Con Đường Vô Tận
Chiếc
tàu đò Cao Lãnh Sa Đéc Đại Tân hụ mấy đợt còi thúc giục hành khách inh ỏi,
nhưng vẫn im lìm nằm vạ tại bến tàu, không có vẻ gì sắp di chuyển cả. Hành
khách đã quen thuộc với sinh hoạt nầy nên một số đông vẫn tà tà trên bến
thoải mái truyện trò. Sinh hoạt trên tàu rộn rịp như cảnh chợ đông. Hàng
hóa từng bao chỉ xanh tới tấp khuân lên tàu, chất tràn cả lối đi. Hành
khách lên xuống tới lui, ơi ới chỉ điểm nhau chọn một chỗ tốt cho cuộc
hành trình. Mấy em bé bán hàng rong len lỏi khắp nơi tha thiết rao hàng
mời mọc:
‘Nước mía!
nước chanh đá đây!’
Thử tô bánh
canh giò heo chị?’
‘Cậu ăn dĩa cơm tấm bì cho chắc
bụng! còn kịp giờ cháng mà...’
Không lạ gì cảnh nầy, Đinh Hữu
Thuật đứng dựa vào boong tàu lơ đãng nhìn cụm mây trắng xa xưa, cố che dấu
niềm riêng đang ngổn ngang trong dạ. Chàng vô tình đưa mắt về nhìn hai đứa
bé, đang đứng co ro một góc tàu, dáo dác nhìn lên bờ sục tìm cha mẹ. Chúng
đã được cha mẹ dẫn đến bắt ngồi chờ để ‘xí phần’ trước chỗ ngồi, rồi họ
lại quày quã trở lên bờ giải quyết chuyện gì khá lâu mà sao vẫn còn biệt
dạng. Tàu lại hụ lên ba hồi còi liên tục, lần nầy tiếng còi có mòi dồn dập
quyết liệt; thế rồi dây thừng cột tàu được tháo ra, và tàu từ từ xê dịch.
Đám hành khách đang tụm năm tụm ba quyến luyến níu kéo nhau trên bến mới
vội vã trổ tài khinh công ào ào phóng xuống tàu. Tới phút nầy vẫn chưa
thấy cha mẹ xuất hiện, hai đứa bé lo sợ cuống cuồng, đứa bé gái mếu máo
cái miệng ‘méo xẹo’ trông dễ thương vô cùng. Thuật chợt liên tưởng đến câu
hát ru em:
‘Tàu súp lê một
còn trông còn đợi!
Tàu súp lê hai
còn đợi còn chờ!
Tàu súp lê ba!
Tàu ra bể Bắc!
Tay vịn song sắt
mà nước mắt nhỏ hai hàng...’
Chàng tủm tỉm cười, thầm nghĩ:
‘Thì cũng có ba tiếng ‘súp lê’, tàu ra hướng Bắc và có hai hàng nước mắt,
dù là nước mắt trẻ con lạc mẹ.’ Nước mắt nào chẳng làm cho người ta mềm
lòng, Thuật chen vội đến bên em bé ‘xuýt xa’ dỗ dành:
-Không sao đâu cháu! Ba má cháu
không bị trễ tàu đâu! Cháu đừng lo!
Được an ủi, con bé chẳng những
không nín, mà lại còn ngoác mồm khóc thét, khiến Thuật bối rối chẳng biết
phải làm thế nào cho ổn. May mắn là chiếc tàu đang đũng đĩnh xoay đầu,
chưa cách bến bao xa, thì đã nghe tiếng kêu ơi ới, rồi có chiếc xuồng con
chèo thật nhanh đưa ra thêm mấy người hành khách chậm chạp nữa, trong số
này có cả cha mẹ hai đứa nhỏ. Con bé đang bù lu bù loa khóc, vừa thấy mẹ
mừng rú lên. Em lại được dúi cho chiếc bánh cam, nên tuy nước mắt chưa
khô, mà đã hí hửng cười tươi rồi. Đôi vợ chông lúng túng ngỏ lời cảm ơn
Thuật đã trông nom dùm hai đứa trẻ. Người đàn ông rất lịch thiệp, tự giới
thiệu tên và nghề nghiệp: thầy giáo Cư. Vợ chồng thầy phải gấp rút lên
đường về quê nhà tại Bến Tre, vì thân phụ thầy đang lâm bệnh trầm trọng.
Thuật cũng tự giới thiệu danh tánh và với giọng nữa đùa nữa thật chàng cho
biết từ ngày bỏ học về nhà ꮠbám’ cha mẹ, suốt ngày chàng chỉ biết ‘rong
chơi liêu lỏng’ với bè bạn mà thôi. Tuy Thuật dè dặt tránh tiết lộ thân
thế và tư tưởng thầm kín của mình và đẩy đưa câu chuyện xoay quanh toàn
những đề tài vô thưởng vô phạt, vậy mà, chỉ trong một khoảng thời gian
ngắn hai kẻ xa lạ đã đối đáp dòn tan. Bên cạnh đó, thím giáo vừa quạt vừa
dịu dàng cất tiếng ru con ngủ. Tiếng ru gợi cảm của thím nhỏ, nhưng trong
sáng rõ ràng, từng âm thanh ngọt ngào như rót vào tai mọi người:
‘Mười giờ! Ông
Chánh về Tây!
Cô ba ở lại lấy
thầy thông ngôn
Thông ngôn ký
lục bạc chục không màn
Lấy chồng thợ
bạc đeo vàng đỏ tay!’
Vần thơ trên tuy mô tả câu
chuyện tình thời sự bất bình thường, nhưng thật ra đã ngầm cười cợt đức
hạnh của đám người Việt chạy theo thực dân Pháp, vì vậy, chỉ một thời gian
ngắn sau khi xuất hiện, nó đã biến thành câu ca dao phổ biến trong dân
gian.
Lời ru vô tình gợi cho hai
người đàn ông một đề tài mới để bàn bạc. Thầy giáo Cư phê bình:
-Bọn ‘Me Tây, Bồi Tây’ dễ ghét
làm sao á!
Thuật thở dài đáp:
-Cái bọn ‘Bồi Tây, Me Tây’ bại
hoại nầy thì đâu còn gì để phê bình nữa. Chúng hãm hại đất nước, ức hiếp
dân lành còn hơn kẻ ngoại bang nữa kìa!
Chẳng biết có lưu tâm đến mẩu
đối thoại của hai người không, mà bổng nhiên lời ru của thím giáo lại trở
nên ngậm ngùi u oán:
𮮮ơ...!
Non nước ưu sầu
hệ bởi đâu?
Dàu dàu mây bạc
cõi Ngao Châu!...’
và
‘Thà đui mà giữ
đạo nhà...
Còn hơn có mắt
ông cha không thờ!...’
Thấy vẻ ngẩn ngơ của Thuật,
thầy giáo giải thích:
-Đây là những câu thơ của cụ đồ
Nguyễn Đình Chiểu! Dân Bến Tre chúng tôi, ai chẳng thuộc nằm lòng những
vần thơ nước thương nòi của cụ!
Thím giáo lại tiếp tục ru con:
ở...!
Chừng nào con
xán bung vành!
Tàu binh liệt
máy, thì anh mới về!’
-Câu hát trữ tình nầy rất phổ
biến tại Cao Lãnh, xuất xứ thế nào tôi chưa tìm hiểu ra, nhưng tôi thấy có
gì trật trật hay là lạ sao đó! Anh nghĩ coi chiếc tàu, chiếc xán là sản
phẩm ngoại lai, đâu có gần gũi thơ mộng với dân quê như chiếc xuồng, chiếc
ghe, vậy mà không hiểu tại sao tác giả lại mượn hình ảnh nầy để gởi gấm
tình cảm của mình? thầy giáo Cư lại lên tiếng.
Thuật góp ý:
-Câu ca dao nầy có lẽ phát khởi
từ nhóm nghĩa quân Thiên Hộ Dương ngày trước. Thuở đó, bọn Pháp xâm lăng
miền Tây đã dựa vào những chiếc tàu tối tân chở binh sĩ đi khắp nơi tấn
công nghĩa quân quê nước. Địa phương nào không có đường sông thuận tiện,
như vùng Đồng Tháp Mười, chúng phải đào kinh ngang dọc làm đường vận
chuyển quân. Thời đó, chiếc xán như con quái vật khổng lồ lạnh lùng nuốt
trửng ruộng đồng, nhà cửa dân lành. Nó cũng khủng khiếp như đoàn quân viễn
chinh độc ác giết người cướp của, cưỡng hiếp phụ nữ kể cả người già và trẻ
con. Chính vì vậy, mà người nghĩa quân năm xưa đã xử dụng hình ảnh phá hủy
tàu binh và xán đào kinh để nói lên chí nguyện đuổi quân xâm lăng của
mình. Chừng nào hết kẻ xâm lăng thì người nghĩa quân mới có quyền nghĩ đến
tình riêng.
-Ôi! Câu hát mộc mạc vụng về mà
chan chứa tình nước tình nhà cao ngất! Hào khí của người xưa quả đáng cho
chúng ta khâm phục!
Nhờ mấy câu hát ru con yêu
nước, Thuật hiểu rõ lòng dạ của vợ chồng thầy Cư, chàng tin tưởng ngay
người bạn mới và thổ lộ hết những bí mật của đời chàng. Thuật đã dấn thân
đời mình cho sự nghiệp cách mạng giành độc lập, nhóm chiến hữu của chàng
đã lập ra tổ chức ‘Đông Kinh Nghĩa Thục miền Nam’, với hoài bão vận động
đưa những thanh niên nhiệt huyết sang Trung Hoa và Nhật học hỏi, chờ ngày
thành tài về nước thành lập lực lượng võ trang đánh đuổi bọn xâm lăng. Lúc
bấy giờ, trận thế chiến thứ nhất vừa bùng nổ bên trời Âu, chánh quyền Pháp
tăng cường kiểm soát an ninh, tung mật thám khắp nơi mưu đồ phá vỡ các
đoàn thể cách mạng, do đó, con đường vượt biên xuyên qua vùng Thượng du
Bắt Việt trở nên nguy hiểm, nhất là đối với người miền Nam không hiểu rỏ
sinh hoạt miền Thượng du, và có giọng nói khác biệt. Thuật có vốn liếng
Hán học, lại có thể đàm thoại sơ sài tiếng Quảng Đông, nên được anh em tin
tưởng ủy thác tìm con đường vượt biên mới qua ngả Miên Lào. Do đó hôm nay
chàng về xã Mỹ Xương thăm nhà lần cuối cùng trước khi lên đường... Thế
rồi, Thuật bổng bùi ngùi run giọng: ‘Ngày mai nếu ‘nhà tôi’ hỏi tôi chừng
nào tôi trở lại, chẳng biết tôi có đủ can đảm nhắc lại câu hát của người
xưa: ‘Chừng nào con xán bung vành. Tàu binh liệt máy thì anh mới về...’
hay không?’
Tàu dừng bến xã nhà, Thuật bận
bịu từ giã bạn mới nên vẫn còn chần chờ trên tàu. Bỗng Thuật nhìn lên bờ,
chàng tái mặt khi thấy cai tổng Ninh, tên tai sai đắc lực của thực dân
Pháp, đang chỉ chỏ ba loa với mấy tên ‘phèn’ mật thám Sa Đéc. Bọn họ chăm
chú nhìn kỹ từng người xuống tàu như đang lục tìm ai.
Thầy giáo Cư tin ý lên tiếng:
-Có gì lạ phải không anh?
-Nguy hiểm quá! Bọn ‘phèn’ Sa
Đéc đang bủa lưới chận bắt người! Có thể hành tung của tôi đã bị lộ, nên
bọn chúng đã rình rập tôi ở chỗ nầy!.
Sau mấy giây phút bối rối, thầy
giáo Cư bình tĩnh bảo Thuật nằm cạnh thím giáo, ôm đứa cháu trai trong
lòng giả vờ ngủ, rồi thầy giáo ra đứng bên hông tàu, thơ thẩn nhìn mây bay
như người vô sự. Thím giáo hội ý chồng, lấy nón lá che mặt cho Thuật, phe
phẩy quạt, đu đưa chiếc võng, rồi liên tục cất tiếng ru con ngọt ngào...
Bọn mật thám lên tàu lục soát, không chú ý gì đến cảnh gia đình đầm ấm
nầy, nên Thuật thoát nạn.
Thuật tránh liên lạc với bạn
hữu vì sợ bị theo dõi mà gây nguy hại cho tổ chức. Ngày hôm sau, Thuật đón
xe đò đi Châu Đốc, và nhờ mang sẵn giấy căn cước ‘thuộc dân’, chàng vượt
biên giới hợp pháp đến Nam Vang, rồi đi lên tỉnh Battambang, Ai Lao, tạm
ẩn thân tại đồn điền An Phong, của vợ chồng cô em thứ năm nhủ danh Đinh
Thị Xuyến. Chủ nhân thường xuyên sinh sống tại quê nhà, giao cơ sở cho
người chú họ tên tư Hanh toàn quyền điều khiển. Viên quản lý đang sống
phiêu lưu với năm bảy nàng hầu, cảm tưởng bất thần bị anh bà chủ thanh
sát, nên phục vụ Thuật vô cùng chu đáo, từ việc ăn ở cho đến việc di
chuyển khắp nước Lào. Nhờ vậy chỉ mấy tháng sau, Thuật đã móc nối liên lạc
lại với tổ chức, đồng thời, cũng tìm được địa phương thông thạo, dẫn đường
vượt biên giới đến Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Rủi ro bất ngờ, là
chiến hữu Triệu Thúc Ba, phụ trách cơ sở cho tổ chức tại địa phương nầy bị
bạo bệnh qua đời ba ngày trước khi Thuật có cơ hội gặp mặt. Mất đường giây
liên lạc, Thuật bơ vơ xứ lạ quê người chẳng biết xoay sở ra sao. Tình cảnh
của những người Việt làm cách mạng tạm trú của miền Nam Trung Quốc lúc bấy
giờ rất khó khăn. Tướng Đường Kế Nghiêu, đô đốc Vân Nam, chủ trương hợp
tác với chánh quyền Pháp tại Đông Dương, vừa ra lệnh lực lượng an ninh
lùng bắt tất cả Việt Kiều lưu vong sống bất hợp pháp để giao nạp cho Hà
Nội. Tiếp tục chuyến đi trong thời điểm này rất nguy hiểm, mà trở về Ai
Lao bằng con đường cũ cũng là chuyện nan giải, vì các trục giao thông
chính yếu đều bị nút chặng an ninh kiểm soát chặt chẽ. Do đó, Thuật băng
rừng lội suối, hoặc chọn những con lộ hoang vắng kiểm soát lỏng lẻo mà đi.
Vì không có lộ trình nhất định, vô tình Thuật đi lạc sang địa phận huyện
Tân Châu, phủ Đại Lý. Thuật nảy ý vượt biên giới theo ngả Tân Châu sang
Miến Điện, rồi từ đó trở về Lào. Lộ trình nầy tuy quanh co khúc khuỷu
nhưng rất an toàn. Chỉ mấy ngày lang thang sông bờ lướt bụi, ăn uống thất
thường, chàng bệ rạc thất thểu như một kẻ ăn mày. ‘Lộng giả thành chân’,
Thuật cũng mon men theo hành khất chánh hiệu, lỳ mặt kiếm chút cơm thừa,
tuy bị đuổi xô vẫn đỡ hơn vào tiệm ăn uống, nói năng không thành thuộc dễ
bị lộ chân tướng. Trên con đường đất đá Ngõa thôn thuộc địa phận huyện Tân
Châu, Thuật lõm bõm nghe một khách thương kể hành trạng của một vị sư già
khổ hạnh, câm và điếc không danh tính nhưng được dân địa phương tôn kính
gọi là ‘Lung Á đầu đà’. Vị sư già nầy từ phương xa lưu lạc đến đây lâu lắm
rồi, ngày ngày cứ vác cuốc, vác búa... đi đập đá, sửa đường, đắp lộ. Con
đường nầy thuở trước trắc trở gập ghềnh, đi lại cực kỳ khó khăn, nhờ sư
khổ công bồi đắp mà việc đi lại mới dễ dàng. Tuy nhiên đoạn đường thì dài
mà chỉ một mình sư âm thầm sửa chữa, nên chỉ, chỗ nầy vừa bằng phẳng thì
chỗ khác đã lồi lõm hư hoại; sư phải dời chỗ tạm trú liên tục, từ khúc lộ
nầy đến khúc lộ kia, bền bĩ làm việc không ngừng năm này sang năm khác, mà
con đường dường như dài vô tận, chẳng có triển vọng chấm dứt công tác. Làm
lụng cực khổ suốt ngày, vậy mà nhà sư câm điếc luôn luôn tươi mát, gặp bất
cứ ngườI nào, dù là đứa trẻ con, sư đều chấp tay trang trọng vái chào kèm
theo một nụ cười hiền hậu. Cảm ân đức của sư, khách bộ hành có người xin
cúng dường sư trọng hậu, nhưng sư chỉ nhận chút ít thực phẩm độ thân mà
thôi. Ai kính mến sư, phát tâm theo sư đắp lộ đường đôi ngày, sư cũng hoan
hỷ. Động tính hiếu kỳ Thuật ước mong được gặp nhân vật lạ kỳ nầy. Thật ra
ngoài chuyện hiếu kỳ, Thuật còn có hậu ý riêng. Chàng nghĩ khi gặp lão tu
sĩ nầy, nếu nhận xét ông ta không nguy hiểm, thì chàng có thể ‘giả dạng’
làm một phật tử thuần thành phát tâm theo sư làm công quả cũng được. Đâu
ai để ý gì đến thằng sữa đường đắp lộ, chàng cứ nương náu với sư một thời
gian, chờ tình hình lắng dịu rồi tính. Giải pháp nầychắc chắn sẽ đỡ nguy
hiểm và khổ cực hơn cảnh chàng phải trốn chui trốn nhũi, đói rách và đi
lang thang vô định như mấy ngày qua. Vả chăng gần gủi với mấy người câm
điếc là chuyện lý tưởng, Thuật sẽ không bị tra hỏi gốc tích, và khỏi phải
ấm ớ nói năng ngọng nghịu mà lộ chân tướng người Việt của mình. Điểm rắc
rối là không biết nhà sư câm điếc đang ‘hành nghề’ ở khúc lộ nào để đi
tìm, chàng muốn dọ hỏi nhưng làm sao dám lên tiếng, còn kẻ bàng quan kháo
chuyện với nhau cho vui, chớ đâu bày chỉ cặn kẽ ngọn ngành. Thuật đành phó
thác theo số mạng, cứ âm thầm lầm lũi đi tới trước. Mãi đến khi trời đã về
chiều, chàng mới thấy xa xa dáng một người đang lui cui đắp đất vá một lỗ
hỏng giữa lộ. Đó là một lão già chừng sáu mươi tuổi, mặc chiếc áo bạc màu
rách nát, bê bết đất, nếu không nhờ cái đầu cạo trọc thì thật khó biết đó
là một tu sĩ. Đoan chắc đã tìm đúng người, Thuật tới gần, giỡ nón chào. Vị
sư già khoan thai từ tốn chấp tay xá đáp lễ và trao cho chàng một nụ cười
hoan hỉ cảm thông. Thuật lặng người rung động ràng rụa nước mắt. Chàng
đang lâm vào một hoàn cảnh bi đát, thấy ai cũng hốt hoảng nghi ngại, lòng
dạ rối như tơ vò vì chẳng biết nên làm gì, đi đâu thăm hỏi ai? Vậy mà vừa
đón nhận nụ cười của nhà sư, chàng liền cảm thấy an lành thư thái, giống
như tâm trạng một chú gà con bị điều hâu săn đuổi, bỗng tìm thấy được mẹ
hiền đang dang rộng đôi cánh thương yêu che chở. Sư vỗ nhẹ vai chàng ngầm
bảo chàng yên tâm, đoạn sư tiếp tục công việc dang dở. Nhờ biết rỏ sư bị
bệnh câm điếc nên Thuật không thắc mắc hỏi han câu nào, chàng trầm ngâm
quan sát lối làm việc của sư, và chờ đợi khi sư hoàn tất công việc đắp vá
con lộ, quảy cuốc, xách giỏ đi, thì Thuật cũng lẳng lặng theo sau không
‘khách sáo’ chút nào. Mãi đến khi trời sụp tối, lặn lội cả hai dặm đường
dài, ông lão mới đưa chàng tới nơi tạm trú, một cái chồi nhỏ xíu nằm ven
lộ. Sư lúi húi thổi lửa, luộc khoai, rồi giơ tay ra hiệu mời Thuật ăn.
Thuật đang đói bụng, ăn liên tục hai củ mới chợt nhớ đến sư. Chàng lúng
túng chấp tay mời sư. Sư lắc đầu, chỉ về hướng mặt trời lặn. Suy nghĩ một
lúc lâu, Thuật mới hiểu ý sư. Tuy làm việc nặng nhọc nhưng sư vẫn giữ giới
không ăn sau giờ ngọ. Thuật chẳng màu mè, khoan khoái vét sạch phần còn
lại. Sư ngắm nhìn chàng ăn, hỷ hả như bà mẹ hiền đang chăm sóc đứa con
‘cưng’, vui với niềm vui của con. Ăn xong, Thuật cũng muốn dọn dẹp nhưng
đang xớ rớ thì sư bảo chàng vào ổ rơm nằm ngủ. Thuật đã mệt đứ đừ, mắt ríu
lại mở không lên, nên cứ lăn càn ra đó, ngáy vang như sấm. Sáng sớm hôm
sau, vừa thức dậy chàng đã thấy sư lo lắng đâu vào đó sẵn rồi. Thế rồi hai
người ăn cơm, xới phần còn lại cho bữa ăn trưa, rồi quảy gánh lên đường.
Sau đó cả hai cùng ra tay xúc đất đá đắp đường, trọn ngày không ai nói với
ai một lời, nhưng mối liên hệ ngày càng mật thiết. Điểm lạ lùng là tuy
tuổi đã cao, phải lao động nặng nề, mà thái độ sư lúc nào cũng ung dung,
thong thả... trong khi Thuật phải vất vả, vận dụng toàn lực, mệt thở hổn
hển mà vẫn chưa theo kịp. Do đó, buổi chiều khi Thuật lê lết về được tới
lều, thì sức đã kiệt, đầu óc lờ đờ, chỉ đủ sức ráng ‘nhét’ tí thức ăn vào
bao tử, là lăng ra nằm ngủ, chẳng quan tâm bất cứ chuyện gì, kễ cả nổi
gian truân cơ cực hiện thời. Mấy tuần sau, khi thể xác đỡ bị bầm dập, đầu
óc minh mẫn thì Thuật lại dần dần khám phá được niềm thú vị trong nếp sống
‘phu lục lộ’ lao khổ nầy, nên cũng đỡ lo lắng cho thân phận hẩm hiu của
mình.
Thuở nhỏ, Thuật đã được mẹ đưa
đến chùa Bửu Lâm, Cái Bèo, quy y với hòa thượng Hải Huệ. Thỉnh thoảng
chàng vẫn đến chùa, nhưng tánh chàng hiếu động nên chỉ lễ Phật, chào thầy
rồi ‘chuồn’ mất, chàng rất ngại khi phải tiếp xúc với vị tu sĩ trầm lặng.
Lần nầy, Thuật bị đặt vào cái thế phải chung sống toàn thời gian với một
vị tu sĩ vừa già, lại vừa câm vừa điếc nữa..., nên ngoài nỗi khổ vì lao
động cực nhọc, chàng còn cảm thấy tù túng và chán nản tột cùng. Thế nhưng
sau thời gian đầu bực bội khó chịu, Thuật lần lần lắng lòng, trầm ngâm,
lặng lẽ quan sát và cuối cùng khám phá được rằng sau khi loại bỏ được mớ
âm thanh ồn ào, lột bỏ được cái lễ nghi hình tức giả dối bên ngoài thì
người ta mới sống thực với chính mình, mới cảm thông được với vạn vật mọi
loài một cách thiêng liêng và sâu sắc. Nhận thức trên là một chuỗi dài
chuyển biến nội tâm, nhưng thật ra, có lẽ đã bắt nguồn từ những hành động
‘lẩm cẩm vô tích sự’ của sư. Đang đi bổng nhiên sư dừng lại, cẩn thận dùng
chiếc lá nâng con sâu, con bọ... hay bứng một bụi cỏ dại ra khỏi mặt
đường. Sư làm việc đó chân thành như lễ nghi tôn giáo nên mất rất nhiều
thời giờ, khiến cho kẻ chờ đợi bực bội không ít. Sư cũng đã từng bỏ cả
ngày để săn sóc cho một con mèo hoang bị trọng thương đang thoi thóp chờ
chết, rồi hì hục đào mộ chôn nó, chu đáo như lo lắng cho một thân nhân. Sư
cũng có thể sớt phần cơm cho con chó đói hay bớt phần nước uống, rưới cho
bụi cỏ khô cằn. Điểm đặc biệt là bụi cỏ dại may mắn đó hôm sau trổ được
đóa hoa tí hon xinh xắn, khoe khoang màu sắc, mũm mĩm đón chào sư. Sư ân
cần cúi xuống vuốt ve, trang trọng chiêm ngưỡng rồi gật gù tán thưởng. Đóa
hoa chợt rung động, đong đưa theo gió nhảy nhót vui mừng. Chuyện khó tin,
nhưng đối với Thuật, đó là sự thật: Họ - sư và bụi cỏ - đang trầm lặng đối
thoại hào hứng với nhau. Thuật khám phá rằng trong con người chân chất của
sư tiềm tàng một khả năng siêu việt có thể cảm ứng với muôn loài, tình
thương bao la của sư chan hòa cả cỏ cây cát đá, nên bụi cỏ cũng quyến
luyến, thân thuộc với sư. Cảm nhận được điều đó, Thuật không còn xem nhẹ
những chuyện ‘lẩm cẩm’ của sư nữa. Chàng yên lặng quan sát thật kỹ, tìm
hiểu thật sâu, để rút tỉa những bài thuyết pháp không lời tỏa ra từ hành
vi cử chỉ của sư. Làm việc hay nghỉ ngơi, cuốc đất hay ngắm trăng, lúc nào
sư cũng an lạc, sư tận hưởng sự sống từng giây phút hiện tiền không để rơi
rớt phí phạm. Sư thông thả đi đứng, thở, cuốc đất, đập đá, rải đất đá đắp
đường... rất bình thường, nhưng trong mỗi cử chỉ đều biểu lộ cho một hành
động tràn đầy ý thức, và vì vậy, nên rất sống động và tự tại.
Gần gũi với bậc chân tu thanh
thoát, Thuật cũng hưởng lây được niềm hạnh phúc. Càng nếm được hương vị
đó, Thuật càng tha thiết mong ham học Phật pháp với sư, nhưng ước mơ nầy
khó thực hiện đối với vị thầy câm điếc. Thuật đành quan sát sư, tự tìm
hiểu và vạch cho mình một phương pháp tu và sống lành mạnh. Bước đầu,
Thuật tập theo dõi từng hành động, từng suy tư của mình. Chàng chiêm
nghiệm được rằng khi đã dần dần tự kiểm soát được thân tâm, mình mới có
thể ‘tự làm chủ’ lấy mình, không còn bị giặc tham sân si hoành hành khuấy
phá nữa, vì vậy, bản thân sẽ thư thái nhẹ nhàng hơn. Từ đó, dẫu phải làm
việc nặng nhọc, Thuật vẫn cảm thấy an vui như khi ngắm nhìn trời mây hay
thưởng thức cỏ nội hoa ngàn. Giờ đây, chàng ý thức rất rõ, là thời gian
làm việc chính là thời gian thụ hưởng giây phút hiện tại nhiệm mầu, nhờ
vậy, chàng không còn nóng nảy mong làm cho chóng xong, để rồi rơi vào
trạng thái bồn chồn, sầu lo, thương ghét, giận hờn...
Lụi hụi mà Thuật đã nương náu
vớI nhà sư câm điếc tròn mười tháng. Thuật vui vẻ theo sư di chuyển dài
dài trên con đường đất đá gần trăm dặm để sửa chữa, chẳng chút bận tâm đến
thân phận trốn tránh bi đát của mình. Một hôm có đoàn khách thương dừng
bước ngay chỗ chàng sửa đường, họ cúng dường cho sư chút thực phẩm, rồi có
lẽ thấy không cần dè dặt gì đối với thầy trò kẻ mang bệnh câm điếc, họ bô
bô bàn bạc những tin tức chính trị nóng hổi đương thời. Các vị tướng lãnh
quân đội tỉnh Vân Nam chia thành hai phe kình chống nhau để tranh đoạt
chức đô đốc. Hai bên đã dàn quân đối đầu nhau, giao tranh lớn chắc chắn sẽ
xảy ra. Phe của tướng Cố Phẩm Trân có phần hùng hậu hơn phe của tướng
Đường Kế Nghiêu, vị đô đốc đương thời. Giới lãnh đạo kình chống nhau,
không ai bận tâm điều hành guồng máy hành chánh kinh tế trong tỉnh. Các
viên chức nhỏ bất động không dám giải quyết điều gì vì sợ lãnh trách
nhiệm, thành thử luật lệ nội an lỏng lẻo, giới kinh doanh mặc sức làm ăn
phi pháp để làm giàu nhanh chóng.
‘Trong tình trạng nầy, có lẽ,
lệnh ruồng bắt những người Việt lưu vong không còn hiệu lực nữa. Mình có
thể tái hoạt động rồi đây!’, Thuật thầm nghĩ rồi bồn chồn chẳng yên. Bấy
lâu sống êm đềm với nhà sư câm điếc, Thuật tưởng mình đã quên lãng ‘trần
gian khổ lụy’, nào ngờ vừa nghe tin nầy, thì hào khí người trai trỗi dậy,
chàng hăm hở mong sớm lên đường để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của mình.
Thế nhưng, nghĩ đến việc xa rời vị thầy tôn kính. Thuật cảm thấy bùi ngùi
chẳng yên.
Sau một đêm trằn trọc, chờ đến
sáng khi đến lúc sắp lên đường, Thuật lại thầy từ tạ, rồi cảm động rưng
rưng nước mắt lên tiếng:
-Con phải lên đường thầy ạ! Con
muốn sống mãi nơi nầy với thầy, nhưng con không thể bỏ rơi quê hương và
phụ lòng tin tưởng của bè bạn con được!--chàng nói tiếng Việt, vì nghĩ
thầy điếc thì nói tiếng nào cũng vậy thôi, thầy đoán mò được điều gì cũng
tốt!
-Ơ! đương nhiên thì con phải ra
đi! Nhưng nếu con náng ở lại thêm một thời gian ngắn nữa thì tốt lắm!
Thuật sửng sốt, dáo dác nhìn
sư. Chàng lắc đầu không tin tưởng lỗ tai mình. Chàng thầm nghĩ: ‘Lạ quá!
Sư? Sư câm mà sao bỗng nhiên nói được, mà nói bằng tiếng Việt mới dị kỳ
chớ? Sư là người cõi trần hay là từ cõi nào mà có thể hiển lộ thần thông
như vậy!’
-Con à! Thầy không câm và điếc,
và thầy cũng là người Việt như con vậy đó!
Thuật mừng rỡ hỏi lung tung:
-Thầy sang đây từ bao giờ? Cuộc
đời tu tập của thầy như thế nào? Mà sao thầy chọn công việc nầy ở đây?
-Ơ! Thầy vốn là tu sĩ chùa
Phước Hưng, Sa Đéc. Thầy rời nước năm hai mươi lăm tuổi, tính đến nay đã
tròn bốn mươi năm rồi! Cuộc đời tu tập, hạnh nguyện và nguyên nhân ‘câm
điếc’ của thầy dài dòng, nhưng thầy có ghi chép lại. Thầy sẽ trao cho con
để tìm hiểu sau này!
-Đúng là trời Phật đã dun rủi
cho con trên bước đường cùng, may mắn gặp được thầy!
-Dĩ nhiên như vậy rồi! Nếu
không có nhân duyên ngày trước thì làm gì có chuyện hội ngộ về sau! Lần
hội ngộ nầy tương đối đã hoàn mãn rồi. Do đó, thầy chỉ mong con lưu lại
chốn nầy chừng hai tháng nữa thì mọi sự sẽ hoàn mãn tốt đẹp. Thật ra, thật
ra thầy cũng có chút dự định phú thác cho con!
-Thầy dạy điều chi con cũng xin
tuân theo! Ơ! hai tháng thì ngắn ngủi quá! Con nghĩ con nên ở lại lâu hơn
để có thời giờ học đạo với thầy!
Thế rồi Thuật ở lại tiếp tục
theo thầy hành nghề phu lục lộ và học đạo. Chàng đã từng quy y vớI hòa
thượng Hải Huệ, nhưng lúc đó nhỏ dại chẳng hiểu biết gì, pháp danh chàng
cũng mù tịt nên thỉnh cầu được quy y lại. Thầy quở: ‘Nếu con chưa nắm vững
nghĩa lý thì thầy sẽ giải thích con hiểu Tam Quy và Ngũ Giới, con quên
pháp danh thì thầy đặt cho con pháp hiệu Thiện Duyên để nhân đó mà tinh
tiến tu tập, nhưng thầy không thể chấp nhận cho con quy y lại. Quy y lại
là hành động khinh thường vị thầy đầu tiên, một điều mà một người con Phật
ân nghĩa tình thâm không thể làm được, huống chi, ‘một chữ là thầy, nửa
chữ cũng là thầy’, khi lễ quy y đã tiến hành, dù con chưa tin hiểu đầy đủ,
nhưng nhân lành đã được gieo, quả lành theo đó mà trùng trùng duyên khởi,
phước báo mênh mang, thâm ân thầy xưa sao quên cho được!’
Thuật thỉnh cầu sư trao truyền
một pháp môn để tu tập thì sư đáp:
-Phật pháp mênh mông chẳng bến
bờ, mà thời giờ còn lại ngắn ngủi, vì vậy thầy đành bắt chước người nhắc
nhở con bằng bài kệ:
Chớ tạo các đều
ác
Vâng làm mọi
việc lành
Giữ tâm ý trong
sạch
Đây lời dạy chư
Phật.
Tích xưa kể rằng vào thời nhà
Đường có vị cao tăng nổi tiếng là đạo cao đức trọng thường ngồi tu trên
một nhánh cây nên được bá tánh tôn xưng là Điểu Sào hòa thượng. Vị thái
thú đương thời là Bạch Lạc Thiên, nghe danh tìm đến, thỉnh cầu sư giảng
dạy về đại ý Phật Pháp. Sư trả lời bằng bốn câu kệ ngắn ngọn nầy. Bạch
Thái Thú phản đối: ‘Tưởng sư dạy gì đặc biệt, chứ những điều nầy thì đứa
con nít lên ba tuổi cũng biết!’ Sư thản nhiên đáp: ‘Con nít ba tuổi tuy
nói được nhưng lão già tám mươi chưa chắc làm được!’ Phật pháp giản dị như
vậy đó con. Chỉ cần tránh điều ác, làm việc thiện là đủ, nhưng vấn đề là
phải tâm tâm niệm niệm hết lòng hết sức thực hành điều đó, thì tâm ý mới
giữ được thanh tịnh. Giới đã thanh tịnh thì định huệ sẽ phát sanh, con
đường giải thoát chẳng còn bao xa nữa.
Nếp sống phu lục lộ vẫn tiến
triển như thường lệ cho đến ngày thứ mười kể từ khi sư ‘khai khẩu’. Sáng
hôm đó, khi Thuật lui cui gom mớ đồ nghề chuẩn bị lên đường, sư bỗng ôn
tồn ngăn lại:
-Con mang theo chiếc rựa đủ
rồi. Từ bây giờ mình sẽ không còn gánh vác chuyện sửa đường lộ nữa, bởi
vì, hôm nay là ngày cuối cùng của thầy ở chốn nầy, thầy sắp đi xa rồi, con
ạ!
-Ủa! Thầy đổi ý không bảo trì
con lộ nầy nữa sao! Mà thầy định đi đâu vậy thầy?
-Chúng sanh vô tận thì hạnh
nguyện bồ tát cũng vô tận... Nhưng giờ đây sẽ đến lúc thầy vãng sanh về
cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, thầy sẽ tu tập ở cõi nầy cho
đến khi đạt đến trình độ bất thối chuyển, rồi mới trở lại cõi Ta Bà tiếp
tục con đường vô tận của mình.
Nghe tin thầy sẽ từ giã cõi
trần đột ngột, Thuật choáng váng tối tăm mặt mày. Chàng ước mong gần gũi
với thầy thêm một thời gian nữa, nhưng làm sao có thể mở lời ngăn cản thầy
vãng sinh cho được. Nước mắt tuôn tràn, Thuật lặng lẽ đi theo thầy như một
người máy. Sư đi vào rừng sâu, qua khỏi hồ sen nhỏ, đến khoảng đất cây cối
thưa thớt thì dừng lại bên một tảng đá bằng phẳng, rồi lên tiếng:
-Chỗ nầy yên tịnh hợp ý thầy
lắm! Con hãy ngồi kế bên đây, thầy có lời cuối cùng dặn dò con! Ơ hay! Tử
biệt sinh ly là chuyện thường tình, đâu có ai tránh được điều đó! Sao con
ơ hờ quên làm chủ lấy mình, để cho tâm ý bấn loạn theo nỗi buồn vui giả
dối như vậy?
Nghe thầy nhắc nhở, Thuật vội
thở mấy hơi thật sâu, theo dõi tâm miệm mình và dần dần khôi phục thái độ
điềm tĩnh thường nhựt. Sư lại lên tiếng:
-Thuở sơ tâm xuất gia, có lần
ta theo sư phụ làm lễ cầu an cho một gia đình ở xóm chài mũi Nai, Hà Tiên.
Ta xúc động chứng kiến vô số loài thủy tộc: cá tôm tép ruốc... bị bắt làm
khô làm mắm, nên nảy lòng phát nguyện tu hành để cứu độ loài thủy tộc nầy.
Vì vậy ta nhờ con thiêu xác thân ta, mang mớ tro tàn về nước để rải ở miền
biển đó. Ta muốn kết thêm duyên và giữ lời ước nguyện năm xưa thêm bền
chặt...
Sư trao cho chàng mấy tờ giấy
chi chít chữ, rồi ôn tồn tiếp lời:
-Đây là tự truyện của ta! Con
tùy nghi mà tìm hiểu, may ra giúp ích chút nào cho con trên bước đường tu
tập. Ta cũng nhân cơ hội nầy nhắc con một điều là pháp môn nào của đạo
Phật cũng quy vào việc tu dưỡng tâm, tức là chỉ nhầm chuyển sửa tâm tham
sân si thành tâm thanh tịnh. Căn bản của phép tu tâm là giới mà hơn một
lần thầy tóm gọn lại là ‘làm lành lánh dữ’. Hành giả càng tu, tâm càng
thanh tịnh, cái ngã tan biến dần, nên tự tại mà hòa hợp. Trái lại, dẫu đạt
đến trình độ giác ngộ như thế nào mà thiếu hòa hợp thì có lẽ tâm bị cái
ngã che lấp, đường lối tu âm thầm rẽ sang hướng khác mà hành giả không hay
biết. Để tránh lầm lạc đó, hành giả nên luôn luôn thận trọng và thành thật
quan sát từng động niệm của tâm, càng nhận thấy lỗi của mình thì đạo hạnh
càng có cơ phát triển.
-Khái quát thì như vậy, nhưng
phải có pháp môn thấp chớ thầy?
-Tâm bệnh chúng sanh muôn vàn
sai khác nên đức Phật cũng ‘tùy bệnh cho thuốc’ mà đưa ra những pháp môn
khác biệt. Pháp môn nào cũng phá xuất từ đức Phật và điều có hương vị giải
thoát, nên không thể phán quyết pháp môn nào cao hơn pháp môn nào. Do đó,
nếu quá khích tôn xưng pháp môn nầy, phỉ báng pháp môn khác là vô tình phỉ
báng Phật pháp. Vấn đè chính yếu của người hành giả là một khi đã chọn một
pháp môn phù hợp với căn cơ mình, thì cứ dứt khoát nhất trí tu tập, không
để bất cứ ai lung lạc thay đổi đường lối, thì mới mong đạt được kết quả
như ý.
-Tiếc quá! Giờ nầy mới hiểu đạo
lý thì đã muộn màng! Con đã nguyện dâng hiến đời cho dân tộc, thì đâu còn
cơ hội tu tập gì nữa!
-Con ạ! Hy sinh đời mình cho
dân tộc cũng là hạnh nguyện của bậc Bồ Tát. Con vẫn có thể làm cách mệnh
và tu tập được, nếu như con hằng quan sát thân tâm không để cho niệm tham
sân si sinh khởi là đủ.
Dứt lời, sư ngồi kiết già chấp
tay hướng về hướng tây liên tục niệm: ‘Nam Mô A DI Đà Phật’. Thuật ngần
ngừ, rồi cũng cất tiếng niệm theo thầy, quên cả giờ giấc. Vừa đúng ngọ,
ánh nắng gay gắt bỗng đổi thành dịu dàng, lung linh ngũ sắc, hương thơm
hoa sen thoang thoảng. Thế rồi trên không gian, bỗng có tiếng nhạc kỳ diệu
trỗi vang lừng, tràng phan bảo cái ẩn hiện trong mây. Từ đỉnh đầu của sư
bổng có làng hào quang xẹt thẳng lên trời. Sửng sốt ngắm nhìn hiện tượng
nhiệm mầu hiển hiện trước mắt mình, Thuật nảy lòng thành kính hướng lên hư
không đảnh lễ liên tục. Mãi cho đến khi nghe tiếng nhạc nhỏ dần rồi im
bặt, chàng mới sờ tay vào mũi sư để biết chắc rằng người đã thị tịch. Tuy
vậy, Thuật cẩn thận chờ thêm hai ngày nữa mới gom cây lá, lễ lại từ biệt
rồi mới châm lửa thiêu xác. Lửa tàn, chàng góp nhặt tro trắng và những
viên xá lợi tạm đựng trong chiếc bình bát, đặt trên tảng đá. Chàng lại tìm
được vài bụi Lan rừng trang trí chung quanh, như vậy, tạm coi như đã có
chỗ thờ kính trang nghiêm trong thời gian bốn mươi chín ngày mà chàng đã
quyết định lưu lại. Hàng ngày, đến giờ ngọ chàng kính cẩn quỳ và niệm
Phật, thời giờ còn lại, chàng nghiền ngẫm tự truyện của ân sư để học hỏi
đạo pháp qua hành trạng của người...
(đón đọc tiếp phần 2: tự tryện của Lung Á đầu đà)
Tháng 7/1997