| Trang tiếng Việt |
|
Truyện Tích Phật Giáo |
| ...... ... | . |
Tất cả sự việc đã qua rồi, dầu có ăn năn hối tiếc cũng vô ích. Vĩnh Hảo chỉ cố gắng tìm hiểu nguyên nhân nào đã thúc đẩy chàng rơi vào vòng tình ái nghiệt oan. Nhớ lại liên hệ của chàng với Bội Ngọc, từ lúc chàng quyết chọn oan ức làm cửa ngỏ của đạo hạnh, Vĩnh Hảo bỗng khám phá rằng chàng đã hành hạnh Bồ tát với tâm ngã chấp thường tình. Tuy Vĩnh Hảo khiêm cung không nhận ân nghĩa, mà trong đáy lòng vẫn khoan khoái hành vi của mình. Bội Ngọc kề cận nhắc nhở suy tôn khiến chàng thêm thỏa mãn. Như nhà nghệ sĩ yêu tác phẩm, Vĩnh Hảo cũng name nhiễm hành vi cao đẹp của mình. Từ đó, chàng yêu thiết tha Bội Ngọc, đối tượng của hành vi nhẫn nhục của chàng. Tâm đã phân biệt ngã nhân, sự việc… thì duyên khởi trùng trùng, oan trái bủa giăng. Biết được điều đó thì quá muộn. Oan nghiệp đã kết thì phải chấp nhận những hậu quả phải đến, trốn tránh sao được nữa. Thôi! Không làm tu sĩ thì làm cư sĩ, miễn là vẫn giữ được hạnh nguyện, vẫn cố gắng tu sửa tâm tánh là đủ rồi. Dù sao, thì Vĩnh Hảo cũng lặn hụp trong hương vị tình yêu mật ngọt. O⩡ Tất cả đều mầu nhiệm tuyệt vời. Nụ hôn ngất ngây, vòng tay êm dịu, ánh mắt đắm say, cử chỉ săn sóc nuông chìu thiết tha… đã đưa Vĩnh Hảo lên đỉnh cao của hạnh phúc lứa đôi. Chàng thì thầm: "Cám ơn Bội Ngọc! Em ban cho anh hạnh phúc cuộc đời!". Yêu chồng, Bội Ngọc không thể lãng quên tương lai của chúng mình, tương lai con cháu chúng mình. Nàng phải san sẻ với chồng để gầy dựng sự nghiệp mai sai, chớ không thể buông xuôi cho Vĩnh Hảo dễ dãi quản lý dược phòng, với mức thu ngày càng sa sút. Tuy trong thâm tâm Vĩnh Hảo không thuận nhưng chàng cũng phải nhượng bộ, đặt giá biểu cho việc khám bệnh hốt thuốc. Dù vậy, mức thu vẫn quá thấp so với Bội Ngọc suy tính, một phần vì Vĩnh Hảo vẫn mềm lòng thông cảm người nghèo, phần khác vì chàng thật thà, không chịu "doạ", đập đỗ, hoặc "nuôi bệnh" kéo dài, để "moi" tiền thân chủ. Thế rồi! Khởi đầu bằng những cơn buồn không duyên cớ, điểm thêm tiếng thở dài thườn thượt, nàng chuyển sang giai đoạn than thở bang quơ: "Đời tôi khổ quá!", "Số tôi chịu nghèo thôi!", "Sao số người ta sướng quá!!!". Giá Vĩnh Hảo chận đứng ngay, như những kẻ vũ phu thô lỗ thì hữu hiệu, đằng này, chàng quen nhẫn nhục, nhận lỗi mình kém cõi không làm giàu được cho vợ vui lòng, nên chỉ biết năn nỉ, nuông chìu…, điều đó, chỉ làm cho Bội Ngọc thêm khinh hờn, cho rằng chồng mình nhu nhược, thiếu chất đàn ông. Lần lần, Bội Ngọc trách móc nặng nhẹ chồng, khinh khi chàng là thứ nghèo đói cù bơ cù bất trong chùa, được gia đình nàng ban ơn dạy cho nghề thuốc, mua cho dược phòng nhưng bất tài chẳng nên trò trống gì!!! Trước kia, Bội Ngọc thờ kính Vĩnh Hảo như thần tượng vì ngày ấy nàng là đệ tử, một kẻ chịu ơn, còn Vĩnh Hảo là một ân nhân cao quí, một vị thầy khả kính. Thầy càng đạo đức thánh thiện thì đệ tử càng kính phục. Bây giờ thì khác, Vĩnh Hảo là chồng, Bội Ngọc là vợ. Vợ nhìn chồng khác hơn đệ tử nhìn thầy. Nàng không ước mơ ông chồng mang đức thánh thiện kè kè vào phòng ngủ hay ở chốn thương trường. Nàng chỉ thực sự cần một gã đàn ông: tục tằn dâm dật ở chốn phòng the càng tốt, mà lưu manh gian xảo ở chốn kinh doanh càng hay. Vĩnh Hảo là một ông thầy tu khả kính, nhưng chỉ là một người chồng "cù lần", vụng về khờ khạo. Do đó thần tượng dĩ nhiên phải sụp đổ. Vĩnh Hảo tuy chìu chuộng vợ, nhưng hạnh nguyện vẫn không quên. Khi cần giúp người vẫn giúp, mặc dù, mỗi lần Bội Ngọc biết, nàng giận dỗi rầy la, rồi bồng con bỏ về quê mẹ cả tháng trời. Những lúc nàng vắng nhà, Vĩnh Hảo thật thoải mái, khám bệnh giúp người không bị kềm kẹp. Nhưng đêm đến chàng lại vời vợi buồn, vì gian nhà trống trải quá. Gần nàng thì khổ, mà xa nàng thì lại nhớ nhung. Từ Qui Nhơn về, thỉnh thoảng Bội Ngọc mang theo vài tin tức của Thanh Lương tự. Ngay sau khi trục xuất Vĩnh Hảo, sư phụ đã triệu Vĩnh Tướng về giao ngôi trụ trì, để vân du về phương Nam hành đạo. Hai sư đệ Vĩnh Quang, Vĩnh Minh thì ẩn tu tại Ngũ Hành Sơn. Sư huynh Vĩnh Tướng quả thật tài trí hơn người. Sư huynh chánh thức thành lập võ phái Thanh Lương, để thu nhận môn sinh cư sĩ truyền võ công. Chẳng bao lâu, phong trào luyện tập quyền thuật được phát triển rần rộ khắp vùng, gia đình nào cũng gởi con em đến Thanh Lương tự để thụ giáo. Chỉ mấy năm, môn sinh đệ tử đã lên đến mấy ngàn người. Dựa vào uy thế quyền thuật, sư huynh lại lôi kéo phụ huynh các đệ tử vào phong trào học Phật tu nhân, rồi kiến tạo Thanh Lương tự thành một đại tùng lâm hùng vĩ, nổi tiếng một thời. Nghe chuyện Thanh Lương tự, rồi gẫm phận mình, Vĩnh Hảo thật hổ thẹn trăm bề. Thân hoàn tục chẳng ra gì, lại còn trăm cay nghìn đắng với cô vợ hổn hào. Đôi lúc, Vĩnh Hảo nghĩ đến việc bỏ đi, nhưng có lẽ do oan gia từ kiếp nào, chàng không thể dứt khoát được. Chỉ cần nàng ngưng chửi, là Vĩnh Hảo vẫn thấy nàng khả ái, dễ thương muôn đời. Dù thế nào, thì Vĩnh Hảo cũng còn có bé Bội Lan bên cạnh. Bé không biết gì, nhưng bé mủm mỉm dễ thương quá, bao giờ cũng giúp cho chàng những phút giây hoà ái nhẹ nhàng. Thế nhưng định mạng khắt khe lại cướp mất niềm vui của chàng. Được mẹ bồng đi thăm ngoại về, Bội Lan nóng sốt dữ dội. Bé bị bệnh đau màng óc mấy ngày nhưng Bội Ngọc không biết. Khi đưa cho Vĩnh Hảo khám bệnh, thì mọi sự đã muộn màng rồi. Bội Lan chết thì Bội Ngọc lại dẫy nẫy đổ lỗi cho chồng ác độc, không thương con ghẻ, nên không tận tình chạy chữa. Đầu Xuân Đinh Mão, Vĩnh Hảo đang thẩn thơ một mình, - Bội Ngọc về Qui Nhơn, còn thân chủ kiêng cử ngày Tết không đến – thì bỗng thấy viên tri huyện Đồng Xuân, hằn học dẫn toán lính vào nhà. Vĩnh Hảo đã từng trị bệnh cho quan huyện. Hai người hàn huyên tương đắc như bằng hữu, không ngờ ngày nay quan lơ là như người xa lạ. Quan huyện hạ lệnh cho lính lục xét nhà Vĩnh Hảo thật kỹ. Lính mở tung các tủ, rồi đến các hộc thuốc, không chừa một chỗ nào. Khi khám đến hộc đựng hộp thuốc huỳnh bá, bỗng tìm được một gói lạ, nằm dưới mớ thuốc. Chiếc vòng cẩm thạch vô giá màu xanh da trời ẩn hiện tượng Quán Thế A⭬ được viên tri huyện xem như bảo vật phù hộ gia đình ông, sao lại ở ngăn tủ này? Nguyên khi Vĩnh Hảo trị bệnh cho quan, quan cao hứng đuổi lính ra ngoài, để mở ngăn tủ bí mật, lấy bảo vật ra khoe với Vĩnh Hảo. Chiếc vòng đó, viên tri huyện giữ kín, không cho người ngoài xem. Ngay như Bội Ngọc, tuy được chồng kể lại, ước ao được thấy một lần mà chưa toại nguyện. Ngày Tết, mở tủ thấy báu vật biến mất, quan huyện nghĩ ngay đến Vĩnh Hảo, người duy nhất biết nơi dấu của, nên tức tốc khám xét. Vĩnh Hảo bị bắt quả tang về tội trộm báu vật, tang chứng rõ rệt không cần phải điều tra lâu đài. Viên quan, giận kẻ có học mà tham lam, nhứt là dám nhè quan mà vuốt râu hùm, nên sẵn có vài vụ trộm tại Phú Yên mà thủ phạm chưa điều tra được, quan cũng khảo tra Vĩnh Hảo bắt chàng nhận tội. Buộc cho tội nào chàng cũng không từ chối, nên chàng bị hình phạt trượng nặng nề, rồi bị án lưu đầy xuống Phan Thiết để làm tù khổ sai. Bội Ngọc giận chồng gây tai tiếng, bán nhà về Qui Nhơn, rồi nhờ người nhắn tin cho Vĩnh Hảo biết nằng nàng không nhìn nhỏi gì đến tên chồng lưu manh trộm cướp nữa.
***
Nếu không nhờ đã luyện công từ nhỏ, Vĩnh Hảo khó lòng chịu đựng nổi những trận noon bộng dành cho kẻ phạm trọng hình. Thân thể đầy thương tích, máu mủ ghê tởm, đói lạnh thiếu thốn, lại không thân nhân tiếp tế, chăm sóc, tưởng là bất hạnh, nhưng chính khổ đau tột cùng đó lại là toa thuốc thần, khiến mối tình nam nữ quấn quit tưởng không bao giờ dứt được, trong khoảnh khắc bỗng nguội lạnh như đóng tro tàn. Chuyện xã hội bên ngoài, chuyện quá khứ xa gần, nhà thuốc, con bệnh… có bận tâm cũng bất lực. Do đó, Vĩnh Hảo chủ trương ở tù thì cứ thuận theo hoàn cảnh tù tội mà tu. Nơi nào thì cũng có thể giữ được chánh niệm và hành được hạnh nguyện Dược Vương. Tù nhân, dù oan hay ưng, đều ở trong hoàn cảnh hoang mang, sợ hãi, khổ sở tận cùng. Họ cần được săn sóc, an ủi như những đứa con thơ cần mẹ. Vĩnh Hảo kề cận chia ngọt xẻ bùi với họ, rồi tuỳ cơ, giảng dạy họ về thuyết nhân duyên, về tứ diệu đế… để vạch cho họ con đường tu tập. Lần lần, Vĩnh Hảo khám phá ra là chàng quả thật có nhân duyên lành, nên mới bị tù đày. Ơ#249;, giữ chánh niệm thật dễ, vì ngoài "cái khổ", mà kẻ tu hành coi là bạn hữu nhắc nhở mình tu tập, hành giả không bị ngoại cảnh chi phối, không có danh lợi, xa hoa, phong lưu, phù phiếm quyến rũ mình. Đến Phan Thiết, thân phân kẻ lưu đày phải lên rừng đốn củi làm than, cuộc sống bớt phần gò bó. Hai năm sau, nhân lễ Vu Lan Canh Ngọ, Vĩnh Hảo và các bạn tù được chúa Nguyễn Phúc Khoát ban lệnh ân xá. Được tự do, Vĩnh Hảo bây giờ, thấy không cần phải tìm chốn non cao để chuyên tu thiền định. Chàng sống bình thường không chủ định, gặp chuyện nên làm thì tuỳ thuận mà làm. Làm xong lại xả bỏ ngay không chất chứa giữ gìn. Do đó, khi thì Vĩnh Hảo lên rừng đốn củi, khi làm thuê, làm mướn, chèo đò… để lấy tiền độ nhựt và giúp bà con nghèo. Chàng lại lêu lỏng giao du với đủ hạng cùng đinh, kết bạn với cả bọn trộm cắp, đĩ điếm mà không úy kị chi cả. Nghiệp thầy thuốc của Vĩnh Hảo còn nặng. Gặp người bệnh, Vĩnh Hảo đương nhiên phải chữa trị. Thế rồi, người nầy đồn người khác, số thân chủ tăng dân, đến nổi Vĩnh Hảo không thể lang thang không cửa không nhà được nữa. Được sư Thiện Hạnh yểm trợ, Vĩnh Hảo mở phòng mạch miễn phí tại chùa Tịnh Độ, gần khu phố chợ Phan Thiết. Để có phương tiện giúp đỡ dân nghèo, Vĩnh Hảo nghiên cứu thuốc Nam, hầu có thể tận dụng dược thảo địa phương, dễ kiếm và rẻ tiền. Là một y sĩ phối hợp được hai nền thuốc Bắc và thuốc Nam, lai tinh thông thuật châm cứu, nên chẳng bao lâu, Vĩnh Hảo nổi tiếng là thần y. Bệnh nhân từ các tỉnh lân cận, cũng đua nhau tìm đến nhờ chữa trị. Vĩnh Hảo bắt đầu truyền dạy y học cho các thầy, các chú tu sĩ, để họ tiếp tay điều trị bệnh nhân. Nhờ có người đỡ đần tạm thay phòng mạch, Vĩnh Hảo có thể thư thả lang thang trong rừng, nghiên cứu dược thảo. Do đó, chàng khám phá nhiều loại cây có giá trị y học, cũng như tìm được những loại cây trước đây phải nhập cảng từ phương Bắc rất đắc giá. Đầu Xuân Quí Dậu, thừa lúc vắng bệnh nhân, Vĩnh Hảo lại thong thả vào rừng. Đến bên suối Rắn, Vĩnh Hảo chợt có ý nghĩ thử đi ngược lên đầu nguồn, tìm vài bụi ráng dương xỉ, tóc tiên… để làm thuốc. Vùng suối này, cây cối rậm rạp, đá dốc trơn trợt, nước chảy siết, lại có tin đồn đó là nơi ẩn trú của cặp rắn thần; mồng đỏ như mồng gà, nên ít người léo hánh. Vách đá lổm chổm là cho giòng nước tung toé, đuổi theo những đàn bướm chập chờn đùa giỡn. Trên cành cây rậm lá tiếng chim ríu rít vui mừng chào đón ánh sáng ban mai. Dọc theo bờ suối, những bụi cỏ dại cũng đua nhau khoe chùm hoa bé bỏng xinh xinh. Bất ngờ, Vĩnh Hảo lại thấy xuất hiện gian nhà cỏ bé nhỏ, cất dực bên tảng đá. Vị ẩn sĩ vô danh nào chọn được chốn thơ mộng này để trú ngụ, quả là người biết hưởng thú thanh nhàn. Từ xa, Vĩnh Hảo thoáng thấy dáng dấp một cụ già, - một vị sư già, - đang lom khom chăm sóc cành hoa dại. Lạ quá! Vĩnh Hảo dụi mắt mấy lần, mà vẫn tưởng mình đang chiêm bao, vì vị sư già đó lại là sư cụ Đạt Bổn, ân sư của chàng. Mừng mừng, tủi tủi, Vĩnh Hảo quì dưới chân thầy, nước mắt chảy dài bên má, thổn thức:
Sư phụ nhìn cảnh vật trước mắt chăm chỉ chiêm ngưỡng như người khách lạ mới thấy lần đầu, rồi đột nhiên hỏi:
Vĩnh Hảo vừa thầm nghĩ phong cảnh tuy đẹp nhưng nếu giòng suối có thêm bụi trúc, trước thảo am có cụm mai vàng, thì mới hoàn toàn tuyệt mỹ, nên phát biểu:
Vĩnh Hảo bỗng giật mình sửng sốt. Pháp kệ của sư phụ ngắn mà rõ ràng. Cổ đức dạy "hoa vàng, trúc biếc" tượng trưng cho chân như, nhưng phải hiểu là vạn vật mọi loài, dù hèn mọn nhỏ nhoi: trùng, kiến, rong rêu, cỏ dại… cũng biểu lộ chân như thường hằng: Tình dữ vô tình Đồng viên chủng trí Ta đã đọc tụng hàng ngày, đã hiểu vạn vật đều ảnh hiện từ nguồn sinh động của biển chân tâm diệu minh, của A Lại Da Thức, từ vô thủy vô chủng vẫn như không khác, không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm. Cớ sao ta lại phân biệt phải là hoa vàng? Phải là trúc biếc? Tam thiên đại thiên thế giới bỗng nhiên rung động rồi sụp đổ tan tành để biến hiện thành biển quang minh chói chang rực rỡ. Thời gian ngưng động không biết đến bao giờ, nhưng khi Vĩnh Hảo từ chốn vô sai biệt trở về chốn sai biệt, thì vẫn thấy mình đứng bên thầy trước am cỏ. Đại sư mỉm cưởi. Vĩnh Hảo cũng mỉm cười.
Ta đi đây. – đai sư đột ngột từ giã.
Tôn kính thầy là bậc thần tăng, tuỳ thuận hành đạo khó đoán, khó lường, Vĩnh Hảo đành vâng lệnh và ngậm ngùi nhìn bóng thầy khuất dần ở rặng cây xa. (Đại sư Đạt Bổn, sau đó về miền Nam hoằng hóa, độ rất nhiều đệ tử. Đại sư đã kiến lập ngôi chùa THIÊN TRƯỜNG tại Song Phố, Gia Định năm Aᴍ Hợi, 1755). Vào thảo am, Vĩnh Hảo khám phá thủ bút của thầy lưu lại. Vách trái thầy viết "PHÁP NHẪN VÔ SANH", hàm ẩn con đường tu tập cá biệt của Vĩnh Hảo, nương hạnh nhẫn nhục ba la mật để ngộ lý vô sanh, nói chung, đó là con đường TRỞ VỀ, từ SỰ ngộ LÝ, từ hạnh nguyện ĐẠI BI để thể nhập ĐẠI TRÍ, tức thể tánh BÁT NHÃ. Vách phải thầy ghi "VÔ SANH PHÁP NHẪN", là con đường tu tập nương lý vô sanh để đạt được hạnh nhẫn nhục ba la mật, cũng là con đừơng TRỞ RA, từ LÝ đạt SỰ, tức từ ĐẠI TRÍ, thể tánh BÁT NHÃ để phóng chiếu ra thế giới sai biệt hành hạnh ĐẠI BI, diệu dụng của tâm, để cứu độ chúng sanh. Đó là con đường song chiếu, thầy nhắc nhở chàng tiếp nối hành trì không ngưng nghỉ, để đi đến chỗ tuyệt cùng LÝ SỰ viên dung, ĐẠI TRÍ ĐẠI BI không khác.
***
Vĩnh Hảo bàn giao lần lần trách nhiệm tại phòng mạch chùa Tịnh Độ cho các tu sĩ đảm nhận, hầu thường xuyên cư ngụ tại thảo am. Thảo am "Vĩnh Hảo", danh từ do các người đi rừng quen gọi, là nơi Vĩnh Hảo dùng làm chỗ chứa dược thảo, do chàng vào rừng mang về, xắt, sấy công phu để cung cấp cho chùa Tịnh Độ. Nơi đó, cũng là trạm dừng chân của những thợ rừng, đến xin thuốc trừ bách độc, ngừa trị rắn rít… Tàn đông năm AᴠHợi, trong khi Vĩnh Hảo đang chăm sóc cành sim rừng trên bàn thờ Phật, thình lình Đại sư Vĩnh Tướng xuất hiện. Vĩnh Hảo thầm phục sư huynh, võ công thăng tiến bội phần, khinh công đã tuyệt kỷ nên bước khoan thai trên sàn nhà ọp ẹp vẫn không gây tiếng động. Vĩnh Hảo mừng rỡ đón chào nhưng chưa kịp nói gì, thì Vĩnh Tướng đã lên tiếng:
Ngừng một chút, chưa thấy Vĩnh Tướng lên tiếng, Vĩnh Hảo thưa hỏi:
Ngươi chỉ cần uống viên "Tử hoàn đan" nầy là xong, hậu sự đã có ta, thay ngươi lo mọi việc.
Nguyên Vĩnh Tướng tằng tịu với Bội Ngọc lở mang thai bèn tìm cớ "ẩn tu" để trốn tránh trách nhiệm. Trước khi đi, còn xúi tình nhân đổ vạ cho Vĩnh Hảo, đồng thời cũng gợi chuyện đàm luân Luận Bảo Vương Tam Muội hầu khuyến khích Vĩnh Hảo nhận chịu oan ức. Vĩnh Hảo bị đuổi đi. Vĩnh Tướng được gọi về trụ trì. Sư phụ vừa vân du, thì Vĩnh Tướng liền tìm cách đuổi hai sư đệ Vĩnh Quang, Vĩnh Minh để có thể tổ chức tu vịên theo ý hướng của mình. Nhờ khéo léo, biết phô trương đạo đức, tu "ồn ào hình thức" phù hợp với đám đông, lại biết dùng quyền thuật làm phương tiện cổ động, nên sớm thành công. Danh vị cao, tiền bạc lắm, đại sư rỗi rãnh đâm ra chạnh nhớ người tình xưa. Gặp lúc Bội Ngọc cắn đắng chồng về tiền bạc, nên có cớ để tâm đầu ý hiệp lén lút đi lại với nhau. Con chết, vừa nghi Vĩnh Hảo xấu bụng không tận tình chạy chữa, vừa cũng muốn được tự do ngoại tình, nên theo chỉ dẫn của Bội Ngọc, Vĩnh Tướng đã xử dụng khinh công tuyệt đỉnh của mình để vào dinh tri huyện trôm báu vật vu cho Vĩnh Hảo. Danh tiếng của Vĩnh Tướng vang dội đến kinh sư, Vĩnh Tướng được triệu thỉnh để tấn phong Quốc sư nước Việt. Tuyệt đỉnh danh vọng khiến đại sư vô cùng sung sướng. Nhưng vốn tính cẩn thận, đại sư lo nghĩ đến thanh danh của vị đại quốc sư, nên đành giết Bội Ngọc để diệt khẩu. Vĩnh Hảo vốn tu hạnh nhẫn nhục, không lưu tâm đến lỗi người khác, nên không dám nghĩ đến nguyên nhân hậu quả của việc gì. Nhưng khi Vĩnh Tướng báo tin được làm quốc sư, thì tất cả các sự kiện trên bỗng hiện rõ ràng trước mắt.
Dù biết rõ hành động của Vĩnh Tướng, lòng tôn kính của chàng đối với đại sư vẫn không suy giảm. Chàng thầm nghĩ, Vĩnh Tướng đối với chàng cũng ví như một viên "THUỐC ĐẮNG", như một vị bồ tát hành động trái nghịch để tạo nghịch cảnh cho chàng tu hành. Viên thuốc đắng đó đã giúp chàng trị được các bệnh nan y: ngã chấp, ái dục… và cũng đã mở cửa ngõ cho chàng lập hạnh. Công đức của đại sư Vĩnh Tướng đối với chàng thật vô biên. Vĩnh Hảo trang trọng quì lạy Vĩnh Tướng để cảm tạ.
Thấy không có gì để nói. Vĩnh Hảo uống viên thuốc độc, rồi chấp tay ngồi kiết già, niệm Phật. Chờ một lúc cho Vĩnh Hảo thấm thuốc. Vĩnh Tướng an lòng rời bước. Bỗng nhiên có tiếng đại sư la lớn: "Rắn! Trời ơi! Rắn! Vĩnh Hảo hiền đệ cứu ta với!". Tiếng la nhỏ dần rồi ngưng bặt. Hạnh nguyên cứu người vẫn theo đuổi Vĩnh Hảo đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời. Dù tâm tri vẫn tỉnh táo, xác thân đã ngấm thuốc tê cứng. Vĩnh Hảo không đi được, chỉ có thể lết lần đến cầu thang, rồi té lăn càn xuống đất. Cố gắng lết lần đến bên Vĩnh Tướng, nhìn vết máu bầm sùi bọt dưới chân đại sư, Vĩnh Hảo biết người bị rắn mai gầm cực độc mổ. Không còn thuốc rắn nữa, không có phương pháp nào điều trị khác hơn, Vĩnh Hảo tức khắc dùng miệng nút vết thương gớm ghiếc. Nghĩ đến tánh mạng của Vĩnh Tướng đang nguy ngập. Vĩnh Hảo không phí phạm thời giờ quí giá nên phải nuốt chửng ngụm máu tanh hôi, để có thể nút nộc rắn tàn phá tạng phủ, nên Vĩnh Hảo kiệt sức dần. Mỗi lần nút máu, chàng phải vận dụng toàn lực còn lại, làm chấn động cơ thể, cảm giác như trăm ngàn mũi dao nhọn thi nhau đâm xé ruộc gan. May mắn máu lần lần tươi rồi đỏ, rồi hết bầm hẳn. Vĩnh Hảo vui mừng gục đầu bất động. Hai người đệ tử của Vĩnh Tướng, được lịnh chờ đợi gần đó, nghe tiếng kêu la cầu cứu của thầy, vội chạy đến. Thấy thầy nằm bất tỉnh bên cạnh một tên "ăm mày rách rưới", họ vội ôm xác thầy đem về tìm phương cứu chữa. Vĩnh Hảo tay chân cúng đờ, nhưng thần trí vẫn tươi tỉnh. Chàng mỉm cười, nghĩ đến thân xác của mình, sẽ là một THANG THUỐC CUỐI CÙNG, một món thuốc trị đói, cúng dường cho muôn thú. Thế rồi đại sư từ trần, mà hạnh nguyện "Dược Vương" bao la của NGÀI muôn đời như vẫn từ bi tỏa rộng. Đúng theo bản nguyện của đại sĩ, xác thân Ngài được muôn thú xâu xé, các loại côn trùng đục khoét phần thịt gân nhỏ nhít dính xương, rồi đến các loại vi trùng cực nhỏ cũng dự phần rút rỉa tủy óc còn sót lại. Chiếc đầu lâu rơi tòm xuống nước, trong hóc hẻm sâu hoắm, cũng là nơi nương tựa một thời gian cho vài con cá nhỏ. Xương trắng sau cùng rồi cũng thành cát bụi, nhưng hạnh nguyện của người vẫn nguyên vẹn không phai.
***
Vĩnh Tướng được đệ tử cõng về Qui Nhơn thang thuốc. Dù được Vĩnh Hảo nút vết thương, song một ít nọc độc vẫn len lỏi vào tạng phủ, khiến đại sư bị bán thân bất toại, thần trí nửa tỉnh nửa mê, rên la từng cơn. Bệnh trạng lạ lùng, nên tất cả lương y đều thúc thủ. Sau cùng, các đệ tử nghe tiếng đồn về vị thần y ngụ tại Vĩnh Hảo am bên giòng suối Rắn, vội vã đưa thầy đến điều trị. Đến nơi, Vĩnh Hảo am đã hoang vắng tiêu điều. Đang lúc tuyệt vọng, đại sư lại rên rĩ kêu gào khát nước. Đệ tử cho người uống nước suối, không ngờ cơn đau giảm dân, thần trí tươi tỉnh, dù bệnh bán thân bất toại không thuyên giảm. Nước suối biến thành thần dược, được đại sư luôn giữ bên mình, để sẵn sàng chận đứng những cơn đau nhức điên cuồng đột ngột xuất hiện. Người dân bắt chước đại sư Vĩnh Tướng, khi có bệnh cũng tìm đến Vĩnh Hảo am, uống ngụm nước suối để được lành bệnh. Suối Rắn, từ đó được người dân quen gọi là Suối VĨNH HẢO (5), muôn đời chuyên chở hạnh nguyện "Dược Vương" của vị đại sĩ, xả thân mình để trị bệnh cho chúng sanh.
Tháng 5. 1988
Cước chú: 1/ Năm hạ về trước tinh chuyên giới luật, năm hạ về sau tuỳ nghi xin học tham thiền. 2/ Cụ túc giới: Tỳ kheo giới. 3/ Mười điều tâm niệm của Luận Bảo Vương Tam Muội: Điều 10: Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân quả chưa xả. Bởi vậy Đức Phật dạy: -Lấy oan ức làm cửa ngõ của đạo hạnh. 4/ Bố thí ba la mật được phân ra tài thí, pháp thí và vô úy thí (bố thí cái không sợ). Tác giả dùng chữ tài dược, pháp dược và vô uý dược, thật ra cũng chỉ nhắm ý nghĩa bố thí tài, pháp và vô úy. 5/ Suối VĨNH HẢO toạ lạc tại Phan Thiết, đã được Viện Pasteur phân chất công nhận nước suối thiên nhiên trong sạch có nhiều khoáng chất có giá trị y học. Một công ty hợp doanh đã khai thác nước suối để bán cho bệnh nhân sử dụng.
---o0o--- Mục Lục Tuyển tập Truyện Ngắn Phật Giáo
---o0o--- |
Biên tập nội
dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang
Nhà qua địa chỉ: quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.
3060. Tel: 61. 03. 9357 3544