc lại sự kiện này không phải vì tư
tưởng hẹp hòi “Thua – Thắng” hoặc trách cứ hay lên án một ai. Công tâm mà
nói, những vị có liên quan và cả tác giả “Ðường Tăng” không ai muốn có chủ
tâm công kích, bôi nhọ Phật giáo hoặc tạo ra một thế đối kháng mà kết quả
chẳng ai là người có lợi. Ở đây, “Ðường Tăng” được đem ra nhắc lại để dãn
dụ minh giải điển hình cho một khía cạnh Phật giáo thiếu quan tâm; có lỗi
chăng chính là phía chúng ta. Thử đặt câu hỏi: Tại sao người ta viết không
đúng về Phật giáo. Phải chăng từ làn gió chấn hưng Phật giáo chỉ là một
điểm tập kết đủ để cho chùa sạch – tượng đẹp – Tăng sĩ ung dung hơn đôi
chút so với thời phú – lang – sa đô hộ, đẩy lùi Phật giáo vào tận thâm sơn
cùng cốc, biến tầng lớp tăng sĩ thành những “ông thầy chùa làng” với “sớm
mõ chiều kinh – dưa muỗi nâu sòng”; mà không đủ sức sống của một tôn giáo
dân tộc (4) với tinh thần chân lý vốn thực tiễn sinh động? nếu như vậy rõ
là chính chúng ta phủ nhận công lao khó nhọc chư việt Tổ sư thời chấn hưng
rực rỡ ấy sao? Bằng ngược lại, đúng là lỗi nơi hàng hậu sinh chúng ta đấy
thôi. Trách chi T.Q.D. đã vẽ nên hình ảnh một “Ðường Tăng” hết sực bi
quan, chán chường, mệt mõi và tệ hại nhất là nuối tiếc công lao bao năm
trường theo tu học nơi cửa Phật!
“Ðường Tăng” là một truyện ngắn đoạt giải cuộc thi, do vậy nó trở nên quan
trọng ở nhiều ý nghĩa tich cực lẫn tiêu cực, giữa hay và không hay so với
các truỵên ngắn bình thường khác. Cái sai lầm của tác giả “Ðường Tăng” chỉ
ở chổ mượn nhân vật Ðường Huyền Trang để nói về một chủ thể nhất định
trong đời sống nhưng lại quên “nhân vật” ấy có thật trong lịch sử là một
vị Thánh tăng của Phật giáo Trung Quốc. Lại còn mạnh ngòi bút diễn bày cả
nội tâm nhân vật ấy thì chỉ có thể là một cụ Ngô Thừa Ân tái thế! Nếu là
một nhân vật hư cấu nào khác thì những lời nhận định của Ban Giám Khảo
hoàn toàn hợp lý, chấp nhận được. Thí dụ “Ðường Tăng” không phải là chuyện
về sự lựa chọn giữa Phật và Ðời, giữa tâm linh và vô thần, duy vật. Tác
giả chỉ mượn cốt truyện xưa để gửi vào đó một điều mình suy nghĩ vì vậy
Phật ở đây chỉ có ý nghĩa như một điển tích, một hình ảnh cái hay là người
viết đã tạo ra một tác phẩm vừa đầy chất ngụ ý, tượng trưng, vừa đầy âm
điệu tình cảm. Ðặc biệt là nhân vật Ðường Tăng. Ðó là sáng tạo độc đáo của
tác giả. Khác trong “Tây Du Ký” ở đây Ðường Tăng người hơn, đời hơn và dễ
thương hơn (...) Ðường Tăng “Ngộ” ra không phải cái thuộc về đạo mà là cái
thuộc về đời – cái chân lý về giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của sụ hy
sinh và con đường “cứu vớt mọi người (...). những gì cho là thiêng liêng,
đẹp đẽ bao nhiêu mà xa lạ với con người thì cũng đều vô ích...” Cũng
“Ðường Tăng” Ban Tổ chức nhận xét “... lời thoại rất ngắn của từng nhân
vật gan ruột oàn quại, tự vấn, tự thanh minh, tự thú... muôn mằn. Lối viết
cố ý khô khan càng khiến cho vấn đề đặt ra, vừa nhân sinh, vừa xã hội,
càng thêm mạnh dù: hãy đau khổ “tầm thường” như con người để được làm
người. Ðể hiển Thánh mà quên mất con người thì không có hay gì? (...)”
(5). Chúng ta thấy, hình ảnh Phật giáo, hay nói đúng hơn chân lý Phật học
hãy vẫn còn là hình ảnh mơ hồ, xa rời thực tế để người ta nhìn nó cũng
bằng ánh mắt – kiến thức ngần ấy, và nó cũng tùy theo từng cấp độ kiến
thức mà lớn dần theo. Như vậy nếu không hài lòng về họ thì điều đó cũng
chính chúng ta chứ không ai khác phải tự trách mình trước, bởi đâu phải ai
ai cũng đều mù tịt về chân lý Phật học để viết sai đâu. Một nhà văn trong
cuộc đã nói đến điều này như sau: “Như ta biết, trong nghệ thuật, đặc biệt
trong nghệ thuật truyện ngắn có một nghịch lý: để viết được ngắn, thì phải
biết rất nhiều, rất dài (chúng tôi nhấn mạnh –NT – GÐ). Bởi truyện
ngắn là chưng cất, truyện ngắn càng chưng cất tinh túy hơn”. Do đó cho
rằng người ta không biết đến Phật học rõ là chúng ta sai và người
ta đúng như thế nào, xin nhường câu trả lời cho những ai quan thiết
tha đến Phật giáo qua lãnh vực này. Dẫu rằng hệ quả của sự kiện “Ðường
Tăng” đã đưa đến chung cuộc tất yếu )5), chỉ có điều, từ sự kiện đó vẫn
chưa là một dấu hiệu để nội tại văn học Phật giáo chuyển mình, hoặc thấp
nhất có được nền móng ban đầu cho văn học – nghệ thuật Phật có mặt.
Vì
sao thể loại truyện ngắn luôn chiếm vị trí quan trong so với truyện dài,
văn xuôi và tiểu thuyết, và được nhiều nơi mở ra nhiều cuộc thi tương tự?
Ðơn giản chỉ vì nó chuyển tải được các sự kiện xã hội một cách nhanh gọn;
trở nên cập nhật thường xuyên thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng. Vì thế người ta luôn chọn nghệ thuật này làm phương tiện cổ xúy lý
tưởng nhiều mặt là điều dễ hiểu.
Trong
tiếng Pháp, truyện ngắn được xác lập bởi thuật ngữ Contes; còn mẫu chuyện
văn học thì được gọi là Morcesaux Litéraires. Vì vậy khi sự bùng nổ truyện
ngắn lan tràn, trở nên bội thực thì lại có các Morceaux xuất hiện. Các
cuộc thi cũng rầm rộ mở ra. Các nhà văn của thể loại truyện ngắn được xem
là điệu nghệ nhất cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay như S.Mom (Anh),
A-ka-tu-ga-va (Nhật), C. Pau-tốp-xki, A. Tsê-khốp, I. Bu-nhin (Nga), G.
Mô-pat-xăng (Pháp). Ở Việt Nam , qua quyển “HỒI KÝ VĂN HỌC” chúng ta thấy
Nguyễn Công Hoan là người hiếm hoi thành công nhất ở thể loại này, bởi ông
thừa nhận chịu sự ảnh hưởng không nhỏ ở G. Mô-pat-xăng. Cái cốt lõi của
truyện ngắn được đậu trên nền tảng sự chất chứa chặt chẽ một khối lượng từ
ngữ nhất định, và cố gắng từ đó phát triển cốt truyện liên tục bằng trạng
thái tâm thể được nhận ra bởi tính cách riêng của con người này
(tức: Tác giả – chữ dùng của Hegel).
Xem
thế mới biết LÚA HÁT trong vô vàn những LÚA HÁT khác nó hay đến mức nào;
ngược lại một “Ðường Tăng” trong vô vàn “Ðường Tăng” khác, nó độc địa đến
ngần nào. Thế mới là vai trò của nghệ thuật viết truyện ngắn. Cũng cùng
chung nghĩa đó nếu Phật giáo tự ý thức được rằng mình vẫn có một viên bảo
châu, mạnh dạn cầm nó trên tay và đừng ngại nhọc công, năng lau chùi hằng
ngày thì cái độc địa kia sẽ được thay bằng ánh sáng tuyệt vời của chân lý
Phật giáo. Nhưng ý thức mà không ỷ lại; phải biết sử dụng nó để không biến
thành thứ gia bảo vô dụng – có của mà để bụng đói- sẽ thêm đắc tội với chư
Tổ sư xưa.
Trên
chỉ là hai truyện ngắn được chọn làm tiêu biểu cho hai vế tích và tiêu
cực, trong vô số truyện ngắn khác hằng bao lâu nay mà khuôn khổ bài viết
không cho phép liệt kê đầy đủ hết được. Do đó rất có thể sẽ có ý kiến cho
rằng phiến diện hoặc không đầy đủ cơ sở nhận định. Tuy nhiên, dù ở góc độ
nào, chúng ta cũng không thể phủ nhận được điều: đã có không ít cái nhìn
méo mó, sai lệch về Phật giáo mà phần đúng lại chiếm một tỉ lệ không đáng
kể.
VÀ
ÐỌNG LẠI NHỮNG NỖI NIỀM
Rằng:
Ừ thì tu; tu để giải thoát; tu để sớm nhận thưc được lẽ thường hằng trong
sinh diệt – vô thường hầu kiến tạo mãnh đời thực tại không uổng phí một
kiếp thọ nghiệp duyên sinh.
Rằng:
Ừ, tất cả chỉ là trợ duyên, không gì hơn tu! Có gì mà ầm ĩ!
Nhưng
xin thưa: Trước khi người ta nhận thức được chữ tu thì họ là cái gì? Vai
trò hoằng pháp tức thì được sinh ra và từ vai trò hoằng pháp đó chúng ta
sẽ có câu hỏi: chúng ta đang thuyết giảng cho thời đại nào nghe đây?
Nếu
trước thời kỳ chấn hưng Phật giáo đặt vấn đề ngoại điển cho Tăng – Ni
sinh; hoặc các giảng sư hoằng pháp thuyết giảng bằng ngoại ngữ Anh, Pháp,
Ðức.v.v...thì y như rằng đó là hình ảnh của ”Ma vương đội lớp Chánh
pháp”,phá hoại Chánh pháp. Hoặc còn có ý nghĩ “Hữu xạ tự nhiên hướng – lo
gì”. Nhưng đó là một thực thể của giai đoạn Phật giáo đứng trước thế lực
ngoại bang. Sự ỷ lại và tự mãn quá đáng đó đã làm nhọc công biết bao thế
hệ, mà những thế hệ này lớn lên, khi trèo lên đỉnh dốc Phật học ở cấp độ
nhất định, luôn bị lâm và thế chới với. Họ muốn đóng góp cho Phật giáo
bằng khả năng và nhận thức riêng họ những hình như chúng ta muốn khuyên họ
“như thế đủ rồi” và chiếc áo tràng, bằng phái Quy – y là “kết quả” được
hưởng!
Từ
ngày đất nước thống nhất (30.4.1975) đến nay, điều kiện hoằng pháp có phần
khác hẳn và mang nặng thêm trên đôi vai trách nhiệm to lớn hơn. Trong khi
đó – nhất là thời gian đổi mới – Nhà nước đã có nhiều cánh cửa rộng thoáng
để Phật giáo phát huy mặt tích cực của mình; luôn tạo mọi điều kiện và bảo
vệ tinh thần Phật giáo. Nhưng nhân lực, nhất là nguồn nhân lực được đào
tạo chính quy từ các ngôi trường Phật học trước kia đã dần mai một, phải
đợi đến nhiều năm nữa các vị được xuất thân từ trường Cao cấp Phật học
(Học Viện Phật giáo Việt Nam) hiện nay mới có thể trưởng thành.
Và
như vậy, tất cả, lúc nào cũng chỉ là bước khởi đầu.
Thời
gian đã có tên gọi: Vô thường! Uổng phí quá nhiều thế hệ. Hơn ai hết,
người con Phật không hề lo sợ tử sinh, nhưng với hoài bão, được sống và
cống hiến cho Phật đạo, thì vô thường quả đáng lo ngại. Chưa nói đến khía
cạnh sử dụng nhân tài “chiêu hiền đãi sĩ” để giúp mở rộng thêm phạm vi
hoằng pháp. Chúng ta đã đối xử với nhau đó đây vẫn còn tệ bạc, lấy đâu ra
nguồn nhân lực có tài để phát triển các mặt. Như vậy đặt vấn đề Văn học –
nghệ thuật Phật giáo làm chương trình bổ sung hoằng pháp e rằng lạc đề hơn
là phải lo củng cố một khung kệ nào đó. Vấn đề xem ra có vẽ “Ðời” quá, vì
thế hiếm ai bỏ thời giờ ra xem dài, đọc báo với một tinh thần trách nhiệm
cao ưu tư cho văn hóa Phật giáo, nên không biết đời có những truyện như
LÚA HÁT và “Ðường Tăng T.Q.D”, để mà mừng, để mà đau cho văn học Phật
giáo.
Lịch
sử vốn luôn khắc nghiệt trước mọi sự hờ hững!
Hằng
ngày, bánh xe đạp chúng tôi lăn lóc khắp ngã đường, vui buồn sướng khổ đau
xen. Một cú sốc, một vũng nước từ đọng... đến gọi lên nhiều ẩn số nhân
duyên – vô thường đã được học từ tấm bé nơi khoa học tàng vô tận Phật học.
Huống hồ những lý giải, hay hiện tượng xã hội trong lãnh vực văn học nghệ
thuật. Hiểu con đường Trung đạo của Phật là hiểu theo lớp thượng tầng khí
quyển cao vọi, chính không ô nhiễm tạp trần do chính những chất thải của
nền văn minh công nghiệp hiện đại. Nhưng những chất thải này lại luôn hòa
quyện vào lớp không khí xung quanh, gần bên ta nhất, và ta sống, hít thở
chỉ nhờ vào nó.
Hãy
cất sang một bên phiền muộn, lo sợ, được mất bản thân, dành tất cả những
thứ đó, kể cả vui buồn sướng khổ cho sự nghiệp chánh pháp – trong đó có
văn học – nghệ thuật Phật giáo, để “Làm sao khi từ giả thế giới ta không
chỉ nằm xuống như một người lương thiện” (Berrtolt Breeht – 1898 – 1956)
(1)
chương trình “Ðọc truyện đêm khuya” của Ðài Tiếng nói Việt Nam, Hệ AM2,
lúc 22 giờ 27.7.1994
Báo
Tuổi Trẻ Chủ Nhật – TP.HCM số 16/94 đăng lại.
(2)
Tác giả dùng cụm từ “Ðức Phật của họ”, bỏ qua một bên những kiến giải lệch
lạc, thiên kiến, còn lại là từ phía Phật giáo chúng ta, như vậy cách dùng
từ ấy quả tài tình. Ðức Phật của nghiệp dĩ tự thân, của cộng nghiệp. Chỉ
có Phật giáo mới có phạm trù lớn rộng như vậy, văn học nhờ thế cũng dễ đi
vào mà không phải lo sợ “phạm thượng”.
(3)
Giải nhất cuộc thi “Truyện ngắn” do Hội Nhà văn và Tạp chí Thế Giới Mới tổ
chức năm 1994
(4)
“Tôn giáo của dân tộc” H.T. Thích Tâm Tịch dùng trong Thông Ðiệp Phật Ðản
2544 (từ khi du nhập Phật giáo đã trở thành tôn giáo của dân tộc)
(5)
Những lời phát biểu của các vị Tiến sĩ – Nhà văn liên quan trong Ban Giám
Khảo và Ban Tổ Chức cuộc thi “Truyện ngắn”, đăng trong tuyển tập “40
truyện rất ngắn” nhận xét về truyện ngắn “Ðường Tăng”.
(6)
Qua sai phạm của truyện ngắn “Ðường Tăng”, một số giáo sư, học giả và đặc
biệt hội Phật giáo Việt Nam đã sớm có ý kiến. Sau đó bằng văn thư kiến
nghị của Thành Hội Phật giáo TP.HCM mang số 480/VT/THPG ngày 6.10.1994 do
T.T Thích Trí Quảng ký, trong đó nêu rõ nhận định của Phật giáo về sự
việc, có đoạn “xúc phạm đến Phật giáo – xúc phạm đến Ngài Huyền Trang là
một Thánh Tăng của Phật giáo...” và kiến nghị hình thức xử lý. Sau đó bằng
quyết định số 2681 ngày 4.10.1994 do Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa Trần Hoàn ký;
đồng thời liền sau đó là tiếp theo Quyết định của UBND TP.HCM số 3344 ngày
7.10.1994 do Phó Chủ Tịch Trang Văn Qúy ký, cả hai cấp có thẩm quyền này
đều có yêu cầu đình chỉ, niêm phong và cấm lưu hành tuyển tập “40 Truyện
rất ngắn” đồng thời cáo thị sự việc trên đã vi phạm Luật xuất bản (điều
22). Ðặc biệt hơn, quyết định còn nhấn mạnh khía cạnh “Vi phạm chính sách
đại đoàn kết dân tộc của Ðảng và Nhà nước ta, xúc phạm đến Phật giáo coi
thường giới thưởng thức văn học, gây xôn xao dư luận, tạo điều kiện phát
sinh bất ổn trong xã hội, qua đó, kẻ xấu có cơ hội lợi dụng, xuyên tạc
chính sách của Ðảng và Nhà nước, dẫn đến những hậu quả không lường được”
như điều 3 trong văn thư TH.PG TP.HCM
Quyển
“40 truyện rất ngắn” do Hội Nhà văn và tạp chí Thế Giới Mới ấn hành năm
1994 với số lượng 3.000 cuốn. Nộp lưu chiếu tháng 7.1994. Giấy phép XB cấp
ngày 17.6.1994. Ðây là quyển sách tập hợp các truyện trúng giải và đặc sắc
của cuộc thi.
---o0o---
Vi tính: Nguyên Trang
Trình bày : Nhị Tường
Cập
nhật : 01-04-2002