Tuyển tập
truyện ngắn Phật Giáo
Huỳnh Trung Chánh
---o0o---
Người đẹp
thoảng hương sen
Nghinh Xuân viện
tọa lạc trên triền đồi thoai thoải, nép mình dưới những tàn cây rậm lá,
vừa kín đáo vừa thơ mộng, và tuy tọa lạc giữa Tây Thành Bắc Kinh, nhưng
lại không nằm trong khu phố ồn ào náo nhiệt, nên rất tiện cho các hàng
vương tôn công tử âm thầm tìm đến hưởng thú phong lưu. Ðoàn kiều nữ của
Viện toàn là những người đẹp hương sắc tuyệt vời, tài nghệ đa dạng, và đặc
biệt nhất phải kể đến nàng Tống Liên Hương, người được tôn là đệ nhất ca
kỹ của thành Bắc Kinh. Tao nhân thuộc hạng hào phóng sang trọng phải bách
hẹn trước mới mong được nàng tiếp đón. Nàng duyên dáng thùy mị dù chưa
phải là hạng sắc sảo tuyệt trần, nàng cũng không điêu luyện các nghệ thuật
ái ân, nhưng nàng lại ngầm quyến rủ bởi hơi thở thoảng hương thơm hoa sen
và âm thanh giọng nói êm ái ngọt ngào, lời ca thánh thót du dương khiến
cho khách mê mẩn tâm thần, chỉ muốn gần gũi với nàng để nghe thanh âm
tuyệt vời của nàng thỏ thẻ bên tai. Do đó, khách cầu cạnh nàng không hẳn
nhằm mua vui xác thịt, mà đôi khi chỉ tìm những giây phút mạn đàm tao nhã,
nâng tách trà và nghe nàng ca một khúc hành vân lưu thủy hay ngâm nga một
áng thơ Ðường. Hồ thuận An, vị thái thú trấn giữ ải Nhạn Quan và Ngũ Ðài
sơn, nhân chuyến về Bắc Kinh triều bái thánh thượng đã giả dạng thường dân
đến Nghinh Xuân viện một lần, thượng quan lưu lại hàng giờ chỉ để trà đàm
và nghe Liên Hương ngâm khúc Tỳ bà Hành của Bạch cư Dị và Phong kiều dạï
bạc của Trương Kế mà thôi. Không ngờ, nay thái thú lại phái thuộc hạ đến
thương lượng với bà chủ để chuộc nàng ra khỏi viện, đưa về doanh trại hầu
sớm hôm gần gũi. Nể trọng bực quyền thế, chủ nhân viện Nghinh Xuân không
dám khước từ, còn thân phận bèo bọt của người kỹ nữ thì đâu có quyền góp
ý. Thế là Liên Hương phải cấp tốc gói ghém hành trang, để sẵn sàng theo
đoàn tùy tùng lên đường ngày hôm sau. Chuẩn bị ra đi mà lòng dạ nàng hoang
mang cùng cực nên thỉnh thoảng nàng lại buông tiếng thở dài não nuột.
Trong thời gian ngắn, nàng phải rời bỏ ngôi kỹ viện quen thuộc, bỏ bạn bè
thân thiết, sao chẳng khỏi bùi ngùi tất dạ. Nàng thơ thẩn dạo quanh khu
vườn, luyến tiếc ngắm nhìn từng cụm hoa, bụi kiểng... và cuối cùng thả tầm
mắt hướng về những cụm mây trắng nổi trên bầu trời xanh lơ. Nhìn áng mây
bình bồng trôi lang thang vô định rồi tan loãng dần trong không gian, nàng
bỗng liên tưởng đến cuộc đời trôi nổi của mình, chẳng biết sẽ trôi giạt về
đâu. Liên Hương vốn thuộc gia đình cầm ca khá giả tại huyện Vĩnh Châu, từ
thuở ấu thơ sớm đã được trau chuốt nghệ thuật ca ngâm, nàng bẩm sinh có
trí nhớ đặc biệt học thuộc làu làu các áng văn chương thi phú nổi danh,
nên tao nhân mặc khách muốn thưởng thức thể thơ nào cũng toại nguyện. Năm
15 tuổi, cha mẹ nàng sớm chiều bạo bệnh qua đời, thân gái cô đơn bị đời
đẩy đưa rơi vào bẫy rập sở khanh rồi bị bán vào kỹ viện. Tài nghệ ca ngâm
của nàng khiến cho viên tri huyện sở tại là Âu Dương Vĩnh Thúc động lòng
mua về làm nàng hầu. Tấm thân liễu yếu tưởng như đã tạm có chỗ nương thân,
không ngờ nàng gặp phải phu nhân Âu Dương ghen tuông nghiệt ngã, sai khiến
hành hạ như kẻ tôi đòi, rồi đem bán nàng cho một kỹ viện xa xôi, tuyệt đối
không dành cho viên tri huyện hảo ngọt một cơ hội lui tới. Tấm thân bầm
dập trôi nổi từ nơi nầy sang nơi khác, bị các mụ tú bà bóc lột, chà đạp rẻ
rúng chẳng chút tiếc thương. Thời may, chủ nhân viện Nghinh Xuân khám phá
được điểm quyến rủ của nàng, bèn mua về Bắc Kinh, truyền dạy thêm vài bí
quyết để thành danh như ngày nay. Liên Hương đã có kinh nghiệm đắng cay về
thân phận hầu thiếp, nên dẫu được Hồ tướng quân ra tay cứu vớt thoát kiếp
kỹ nữ mà lòng lại bối rối bất an. Thân phận kỹ nữ bọt bèo, ai lại không mơ
thoát khỏi số kiếp hẩm hiu nầy, nhưng nàng chỉ mơ một mái gia đình tầm
thường mà hạnh phúc, chớ nào cầu mong cảnh làm hầu thiếp cho các bậc quyền
quí, tuy được sống trong nhung lụa mà bất trắc hung hiểm khó ước lường.
Liên Hương lại hoàn toàn chẳng hiểu biết gì về Hồ thái thú : tánh tình đức
độ của người ra sao? quan mua nàng về làm hầu thiếp hay làm ca nhi? phu
nhân của người có sống trong doanh trại không và tánh nết bà như thế nào?
Bao nỗi khắc khoải đó cứ ám ảnh nàng không nguôi trong suốt cuộc hành
trình, nàng toan mở lời dò hỏi đám tùy tùng mấy lần nhưng rụt rè rồi nín
lặng. Khi đoàn ngựa xe đi ngang ngọn Hằng sơn, giữa chốn núi rừng hoang vu
Liên Hương bỗng thấy xuất hiện ngôi chùa Huyền Không ẩn khuất trong mây
“huyền bí có có không không” như một bức tranh chạm nổi màu sắc linh động
vĩ đại trải dài trên triền núi, nàng bỗng sinh lòng quy ngưỡng nên yêu cầu
dừng lại để chiêm bái. Liên Hương đặt từng bước chân run rẩy trên chiếc
cầu treo lắt lẻo để vượt qua khe suối đến chân núi, rồi leo hàng trăm nấc
thang đá, mới lên được tiền điện. Chùa lợp ngói ống xanh, mái uốn cong,
dựng trên sàn gỗ ép sát vào những chỗ lõm của vách đá. Chùa có rất nhiều
điện, điện bé nhỏ, chỉ vừa đủ cho chừng hai Phật tử lễ bái; điện nầy nối
tiếp viện khác, nương theo địa hình mà xây, lên cao xuống thấp cheo leo
hay có chỗ còn phải chui qua hang động nữa. Nhờ kỹ thuật xây cất phối hợp
với thiên nhiên nầy, chùa Huyền Không mang nét đặc thù riêng : thơ mộng,
xinh xắn, mũm mĩm và tràn đầy sức sống. Tự thuở giờ Liên Hương chỉ biết
vái lạy thần Bạch Mi tại kỹ viện, chớ chưa hề đi chùa lễ Phật, khi được
chú tiểu hướng dẫn đi chiêm bái từng điện, nơi nào nàng cũng vái lạy để
cầu xin phù hộ, dù chẳng biết đang cầu xin vị nào. Tuy vậy, Liên Hương lại
có cảm giác lạ lùng là rất thân thương quen thuộc với chốn tôn nghiêm nầy,
ở đây nàng tìm thấy được sự bình an thoải mái mà suốt quãng đời qua, từ
dạo sa chân vào chốn giang hồ, nàng đã đánh mất. Từ giã Hằng sơn, từ giã
chùa Huyền Không, Liên Hương tiếp tục cuộc hành trình với bao niềm lưu
luyến. Ðến doanh trại, trái với lòng mong ước của Liên Hương, nàng chẳng
được tiếp kiến ngay quan thái thú, nhưng nhờ bà quản gia ân cần tiếp đãi
cơm nước và chu đáo sắp xếp chỗ ở tươm tất nàng cũng tạm yên lòng. Khi sắp
rời bước, bà quản gia mới dặn dò: “Cô nương đi đường xa, xin nghỉ ngơi cho
khỏe để hôm sau còn ra mắt phu nhân”. Nghe chuyện phải ra mắt phu nhân,
Liên Hương chết điếng trong lòng, trọn đêm thao thức chẳng phút nào yên.
Như một kẻ tội
phạm, Liên Hương khóm róm đi theo bà quản gia cúi đầu chào kính phu nhân.
Nàng thoáng thấy viên thái thú ngồi cạnh vợ nhưng không dám ngẩng lên. Phu
nhân ra dấu mời ngồi, nàng khép nép vâng lời. Phu nhân trao cho nàng tờ
giấy chi chít chữ rồi lên tiếng, giọng bà hòa nhã, chẳng có chi hằn học :
- Ta từng nghe người đời ca
tụng nghệ thuật ngâm thơ điêu luyện của nàng, có thể nào nàng biểu diễn
cho ta nghe được chăng?
- Xin vâng lệnh phu nhân.
Liên Hương nghiêm
trọng lướt qua tờ giấy một lượt, rồi cất giọng ngâm nga :
- Hơn
sáu muôn lời thành bảy cuốn
Rộng
chứa đựng vô biên nghĩa mầu.
Trong
cổ nước cam lộ rộng nhuần
Trong
miệng chất đề hồ nhỏ mát
Bên
răng ngọc trắng tuôn xá lợi
Trên lưỡi sen hồng phóng
hào quang
Dầu
cho tạo tội hơn núi cả
Chẳng
nhọc diệu pháp vài ba hàng.
Liên
Hương cất giọng ngọt ngào điêu luyện ngâm nga, từng chữ từng lời như rót
mật vào tai, thấm sâu vào tim gan người, quả là danh bất hư truyền. Ngâm
xong bài thơ, Liên Hương hoàn lại tờ giấy cho phu nhân rồi lên tiếng :
- Thưa phu nhân, bài thơ nầy
tôi mới thấy lần đầu nhưng có cảm giác quen thuộc kỳ lạ nên xúc động thành
thử trình diễn chưa vừa ýù! Xin mạn phép phu nhân cho tôi ngâm một lần
nữa, thì tôi mới lột hết khả năng ra được.
Ðược phu nhân đồng
ý, Liên Hương lắng lòng như mơ màng tìm về cõi xa xâm nào đó, lần nầy
giọng nàng lại chân thành tha thiết, cao vút như điệu tán dâng lên đấng
chí tôn cao vời vợi. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa xuất thần, ngâm xong
bài thơ, bỗng nàng buộc miệng niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa kinh” ba
lần, đoạn nàng tiếp tục ngân nga độc thoại : “Như thị ngã văn, nhứt
thời...”, âm điệu êm êm siêu thoát của nàng cứ thế mà tuôn chảy miên man
không lấp vấùp... Vợ chồng quan thái thú chăm chú dò theo quyển sách theo
dõi từng câu văn Liên Hương đọc, vừa trố mắt nhìn nàng ngạc nhiên như đang
mục kích một câu chuyện thần bí. Say sưa “độc diễn” cả giờ, Liên Hương mới
sực tỉnh và ngưng lại. Nàng bối rối lên tiếng :
- Xin lỗi phu nhân! không hiểu
tại sao,..ơ ơ... tôi như bị cái gì ám ảnh mà từng chữ từng câu cứ hiện ra
thúc đẩy tôi đọc theo. Tôi nói khùng nói điên nảy giờ phá rầy phu nhân!
Xin phu nhân rộng lượng tha thứ cho tôi!
- Cô không nói chuyện khùng
điên vô nghĩa đâu. Cô đã tụng kinh Pháp Hoa, tụng thuộc làu làu không sai
một chữ., phu nhân ôn tồn đáp. (1)
- Ôi! sao có chuyện lạ lùng
như thế nầy kìa? Trọn đời tôi chưa hề đọc một câu kinh, tôi không hiểu
Pháp Hoa là gì? làm sao tôi lại có thể đọc kinh nầy được?
- Ðúng là chuyện lạ lùng khó
tin nếu như vợ chồng tôi không đích thân mục kích. Nguyên nhân tại sao cô
thuộc kinh nầy và nguyên nhân tại sao vợ chồng tôi rước cô về đây khá dài
dòng, tôi chỉ hiểu được vài điều, tôi xin vắn tắt kể cho cô nghe; chỗ nào
cần hỏi rõ, cô cứ tự nhiên hỏi lại.
- Dạ ! kính xin phu nhân gia
ân cho tôi được tỏ rõ đuôi đầu.
- Cô Liên Hương à ! Từ nhỏ tôi
đã sùng mộ đạo Phật, tôi thường xuyên lễ chùa, tham học đạo pháp và tu sửa
thân tâm. Từ khi phu quân tôi được thánh thượng cử về trấn nhậm chốn nầy,
tôi tin tưởng mình có phước duyên lớn mới được gần gũi thánh địa của Bồ
Tát Văn Thù nên càng tinh tấn tu tập. Do đó, tôi liên tục hành hương chiêm
bái hàng trăm chùa am lớn nhỏ tại Ngũ Ðài(2), lễ Phật thỉnh pháp, cúng
dường trai tăng, hỗ trợ các công tác phát triển và tu bổ tự viện, yểm trợ
trai đàn chẩn tế... Rằm tháng giêng năm nay, vợ chồng tôi hướng dẫn đoàn
tùy tùng hành hương đỉnh Nam Ðài. Ðược biết đạo tràng nầy tọa lạc tại một
địa điểm cheo leo trắc trở vắng khách thập phương, tăng chúng đã phải chấp
tác nhọc nhằn để tự túc mà vẫn thiếu thốn, vì vậy chúng tôi mang theo khá
nhiều thực phẩm và vật dụng cần thiết để cúng dường cho chùa chi dụng trọn
năm. Nam đài mang mỹ danh là Cẩm tú Phong, một đỉnh núi nổi tiếng về phong
cảnh hùng vĩ tuyệt vời, nhất là vào độ xuân về, kỳ hoa dị thảo đua nhau nở
rộ phủ trùm núi tạo thành một tấm gấm thêu hoa sặc sỡ, cộng với sự điểm tô
của hàng ngàn cánh bướm màu sắc dị kỳ nhởn nhơ bay lượn. Trong cảnh núi
rừng mờ ảo trong sương mù, chúng tôi len lỏi theo lối đi ngoằn nghèo trơn
trợt leo lách theo vách đá rong rêu, xuyên qua các giòng suối nước đổ tung
tóe, để lên đến ngôi chùa Phổ Tế, nằm trơ vơ trên đỉnh núi. Khi sắp vào
cổng chùa, tôi chợt thấy một tăng nhân người Thiên Trúc, vận y vàng sậm
rách rưới dơ cũ, đang lúi húi quét lá trên lối đi. Tôi kính cẩn xá chào,
rồi vội vã bước nhanh cho kịp với phu quân. Bỗng nhiên tôi nghe có tiếng
thở dài kèm theo tiếng than thật khẽ dường như phát xuất từ vị tăng nhân
đó : “Tiếc thật! tiếc thật!” Tôi quay lại nhìn thì chẳng thấy ai, có lẽ
ông ta đã bước qua chỗ khuất bên tảng đá rồi chăng? Chúng tôi tiếp tục vào
chùa. Chùa nhỏ, không có nhiều điện thờ, nhưng lại có tháp chuông khá cao.
Chánh điện chưng bày giản dị làm nổi bật pho tượng Bồ Tát Văn Thù cỡi sư
tử dưới dạng của viên tướng quân, đội mũ, mang giáp, tay cầm kiếm, tay cầm
hoa sen. Sau phần lễ bái đến phần cúng dường trai tăng, tôi dâng y cho
từng vị một nhưng nhận thấy trong mười vị hiện diện không có vị tăng Thiên
Trúc mà tôi vừa gặp. Tôi thắc mắc hỏi thầy tri khách. Thầy cho biết trọn
Nam Ðài không có tăng nhân ngoại quốc, vị tăng mà tôi mô tả, thầy chẳng hề
nghe ai nhắc tới bao giờ. Phu quân tôi đi trước tôi mấy bước cũng cho biết
chẳng thấy tu sĩ nào trên đường đi cả. “Không lẽ mình hoa mắt, ù tai hay
quá giàu tưởng tượng chăng?”, tôi thầm nghĩ. Chúng tôi nghỉ đêm tại chùa.
Vào khoảng nửa đêm, trong khi chúng tôi đang đàm đạo với hòa thượng trụ
trì, thì có vị sư chú vào thông báo : “Bẩm sư phụ! Bồ Tát đã xuất hiện”.
Hòa thượng vội vã hướng dẫn chúng tôi ra tháp sau chùa, leo lên trên nóc
bằng để chiêm bái. Thì ra, đây không phải là lầu chuông mà chính là đài
quan sát hiện tượng mầu nhiệm “đèn trí tuệ của Bồ Tát Văn Thù di động” mà
tương truyền vào đêm rằm thường diễn ra. Chúng tôi hân hoan chiêm ngưỡng
hàng ngàn quả cầu lửa, hình dạng màu sắc biến đổi không ngừng, bay lượn
theo đội hình, khi nhanh khi lơ lửng, từ đỉnh núi nầy sang đỉnh núi khác
liên tục cả giờ mới chấm dứt... Trong chuyến hành hương nầy tuy tôi có
phước duyên hãn hữu mục kích được hiện tượng huyền bí, nhưng khi về nhà
tôi lại khắc khoải ăn ngủ không yên vì lúc nào cũng bị tiếng than thở
“Tiếc thật!” của vị tăng Thiên Trúc ám ảnh. Tôi thầm nghĩ có lẽ mình đã
phạm vài lỗi lầm trong nếp sống tu tập nên Bồ Tát mới hiện thân cảnh tỉnh.
Do đó, cứ vài ngày tôi lên chùa Thù Tượng tại trấn Ðài Hoài lễ Phật và Bồ
Tát cầu xin sám hối. Ngôi chùa nầy nổi tiếng linh thiêng với tượng Văn Thù
cỡi thanh sư to lớn, theo tương truyền thì vị tăng phụ trách bếp núc trong
khi đang nhồi bột may mắn chứng kiến Ðức Văn Thù thị hiện đã vội ghi lại
hình tượng Ngài bằng bột đương nhồi, do đó, phần đầu của tượng bằng bột
được ráp nối với phần còn lại bằng đồng mà vẫn khít khao không thấy chỗ
nối ráp. Ðâu lưng tượng Văn Thù, là tượng “Quan Âm tự tại” trang nghiêm mà
từ ái, tạc theo dáng nam nhân, một chân xếp trên bệ, một chân thả xuống.
Không hiểu tại sao tôi cảm thấy quyến luyến tượng Quán Âm nầy một cách kỳ
lạ, có lẽ tôi vốn ngưỡng mộ Bồ Tát Quán Âm, phần khác, tại tôn tượng nầy,
tôi có thể gục đầu lên chân Ngài để khấn nguyện, thân thuộc như một đứa
con thơ bộc bạch nỗi lòng với mẹ, và nhờ vậy, sau mỗi lần lễ bái lòng tôi
cảm thấy an ổn hơn. Vào ngày rằm tháng bảy đàn thủy lục chẩn tế đã được tổ
chức tại chùa Hiển Thông, ngôi chùa lãnh đạo toàn thể Ngũ Ðài sơn, với sự
tham dự của hàng ngàn tăng ni Phật tử. Trong khi tôi đang lễ tượng Bồ Tát
Văn Thù năm đầu nghìn mắt nghìn tay nghìn bình bát tại điện “Thiên Bát Văn
Thù”, bỗng tôi nghe tiếng thở dài tương tợ như của nhà sư Thiên Trúc ngày
trước, tôi ngoái lại nhìn vừa kịp thấy dáng dấp ai như là nhà sư đó đang
rảo bước về hướng điện Vô Lượng Phật. Tôi vội bước nhanh theo, nhưng mới
thấy thấp thoáng đó mà người đã mất biệt rồi. Tôi vừa xúc động vừa tủi
thân, nước mắt chảy như mưa, hướng về hư không quì lạy không ngừng : “Kính
lạy Bồ Tát Văn Thù ! xin Ngài từ bi thương xót con! Xin Ngài chỉ dạy cho
con chỗ sai lầm để con tu sửa!” Bỗng nhiên tôi linh cảm như Bồ Tát còn ẩn
khuất đâu đó đang ban phát lòng từ vỗ về an ủi tôi. Tôi ngẩng đầu lên
thì thấy người đã đứng cạnh tôi tự lúc nào, người ôn tồn cất tiếng : “Ta
chẳng phải là Bồ Tát Văn Thù mà chỉ là phàm tăng tên Phật Ðà Ba Lợi. Mười
kiếp về trước tại chùa Tây Minh, hai chị em thí chủ tha thiết thỉnh cầu ta
hóa độ và ta đã hứa khả, do thiện duyên đó nên ta vẫn hằng ngầm hỗ trợ thí
chủ. Từ dạo ấy đến nay, thí chủ một lòng một dạ hộ trì tam bảo, xây chùa
cúng dường bố thí... vun bồi ruộng phước, nên kiếp nầy và kiếp kiếp về sau
chắc chắn sẽ giàu sang sung sướng hơn người. Nhưng thí chủ phải hiểu rằng
chính cái nghiệp quyền quí giàu sang đó nó ngầm chứa mối họa hung hiểm khó
lường, vì đến kiếp nào đó ta có thể bị danh lợïi thúc đẩy mà gây ra nghiệp
bạc ác rồi lại bị đọa đầy. Ta tiếc là tiếc cho thí chủ, tâm đạo bền vững
mà chỉ biết chuyên tạo phước hữu lậu chớ không biết tu huệ. Chẳng gieo
trồng nhân vô lậu thì làm sao vượt thoát khỏi các nẽo luân hồi?”. Lời dạy
của Ngài khiến tôi rung động toàn thân, tôi gục đầu dưới chân Ngài, ấp úng
từng chữ : “Con...con... đa tạ Bồ Tát từ bi nhắc nhở. Từ nay, con sẽ
chuyên tâm tu huệ... Thưa Bồ Tát ! người chị em của con hiện nay tu tập
đến trình độ nào rồi?” Bồ Tát chắc lưỡi, rồi than : “Em thí chủ trong
những kiếp liên tiếp tu tập vững vàng, về sau, đã trở nên vị trụ trì uy
danh, xây chùa lập đạo tràng Pháp Hoa độ chúng, không ngờ chỉ vì một hành
vi sai trái mà phải chịu đọa lạc. Hởi ôi! giờ đây, thân nàng phải làm kỹ
nữ ở thành Bắc Kinh, chí hướng lạc lõng, không còn biết đạo pháp là gì.
Cũng may, là nhờ công đức tụng kinh Pháp Hoa mười năm nên miệng lưỡi của
nàng rất thù thắng : hơi thở thơm mùi hoa sen, giọng nói lời ca êm ái ngọt
ngào... Người kỹ nữ nầy, trong tàng thức vẫn còn đầy ấp lời kinh, nên chỉ
cần nghe một đoạn kinh Pháp Hoa, thì hạt giống thiện sẽ có cơ hồi phục...”
Dứt lời, bồ tát biến mất không cho tôi còn cơ hội hỏi han lưu luyến nữa.
Tôi liền thỉnh giáo thầy tri khách chùa Hiển Thông về vị tăng có tên Phật
Ðà Ba Lợi, thì được biết Ngài là vị thánh tăng người Tây Thiên Trúc đã
mang kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni sang Trung Quốc, Ngài lưu lại chùa
Tây Minh dịch bản kinh nầy để lại cho hậu thế, đoạn vào hang Kim Cương Ngũ
đài sơn bái kiến Ngài Văn Thù không trở lại, nên theo tương truyền thì
thánh tăng đã được Bồ Tát Văn Thù thu nhận vào Pháp Hội của chư Bồ Tát
rồi. Suy ra, thì sự mầu nhiệm mà tôi vừa trải qua không hẳn là mộng mị. Do
đó, một mặt tôi thành khẩn sửa đổi lề lối tu tập của mình, mặt khác tôi
phái hai tên tâm phúc đi Bắc Kinh vào khắp các kỹ viện dò tìm tông tích
người kỹ nữ hơi thở thơm hoa sen. Sau khi họ khám phá được Liên Hương, tôi
năn nỉ lang quân đích thân đến tận Nghinh Xuân viện kiểm chứng. Gặp Liên
Hương tôi chỉ yêu cầu ngâm bài tán khen ngợi kinh Pháp Hoa, và đúng như
Ngài Phật Ðà Ba Lợi tiên đoán, Liên Hương liền nhớ ra và tụng làu làu toàn
bộ. Ðiều đó chứng tỏ Liên Hương đúng là người em tiền kiếp của tôi rồi.
Tôi sẽ lo lắng cho Liên Hương như người em nhỏ, tuy nhiên tôi không có ý
gì ràng buộc Liên Hương cả. Liên Hương cứ tự do định đoạt số phận của
mình, đi hay ở, trở về chốn cũ, lập gia đình hay làm bạn đạo với tôi, sao
cũng được cả...
Liên Hương bàng
hoàng trước những chuyện lạ lùng, bí hiểm mà phu nhân vừa kể. Nàng biết
phu nhân là người thành thật, nàng kiểm chứng những điểm liên quan đến
mình cũng thấy phù hợp, nhưng câu chuyện luân hồi nghiệp báo huyền hoặc
quá, nhất thời nàng muốn tin tưởng hoàn toàn cũng không thể được. Nàng
nghĩ ngợi miên man, khi tin khi chẳng tin, khi muốn làm lại cuộc đời khi
muốn quay về nghiệp cũ. Thực tâm Liên Hương thiên về kiếp sống kỹ nữ, nàng
quen thuộc với son phấn cầm ca nhộn nhịp, chớ chẳng làm sao hình dung nỗi
chuỗi đời nhàm chán, nâu sòng chay lạt của một ni cô, nên nàng muốn gạt bỏ
chuyện tiền kiếp qua một bên cho đỡ nhức đầu. Tuy nhiên, những câu kinh kỳ
lạ cứ thi nhau nhảy múa trong ký ức nàng, nó lại thôi thúc nàng trở về với
nếp sống đạo hạnh. Bị bao ý nghĩ mâu thuẩn thi đua nhau dằn xé, đầu óc
Liên Hương căng thẳng cùng cực, nàng đâm ra ngây dại như người si ngốc,
chợt vui chợt buồn, chợt đờ đẫn, thế rồi bỗng nhiên nàng ôm đầu khóc nức
nở như một đứa trẻ con, cất tiếng rên rỉ :
- Tôi ! tôi ! tôi không biết
phải làm sao cả ! Phu nhân chỉ bày cho tôi đi ! Mà tôi chính thiệt là ai
vậy phu nhân? Phu nhân nói cho tôi biết tôi là ai đi?
- Liên Hương hãy bình tĩnh. Cứ
tịnh dưỡng vài ngày cho khỏe, mọi việc mình sẽ bàn bạc sau.
Phu nhân cắt đặt
người săn sóc Liên Hương chu đáo, bà cũng thường xuyên viếng thăm nhưng
chẳng hề nhắc nhở câu chuyện cũ. Chờ cả tuần cho Liên Hương bình phục,
phu nhân bắt đầu đưa nàng đi mua sắm tại thị xã Thái Nguyên, ngoạn cảnh
Ngũ Ðài, và thỉnh thoảng cũng ghé chùa lễ Phật. Thời gian đầu, Liên Hương
tỏ ra rất chán ngán những chuyện liên hệ đến vấn đề tôn giáo. Nếu vạn bất
đắc dĩ phải ghé chùa nàng thường giả vờ ngắm cảnh bên ngoài, tránh vào
chánh điện lễ bái và tiếp xúc với giới tu sĩ... Một hôm, phu nhân rủ nàng
leo lên Bồ Tát đỉnh, viếng Văn Thù tự(4). Ngôi chùa nầy ở trên đỉnh cao,
phong cảnh đẹp và theo truyền thuyết là một trong những địa điểm mà Bồ Tát
Văn Thù đã thị hiện nên rất linh ứng. Lần nầy, nể phu nhân Liên Hương cũng
theo vào điện lễ bái dưới sự hướng dẫn của thầy tri khách. Lễ xong, phu
nhân kính cẩn vái thầy tri khách thưa hỏi :
- Bạch thầy, tại sao Bồ Tát
lại cầm kiếm, mặc áo giáp, cỡi sư tử vậy thầy?
Thầy tri khách
hiểu phu nhân đã dư biết thâm nghĩa của tượng, nhưng có lẽ phu nhân hỏi
với mục đích cho những kẻ tùy tùng có dịp lắng nghe đạo lý, nên thầy cố
gắng trình bày vấn đề ngắn gọn cho người sơ cơ dễ hiểu :
- Thưa phu nhân ! Vì hạnh
nguyện của chư Bồ Tát là hội nhập vào cuộc đời để cứu độ chúng sanh, Bồ
Tát tùy hoàn cảnh mà ứng hiện làm quan, làm dân, kẻ bần hàn, người hành
khất... do đó, tượng Ngài Văn Thù thường tạc dưới dạng của vị cư sĩ. Ngài
là biểu trưng của trí huệ hay nói khác Ngài có ngũ trí nghiêm thân, tay
mặt cầm gươm bén mang thâm ý là trí tuệ sắc bén như gươm báu phá tan vô
minh, chặt đứt xích xiềng luân hồi sanh tử... tay trái Ngài cầm hoa sen
tượng trưng sự trong sạch không ô nhiễm, có nghĩa là trí tuệ tinh khiết
giải thoát chớ không phải loại trí tuệ dục lạc thường tình, Ngài mặc áo
giáp nhưng không phải là giáp tướng sĩ, mà là áo giáp nhẫn nhục từ bi chịu
đựng không cho những mũi dùi tấn công của thị phi, sân hận làm não loạn.
Khi Bồ Tát giống lên tiếng Pháp trí tuệ viên mãn thì tà ma ngoại đạo phải
khuất phục cũng như khi sư tử xuất hiện thì chồn cáo khép nép lẫn trốn,
nên tượng Bồ Tát đã tọa trên sư tử. Thưa phu nhân! chúng ta chiêm ngưỡng
tượng để nhắc nhớ hành hoạt và đức độ của Ngài hầu thành khẩn nguyện noi
gương Ngài trao dồi trí tuệ, giữ lòng trong sạch, và phát triển đức nhẫn
nhục.
Liên Hương ngạc
nhiên tột độ. Nàng đinh ninh là chư Phật và chư Bồ Tát cũng tương tợ với
thần Bạch Mi và thần Tài mà chị em kỹ nữ sùy sụp lạy để cầu đắt khách,
nên đối với đạo Phật nàng chẳng có niềm tin gì đặc biệt. Nay vô tình nghe
giảng sơ lược về ý nghĩa tượng trưng của pho tượng Ngài Văn Thù, nàng bỗng
khám phá rằng Phật giáo chẳng phải là loại tín ngưỡng cúng kiến vái lạy
với mục đích hối lộ thần thánh khẩn cầu xin xỏ quyền lợi, mà là một đạo
giáo hướng dẫn con người tu sửa thân tâm hầu đạt đến một chân lý tối
thượng nào đó. Chân lý như thế nào nàng mù mờ chẳng biết, nhưng nhận định
nầy đã kích thích lòng hiếu kỳ của nàng, từ đó nàng quyết tâm tìm hiểu
Phật giáo sâu rộng hơn. Càng học Phật nàng càng háo hức say mê. Nàng học
hiểu Phật pháp thông suốt dễ dàng, giáo lý nào cũng cảm giác như đã từng
miệt mài học qua mà bỗng quên đi, nay chỉ cần gợi lại thì trí nhớ liền
phục hồi. Từng bước từng bước nàng sung sướng khám phá ra rằng nàng đã tìm
lại đúng con đường xưa đã đi..., nàng biết rõ trong tiền kiếp đã tinh tấn
học Phật, nàng chắc chắn từng là tu sĩ, đã chuyên trì tụng kinh Pháp
Hoa... “Công đức tụng kinh Pháp Hoa, theo như cổ đức tán thán là : “Dầu
cho tạo tội hơn núi cả. Chẳng nhọc Diệu Pháp vài ba hàng.”, thế nhưng tại
sao thân ta phải chịu đọa đầy làm thân kỹ nữ nhục nhã như thế nầy? Tại
sao? Tại sao?”, Liên Hương thầm than thở. Ðó là điều cực kỳ vô lý mà Liên
Hương không thể nào hiểu được, nàng đem thắc mắc của mình thưa thỉnh chư
đạo đức cao tăng khắp các đại tùng lâm, nhưng chẳng ai đưa ra lời giải đáp
nào thỏa đáng cả. Do đó, Liên Hương chỉ còn biết đặt niềm tin của mình vào
chư Bồ Tát, vào Ngài Phật Ðà Ba Lợi mà Hồ phu nhân đã có đại duyên gặp gỡ.
Liên Hương thành khẩn hành hương chiêm bái khắp tự viện Ngũ Ðài liên tục
trong hơn hai năm trời ròng rã, khấn nguyện xin được thiện duyên để được
Bồ Tát vạch rõ ẩn khúc ác nghiệp xưa cùng chỉ dẫn con đường chân chánh tu
tập, nhưng chẳng thấy có sự nhiệm mầu nào xuất hiện cả. Tuy vậy, Liên
Hương không nãn lòng, nàng chỉ tự trách mình phước mỏng, nghiệp chướng sâu
dầy nên manh nha ý muốn trở lại nếp sống của kẻ xuất gia hầu có thể tu tập
tinh tấn hơn. Một hôm Liên Hương leo lên đỉnh Tây Ðài, chiêm bái ni viện
Di Ðà, ngôi chùa nằm lắt lẻo trên triền núi hướng Tây, nửa đường lên đỉnh.
Tây đài mang mỹ danh là Quải Nguyệt Phong, nổi tiếng với cảnh mặt trời lặn
ửng hồng nổi bật giữa hàng hàng lớp lớp mây muôn màu sắc cùng với cảnh
bóng trăng treo đầu núi soi bóng bàng bạc khắp các giòng suối trong veo.
Vị tổ khai sáng chùa Di Ðà chuyên tu Tịnh độ, nên đã chọn địa điểm hướng
về áùnh trời tây rực rỡ để nhắc nhở đệ tử luôn luôn quán tưởng về thế giới
Cực Lạc phương Tây. Như thường lệ, Liên Hương thưa hỏi sư bà viện chủ điểm
thắc mắc của mình. Sư bà không trả lời thẳng câu hỏi mà chỉ khuyên nàng
đừng để mối nghi nan vương vấn làm chướng ngại sự tu tập, mà chỉ nên một
lòng một dạ chân thành lễ Phật sám hối mà thôi. Khi tội chướng tiêu trừ,
mọi việc sẽ hanh thông, thì nghi vấn cũng không tồn tại. Nhận thấy lời dạy
của sư bà phù hợp với niềm tin của mình, Liên Hương khẩn khoản xin xuất
gia và được sư bà thu nhận làm đệ tử. Nếp sống tu sĩ đạm bạc, ràng buộc
với luật nghi, và phải chấp tác khổ cực dĩ nhiên hoàn toàn khác hẳn với
nếp sống phè phỡn tại kỹ viện, nên Liên Hương phải cố gắng hết sức mới có
thể hội nhập hài hòa với đại chúng. Sau tám năm nghiêm túc tu tập, Liên
Hương nhận thấy cần chí thành thực hành pháp lạy Phật sám hối tích cực hơn
nên thỉnh cầu thầy xin được ẩn tu để có thể tự do theo đuổi một thời khóa
riêng. Ðược sư phụ đồng ý, ni cô chọn một khuôn đất hẹp, nằm khép nép dưới
chân núi Ðãng Loa, thuộc Ðài Hoài trấn, để cất một am tranh. Hồ phu nhân
luôn luôn theo dõi nếp sống tu tập của ni cô, vội đề nghị cúng dường khoản
tịnh tài lớn để ni cô phát huy đạo tràng độ chúng, nhưng ni cô khước từ.
Ni cô chỉ nhận một ít thực phẩm đủ để sống kham khổ mà tu tập. Ngoài hai
thời công phu Tịnh độ, hàng ngày Liên Hương lễ Phật sám hối tối thiểu năm
thời, mỗi thời 108 lạy nhằm giải trừ 108 phiền não; riêng ngày rằm và ba
mươi, trừ trường hợp tuyết đóng dày đặc ngăn cản, thường thì ni cô theo lộ
Ðại Trí để leo lên Ðãng Loa đỉnh. Lộ Ðại Trí(5) gồm có 1080 nấc thang, tại
mỗi bậc thang đá sư cô thầm xướng danh hiệu của một vị Phật hoặc Bồ Tát,
giữ tâm thanh tịnh rồi chân thành lễ một lạy. Lên tới đỉnh, sư cô chiêm
bái Ngũ Phương Văn Thù điện nguyện cầu Bồ Tát gia bị cho trí huệ sáng suốt
thấy rõ con đường chánh pháp mà tu tập, rồi hạ san. Mỗi lần đăng sơn, ni
cô phải cụ bị lương khô nước uống và khởi hành từ khi trời tờ mờ sáng, và
thường thì cũng phải đến xế chiều mới trở về am. Chín năm trôi qua, Liên
Hương một lòng bền bĩ lễ Phật sám hối, thề tránh điều ác, luôn giữ tịnh
giới để phát triển chân đạo đức. Một hôm, vào độ cuối thu lạnh lẽo, như
thường lệ mỗi nấc thang sư cô mỗi lạy cho đến hai phần ba đường, tại khúc
quanh rộng dùng làm chỗ cho khách hành hương nghỉ chân, ni cô dự định tạm
dừng bước để dùng bữa ngọ. Ni cô bỗng thấy một người ăn xin già nằm chèo
queo, run lập cập vì đói lạnh rất thảm thương, ni cô muốn cứu giúp nhưng
chẳng có phương cách nào nên cảm thấy xấu hỗ ngại ngùng. Thấy bóng người,
lão hành khất liền rên rỉ : “Oâi! tôi đói quá! tôi chết mất! Xin lạy bà
con cô bác rũ lòng thương bố thí chút cơm thừa cho kẻ bần hàn..!”. Sư cô
thầm nghĩ : “Khí trời giá buốt, lộ Ðại Trí vắng khách hành hương, không ai
nhìn thấy tình trạng bi đát của lão hành khất mà mở lòng từ bi giúp đỡ, e
rằng lão phải chịu đói lạnh đến chết mà thôi!”. Thế nhưng ni cô chỉ mang
theo một phần ăn ít ỏi cho cả ngày leo núi, một mình còn chưa đủ no thì
còn chia cho ai, nên muốn bước tránh đi nơi khác cho khuất mắt. Ni cô bước
đi mấy bước mà lòng cảm thấy bứt rứt bất an nên đành quay trở lại, cúng
dường cho lão hành khất phần ăn của mình. Ni cô khuyên lão ăn lấy sức rồi
xuống núi, kẻo bị chết vì cóng lạnh, rồi tiếp tục leo lên Ðãng Loa đỉnh.
Khi Liên Hương trở về, tuyết đã lất phất rơi, đường đi trơn trợt nguy hiểm
mà ni cô lại đang đói lả, chân run rẩy bước đi lảo đảo, nên phải bám vào
tay vịn lần từng bước một. Trời đã lờ mờ mà ni cô mới đi hơn nửa đường,
nên ni cô lính quính cố gắng bước nhanh, chợt ni cô nhìn thấy một xác
người hay bóng ma nằm lắt lẻo trên nấc thang, có thể lăn xuống vực bất cứ
lúc nào. Ni cô niệm Phật để có thêm bình tĩnh, rồi bước đến xem xét. Thì
ra, đó là lão hành khất mà Liên Hương đã tặng phần ăn, đường trơn trợt lão
bị trật chân té đập đầu vào cạnh nấc thang từ lúc nào mà máu đã đông đặc.
Liên Hương sờ ngực nghe tim còn đập thoi thóp, nên dù sức yếu cũng quyết
định phải cứu người, chớ không thể bỏ đi một mình. May là người hành khất
thân thể gầy gò không nặng lắm, Liên Hương vận dụng hết sức vác lên vai
rồi bám vào tay vịn khập khễnh lê từng bước. Ði được non ba mươi nấc
thang, chân Liên Hương rã rời chực khuỵu xuống, sức cùn kiệt không chịu
đựng nỗi nên ni cô phải dừng lại thở. Xác người hành khất trên vai bỗng
trĩu nặng rồi từ từ tuột xuống, ni cô hốt hoảng buông tay vịn để chụp xác
lại, không ngờ bị mất thăng bằng ngã chúi xuống vực sâu đen ngòm, mà hai
tay vẫn gắng gượng ôm người hành khất không nỡ bỏ rời.
Khi Liên Hương
tỉnh dậy thì trời đã sáng tỏ, ni cô cảm thấy mình không bị thương tích
chi, đúng là một phép lạ. Ni cô đảo mắt tìm lão hành khất thì thấy lão
cũng điềm nhiên ngồi trên tảng đá đọc sách. Ni cô mừng rú lên : “Oâng !
ông...”, rồi bỗng sửng sốt lặng người. Vừa liếc mắt, ni cô biết ngay lão
đang đọc quyển kinh mà ni cô đã dày công tụng niệm : Kinh Pháp Hoa, phẩm
Bồ Tát Thường Bất Khinh. Ni cô còn đang bàng hoàng ngớ ngẩn thì lão hành
khất trao cho ni cô quyển kinh rồi ôn tồn cất tiếng :
- Ðây là “Như Ý thư”, con muốn
đọc điều gì thì điều đó sẽ hiện ra. Con có muốn xem qua cho biết không?
Liên Hương trang
trọng cầm quyển sách mở ra xem. Trước mắt ni cô không có hàng chữ nào, mà
là toàn những hình ảnh linh động của chính Liên Hương trong kiếp trước từ
khi còn thơ ấu, đi tu, xây dựng chùa Pháp Hoa, thuyết pháp, lập đạo tràng
tụng kinh Pháp Hoa độ chúng... cho đến khi từ trần. Ni cô ràn rụa nước
mắt thương cảm cho chính mình, mình đã tạo phước rất nhiều mà cũng gây
nghiệp không ít. Thì ra, trong thời gian ni cô lập đạo tràng tụng kinh
Pháp Hoa, có một nàng kỹ nữ xin được gia nhập. Trong đạo tràng có những vị
phu nhân quyền quí cao sang cúng dường rộng rãi đã tỏ ra khó chịu khi phải
ngồi tụng kinh chung với kẻ mà họ đánh giá là hạng “lẳng lơ trắc nết”. Nể
trọng đám Phật tử quyền quí, ni cô buộc lòng tìm lý do hạ nhục để xua đuổi
người kỹ nữ, đó là nguyên nhân khiến cho kiếp nầy ni cô đã phải sa chân
làm gái giang hồ. Tuy nghiệp duyên oan trái rõ rệt, nhưng không lẽ công
đức tụng kinh Pháp Hoa 10 năm của mình không đủ để làm tiêu cái nghiệp ác
nầy sao? đó là điểm mà ni cô vẫn còn chưa hiểu được. Ni cô chân thành đảnh
lễ lão hành khất mà bây giờ nàng tin chắc đó là hóa thân của một vị Bồ
Tát, rồi cất tiếng :
- Kính lạy Bồ Tát! Gần hai
mươi năm nay con không dám tụng kinh Pháp Hoa chỉ vì có điểm vẫn chưa hiểu
được. Kính xin Bồ Tát từ bi giáo hóa con?
- Tông chỉ của kinh Pháp Hoa
như thế nào?
- Thưa trong kinh Pháp Hoa Ðức
Phật đã vì đại sự nhân duyên mà khai ngộ TRI KIẾN PHẬT.
- Thế con đã trì kinh, đã mang
ra áp dụng “tri kiến Phật” trong nếp sống tu tập hàng ngày như thế nào?
Ni cô bỗng hụt
hẫng chới với. Từ thuở giờ ni cô đồng hóa tụng kinh là trì kinh, đến chừng
bị lão hành khất hỏi đã áp dụng như thế nào, ni cô ngẩn ngơ không đáp
được. Ni cô suy tư miên man, đầu óc căng thẳng như muốn nổ bùng, rồi bỗng
ni cô trực nhớ đến hình ảnh lão hành khất ngồi đọc phẩm Bồ Tát Thường Bất
Khinh, sư cô hốt nhiên thấy đầu óc sáng rực lên. Thì ra, Pháp Hoa Kinh
nhằm chỉ rõ “Tri kiến Phật”, trì kinh tức là trì “Tri Kiến Phật”, ý thức
là tất cả chúng sanh : ta và người, ai cũng có Phật tánh và đều là Phật sẽ
thành cả. Trì kinh cũng có nghĩa là đối với tất cả chúng sanh, dù hèn mọn
như thế nào, ta cũng tôn kính cúng dường như đối với một vị Phật, vị Phật
tương lai. “Oâi! ta kiên trì tụng kinh Pháp Hoa mà còn khinh khi kẻ khác,
vậy thì chính ta đã phỉ báng kinh chớ nào có thực sự trì kinh gì đâu? thảo
nào ta chẳng bị đọa lạc”, tuy ni cô thầm than thở, nhưng thật ra, ni cô
cảm thấy rất thảnh thơi an lạc vì vừa trút được một gánh nặng đeo đẳng
hành hạ bao năm trời. Sư cô quì lạy cảm tạ Bồ Tát, dù Ngài đã biến dạng tự
bao giờ. Từ đó, tuy Liên Hương cũng bền bĩ giữ thời khóa lễ Phật sám hối
như cũ, nhưng bây giờ ni cô có thể vững lòng tụng Kinh Pháp Hoa, càng tụng
kinh ni cô càng thấy tâm từ bi bình đẳng đối với mọi loài chúng sanh mở
rộng. Hai năm sau, ni cô nghĩ đã đến lúc mang thông điệp Phật tánh từ bi
bình đẳng vào cuộc đời, nên dự định sẽ tha phương hành hóa cho đến khi
thân thể mỏi mòn mới dừng lại ẩn tu. Thời gian làm kỹ nữ nổi danh, ni cô
dành dụm được một tài sản khá to, ni cô đã xử dụng gần hết để cúng dường
các tự viện trong khi chiêm bái Ngũ Ðài, chỉ còn lại một ít nữ trang vẫn
gởi cho Hồ phu nhân cất giữ. Nay ni cô đổi số nữ trang nầy thành 10 lượng
vàng, chuẩn bị hành trang cho chuyến ra đi. Ni cô cũng đi chiêm bái khắp
Ngũ Ðài, lạy tạ từ sư phụ, rồi lễ sám hối 1080 lạy trên lộ Ðại Trí lần
cuối cùng. Bóng trăng rằm vằng vặc soi sáng, sư cô bước từng bước thảnh
thơi rạng rỡ trở về am. Ni cô vừa mở cửa bước vào, thì bỗng có bóng đen
hùng hổ nhảy vồ tới chụp ni cô, hắn xé toạt quần áo ni cô, vật ni cô xuống
toan làm chuyện tồi bại. Ni cô thoạt giựt mình, nhưng hiểu ngay kẻ lạ là
tên “đại đạo hái hoa” trong mấy tháng nay gây ra mấy vụ hãm hiếp tại trấn
Ðài Hoài, đã có lệnh truy nả mà chưa bắt được. Có lẽ, người ta đã đề cao
cảnh giác cẩn mật phòng bị, hắn không làm chi được nữa nên mới tìm đến am
nầy. Ni cô cất giọng nhỏ nhẹ :
- Xin anh hãy bình tĩnh nghe
tôi phân giải. Không có gì mà anh phải hấp tấp, phải hung bạo cả. Anh muốn
điều chi tôi cũng sẵn sàng phục vụ cho anh vui lòng mà.
Thấy hắn khựng
lại, ni cô ôn tồn thuyết phục :
- Tôi hiểu cái “cơn sốt dâm
dục” nhất thời đó không phải là con người thật của anh. Con người thật của
anh là tình thương, là đạo đức. Xin anh hãy bình tĩnh trở về với con người
thực đó đi.
Hắn bỗng xô ni cô
ra, chửi thề một tiếng : “Con mẹ nó!”. Ni cô vốn có giọng nói êm ả quyến
rủ người nghe, ni cô lại nghiêm túc tu tập lễ Phật sám hối gần 20 năm
trời, sư cô lại tụng kinh Pháp Hoa với tâm từ bi bình đẳng chan hòa, có
lẽ, những công hạnh đó đã tạo cho lời bình thường thành diệu dụng có khả
năng chuyển hóa phần nào kẻ ác. Mặt khác, hắn là kẻ mắc bệnh bạo dâm, khi
cưởng hiếp ai, nạn nhân càng sợ hãi, kêu khóc, cào cấu, dãy dụa... thì cơn
dâm của hắn mới bùng nổ dữ dội và hắn mới cảm thấy khoái trá tuyệt đỉnh.
Ðằng nầy ni cô không chống cự la hét khiến hắn mất hào hứng, ni cô còn lè
nhè nói điều đạo lý chán phèo khiến cơn dâm của hắn bỗng xìu xuống. Hắn
thầm nghĩ lần nầy mình xui quá, người ta nói ra đường gặp ni cô xui xẻo,
rất đúng, mình dây dưa ở đây có thể gặp nguy hiểm chớ chẳng chơi. Thế
nhưng hắn vẫn còn ấm ức, hắn chửi thề rồi hươi dao định đâm chém ni cô một
nhát cho bỏ ghét, nhưng khi nhìn phong thái an nhiên ni cô hắn đâm ra nể
sợ, hắn gầm gừ mà chưa dám hạ thủ. Ni cô vẫn bình tĩnh :
- Anh cất dao đi! Tôi đâu có
thiếu anh nợ máu mà anh định giết tôi. Tôi chỉ thiếu anh 5 lượng vàng, nay
tôi sẵn sàng trả cho anh 10 lượng vàng tính cả vốn lẫn lời, anh hãy lấy
vàng và đi đi...
Hắn chụp gọn 10
lượng vàng nhưng không chịu cất dao. Hắn gằng giọng :
- Con mẹ nó! ngươi nói cái
đách gì vậy?
- Ðây là món nợ tiền kiếp, mà
hai năm trước đây do một duyên phước hy hữu tôi mới biết được. Kiếp trước
tôi làm Viện Chủ chùa Pháp Hoa, huyện Vĩnh Châu. Anh có cho tôi mượn 5
lượng vàng để xử dụng gắp trong việc xây cất chùa. Tôi qua đời không kịp
trả, nên món trợ đó vẫn còn trĩu nặng trên vai. Hai năm may, tôi vẫn mong
chờ anh đến đòi nợ, không ngờ anh đến bằng cách nầy. Tóm lại, xin anh cho
tôi trả nợ xưa và cũng xin tán thán công đức anh đã giúp đỡ tôi xây chùa
kiếp trước. Anh à! Tôi biết anh vốn là người có tâm đạo, anh lỡ phạm lỗi
lầm chẳng qua vì hoàn cảnh đưa đẩy mà thôi. Nếu anh hồi tâm lại thì sẽ
biến thành người tốt tức thời... Tôi tin tưởng anh là người tốt mà...
Nghe lời nói ngọt
ngào thấm sâu vào lòng người của ni cô, vẻ mặt hắn dịu hẳn xuống, hắn cất
dao rồi lầm lũi bước đi. Ni cô tiếp tục nói vói theo :
- Ðức Phật dạy “chúng sanh là
Phật sẽ thành” nên tôi tin chắc rằng anh là vị Phật sẽ thành. Xin anh dừng
lại, cho tôi được lễ một lạy tôn kính vị Phật tương lai.
Dứt lời, ni cô
chân thành phũ phục xuống lễ anh ta như lễ một vị Phật. Hắn ngạc nhiên
nhìn sửng ni cô, trọn đời hắn, hắn chưa hề được nghe ai nói một lời ngọt
ngào huống chi là tán thán tôn trọng. Vị ni cô đứng trước mặt hắn, quần áo
rách nát thân thể lõa lồ dưới ánh trăng, nhưng hắn lại thấy từ thân thể đó
tỏa ra cái gì thật tinh khiết, thật thánh thiện khiến hắn cảm động nước
mắt lưng tròng, hắn quì sụp xuống lạy lia lịa.
- Cảm tạ sư phụ! cảm tạ sư phụ
giáo hóa đệ tử!
Hắn lập bập lên
tiếng rồi phóng thật nhanh ra ngoài. Ni cô hân hoan mĩm cười. Ni cô vừa
trân trọng trao đi một “thông điệp Phật tánh”. Sư cô sẽ tiếp tục mang
thông điệp nầy trao cho mọi người, mọi loài, trong kiếp nầy và mãi mãi về
sau.
Tháng 6.2000
______________
Ghi chú :
1. Kỳ nữ Liên Hương :
Long thơ Tịnh Ðộ của Vương nhựt Hưu, quyển 7 (bản dịch Sa môn Lê phước
Bình, trang 206) có ghi sự tích chuyện “Pháp Hoa ni hậu thân tác quan hỷ”
như sau : Oâng Âu Dương tên Vĩnh Phúc làm chức tri huyện đất Vĩnh Châu, có
một con hát nhà quan, trong miệng thường bay hơi thơm hoa sen. Khi ấy có
ông tăng biết túc mạng của cô mà rằng : Cô nầy đời trước làm ni cô tụng
kinh Pháp Hoa mười năm, vì một niệm tưởng lầm, bèn đến nỗi như thế nầy.
Oâng tăng lại hỏi : “Vậy cô có nhớ tụng kinh Pháp Hoa không?” Ðáp rằng :
“Từ khi thất thân đến nay có rảnh đâu mà tụng.” Oâng tăng lấy kinh Pháp
Hoa đưa cho thì cô tụng như nước chảy, lấy kinh khác đưa cho thì cô không
đọc đặng. Do đây mà biết lời nói của ông tăng đáng tin vậy.
2. Ngũ Ðài sơn : Ngũ
đài sơn là một rặng núi tọa lạc tại vùng Ðông bắc tỉnh Sơn Tây, gồm có đến
hàng ngàn ngọn núi cao thấp khác biệt nhau, nhưng có năm ngọn cao vượt rõ
rệt, sừng sững tợ như năm cái đài, nên rặng núi mang tên là Ngũ Ðài sơn.
Phong cảnh đồi núi chập chùng của Ngũ Ðài sơn hùng vĩ, mỗi ngọn núi một vẻ
thanh tú riêng. Ðông Ðài có tên là Vân Hải Phong là đỉnh núi mây phủ giăng
lớp lớp như sóng biển, buổi bình minh ánh hồng rực rỡ giữa các từng mây
như những hào quang chư Phật, ngôi chùa trên đỉnh vì vậy cũng có tên là
Vân Hải tự. Nam Ðài là nơi có nhiều kỳ hoa dị thảo bậc nhất Trung Quốc,
vào mùa xuân muôn hoa đua nhau nở rộ phủ trên vách núi tợ như chiếc gấm
thêu vĩ đại, nên đài có tên là Cẩm Tú Phong; trên đỉnh là chùa Phổ Tế, là
địa điểm dễ thấy xuất hiện những trái cầu lửa hay còn gọi là đèn trí tuệ
của Bồ Tát Văn Thù, di chuyển từ đài nầy đến đài khác (giáo sư John
Blofeld cho biết đã mục kích hiện tượng nầy tại đây). Tây Ðài nổi tiếng
với cảnh trăng treo đầu núi nên được gọi là Quải Nguyệt phong; bóng trăng
đêm bàng bạc nhảy múa trên giòng suối và cảnh mặt trời lặn giữa các vầng
mây muôn màu rực rỡ là mỹ cảnh của Tây Ðài. Bắc Ðài có tên là Diệp Ðẩu
phong, có chùa Linh Ưùng là đỉnh núi địa đầu đón giá lạnh của miền Bắc,
mùa đông băng tuyết phủ giăng, là địa điểm ngắm cảnh bao la của thảm tuyết
trải dài vô tận về phương Bắc. Trung Ðài, có tên là Thúy Diệp phong, với
ngôi Vân Triều tự, là địa điểm trung ương có cái nhìn toàn diện phong cảnh
tuyệt vời của cả vùng. Trung tâm Ngũ Ðài sơn, một vùng đất bằng ở độ cao
1600 thước là Ðài Hoài trấn, từng là nơi qui tụ cơ sở hành chánh và quân
sự của miền Bắc, cũng là nơi qui tụ các ngôi đại tự chính của Ngũ Ðài như
: Ðại Hiển Thông tự, Bồ Tát tự, Ðại Tháp viện tự, Thù Tượng tự, Phật Quang
tự, Ðãng Loa đỉnh tự...
Ngũ Ðài sơn được
tôn kính là thánh địa của Bồ Tát Văn Thù, niềm tin nầy đã xuất hiện ngay
vào khoảng thế kỹ thứ nhứt dương lịch. Theo truyền thuyết thì các vị cao
tăng Thiên Trúc, trong đó có Ngài Ca Diếp Ma Ðằng, sau khi nghiên cứu kinh
điển đã đoan quyết vùng Ngũ Ðài chính là trụ xứ địa của Ngài Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát, nên đã hành hương Ngũ Ðài sơn đảnh lễ Ngài Văn Thù. Ngài Ca
Diếp Ma Ðằng cũng là vị tăng đầu tiên phát nguyện ở lại Ngũ Ðài hoằng
dương Phật Pháp. Trong những thế kỹ kế tiếp, chư tăng Thiên Trúc, Nepal,
Tây Tạng cũng lần lượït hành hương chiêm bái, có vị đã được Bồ Tát Văn Thù
hiển thánh tiếp kiến, như chuyện của Ngài Phật Ðà Ba Lợi và Ngài Pháp
Chiếu (tổ tịnh độ thứ tư Tịnh Ðộ tông). Vào thế kỷ 20, Ngài Hư Vân hòa
thượng nhứt bộ nhứt bái hành hương Ngũ Ðài sơn kể lại đã gặp một người
hành khất tên Văn Cát giúp đỡ, về sau mới được biết người ăn mày nầy chính
là Ngài Văn Thù thị hiện.
3. Hiển Thông tự : Ðây
là ngôi đại tự đã bắt đầu xây dựng từ cuối thế kỹ thứ nhứt và có tên là
Ðại Thù Linh Ưùng tự, đến đời Minh đổi thành Ðại Hiển Thông tự. Hiển Thông
tự từng được các tổ sư danh tiếng như Ca Diếp Ma Ðằng (?), Thanh Lương
Trừng Quán (tổ thứ 4 Hoa Nghiêm tông)... trụ trì, được tôn kính là ngôi
chùa lãnh đạo toàn thể tự viện Ngũ Ðài, là địa điểm mà chư tăng khắp Ngũ
Ðài tề tựu về đây để hành đại lễ, giới đàn...
Hiển Thông tự với
diện tích rộng 120 mẫu tọa lạc trên ngọn Ưùng Phong, gồm có nhiều ngôi
điện rộng lớn, đặc biệt ngoài điện Ðại Văn Thù với tượng Bồ Tát cỡi sư tử,
còn điện Thiên bát Văn Thù, với tượng Bồ Tát Văn Thù năm đầu, mười một
mặt, ngàn tay ẩn hiện ngàn tượng Phật Thích Ca và ngàn bình bát. Ngoài ra,
còn có điện Vô Lượng Phật rộng 28.2 thước x 16 thước trong có chứa bộ
huyết Kinh Ðại Phương Quảng Hoa Nghiêm trên lụa trắng (Theo sử liệu thì tổ
Hám Sơn đã chủ trì pháp hội Thủy Lục tại đây và đã đặt bộ kinh Hoa Nghiêm
do ngài đích thân viết bằng máu tại tháp chùa, không biết có phải đúng là
bộ kinh nầy không?). Ngôi điện nhỏ mà nổi tiếng là ngôi điện hai tầng xinh
xắn, toàn bằng đồng (10 vạn cân), trên vách chạm trổ tinh vi có đến mười
ngàn tượng Phật nhỏ.
4. Văn Thù tự : Chùa
tọa lạc trên Bồ Tát đỉnh, đường lên đỉnh gồm 108 nấc thang rộng rãi, hai
bên đầy hàng quán bày bán Phật cụ, đồ vật kỹ niệm, hay thức ăn nước uống.
Ðây làø nơi nổi linh thiêng vì theo truyền thuyết thì Bồ Tát Văn Thù đã
thị hiện tại đỉnh nầy. Chùa có nhiều điện to lớn và phòng ốc mênh mông
nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 50 tăng lưu trú. Chùa có nguyên ủy là theo
Phật Giáo Bắc Tông, nhưng vào đời nhà Thanh chẳng biết vì lý do gì chùa đã
chuyển giao cho các vị Lạt Ma Tây Tạng (hồng mạo phái) nắm giữ. Do đó, tuy
kiến trúc và hình thức thờ phượng vài điện còn giữ theo truyền thống Trung
Quốc (thí dụ như Văn Thù điện), một số kiến trúc và hình thức thờ phượng
nơi khác lại mang sắc thái Lạc Ma giáo.
5. Lộ Ðại Trí : là con
đường xây dựng bằng 1080 nấc thang đá, đưa lên Ðãng Loa đỉnh. Chùa Ðãng
Loa có tầm nhìn thấy toàn cảnh Ngũ Ðài, nên rất thuận tiện để chiêm ngưỡng
hiện tượng đèn trí huệ di chuyển (Tổ Hư Vân đã mục kích hiện tượng đèn trí
tuệ tại đây). Ðây là một ngôi chùa Tịnh Ðộ tông hiếm hoi tại Ngũ Ðài, có
điện thờ Tây Phương Tam Thánh rất to, ngôi điện nhỏ nổi tiếng là Ngũ
Phương Văn Thù điện.
---o0o---
Mục
Lục Tuyển tập Truyện Ngắn Phật Giáo
của Huỳnh Trung Chánh
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :
01-05-2003