NGỒI BUỒN
DƯƠNG NHƯ TÂM
---o0o---
Ðó cũng là tựa đề bài thơ của Nguyễn Duy, người
viết bài này sau nhiều năm tìm kiếm, chắp nhặt nay mơi lượm được toàn vẹn.
Tuy không phải là người chuyên đọc và phê binh hoặc giới thiệu thơ, càng
không phải là người yêu thơ văn, nhưng ý nghĩa bài thơ đã thật sự gieo vào
tâm khảm người đọc về một ý niệm – giá trị tuyệt vời, tạo nên sức sống cho
bài thơ mà việc làm, tìm tòi của tôi – như vừa nói – xuất phát cũng từ đó.
Mãi cho đến gần đây, qua làn sóng Ðài Tiếng nói Việt Nam, qua giọng ngâm
của Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết, khiến cảm niệm ai hoài, nhân tiết hội Vu Lan
thêm rạo rực. Và tôi nhận thấy không thể không giãi bày sự cảm niệm riêng
tư ấy.
Nhà thơ Nguyễn Duy có lẽ đi từ ca dao được mẹ ru bên cánh võng thử ấu thơ,
nêu trong tâm khảm đã bật ra bao nỗi lòng bằng chính lời ru, và đã được
lấy tựa đề cho bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, miệng nhai cơm búng
lưỡi lừa cá xương”. Bài thơ được bắt đầu bằng sự sâu lắng hết sức
thiêng liêng, mênh mông gợi lên cho ta một khoảng không gian rộng lớn, làm
lộ rõ nét cô đơn của đứa con mồ côi vừa mất mẹ:
Bần thận hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết bàn
Chân nhang lắm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào.
Tại
sao lại phải là “khói nhang” mà không là ánh nến mới có thể “vẽ nẻo đường
kên Niết bàn”? Giữa khói nhang và Niết bàn trong bài thơ đủ nói lên tập
quán dân tộc với chân lý Phật giáo, dù Niết bàn với ý nghĩa Phật học không
là điều đơn giản. Theo tinh thần Hoa Nghiêm thì Niết bàn không xảy ra
trong thế giới khách quan mà chỉ xảy ra trong thế giới nhận thức. Bằng con
mắt tục đế, chúng ta dễ dàng hiểu được Niết bàn trong thơ Nguyễn Duy, có
nghĩa là một vị trí – địa danh xứng đáng đối với tấm lòng hiếu thảo của
người con dành cho người mẹ, nên chúng ta chấp nhận được. Và có lẽ như
biết được ý nghĩa trên nên Nguyễn Duy phải nói “vẽ nẻo đường lên Niết
bàn”. Nhìn thấy “chân nhang lấp láp tro tàn” là một hình tượng tất yếu về
một kiếp đời thọ nghiệp; nó còn nói lên cái bóng, công ơn lao nhọc cả cuộc
đời của mẹ một cách cô đọng, thay vì tác giả phải kể lể bằng nhiều hình
ảnh khác như “cánh cò lặn lội...”v.v...
Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quan
thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn, áo nhuộm
nâu bốn mùa.
Từ
trước đến nay, tuy tự nhận mình là một người ít khi tiếp xúc với thơ văn,
nhưng tôi vẫn chưa thấy có moọt áng văn thơ nào ca ngợi – tả tỉ mỉ về một
người mẹ giàu sang, chân tay cắt móng gọn gàng, mắt mũi đầy ắp silicon đặc
sệt; chỉ là những bà mẹ nghèo, tần tảo, chai sần da sạm với đôi quang gánh
đè nặng bờ vai lao nhọc. Ai đã từng thấy được dây bí, dây bầu, dây mướp
leo với vô số tay quăng bám chặt và rẽ ngọn trăm hướng để giữ cho thân
mình đủ sức mang nặng những đứa con - những trái đậu lủng lẳng, lúc nào,
cũng ghì nặng thân dây... mới cảm nhận được câu thơ của Nguyễn Duy đến nao
lòng, và thầm thán phục sự ví von tài tình – tuyệt vời của nhà thơ. Không
phải của đất nước ta vốn có truyền thống văn minh nông nghiệp, mà khi nói
về “nhuộm bùn”, tức là làm ruộng, cuốc đất, trồng cây; đó chỉ là một sự
hiểu biết, hàm sức về tình mẹ phương Ðông, muốn tự mình nuôi dạy con cái,
chịu đựng tất cả lao nhọc để cho con khôn lớn; không dựa dẫm vào bảo hiểm,
nhà trẻ, cấp dưỡng hoặc phó mặc cho xã hội, nhà trường. Màu nâu còn là màu
của đất, mà đất thì được tắm mát bởi nhân duyên của bốn mùa nhiết đới vốn
hằng gian khổ. Người học Phật còn “đi sâu” vào lòng đất hơn bằng tư tưởng
tuyệt vời của Tâm địa quán; nó sinh ra tất cả và nó ôm ấp tất cả (Chúng
sinh chi tâm du như đại địa, ngũ cốc – ngũ quả tùng đại địa sanh). Kể
cả cái tâm của tam giới cũng chỉ là 3 tên của đất (Dĩ thử nhân duyên
tam giới, duy tâm tam danh chi địa). Phải chăng do các yếu tố chân lý
đó nên chư Tổ truyền thừa xứ ta xưa kia đã khéo chọn màu nâu để hàng Tăng
lữ mặc, ngầm nhắc nhở về một duyên sanh, một ứng dụng tùy cơ cho đạo Phật
Việt Nam.
Cái cò – sung chát –
đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa
về trời
Ta đi trọn kiếp con
người
Cũng không đi hết mấy
lời mẹ ru.
Những
lời tiêu biểu trong các bài hát ru, còn là những kỷ niệm tuổi thơ, đưa vào
trong miệng bắt đầu kể thứ gì đang nắm được trong tay, và còn mãi tiếc
nuối, nên thay vì “cây cải về trời”, ta nghe như lời ru rất thiêng liêng
phải được bay về trời, cao mãi, cao vút. Vì thế mà bàn chân ta dong ruổi
với gói hành tràng mang theo đó là những lời mẹ ru; lỡ mai ta nằm xuống
thì vẫn còn đó, còn hoài với đạo lý thế nhân: những lời ru.
Bao giờ cho đến mùa Thu
Trái hồng, trái bưởi
đãnh đu giữa rằm.
Nhà
thơ Nguyễn Duy chắc lúc tuổi thơ được thừa hưởng những kỷ niệm vui buồn
dưới tàn cây trong vườn nhà, mùa nào thức ấy cho nên luôn nhìn được những
quả trái trên cành mà mẹ dành chờ qua rằm cúng Phật, cúng tổ tiên hoặc đem
bán đổi gạo. Riêng tôi, “những trái hồng, trái bưởi đánh đu giữa rằm” là
kỷ niệm về một cách lễ nghĩa mẹ dạy “để cúng Phật – ông bà xong, mẹ cho
ăn”, vì thế “đánh đu” của tôi có ngiax là thèm thuồng bởi những trái cây
cúng Phật thường được mẹ chọn lựa trái to nhất, ngon nhất.
Bao giờ cho đến tháng
Năm
Mẹ ra trải chiếu ta nằm
đếm sao
Ngân hà chảy ngược lên
cao
Quạt mo vỗ khúc nghêu
ngao thằng Bờm
Bờ ao đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui
buồn xa xôi.
Những
ý thơ này chắc rằng ai ai cũng đều có được diễm phúc tận hưởng. Dưới ánh
mắt và trí tưởng tượng của tuổi thơ, ta nhìn vạn vạt đều có thật một cách
dễ dàng và gần gũi. Sao trên trời làm sao mà đếm được, nhưng tuổi thơ đếm
được (một ông sao sáng, hai ông sáng sao...) dù đó chỉ là đường
vòng tròn không kết thúc, để đưa ta vào... giấc ngủ! Ðể rồi các thế hệ nối
tiếp nhau, thay nhau mà tiếp tục đếm; đếm hoài cho đến khi qua tuổi trưởng
thành rồi nhường lại cho đàn con mà ta tiếp tục ngồi vào vị trí của người
mẹ. Cho nên:
Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác, hát
nuôi phần hồn.
Dù
trong nhận thức đã từng hiểu được giá trị đích thực của những chuẩn mực
đạo đức cần thiết nơi mỗi con người, thế mà tôi vẫn phải giật mình khi đọc
đến hai câu này! Quả thật, trong kho tàng hát ru của dân tộc, có câu nào
mà không mang nặng một ý nghĩa nhân văn nào đó, kể cả những điều nhỏ nhất.
Ở người mẹ Việt Nam sữa và hát có đủ đầy nuôi bao thế hệ khôn lớn, vỗ an
bao nghĩa đậm tình sâu và đúc kết nên bản thiên trường ca tình mẹ bất tử.
Ngày nay, có không ít em bé được lớn kên, được nuôi dưỡng từ sự ỷ lại và
phó mặc; ru con bằng máy cassette mà trong đó vọng ra nào là giai điệu Pop
– Rock – Disco và hiện nay là Rap, đẻ rồi các em này lơn kên khi bập bẹ đã
thốt ra được nào là “Bai” – “Ok” – lớn lên chút nữa thì “Ta là Triển hộ vệ
đây!”, “Ta là Ninza đây!”. Cho nên chính nhà thơ đã phải thốt lên, đầy nỗi
lo lắng:
Bà ru mẹ, mẹ ru con
Liệu mai sau các con
còn nhớ chăng?
Chỉ
có những đứa con được lớn lên mang trong mình cả xác lẫn hồn mẹ cho dù có
phieu bạt góc bể chân trời vẫn không quên được nơi nào quê mẹ và vị trí
đặt nôi võng khi xưa ta nằm. Ấy vaayjmaf niềm thương trọn vẹn đó vẫn như
da diết, ai hoài:
Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta chỗ ướt mẹ nằm
đêm mưa.
Ðể
rồi nhà thơ chọn cau ca dao để kết thúc bài thơ như trả về cho đạo lý dân
tộc một gia tài nguyên vẹn; lại nữa như muốn gợi ý với thế nhân rằng: dù
thơ cac có hay đến thế nào đi nữa cũng không bằng chính lời ru mộc mặc khi
nao, xem như sự kết thúc cũng là sự bắt đầu. Với tôi, đó còn là lời nhắn
nhr với những ai đã chóng quên cội nguồn, mà thiếu vắng nó không còn là
một giá trị văn hóa – nhân bản của một dân tộc”
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng,
lưỡi lừa cá xương.
TRUYỆN NGẮN VỀ THỜI SINH HOẠT ÁO LAM
---o0o---
Vi tính: Nguyên Trang
Trình bày : Nhị Tường
Cập
nhật : 01-04-2002