"Tuổi
Tuất là con chó cò
Nằm khoanh
trong lò, mặt mũi lấm lem."
Thím Bảy tuy cũng tuổi Tuất,
nhưng có lẽ, nhờ được "đẻ bọc điều" nên sung sướng từ tấm bé. Thím là con
út, mặc sức được ông bà già cưng, nên có bao giờ thím phải xông vào bếp
bận rộn nấu nướng đâu mà lấm lem lọ nghẹ. Lập gia đình, thím lại được
chồng cưng, nên lại càng "bạch tuột" chuyện nhà cửa. Mấy bà chị của thím
thường trêu ghẹo: "Mầy là thứ chó lông xù, lẩn quẩn phòng khách làm kiểng,
chớ biết cơm nước gì". Thím ngẫm nghĩ mình cũng dở tệ thiệt tình, thành
thử không thèm phản đối lời chê bai thậm tệ đó.
Chừng di tản sang xứ Hoa Kỳ,
thím mới khám phá mình không may mắn như chó lông xù làm kiểng, cũng không
thể làm con chó cò nội trợ tẩn mẩn bếp núc săn sóc chồng con. Chân ướt
chân ráo xứ người, tiếng Tây tiếng u xệu xạo thì thím đã phải lăn xả đi
tìm việc. Không là chuyện đổi đời, cải lốt mà thím bỗng hóa kiếp thành con
trâu cui, quần quật cày suốt ngày không kịp thở. Làm việc ngày thường chưa
đủ, thím lại lao đầu cày giờ phụ trội tối tăm mặt mũi, đến nỗi không còn
hơi sức để than thở nữa. Mà ở xứ nầy, mấy ai thoát khỏi thân phận con trâu
đâu? Chồng thím tuổi mùi, "chánh hiệu con dê sồm", mà cũng phải cày thục
mạng, nên đâu còn thời giờ te rẹt ngang dọc tán tỉnh đám đàn bà con gái
õng ẹo, khiến thím đổ ghè tương như thời xưa nữa. Chờ suốt tuần đến ngày
chúa nhựt thím mới rỗi rảnh âu yếm chuẩn bị bữa cơm Việt Nam thuần túy cho
gia đình: canh chua cá bông lau với cá bóng kèo kho tộ. Nếm món ăn vừa ý,
thím mĩm cười thích chí thầm nghĩ, bây giờ, có chị Hai ở đây, bả ắt phải
chưng hửng ré lên: "Chèn ơi, con nhỏ nấu nướng cũng ngon quá cở he!". Đang
nghĩ quẩn lu bu, bỗng thím ngẩng mặt lắng nghe mớ âm thanh hỗn độn của
chương trình truyền hình. Bản tánh chú trầm lặng, mà bỗng dưng lại chăm
chú xem một màn ồn ào khiến thím vô cùng thắc mắc. Thím lẩm bẩm: "Bộ ông
nầy sanh tật sao kìa!". Thím vội ghé mắt nhìn màn ảnh truyền hình. Thấy
một "đại hán" lăng xăng chạy tới lui, hùng hổ quơ tay múa chân la hét...
như lối sơn đông mãi võ rao bán cao đơn hoàn tán bên hè phố ở nước nhà,
thím tò mò hỏi chồng:
- Họ quảng cáo bán giống gì vậy
anh?
- Bậy nà! Người ta đang giảng
đạo bà à!
- Kỳ há! Giảng đạo mà sao họ
bày trò giựt gân xôm tụ vậy cà?
- Căn cơ xứ nầy như vậy đó em
à! Họ thích "động" chuộng cái âm thanh ồn ào của nhạc Rock, của New
Wave..., thì nhà truyền giáo cũng phải theo thời trang mà hô hào la hét...
mới mong lôi kéo, xô đẩy người ta theo được!
- Ừa nhỉ! Theo đà đó, coi bộ
rồi đây người ta sẽ khai thác kỷ thuật tân kỳ của lối buôn bán đồ "sale"
vào chốn tôn nghiêm. Thiên đường nếu có màn "đại hạ giá" cũng không có gì
là lạ!
- Ơ! nếu nhà truyền giáo nhiệt
thành hò hét quảng cáo cho đạo thì cũng đáng khen! Chỉ ngại là đôi khi họ
còn nhiệt tình đến độ quá khích mù quáng đến nỗi tận dụng mọi thủ đoạn nhỏ
nhen để lường gạt, dụ dỗ hay thậm chí đàn áp, cưỡng bức người như xâm lăng
cướp nước hay mở cuộc thánh chiến thì mới nguy cho kẻ khác chớ!
- Chắc mình già! mình hủ lậu
quá! nên sống hèn lâu ở xứ nầy, mà em vẫn chưa hiểu nỗi họ!
- Có gì lạ đâu em. Mình tiêm
nhiễm cái không khí trang nghiêm thanh tịnh của Đông Phương, theo đó, vị
chân sư trầm lặng chỉ ban đôi lời đạo vị mà đi thẳng vào lòng người. Đạo
vốn không lời, chỉ truyền thẳng từ tâm thầy sang tâm trò, chớ cái ngữ ngôn
hạn hẹp làm sao đủ sức chuyên chở nỗi chân tâm mầu nhiệm. Ngày xưa, tại
núi Linh Thứu trước hàng ngàn đệ tử tề tựu lặng yên nghe pháp, Đức Phật
chỉ cầm cành hoa giơ lên thì Ngài Ma Ha Ca Diếp (1) đã hoát nhiên ngộ đạo.
Đó cũng là trường hợp của Ngài Câu Chi (2), chỉ nhờ một ngón tay giơ lên
của tổ Thiền Long mà nhập đạo mầu.
- Đâu dễ ai cũng có cơ duyên
gặp gỡ chư Phật chư Tổ anh Bảy?
- Đúng vậy! mình chỉ cầu diện
kiến được vị đạo đức tăng nghiêm trì giới luật là quí lắm rồi. Thầy đạo
đức không cần nói nhiều, mà đạo đức vô hành của thầy vẫn đủ sức cảm hóa
mình, ảnh hưởng suốt đời mình.
- Nói lý thuyết nghe chơi, chớ
đệ tử thời nầy, thầy khổ công kè kè giảng dạy còn chưa chắc lọt lỗ tai,
huống hồ chuyện cảm hóa bằng đức độ!
- Ậy! Kè kè dạy đạo chưa chắc
là phương pháp hiệu nghiệm. Kẻ được pháp cao siêu dễ dàng quá lại sinh tâm
khinh lờn. Kinh sách, băng thuyết pháp đủ loại, đủ trình độ... ấn tống
phát miễn phí, hoặc thỉnh giá tượng trưng nên họ có thể sưu tầm chất đầy
tủ sách. Người ta có thể lè phè nằm dài thườn xem kinh luận, lim dim ngủ
hay bàn chuyện tầm phào trong khi nghe băng thuyết pháp... Kẻ thọ pháp
thảnh thơi khỏe khoắn, có nhọc nhằn gian khổ chi đâu mà biết tôn quí Phật
Pháp cao sâu, để thiết tha thực sự tu tâm dưỡng tánh thâm nhập đạo mầu. Do
đó, nếu không đến nỗi rẻ rúng khinh thường thì họ cũng biến Phật giáo
thành môn nghiên cứu huyền đàm, dành cho những cuộc tranh luận thời trang
hấp dẫn mà thôi. Ngày xưa, thầy ẩn chốn non cao. Trò phải lặn lội gian khổ
tìm thấy khẩn cầu học đạo, rồi lại phải công phu nặng nhọc tháng năm dài,
lòng thấp thỏm đợi chờ thầy đoái hoài ban cho vài lời chuyển ngữ. Vì vậy,
lời dạy của thầy được trò trân trọng ôm ấp ngày đêm mà thi hành, nhờ đó
mới có cơ nhập đạo. Cầu pháp thiết tha bực nhứt phải kể đến trường hợp của
tổ Huệ Khả (3). Tổ phải đứng suốt đêm ngoài trời băng giá, tuyết ngập đến
gối, rồi sau đó đã cắt cánh tay để cúng dường mới được tổ Đạt Ma thu nhận
làm đệ tử. Đệ tử tầm thầy đã dầy công, mà vị thầy, như trường hợp tổ Đạt
Ma, tịnh khẩu diện bích thiền liên tục chín năm dài chờ đúng người xứng
đáng mới trao truyền tâm pháp, cũng gian khổ không kém. Còn gần đây, tại
Việt Nam mình, gương kiên trì cầu pháp của tổ Liễu Quán, chùa Thập Tháp,
Bình Định và tổ Khánh Hòa, chùa Tuyên Linh trong Nam, thường được chư hiền
đức nhiệt liệt tán thán.
- Chùa Tuyên Linh ở Bến Tre
phải không anh?
- Đúng vậy!
- Chùa đó là chùa tổ của họ
ngoại em mà! Nguyên họ ngoại em tuy ở Mỹ Tho, song nhiều đời vẫn quy
ngưỡng về Tuyên Linh, tại Bến Tre. Mẹ đã quy y tại Tuyên Linh từ nhỏ,
nhưng từ khi lập gia đình bà không thường xuyên lễ bái, một phần vì bận
bịu chồng con, phần khác vì bổn sư của bà bôn ba Phật sự khắp nơi không
mấy khi hiện diện. Vào khoảng năm 1947, nghe tin bổn sư quay về chùa Tuyên
Linh tịnh dưỡng tuổi già, mẹ vội vã dẫn em cùng đi viếng thăm hòa thượng.
Hòa thượng đã ngoài bảy mươi, đôi chân yếu phải được đệ tử dìu đi, nhưng
thần sắc an nhiên tươi mát. Dù đây là lần đầu tiên diện kiến người, em vẫn
cảm thấy lòng kính yêu quí mến ngập tràn. Mẹ sụp xuống lạy thầy, nước mắt
bà rưng rưng, mừng mừng tủi tủi... Hòa thượng cười, hàm răng trống trơn,
dễ thương, hiền dịu làm sao! Rồi hòa thượng thân thiết gọi đúng pháp danh
của mẹ, khiến mẹ ngẩn ngơ xúc động không ngờ thầy vẫn không quên người đệ
tử tầm thường của hơn ba mươi năm về trước. Đoạn thầy chậm rãi dặn dò:
"Con nhớ ăn chay, niệm Phật nghen con!". Xây qua con bé, người vò đầu dạy:
"Con ngoan và có hiếu con nhé!". Buổi tiếp kiến ngắn ngủi mà có ảnh hưởng
sâu đậm nếp sống thường nhật của mẹ. Bà nói bà cảm thấy thân tâm yên ổn
khi nhớ đến hình dáng và lời dặn dò của bổn sư. Rồi bà ăn chay trường và
chuyên cần thời khóa tụng niệm hàng ngày cho đến ngày qua đời.
- Thầy pháp danh là gì vậy em?
- Mẹ quá tôn kính bổn sư nên
khi nhắc nhở chỉ gọi ngài là hòa thượng Tuyên Linh. Ơ! ơ!... dường như có
lần bà gọi bổn sư là thầy Như Trí...
Chú Bảy sửng sốt la lớn:
- Vậy là đúng quá rồi! Đó chính
là pháp hiệu của thiền sư Khánh Hòa, tức hòa thượng Tuyên Linh, một đắc
đạo cao tăng tại miền Nam. Người là nhân vật đã dấn thân cả đời cho công
cuộc chấn hưng Phật giáo miền Nam. Bà quả có duyên phúc đặc biệt mới gặp
được tổ.
- Úy trời đất ơi! thế mà em có
biết "ất giáp" gì đâu? Sự nghiệp của người như thế nào vậy anh?
- Ngài là vị tăng sĩ đầy nhiệt
tình đạo pháp và dân tộc, đã sớm nghĩ đến việc hàng ngũ hóa tu sĩ Phật
giáo thành một tổ chức toàn quốc có khả năng hữu hiệu hoàn thành sứ mạng
đào luyện tăng tài và hoằng dương Phật Pháp. Khoảng năm 1917, Ngài bắt đầu
đi khắp các tổ đình miền Nam gây ý thức chấn hưng, liên kết tăng ni tâm
huyết, để đi đến việc thành lập tổ chức mệnh danh "Hội Lục Hòa Liên Hiệp"
tại chùa Long Hòa, Trà Vinh năm 1923. Hội gởi người ra Trung và Bắc để vận
động tổ chức Phật Giáo Việt Nam toàn quốc, nhưng không được nồng nhiệt
hưởng ứng. Vì vậy, Ngài nghĩ đến việc xây dựng cơ sở tại miền Nam trước
nên tạm thời đề xướng việc thành lập "Thích học đường" và "Phật học thư
xã" tại chùa Linh Sơn, Cầu Muối, Saigon. Từ đó ngài chánh thức kết hợp
giới tăng sĩ và cư sĩ thành lập "Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học", năm
1931. Sau đó, vì Hội nầy bị thành phần cư sĩ khuynh loát làm sai lạc mục
đích hoằng dương Phật Pháp, đào tạo tăng tài, nên Ngài lui về Trà Vinh
thành lập Phật học đường lưu động lấy tên là "Liên đoàn Phật Học xã". Lớp
học tăng lưu động gặt hái nhiều thành quả trong việc đào luyện tăng ni,
nhưng thiếu sự yểm trợ tài chánh sâu rộng của giới cư sĩ, nên hoạt động
lần lần đình trệ. Đó là lý do thúc đẩy Ngài thành lập hội Lưỡng Xuyên Phật
Học năm 1934, với thành phần cư sĩ tràn đầy đạo tâm bảo trợ. Trụ sở hội
đặt tại chùa Long Phước Trà Vinh, và vai trò hội trưởng do thiền sư An
Lạc, chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho đảm nhận. Hội đã thỉnh được Đại Tạng kinh,
xuất bản sách báo Phật giáo và liên tục mở các khóa tu Phật Học cho tăng
ni các cấp. Hội cũng gởi những học tăng xuất sắc ra Trường Sơn Môn Phật
Học tại Huế để trau dồi thêm nội điển. Ngài ôn hòa thầm lặng hoạt động cho
công cuộc phục hưng Phật giáo không bao giờ ngơi nghỉ. Năm 1943, tuổi đã
trên sáu mươi sáu, Ngài lui về chùa Vĩnh Bửu, Bến Tre mà vẫn tận tụy mở
lớp học Phật cho ni chúng. Bốn năm sau, nhận biết duyên phần ở cõi ta bà
đã mãn, Ngài mới trở về ngôi chùa Tuyên Linh ngày xưa tịnh dưỡng, rồi viên
tịch vài tháng sau đó.
- Ôi! Mấy mươi năm trời gian
nan khổ cực hi sinh cho đạo pháp, đến lúc già nua mà Ngài vẫn kiên cường
dõng mãnh, thật đáng chiêm ngưỡng!
- Đúng vậy! trọn đời Ngài, từ
thuở trẻ đi tầm sư học đạo cho đến khi viên tịch đều thể hiện tinh thần bi
trí dũng cao sâu!
- Ơ! Ngài tầm sư học đạo chốn
nào vậy anh?
- "Chịu ảnh hưởng từ phụ thân,
một nho sĩ tiết tháo dâng hiến đời mình cho sự nghiệp cách mạng chống
Pháp, Khánh Hòa cũng sớm thao thức tình nước. Người thanh niên tràn đầy
nhiệt huyết chứng kiến hoàn cảnh cơ cực, đen tối của đồng bào nghèo nông
thôn, đã nguyện dấn thân vào đời hàn gắn những vết thương đau cho họ. Năm
19 tuổi, nhân khi đến chùa Khải Tường dự lễ cầu an cho người chú lâm bệnh
trầm kha, Khánh Hòa vô tình được nghe tụng mười hai lời đại nguyện từ bi
cứu khổ cứu nạn của Quan Thế Âm Bồ Tát. Khánh Hòa đón nhận thông điệp tình
thương trong trạng thái xuất thần kỳ diệu khiến chàng bỗng phát bồ đề tâm,
nguyện xuất gia học đạo để cứu độ chúng sanh vĩnh viễn ra khỏi biển khổ bờ
mê. Khánh Hòa được bổn sư Chơn Tánh gởi đến chùa Kim Cang tại Tân An để
học đạo với thiền sư Chánh Tâm. Chú sa di nhu hòa hiếu kính hầu thầy, giới
luật nghiêm túc, thiết tha cầu học nên được sư Chánh Tâm thương yêu tận
lực dạy dỗ. Không bao lâu Khánh Hòa được thọ cụ túc giới và sớm nổi tiếng
là một tu sĩ tài đức vẹn toàn. Mấy năm sau, sư được giới thiệu lên chùa
Long Triều, Saigon tham cứu thiền với sư Đạt Thụy. Học thiền đang dở dang,
thì bổn sư triệu Khánh Hòa về trụ trì chùa Khải Tường, rồi sau khi bổn sư
qua đời, lại tuân theo di chí về trụ trì chùa Tuyên Linh. Trong thời gian
nầy, Khánh Hòa thường được chư tôn túc cử giảng kinh luận cho đại chúng.
Tại mùa kiết hạ năm 1905, những thời pháp kinh Kim Cang Chư Gia (4) của sư
tại chùa Long Hoa, Gò Vấp đã đạt đến trình độ thâm sâu khiến giới tu sĩ
nhiệt liệt tán dương. Tuy nhiên, sư không tự mãn với thành công đó, nên
lại giao chùa cho tôn túc khắp các tổ đình miền Nam và miền Trung.
Trong dịp tham kiến hòa thượng
Bửu Trí tại Tây An tự, Châu Đốc để cầu xin chỉ điểm nghĩa thú thâm sâu của
Lăng Già kinh, một bộ kinh tối quan trọng của thiền gia, nhưng quá xúc
tích nên thập phần khó hiểu, Khánh Hòa được hòa thượng khuyên nên cầu học
nơi thiền sư Giới Không, một vị cao tăng sở học uyên bác, được ca tụng là
người "tàng trữ kinh điển đầy bụng". Thế là, Khánh Hòa chuẩn bị lương khô,
lặn lội leo trèo hai ngày ròng rã đến am Trà Mây, cạnh vồ "Ông Hổ" trên
núi Dài, Thất sơn để tầm sư học đạo. Trong cảnh núi non hùng vĩ, am tranh
nhỏ bé, dựa bên vách đá mờ nhạt sương mù, ẩn hiện như mộng ảo. Khoảnh đất
hẹp phía trước là vườn cây với sự hiện hữu hiếm có của một cội trà cằn
cỗi. Am, trà và những cụm mây trắng là đà, đúng là đặc trưng của chốn ẩn
cư với danh hiệu am Trà Mây nầy. Am vắng vẻ, bụi phủ chứng tỏ chủ nhân ra
đi khá lâu, nhưng có lẽ khí hậu mát mẻ nên mấy cây ăn trái: mít, đu đủ,
chuối... và liếp rau chưa đến nỗi tiêu điều. Thiền sư vân du chốn nào? Bao
giờ trở lại? Sư Khánh Hòa không thắc mắc tìm hiểu mà chỉ bình thản đợi
chờ. Sư tu bổ dọn dẹp am, chăm sóc cây cỏ, công phu thường lệ như tu tập
tại chùa nhà. Mãi hơn ba tháng sau, thiền sư Giới Không mới lửng thửng
quay về. Người không tỏ vẻ ngạc nhiên gì về sự hiện diện cũng như những
công trình mà người tu sĩ trẻ đã thực hiện trong khi thiền sư vắng mặt. Sư
Khánh Hòa đảnh lễ khẩn cầu thiền sư thu nhận giảng dạy Lăng Già tâm yếu,
và người khẽ gật đầu. Thế là Khánh Hòa lưu lại am Trà Mây, tự nhận vai trò
của một thị giả hầu hạ thầy, lo cơm nước, săn sóc vườn tược... để chờ đợi
được ban pháp. Mỗi tuần sư gánh mít, đu đủ, chuối... xuống núi đổi gạo,
ngoài ra, cứ hai ngày sư lại phải lần mò theo hướng Đông Bắc tìm đến đầu
nguồn giòng suối Cam Thủy mang bầu nước tinh khiết về pha trà dâng thầy.
Đường mòn xuống núi xa xôi, vai mang gồng gánh cây trái nặng trĩu nên rất
nhọc nhằn vất vả. Lên núi lấy nước, chỉ mang một cái bình nhỏ, nhưng đường
đi thập phần khó khăn vì phải leo trèo trên sườn núi cheo leo, chui qua
những lùm bụi gai gốc vắng bóng chân người. Sư Khánh Hòa đạo hạnh hơn
người, nhẫn nại làm lụng gian khổ mà lúc nào cũng an vui, vì đối với sư
"gánh nước bửa củi cũng là thần thông diệu dụng" (5). Khánh Hòa là kẻ
thiết tha cầu pháp, dầu phải xả thân để "sớm nghe đạo, chiều chết cũng
cam" (6), nên khổ cực như thế nào vẫn không sờn lòng. Sư chỉ canh cánh lo
âu không hiểu khuyết điểm nào mình phạm phải khiến thiền sư chưa tỏ dấu
hiệu hài lòng. Vẻ khó chịu còn lộ rõ hơn mỗi khi sư hầu trà Ngài. Ngài
thường chỉ hớp một ngụm nhỏ, rồi đẩy ra như ngầm chê chung trà kém cỏi.
Thật ra, kỷ thuật sử dụng trà trên núi quá thô sơ: lá trà già khằn phơi
khô, không xấy, ủ, ướp thì hương vị phải tầm thường như loại nước vối, trà
huế (7) rẻ tiền, chớ đâu do lỗi của người pha cẩu thả. Tuy nhiên, tư cách
kẻ học đạo là chỉ biết nhẫn nhục vâng lời thầy chớ không thể tranh cãi
điều gì, dù là nói lên sự thật, nên Khánh Hòa chỉ biết cố gắng cải thiện
phẩm chất nước suối mà thôi. Sư đi xa hơn, chọn nước giữ giòng đầy sỏi đá
khi tia nắng ban mai vừa rọi xuống để chất nước trong, và hội đủ âm dương
như giới trà gia chủ trương. Lòng dạ chí thành của sư lại được đáp ứng
bằng một thái độ lạnh nhạt tệ bạc hơn nữa. Lần nầy, thầy chẳng thèm nếm tí
trà mà còn đẩy ra xa như tránh cùi hủi, khiến Khánh Hòa tủi hổ vô cùng.
Thật lâu, thiền sư mới thở dài rồi phá tan bầu không khí ngột ngạt đó bằng
một lời trách nhẹ:
- Nước suối gì in tuồng như
nước sông trộn với nước dừa thì còn pha trà chi nữa?
Vở lẽ ra, Khánh Hòa vội vàng
quỳ xuống, thành tâm lạy thầy xin sám hối. Sáng nay, lội xuống suối bỗng
Khánh Hòa mống niệm chán chường hờn giận muốn bỏ về Bến Tre. Sư nhìn lạch
nước suối con con mà mơ tưởng đến giòng sông Cửu Long cuồn cuộn, ôm bầu
nước mà cảm giác như đang ôm trái dừa xiêm óc ách. Té ra thầy là bực thần
tăng, vọng niệm nào của ta mà thầy chẳng biết. Quán sát thân tâm mình khi
đi lấy nước, sư thầm thở than: "Ôi! Ta ngỡ mình thường giữ vững chánh
niệm, nào ngờ leo trèo vất vả, tay ôm bầu nước là đã sinh lòng đắng cay,
chua chát... như thường tình, thật là xấu hổ! Ôi! Tâm đã nhơ nhuốc thì dẫu
là cam lồ tinh khiết cũng hóa thành thứ nước vẩn đục mà thôi!". Nguyên sư
Khánh Hòa tu hành chân chánh, trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, kể
cả những lúc trồng cây, gánh nước, lên xuống núi đổ gạo cực nhọc, là những
sự việc bình thường quen thuộc, sư luôn luôn sống trong chánh niệm. Nhưng,
đến khi gặp việc bất thường trái lẽ, như leo trèo cực khổ đến tận đầu
nguồn mà chỉ để thỏa mãn thú uống trà cầu kỳ của thầy, thì mầm mống sân
hận vi tế bắt đầu chui ra lung lạc thân tâm sư mà sư không ngờ. Hiểu
khuyết điểm mình, sư cũng khám phá được khác biệt giữa thiền sư và trà gia
trong nghệ thuật uống trà. Trà gia thưởng thức trà theo chiều hướng thỏa
mãn tối đa cái thú hưởng thụ của giác quan, đồng thời cũng đánh bóng cho
niềm tự hào về cái phong lưu trang nhã của mình. Do đó, trà gia cầu kỳ sưu
tầm các loại trà quý giá như Long Tỉnh, Đế Vương, Trảm Mã, đem pha trong
các loại ấm hiếm hoi cổ kính như Nghi Hưng, hầu được nổi danh là tay hào
hoa sành sõi. Trái lại, thiền gia uống trà, không phải uống trà, mới thực
sự uống trà. Uống trà chỉ là mượn phương tiện để vào thiền. Uống ngụm nước
trà cũng là uống ngụm nước tâm thường hằng thanh tịnh. Thế nên, đối với
thiền gia thì trà thượng thặng, ấm quý, nước suối thanh cao sang trọng thế
nào cũng đều rỗng tuếch vô giá trị. Những thứ đó, đâu có giúp gì cho sự an
lạc hơn chén trà huế hay gáo nước lã tầm thường. Thiền sư uống trà để nhập
đạo thì thiền sinh nếu đi lấy nước, chẳng qua cũng mượn cớ đi để thong
dong đặt những bước chân ý thức trên vùng sỏi đá cheo leo đầu nguồn.
Thời gian trôi nhanh. Thắm
thoát mà Khánh Hòa đã thanh thản lưu trú trên am Trà Mây hơn ba năm rồi.
Đêm mùa hè, trời nóng, gió mát. Khánh Hòa đang say sưa nhìn ánh trăng tròn
lơ lững, bất chợt nghe tiếng thầy ngâm nga vang rền:
Hạo hạo lăng già nguyệt
Phân phân bát nhã liên... (8)
Khánh Hòa vui mừng hớn hở. Bấy
lâu nay, tuy không dám nhắc nhở thầy, nhưng sư vẫn thấp thỏm mong đợi được
nghe giảng dạy Lăng già tâm yếu. Sư trang trọng chấp tay thưa:
- Bạch thầy! dạy con!
- Khánh Hòa! Con có thấy bóng
trăng ngời sáng chăng?
- Dạ con thấy!
- Con có ngửi được mùi phong
lan thoang thoảng chăng?
- Dạ con có ngửi thấy!
- Ha! Ha! Thế thì ta còn chỗ
nào để chỉ dạy ngươi nữa đây!
Dứt lời, thầy quày quả trở vào
am để dành riêng cho Khánh Hòa lặng lẽ ôm mối hoài nghi mênh mang giữa đất
trời hiu quạnh. Khánh Hòa mài miệt suy tư. Khánh Hòa đối chiếu lời đối
thoại ngắn với bao công án của người xưa để tìm lý giải cho mình. Đôi khi
sư tưởng chừng như bản lai diện mục đã chờn vờn trong tầm tay, thế nhưng
thoát đó lại biến đi mờ mịt. Bao lần sư ấp úng định trình bày kiến giải
của mình, chợt cảm thấy rối ren không lối ra vào, nên ngu ngơ câm nín.
Tình trạng mù mờ dở sống dở chết kéo dài hơn sáu tháng trời vẫn chưa giải
quyết. Một hôm, Khánh Hòa lại được thầy nghiêm trọng gọi đến dạy việc. Sư
mong đợi được ban thêm vài lời pháp không ngờ thầy chỉ thản nhiên báo tin
người sắp từ giã cõi ta bà, đoạn dặn dò Khánh Hòa hỏa thiêu nhục thân, rồi
rải tro theo giòng suối. Thế rồi qua ngày hôm sau thì thiền sư Giới Không
thị tịch. Kẻ tu sĩ vốn xem cuộc đời như huyễn mộng, tử sinh chỉ là một
chuyến đi về, nhưng Khánh Hòa vẫn bị xúc động mãnh liệt. "Ôi! ẩn ngữ đêm
trăng còn mờ mịt, niềm ước mơ thọ pháp Lăng Già tâm yếu vẫn canh cánh, mà
thầy nỡ bỏ đi!". Chưa bao giờ sư Khánh Hòa cảm thấy bối rối và cô đơn hiu
quạnh như lúc nầy. Hỏa táng thầy xong, Khánh Hòa bùi ngùi giã biệt am Trà
Mây. Sư lủi thủi đi, lòng ngổn ngang trăm mối không biết về đâu? Không
biết làm sao giải tỏa bao mối nghi nan trong lòng? Về đến Saigon, sư bỗng
có ý định ghé chùa Long Triều thăm thiền sư Đạt Thụy, vị thầy hướng dẫn
thiền 8 năm về trước. Gặp lại thầy sau mấy năm xa cách, Khánh Hòa cực kỳ
cảm động. Thầy già hẳn ra, và điều lạ lùng là có lẽ nhờ tháng ngày tu tập
trên non, Khánh Hòa mới đủ khả năng đón nhận được niềm an lạc vô biên từ
thân tâm thầy tỏa rộng khiến chàng quyến luyến muốn lưu lại mãi bên thầy.
Chân tay thầy đã run, thương thầy nên Khánh Hòa tự nhận trách vụ giúp thầy
trong khi tắm rửa. Khi đang xối nước chà lưng thầy đột nhiên Khánh Hòa
liên tưởng đến Ngài Thần Tán (9) thuở trước cũng tắm thầy như mình, Thần
Tán đắc đạo phương xa, rồi quay lại chùa xưa tìm cách độ lại thầy cũ. Một
hôm bổn sư đang ngồi trong cửa sổ xem kinh có con ong chui đầu vào tắm
giấy dán ở cửa sổ tìm lối ra. Sư liền nói: "Thế giới thênh thang chẳng đi,
dùi đầu vào giấy cũ bao giờ mới thoát?". Ẩn ngữ đó đã mở đường cho vị sư
phụ ngộ đạo về sau. Rồi Khánh Hòa lại nghĩ đến phận mình: sư tha phương
cầu đạo hoài công, Lăng già tâm yếu chưa nắm được, đạo mầu chẳng lối ra
vào, thật là hổ thẹn. Mối nghi dằng dặc từ cuộc đối thoại đêm trăng bỗng
hiện về trĩu nặng. Tâm sư náo loạn quay cuồng như con trốt ngổn ngang xoay
quanh các đề mục lăng già, bóng trăng, phong lan, Thần Tán, con ong...
khiến sư sửng sờ quên cả xối nước tắm thầy. Đúng lúc đó, sư Đạt Thụy bỗng
cất tiếng hỏi:
- Quả thật con đã hỏa thiêu
nhục thân sư Giới Không sao?
- Dạ! đúng vậy!
- Thế thì cái "bụng kinh điển"
của người bị cháy tiêu hết rồi còn đâu?
Câu nói như một gáo nước lạnh
xối ngược vào tâm sư Khán Hòa. Bao nhiêu mối nghi nan đều biến thành mây
khói. Tất cả đều trở về với thế giới vô ngôn, không cần phải suy tư diễn
đạt, và cũng không có vấn đề gì để giải quyết nữa. Sư Khánh Hòa hoát nhiên
ngộ đạo.
Khánh Hòa lưu lại với thầy một
thời gian, đoạn quay về ngôi chùa Tuyên Linh của bổn sư để trụ trì. Sáu
năm sau, khi nhận thấy cơ duyên hội đủ, Ngài bắt đầu dõng mãnh tinh tấn
xây dựng tổ chức phong trào chấn hưng Phật giáo liên tục trong hơn 25 năm
trời...".
Thím Bảy trầm ngâm hồi tưởng
lại hình dáng an nhiên tươi mát của vị tổ hiền đức, mà chỉ một lần hội
ngộ, đạo đức của người đã ban cho thím bao điều lợi lạc. Thím lẩm bẩm:
"Thầy dặn dò mình ngoan! Vậy mình phải thật ngoan cho khỏi phụ lòng thầy
mới được!". Chừng như tìm ra giải pháp, thím hớn hở cất tiếng:
- Anh à! tu ở non cao vắng vẻ
thanh tịnh, lại có thầy đạo đức thương yêu chăm sóc, có lẽ dễ thành đạt.
Anh nhỉ!
- Dĩ nhiên là như vậy rồi!
Nhưng căn bản vẫn là tâm thành cầu pháp của đệ tử. Chớ kẻ đến với đạo giải
đãi thì thánh nhân cũng phải đầu hàng!
Yên lặng thật lâu, thím Bảy lại
chậm rãi tiếp lời:
- Nhận mùa giỗ tổ Tuyên Linh,
em quyết định sẽ "tầm sư học đạo" trọn tuần tới anh à!
Nghĩ rằng bà vợ chỉ đùa chơi,
chú Bảy trố mắt nhìn vợ cười rú lên, rồi nói:
- Giỡn hoài bà! Xứ nầy đâu phải
vùng Thất Sơn mà bà nhọc lòng mơ chuyện lên non tìm am Trà Mây mà tu tập
vậy bà!
- Ơ! anh đi làm, xấp nhỏ đi học
thì khung cảnh nhà nầy cũng tạm vắng vẻ thanh tịnh. Em lại có bộ Phật Học
Phổ Thông của thầy Thiện Hoa, kèm với bộ băng thuyết pháp của thầy Thanh
Từ, vậy kể như em đã có thầy đạo đức hướng dẫn rồi...
- Chà! Hôm nay bà hứng chí phát
ngôn hấp dẫn thiệt tình há!
- Em dự định nghỉ phép một
tuần, ăn chay, giữ thân tâm thanh tịnh, thành khẩn thắp hương lễ Phật, rồi
sẽ trang trọng đọc kinh, nghe thuyết pháp... tu dưỡng tính tình, như vậy
họa may mới thấm tương thấm chao phải không anh?
- Khâm phục! Khâm phục!
- Em không gánh nước, bửa củi
như tổ, nhưng em cũng ráng tập giữ chánh niệm khi dọn dẹp nhà cửa...,
nhưng anh Bảy ơ..i!...
Thím Bảy đột ngột đổi giọng
nũng nịu ngọt sớt. Chú Bảy quá rành mánh mun của vợ, nên vừa nghe bả ỏn ẻn
Điêu Thuyền toan giở trò "mỹ nhân kế" thì đã vội nhỏm dậy cẩn mật đề cao
cảnh giác.
- Anh Bảy ơ..i...! người ta
nói: "Ăn cơm có canh, tu hành có bạn" phải không anh?
Biến chuyển nguy hiểm không
lường. Chú Bảy tuy nói chuyện đạo lưu loát, mà vừa nghe vợ phát họa kế
hoạch tu suốt tuần đã "run eng phát rét", nên chỉ biết gượng gạo cười rồi
lừng khừng đáp:
- Ừa! Thì bạn là thiện tri thức
ủng hộ, khuyến khích nhau tu hành mà!
- Vậy anh phải làm thiện tri
thức để ủng hộ em mới được!
Không bị kéo vô chương trình tu
suốt tuần, chú Bảy thích chí ca hát dòn tan:
- Chăm phần chăm! Em ơi! một
chăm phần chăm!
- Ủng hộ trăm phần trăm, thì
tuần lễ em chay lạt, anh cáng đáng dùm vụ ăn mặn nhé!
Nấu ăn là việc tối knhưng chú
Bảy kẹt cứng khó chối từ. Chú nhăn nhó một hồi mới tìm ra giải pháp:
- Mấy đứa nhỏ quen thức ăn Mỹ
nên mình sẽ mua sẵn mớ đồ hộp và đồ đông lạnh cho đúng. Còn anh thì... xin
ké đồ chay của em vậy. Anh ráng tới đâu hay tới đó, chừng không kham thì
tính sau...
- Mà con chuyện nầy nữa ông
thiện tri thức ạ!
Chú Bảy nhỏm dậy như phỏng lửa,
dáo dác hỏi:
- Bà con giở trò gì nữa vậy bà?
- Bắt đầu ngày mai, cảm phiền
ông thiện tri thức vui lòng ôm mền gối ra phòng khách ngủ đỡ một tuần. Ông
thiện tri thức nhé!
- !!!
Tháng 8.1990
Ghi chú:
1. Một hôm, trong hội Linh Sơn, Phật cầm cánh hoa sen
đưa lên. Cả hội chúng đều ngơ ngác, chỉ riêng Ngài Ca Diếp chúm chím cười.
Phật bảo: "Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, pháp môn mầu
nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo truyền riêng, nay giao phó cho
ngươi...". Giai thoại: "Thế Tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu", có nghĩa là
Phật giơ cành hoa và Ca Diếp mĩm cười, được thiền tông coi là khởi điểm
của đạo Thiền, và ngài Ca Diếp được tôn xưng là đệ nhất tổ.
2. Câu Chi tu trong một cái cốc, bỗng có ni cô pháp
danh Thực Tế nghinh ngang đội mũ ni vào thiền sàn nhiễu ba vòng rồi bảo:
"Nói đi, ta mới giở nón". Câu Chi mờ mịt không đối đáp được. Ni cô từ giã,
Câu Chi xin nán lại qua đêm thì ni cô đáp: "Nói đi thì ta ở lại". Câu Chi
lại không nói được nên ni cô ra đi. Câu Chi xấu hổ than thầm định đi tha
phương tầm sư học đạo. May mắn hôm sau có hòa thượng Thiên Long viếng. Câu
Chi mừng rỡ quì lạy cầu pháp cùng kể lể câu chuyện xấu hổ hôm qua. Thiên
Long không nói gì, giơ một ngón tay, Câu Chi hoát nhiên đại ngộ.
3. Đạt Ma ẩn tại chùa Thiếu Lâm trong 9 năm yên lặng
nhìn vách (diện bích) thiền. Một hôm có tăng sĩ Thần Quang đến khẩn cầu
ban pháp thiền nhưng Đạt Ma lạnh lùng không ngó ngàng tới. Dù vậy, sư vẫn
bình thản chờ đợi trong đêm lạnh, tuyết rơi ngập đến đầu gối mà vẫn kiên
gan. Bấy giờ, Đạt Ma mới lên tiếng:
- Ngươi muốn cầu gì?
- Ngưỡng mong hòa thượng từ bi mở cửa cam lộ, rộng độ
chúng sanh.
- Diệu đạo vô thượng của chư Phật phải nhiều kiếp tinh
cần, khó làm làm được, khó nhịn nhịn được, hàng đức nhỏ trí cùn, lòng đầy
khinh mạn, há có thể chịu nỗi nhọc nhằn lao khổ cầu pháp chân thừa sao?
Quang nghe quở bèn rút dao bén đoạn lìa cánh tay trái
dâng lên. Đạt Ma biết gặp được pháp khí, bén nhận làm đệ tử đổi pháp danh
là Huệ Khả.
4. Kim Cang Chư Gia thật ra là một bộ luận đúc kết
những lời bình giải của 53 vị hiền đức về kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật,
nên còn được gọi là Kim Cang ngũ thập tam gia.
5. "Xách nước là diệu dụng
Bửi củi ấy thần thông"
Bàng Uẩn
6. "Sáng sớm nghe đạo, chiều chết cũng cam": Khổng Tử
7. Trà huế: lá trà tươi để tự nhiên nấu với nước nóng
8. "Hạo hạo lăng
già nguyệt
Phân phân bát
nhã liên"
Trích thơ vua Lý
Thái Tôn
Dịch:
"Lăng già ngời
bóng nguyệt
Bát Nhã nức mùi
sen"
(T.T.Mật Thể,
VNPGSL)
9. Khi ngài Thần Tán ngộ đạo nơi tổ Bá Trượng, bèn trở
về chùa cũ để độ vị bổn sư, một tu sĩ chuyên tụng kinh điển. Một hôm, Thần
Tán tầm thầy, kỳ lưng rồi nói: "Điện Phật đẹp mà không thánh". Thầy ngạc
nhiên ngó lại thì Thần Tán tiếp: "Tuy Phật không thành mà vẫn phóng
quang". Hôm khác, bổn sư đang xem kinh bỗng có con ong chui đầu vào tấm
giấy dán cửa sở tìm lối ra không được, sư bèn lên tiếng: "Thế giới thênh
thang như thế mà chẳng chịu ra, dùi đầu vào giấy cũ có biết năm nào thoát
được?". Rồi Thần Tán đọc kệ:
Cửa không chẳng
chịu ra
Quá ngu chui cửa
sổ
Giấy cũ trăm năm
dùi,
Ngày nào thoát
ra được?
Bổn sư biết Ngài có sở ngộ đặc
biệt nên hôm sau đánh trống hội chúng hội lại, mới Thần Tán lên tòa thuyết
pháp. Thần Tán vừa trích dẫn 8 câu kệ của Ngài Bách Trượng thì bổn sư liền
ngộ đạo:
Linh Quang độc
chiếu
Siêu xuất căn
trần,
Thế hiện chơn
thường,
Bất câu văn tự,
Tâm tánh vô
nhiễm,
Bốn tự viên
thành,
Đản ly vọng
duyên,
Tức như chư
Phật.