Thành Toàn
Sinh
trưởng trong một gia đình trung nông tầm thường, đời đời lam lũ với rẫy
bái ruộng nương, Phan Thế Vinh vốn không có tham vọng tiến thân bằng
nghiệp văn chương khoa cử. Do hoàn cảnh côi cút, kế mẫu quá khắc khe, nên
để tránh chuyện gia đình lục đục khó xử, người cha mượn cớ học hành, để
tống con đến nhà người cậu họ tên Tú Kiết, để mà tị nạn. Tủi thân phận,
Thế Vinh tận tâm học hành. Nhờ chuyên cần, nhất là nhờ thông minh thiên
phú, Vinh tiến bộ vượt bực, nổi danh là bực văn tài xuất chúng. Tú Kiết
thương mến tài năng, đích thân đưa chàng đến gặp cụ Nghè Đỗ Bảng, để nhờ
cụ Nghè thâu nhận dạy dỗ, hầu tài năng của chàng phát có cơ hội phát triển
sâu rộng hơn. Cụ Đỗ Bảng nguyên là vị Hàng Lâm Đại-học-sĩ tại đất Thần
Kinh, công danh đang thời rực rỡ bỗng được tin hiền mẩu qua đời phải từ
quan để cư tang. Chẳng bao lâu, người vợ yêu lại bạo bịnh từ trần. Biến
cố dồn dập khiến cụ Nghè yếm thế, chẳng màng đến công danh sự nghiệp,
quyết tâm sống đạm bạc chốn quê mùa, lấy việc trao truyền chữ nghĩa thánh
hiền cho thế hệ mai hậu để làm niềm vui. Thế Vinh sớm được cụ Nghè coi
là bảo đồ, vì chàng ưu tú cả tài năng lẫn đức hạnh, nên có hoài vọng đào
tạo người học trò thành một nhân tài hiếm có cho đất nước. Đáp lại, Vinh
luôn luôn chứng tỏ là một người học trò xứng đáng, tôn kính và hiếu dưỡng
thầy như từ phụ. Cụ Nghè chỉ có một cô con gái tên Quyên Quyên. Ngày Thế
Vinh mới đến nhập học, Quyên Quyên còn bé bỏng cỡ tuổi 12, đối với bọn học
trò lớn, vẫn thường ngây thơ vòi vĩnh để được chiều chuộng đưa đi dạo
quanh vườn, rồi đòi hoa, đòi bướm. Vào học, Quyên Quyên cũng ngồi cạnh
Vinh, nên hai người đã có cảm tình sâu đậm, dù mức độ giao tiếp cứ giảm
dần khi Quyên Quyên đến tuổi dậy thì. Chỉ mấy năm sau, Quyên Quyên biến
thành một thiếu nữ yêu kiều, nết na thùy mị, công dung ngôn hạnh vẹn toàn.
Thế Vinh thầm yêu Quyên Quyên tự bao giờ, nên mỗi khi nghe phong thanh
có gia đình trâm anh thế phiệt nào nhờ mai mối xin cưới nàng, thì Vinh đau
khổ bỏ ăn, bỏ ngủ, ngớ ngẩn như kẻ điên khùng. Rồi cho đến khi được tin
cụ Nghè khước từ họ, thì chàng lại phơi phới hân hoan nghĩ rằng cụ Nghè đã
thầm dành Quyên Quyên cho chàng: cụ thương và hiểu rõ tài năng và tính
tình trò. Thế là Vinh chỉ cần cố gắng học, chờ ngày đoạt bảng vàng rồi sẽ
vầy duyên cùng người đẹp.
Chễm chệ trên kiệu tân khoa
vinh quy bái tổ, Phan Thế Vinh rộn ràng vẽ vời mộng đẹp. Có tiếng hò lơ
ấm áp của ai trên cánh đồng ruộng lúa:
Hò.... ơ! Chim
Quyên ăn trái nhãn lồng
Hò.... ơ! Thia
lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.
Làm Thế Vinh càng mơ về Quyên
Quyên. Chàng thì thầm một mình: "Quyên ơi! Mình chưa là vợ chồng, mà sao
anh nhớ nhung tha thiết mùi con gái đang xuân, mùi trinh nữ ngọt ngào của
em quá đi!"
Vừa đến ranh giới làng Chú
Tượng, huyện Mộ Đức, Thế Vinh ra lệnh cho phu kiệu dừng lại. Chàng trút
bỏ bộ phẩm phục, thay bộ quần áo thô thư sinh tầm thường cũ kỹ, một mình
đi bộ đến nhà thầy. Thế Vinh muốn về nhà thầy với tư cách là một người
học trò hiếu kính, chớ không xênh xang áo mũ tân khoa, giảm đức độ khiêm
cung của kẻ sĩ.
Dù nóng lòng gặp thầy và Quyên
Quyên, Thế Vinh cũng đành phải ghé lại căn nhà ngoài, gian nhà dành cho
các người học trò xa nhà ở trọ, để thăm hỏi các bạn học hỏng thi. Gian
nhà trống trải làm Vinh ngạc nhiên tột độ. Thông thường, ngay cả Tết
Nguyên Đán, học trò vẫn luân phiên cử người trực tại trường để chăm sóc
thầy. Vinh cuống quít bước về gian nhà chính. Ngôi nhà cũng vắng tanh.
Vinh hồi hộp chạy vòng ra sau nhà bếp. Chàng mừng rú lên khi đi tìm thấy
dì Tư đang lúi cúi chăm sóc mấy nọc trầu. Tìm hiểu nguyên nhân về sự vắng
mặt của thầy, Vinh rụng rời vỡ mộng. Cụ Nghè Đỗ Bảng và Quyên Quyên đồng
xuất gia tại chùa Thiên Ấn. Cụ Nghè đã phát nguyện xuất gia từ lâu, nhưng
lần lựa chờ ngày cô con gái thành gia thất. Không ngờ Quyên Quyên thường
theo cha lễ Phật nên cũng tiêm nhiễm hương vị giải thoát, và cương quyết
chọn con đường tu hành. Mọi việc đều được chuẩn bị sẵn sàng cả năm rồi,
nhưng cụ Nghè nghĩ thương đám học trò, nên tạm hoãn chờ ngày học trò lên
đường đi thi mới lên chùa thế phát.
Thế Vinh lừng khừng trở ra,
lòng rối ren áo não. Trước sân, hoa phượng vĩ vẫn rực rỡ như ngày nào, mà
giờ đây, nàng đã không còn nữa? Bất chợt, Thế Vinh cảm thấy lân mẫn với
nhà thơ Thôi Hộ đời Đường. Chàng ngâm nga bài thơ ứng khẩu theo thi tứ
người xưa:
Ngày xưa cũng ở
chốn này,
Em cùng hoa
phượng, hây hây má hồng.
Bây giờ em ở cửa
"không",
Nhìn hoa cợt
gió, chạnh lòng nhớ thương. (1)
Nhớ lại tình sử Thôi Hộ, bỗng
Vinh thoáng thấy có tia hy vọng nhen nhúm trong lòng. Ngày xưa, khi Thôi
Hộ chỉ thấy còn có hoa đào cợt gió đông mà không thấy người đẹp, bèn đề
thơ bên cửa. Người con gái trở về, nhìn thơ mà tương tư chàng thi sĩ, nên
ngày càng sầu héo. Đến khi Thôi Hộ hay tin tìm đến, thì nàng đang cơn
hấp hối vô vọng. Thế nhưng những giọt nước mắt của Thôi Hộ đã làm cho
người đẹp hồi sinh. Vinh nghĩ, chàng sẽ tìm cho gặp Quyên Quyên. Rồi
biết đâu những giọt nước mắt của chàng sẽ khiến cho Quyên Quyên cởi bộ áo
nâu sòng hoàn tục. Đó là lối thoát lý tưởng mà Vinh cố bám víu vào để hy
vọng.
Thiên Ấn tự (2) là một ngôi
chùa cổ kính do sơ tổ Pháp Hoa tạo dựng trên đỉnh núi Thiên Ấn, xã Niêm
Hà, Quảng Ngãi. Trái núi hình dáng vuông vắn xinh xinh như một dấu ấn, ấn
trời-, phong cảnh thật cô liêu và trang nhã. Thế nhưng Vinh đâu còn tâm
trí nào để ngoạn cảnh, chàng hấp tấp leo trèo cho mau đến đỉnh núi. Mệt
nhọc quá! Vừa gạt mồ hôi nhễ nhại, Vinh vừa rủa thầm mấy ông sư bà vãi
bày chi trò tu hành mê tín để quyến rũ Quyên Quyên, làm khổ thân chàng.
Lên chùa, Vinh mới biết ni
chúng cư trú ở một am riêng biệt gần đó, do sư bà Khánh Hỷ hướng dẫn tu
học. Ni viện có truyền thống không tiếp khách thập phương. Du khách chỉ
có thể liên lạc với ngôi chùa chính. Thầy tri khách, thiền sư Bảo Ấn tiếp
kiến Vinh, hỏi nguyên do chuyến viếng thăm. Vinh ú ớ không biết phải trả
lời sao cho phải. Giữa chàng và Quyên Quyên chẳng có chút giây liên hệ,
còn mối tình cũng chỉ đơn phương dấu kín trong lòng, chàng khó viện lý do
xin gặp mặt. Tuy nhiên, có lẽ nhờ thầy tri khách ôn hòa thông cảm, nên
Vinh lần lần bộc lộ được nỗi lòng. Trút được uẩn khúc, Vinh khóc như mưa,
để van xin thầy tri khách chuyển lời đến Quyên Quyên sao cho nàng thấu
hiểu thâm tình của chàng. Không ngờ Quyên Quyên lòng dạ sắt đá không cho
chàng gặp mặt, chỉ nhờ thầy tri khách nhắn lại: " Sa di ni Bảo Tường, -
pháp danh của Quyên Quyên -, quyết tâm tu hành nên không tiện gặp người
đời bàn bạc chuyện thế gian phiền não nữa..."
Thế Vinh chẳng chịu thua, cứ
năn nỉ xin được gặp Quyên Quyên một lần rồi vĩnh viễn không trở lại.
Trước thái độ si tình khổ sở của Vinh, thầy tri khách siêu lòng, đồng ý
thuyết phục dùm Quyên Quyên lần nữa. Lần này ni cô dứt khoát cho biết,
ngày lễ xuất gia, ni cô đã phát nguyện trước Tam Bảo, là trong đời sẽ chỉ
nghe và luận bàn Phật Pháp, nên rất tiếc không thể hầu chuyện với kẻ thế
gian, trừ khi gặp người am hiểu Phật Pháp để bàn luận về Phật Pháp mà
thôi.
Thế Vinh buồn bã lủi thủi lui
gót, nhưng chưa ra khỏi cửa chàng đã quay trở lại. Vinh nghĩ học Phật đối
với chàng không khó. Chàng phải hội đủ điều kiện tiên quyết này để đối
diện được với Quyên Quyên, rồi sau đó, nhân việc bàn luận đạo, sẽ vạch
trần những điều mê tín và sai lầm hầu thuyết phục nàng hoàn tục.
Vinh yêu cầu thầy tri khách
hướng dẫn chàng học Phật. Sư Bảo Ấn là vị tăng sĩ học vấn uyên bác nên
đàm luận với kẻ thông tuệ như Vinh rất tương đắc. Thầy tri khách trình
bày cho Vinh những điểm đại cương, rồi trao cho Vinh Kinh Luận từ thấp đến
cao để tự nghiền ngẫm. Nhờ học Phật có phương pháp, Vinh am hiểu Phật
giáo thật căn bản, từ đó, quan niệm của Vinh thay đổi lần. Thái độ khinh
thường chê bai Phật giáo nhường chỗ cho sự kính phục và nghiêm túc học
hỏi. Nghiên cứu đến kinh Lăng Nghiêm, Vinh lại ngạc nhiên đến tột độ.
Kinh bao trùm những nghĩa lý huyền bí cao diệu, văn pháp lưu loát, lý luận
vững mạnh, khí thế hùng tráng...không thể tưởng tượng nổi. Đến phần Phật
giảng về Chân tâm và vọng tâm, bất thình lình, Vinh thấy có ánh sáng tràn
ngập cả châu thân. Một niềm vui cao tột, lạ lùng khó tả làm thay đổi toàn
vẹn con người của chàng. Chàng khám phá được rằng cái sở học trần tục bấy
lâu nay chàng tự hào, chỉ là mớ kiến thức hạn hẹp lẩn quẩn chạy theo vọng
tâm nông cạn. Rồi chàng dõng mãnh PHÁT BỔ ĐỀ TÂM, quyết học theo hạnh làm
PHẬT, để trở về cõi chân tâm diệu minh thường hằng.
Mối sầu tình giăng giăng bỗng
dưng nhẹ hẳn ra. Vinh cảm tạ thầy Bảo Ấn, và dù trong đáy lòng sâu kín
Vinh vẫn mong mỏi nhìn Quyên Quyên lần chót nhưng chàng tự nghĩ mình đã
hiểu đạo thì còn chạy theo giả cảnh chi nữa, nên dứt khoát rời bước.
Thế Vinh trở lên Phú Xuân(3) để
phụng mệnh Chúa. Dù biết mình là kẻ mới đỗ đạt, vừa nhậm chức nếu từ
quan ngay thì có thể bị gán tội khinh xuất mệnh Chúa, nhưng chí xuất gia
dõng mãnh giúp Thế Vinh can đảm xin Chúa khoan hồng. Chúa Nguyễn Phúc
Khoát (4) là vị Chúa nhân từ, lại hâm mộ Phật giáo từ thuở nhỏ. Ngài từng
ước mong xuất gia nhưng vì nghiệp Chúa ngăn trở không thi hành được, nên
chẳng những thông cảm mà còn khuyến khích Thế Vinh theo đuổi lý tưởng xuất
gia đầu Phật. Thương chàng tiến sĩ trẻ tuổi mà có đạo tâm, Chúa nhận Thế
Vinh làm dưỡng tử, đích thân gởi chàng đến Ôn Minh Giác, chùa Linh Mụ (5)
để nhờ thu nhận.
Về trụ trì chùa Kim Quang chưa
đầy ba năm, đại sư Trí Thông, pháp hiệu của Phan Thế Vinh, đã nổi tiếng là
bậc tam tạng pháp sư uyên bác nhất tại sứ đàng trong. Đại sư đã sẵn có
thanh thế lớn: Đệ tử ruột của Quốc sư và là dưỡng tử của Chúa Nguyễn đương
thời. Đại sư nguyên là vị tiến sĩ tài ba, hùng biện, khéo léo, và giỏi tổ
chức, nên đã biến ngôi chùa khiêm tốn trước kia, thành một tự viện nguy
nga hùng vĩ nhất tại đất thần kinh. Thật ra khi đại sư được chúa yêu quí,
thì quan quyền các giới cũng nối đuôi nhau " mộ đạo". Các bậc giàu sang
đánh hơi được cũng ùng ùng quy y để có chỗ nương tựa. Rồi sau đó, giới
bình dân cũng cuồng nhiệt thu hút đến. Dân chúng quy về đông đảo thì Chúa
và quan quyền càng nể trọng sư, mà chánh quyền càng nể trọng, thì dân
chúng lại càng đổ xô về nhiều hơn nữa. Cứ thế mà oai danh của đại sư Trí
Thông lên ngùn ngụt. Ngôi tự viện, do đó, được khuyếch trương vĩ đại là
lẽ đương nhiên.
Vừa qua khỏi cổng tam quan,
khách đã thấy hiện rõ hàng chữ " Sắc tứ Kim Quang Tự" trên bảng đồng chạm
nổi thật đẹp. Trước sân chùa, vườn cây kiểng vô giá, gồm những cây cổ thụ
con con cắt tỉa công phu, nép mình trong những chậu kiểu cổ xưa. Thế giới
được thu nhỏ lại, với hòn non bộ xinh xinh, phản ảnh đầy đủ cảnh núi non,
rừng rú, biển khơi...đầy thơ mộng. Trong chùa, kèo cột toàn dùng những
loài danh mộc, chạm trổ công phu, từng viên đá, từng viên gạch, từng vật
dụng chưng bày đều được đích thân đại sư chọn lựa sưu tầm. Có thứ phải
đặt mua từ Trung Quốc, có thứ do bàn tay thợ khéo nhất nước hoàn thành.
Đây là chuông vàng, khánh bạc, kia là lọ lục bình cổ đời Đường, chậu cắm
nhang đời Tống...Đặc biệt nhất là tượng Phật điêu khắc linh động, biểu lộ
nét trang nghiêm mà siêu thoát. Tượng Phật tuy rỗng ruột nhưng lớn bằng
người thật, đúc bằng sáu ngàn lượng vàng y, tạo dựng được hoàn toàn do tài
ba của đại sư. Dĩ nhiên đại sư cũng tự hào và qúi tượng Phật vàng vô
cùng, nhất là, chính vì công nghiệp tạo tượng nầy, mà đại sư suýt phải bỏ
mạng. Nguyên khi đại sư quyên góp gần đủ số vàng cần thiết, thì được một
đại thí chủ thỉnh về Quảng Nam đăng đàn thuyết pháp. Chyến hoằng pháp đó
thành công rực rỡ. Đại sư lạc quyên thêm trên một ngàn lượng vàng nữa.
Trên đường về, đại sư và người đệ tử nhỏ, chú Quảng Long, bị bọn cướp
đón đường tại đèo Hải Vân làm dữ để đoạt vàng. Bọn cướp không ngờ đại sư
đã cẩn thận thuê bảo tiêu chở vàng về Phú Xuân bằng đường thủy. Lỡ bộ,
bọn cướp đành giữ người đệ tử làm con tin, thả đại sư về với điều kiện
mang một ngàn lượng vạng chuộc mạng đệ tử. Về đến Phú Xuân, đại sư ngần
ngừ không biết giải quyết sao cho phải. Vàng do Phật tử cúng dường đúc
tượng Phật, đại sư không thể tự chuyên xử dụng, nhất là, ngày khởi công
đúc tượng đã gần kề, không thể đình hoãn được. Rồi thì tin tức về bọn
cướp cũng đến tai Chúa Nguyễn. Chúa ra lệnh cho quan quân tức thời tiêu
diệt chúng. Bọn cướp tan rã dễ dàng, nhưng trước khi sa cơ, chúng nổi cơn
hạ sát chú Quảng Long để trả thù. Thương đệ tử, thì đại sư chỉ có còn một
phương cách là mang xác về chôn cất và cầu siêu mà thôi.
Vùng đất ven biển chạy dài
theo dãi Trường Sơn, đất đai đã cằn cỗi, mà nạn lụt lội thường xảy ra.
Mùa đông năm Canh Thìn, cơn bão dữ dội lại tàn phá vùng ven biển. Trung
tâm bão hướng về Quảng Nam, song Thuận Hóa vẫn bị ảnh hưởng, dù tương đối
nhẹ hơn. Tuy nhiên, tại Phú Xuân, mưa vẫn dầm dề không ngớt và gió thì
gào thét ghê rợn, nước tràn ngập cuốn phăng hoa màu, nhà cửa đồng bào.
Nạn nhân: kẻ chết, người sống trong cảnh màn trời chiếu đất, cũng không
phải là ít. Nạn đói rồi chắc chắn sẽ xảy ra.
Kim Quang Tự, tuy rất an toàn
vì xây dựng trên nền mống vững chắc, nhưng đại sư Trí Thông vẫn trằn trọc
không yên. Đại sư đích thân đôn đốc tăng chúng chia phiên nhau canh giữ,
đề phòng mọi bất trắc. Sau mấy ngày nổi cơn thịnh nộ, gió dịu dần rồi hết
hẳn. Nhìn ngôi chùa nguyên vẹn khang trang vươn mình đón ánh nắng ban
mai, đại sư Trí Thông cảm thấy sung sướng làm sao. Giờ thì đại sư có thể
yên tâm soạn thảo chương trình Phật sự quy mô sắp tới. Người thị giả
bỗng gõ cửa báo tin có ni cô Bảo Tường, xin diện kiến. Đang bận rộn,
không muốn mất thì giờ vô ích, đại sư dự định từ chối, nhưng nghe pháp
danh quen quen, nên đại sư ra lệnh mời vào.
Vừa thoáng thấy ni cô, đại sư
bỗng giựt mình sửng sốt. Ni cô chính là Quyên Quyên ngày trước. Xa nhau
đã hơn tám năm, ni cô độ chừng 25 tuổi, tuổi nẩy nở toàn vẹn, nên tuy vận
áo nâu sòng mà vẻ đẹp lại rực rỡ hơn xưa. Mối tình sâu đậm vùi chôn
trong đống tro tàn dĩ vãng, bỗng dưng bừng dậy mãnh liệt. Đại sư ấp úng:
- Quyên Quyên ! Quyên Quyên !
- Tiểu ni pháp danh Bảo
Tường. Xin kính chào đại sư tiến sĩ !
Trí Thông lấy lại được bình
tĩnh, sư mỉm cười hân hoan:
- Thôi mà cô Bảo Tường ! Danh
vị tiến sĩ hư ảo kia mà cô vẫn còn nhớ hay sao ?
- Dĩ nhiên là phải nhớ ! Thầy
tri khách đã căn dặn phải tôn xưng đại danh là " tiến sĩ đại sư" thì mới
được tiếp kiến.
Lời nói thẳng thắn của sư cô
làm sư Trí Thông đỏ mặt. Thật ra, khi phát nguyện xuất gia, đại sư đã
khinh thị danh hiệu hư vị tiến sĩ hư ảo như cỏ rác. Thế nhưng, người đời
lại coi hành vi buông bỏ công danh là trọng, nên thường nhắc nhở tán
tụng. Đại sư ngăn cản thế nào cũng không chấm dứt được. Đến khi có người
đệ tử thương thầy quá, tán tụng thầy là vị tiến sĩ đại sư, thì mọi người
toa rập nhau gọi theo. Lúc đầu, đại sư cũng hơi khó chịu, nhưng nghe mãi
quen dần thì đâm ra ưa thích. Bây giờ, nếu có người nào thưa hỏi mà thiếu
danh vị tiến sĩ, thì đại sư không mấy hài lòng. Bọn đệ tử biết bụng dạ
thầy, dặn dò khách rập khuôn theo mà nịnh bợ. Sự kiện đó, đến nay đại sư
mới hiểu rõ, nên có phần xấu hổ. Đại sư đành phải làm lơ, hướng câu
chuyện sang đề tài tương lai đạo pháp và xây dựng tự viện, mà quên lửng
không hỏi lý do viếng thăm của ni cô. Ni cô chính là nguyên nhân đã khiến
đại sư phát đại nguyện xuất gia, ngày nay, ni cô hiện diện đúng lúc để
chứng kiến thành công vượt bực của sư, nên sư cao hứng thao thao bất
tuyệt. Sư hướng dẫn ni cô đi xem chùa, giải thích cặn kẽ từng khía cạnh
đặc thù của lề lối kiến trúc, nét sắc sảo điêu khắc, trị giá của các chậu,
bình...cổ kính. Sau cùng, đại sư hãnh diện trình bày công trình to lớn để
hoàn thành việc đúc pho tượng Phật bằng vàng y, trị giá trên sáu ngàn
lượng.
Bấy giờ, ni cô mới điềm đạm lên
tiếng :
-Thưa đại sư ! Tiểu ni đến đây
vì có tâm nguyện mong cầu đại sư giúp đỡ...
- Ni cô yên tâm. Chuyện khó
khăn thế nào, thì ta cũng làm sao cho sư cô vui lòng.
-Không dám ! Thưa đại sư !
Bão lụt phá hoại mùa màng. Dân chúng đói rách rất là khổ sở. Tiểu ni
kính xin đại sư mở lượng từ bi đóng góp phần nào cho qũy cứu trợ...
- Ta sẽ kêu gọi Phật tử bổn tự
góp công sức vào việc phước thiện đó !
- Thưa đại sư ! Việc lạc quyên
trong lúc này tiến hành rất chậm. Dám nào ! Xin đại sư đổi tượng Phật
thành sáu ngàn lượng vàng để đem đi cứu đói, thì công đúc thật vô lượng !
- Ôi ! Sao ni cô lại bạo gan
xúi giục ta làm việc phạm thượng tội lỗi, là bán tượng Phật như vậy ?
-Tượng Phật chỉ có tính cách
tượng trưng, thì tượng đá, cây hay vàng đều giá trị như nhau. Vả chăng,
tâm nguyện của chư Phật là đại từ bi cứu khổ chúng sanh, nếu đại sư đổi
tượng thành thực phẩm cứu trợ dân, tức là hành theo tâm nguyện của chư
Phật. Tiểu ni không có điều gì gọi là phạm thượng cả.
Đề nghị lạ lùng của ni cô làm
sư Trí Thông ngớ ngẩn. Cả đời đại sư, đại sư đã tận lực lo cho chùa, lo
đúc tượng Phật vàng đó. Đại sư thương từng viên gạch, từng viên đá, từng
cái kèo, cái cột..., không bao giờ có ý nghĩ là sẽ xa rời, sẽ mất mát...,
huống chi là có ý nghĩ bán pho tượng bảo vật, càng suy nghĩ, sư càng thấy
thương yêu không rời bỏ được. Tượng Phật đó đại sư coi như hơi thở, như
mạng sống của mình... nên đại sư phải tận lực bảo vệ. Cho nên, dù là
nàng, là Quyên Quyên, mà tình yêu vẫn vương vấn khôn nguôi, đại sư vẫn
không đánh đổi pho tượng được. Đại sư cất tiếng la, thảng thốt như tiếng
hét thất thanh của người chết đuối:
- Không! Không thế nào được
!
- Tiểu ni hiểu là đại sư đã
dính mắc sâu đậm ngôi chùa nầy, với tượng Phật nầy, không thể nào xả bỏ
được. Giờ này! Dầu đức Phật Di Đà có đích thân đón rước đại sư về cõi
Tây Phương Cực Lạc, chắc đại sư cũng từ chối. Đại sư nhất quyết ở lại để
ôm giữ ngôi chùa và pho tượng mà thôi.
Giọng nói của ni cô Bảo Tường
nhỏ nhẹ, mà đại sư nghe như tiếng gầm thét bên tai. Đại sư lặng người
thấy ni cô từ giã ra đi, mà không biết dùng lời lẽ gì để cầm khách lại.
Sư lẩm bẩm một mình: " Có thật là mình đã tham nhiễm, quyến luyến như vậy
sao? Mình đã bám víu an hưởng cái CÓ hời hợt như kẻ thế tục chăng?". Có
tiếng thằn lằn não nuột chắc lưỡi làm đại sư rùng mình. Nỗi sợ hãi mông
mênh xâm chiếm. Đại sư lại nghĩ: " Mình tham đắm chẳng rời, nếu chết lúc
này, thì chắc không thể nào siêu thoát được, bất quá, cũng như con thằn
lằn kia, bò lang thang quanh chùa, nhìn từng viên gạch, từng viên đá... để
mà chắc lưỡi tiếc thương...".
Cảm thấy muôn vàn hổ thẹn, đại
sư vào tăng phòng đóng kín cửa để tự quán sát sự diễn biến của tâm mình
trong thời gian gần đây.
Ngày sư được Chúa thượng vời về
Kim Quang tự, tâm của sư trong trắng, luôn luôn tâm niệm trau dồi đức hạnh
để hoằng dương Phật Pháp. Sư được Chúa thương yêu, rồi bao kẻ đua nhau
chạy theo nịnh bợ tâng bốc thổi phồng sư lên mây. Lúc đầu, sư dè dặt
không để những lời thuận tai đó vào tâm, nhưng lần lần sư bị sa lầy. Sư
tin tưởng sư chính là bậc tu hành đạo cao đức trọng, một " đệ nhất danh
tăng" kim cổ nước Việt. Từ đó, sự cuồng ngạo mống niệm một kế hoạch tái
thiết Kim Quang tự thành ngôi đệ nhất tự viện tại xứ đàng trong (6). Thế
rồi, sư lẩn quẩn trong đầu ý nghĩ kiếm tiền, gom góp cho thật nhiều tiền.
Sư nhìn ai, nhìn vấn đề gì, cũng chỉ thấy khía cạnh tiền. Sư đánh giá
Phật tử, kính trọng, ghét bỏ cũng trên căn bản đó. Đôi khi, nếu phải xử
dụng mánh khóe hay lợi dụng chút y quyền của Chúa, để có tiền lo cho chùa,
thì sư cũng không từ nan. Sư vẫn thuyết pháp, vẫn dạy đạo...để ai tu thời
tu, còn phần sư, dường như...sư không tu. Sư chỉ coi đó là một bình phong
để thu góp tiền cho chùa. Thế thôi.
Trời bắt đầu tối hẳn. Sư lẻn
ra ngoài lủi thủi đi theo con đường làng, ngoái lại nhìn ngôi chùa khang
trang, sư càng hổ thẹn về đạo đức rỗng tuếch của mình. Trời trong và
đẹp. Vầng trăng non vừa đủ sáng để soi rọi cảnh tang thương mà trận bão
tàn ác đã dày xéo xóm làng. Rải rác, vài đám lúa tơ mới cấy bị nước
cuốn trôi, năm ba cây to trốc gốc, và cành lá thì rơi rụng khắp nơi.
Mười căn nhà dân bị cuồng phong cuốn mất. Không biết số phận nạn nhân đói
rách như thế nào? Lòng sư bỗng tràn ngập tình thương. Mấy hôm trước, sư
đã nghe báo cáo về thiệt hại nầy, mà sao lúc đó lòng sư dửng dưng bất
động.
Sư tiếp tục rảo bước, cảnh chùa
Di Đà ở đầu làng Vạn Xuân bị đổ nát làm sư chạnh lòng. Chùa Di Đà do sư
Thiện Quang trụ trì. Thiện Quang là vị tu sĩ có tư cách, nhưng có khuyết
điểm là quá thẳng thắn thành ra vụng về. Thầy không vồn vã, không chìu
ý, không khen nịnh đệ tử...thành ra Phật tử thưa dần. Kịp đến khi sư Trí
Thông về Kim Quang tự, sư đã trăm phương nghìn kế để thu Phật tử về một
mối, thành thử chùa Di Đà càng xác xơ. Chùa nghèo đến nỗi không tiền sửa
sang, cột kèo đã mục nát, thì làm sao chống chỏi nổi với cơn giông bão.
Bấy giờ, sư Trí Thông mới thầm trách mình: ©! Ta vốn dạy đệ tử người giàu
phải biết thương yêu giúp đỡ kẻ nghèo, mà có bao giờ ta nghĩ đến chùa giàu
nên giúp đỡ chùa nghèo đâu? Ôi! Ta vốn kính trọng thầy Thiện Quang, mà
khi lập chùa gần nhau, thì lòng ta ngấm ngầm có mầm mống cạnh tranh, chỉ
mong cho chùa "đối thủ" chóng hoang tàn sụp đổ...
Trí Thông miên man suy nghĩ đi
lần đến bò sông Lô Dung(7). Làn gió mát làm sư tỉnh hẳn lại. Xa xa,
ngôi chùa Linh Mụ trầm lặng ẩn hiện sau hàng cau. Sư muốn được quì dưới
chân thầy để cầu xin sám hối. Thầy cũng lo cho chùa, cho đạo mà đạo hạnh
thầy cao ngất, còn ta thì bị cuốn lôi theo tham vọng nên đạo đức mỏi mòn.
Rồi bỗng nhiên, Trí Thông nhớ lại từng chi tiết câu chuyện ngộ đạo của vị
sơ tổ chùa Linh Mụ ngày xưa:
"Tổ sư họ Cao, quán Phong Điền,
Thuận Hóa. Thuở nhỏ, tổ đã không chịu dùng thịt cá, dù bị cha mẹ ép
uổng. Một hôm, theo mẹ lễ Phật, khóa lễ kéo dài mà bà cụ cứ nấn ná lo
công quả trễ nãi, cậu bé buồn ngủ quá. Cậu bèn đến bàn Phật, gõ mấy tiếng
chuông thật lớn. Bị trách mắng thì cậu bé đáp:"Con mê, nên phải nhờ
chuông để cảnh tỉnh". Thiền sư Chí Thiện gặp được pháp khí, nên nhận làm
đệ tử, và nhân câu chuyện gõ chuông, đã đặt pháp danh là Cảnh Chung. Cảnh
Chung theo hầu thầy 10 năm, khi thầy liễu đạo, liền lên núi Đông Ngãi,
hang đá Thảng Lai, ẩn cư với pháp hiệu Vô Sự chân nhân, để chuyên tu thiền
định. Chân nhân sống giản dị, hái cây trái và lá rừng làm thực phẩm.
Chân nhân ngồi thiền liên tục hàng nửa tháng, khi xả thiền, các loài chim
lạ vần vũ quanh sư hát vang lừng như chào mừng đón nhận từ bi tâm của sư
truyền cho. Những người thợ săn vô tình chứng kiến cảnh đó, hâm mộ, lạy
xin chân nhân nhận làm đệ tử. Chân nhân bắt đầu giảng dạy họ Phật Pháp,
rồi khuyên giải họ xa lánh nghiệp sát sanh hại vật. Danh tiếng của sư lan
rộng dần, chẳng bao lâu, nhân dân các châu huyện gần xa, đều quy ngưỡng về
sư.
Lúc bấy giờ, khi Nguyễn Uông
vừa bị anh rể là Trịnh Kiểm ám hại, Nguyễn Hoàng vội vã cầu Trạng Trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm diệu kế bảo toàn tánh mạng, được phán dạy: "Hoành sơn
nhất đái, vạn đại dung thân". Hiểu ý, Nguyễn Hoàng âm thầm vận động xin
về trấn thủ Thuận Hoá. Trước khi đi trấn nhậm, Nguyễn Hoàng lại bái kiến
Trạng lần nữa để cầu cẩm nang an dân trị nước. Lần này, Trạng Trình ngâm
nga:
"Lòng vô sự, trăng in nước.
Của thảng lai, gió thổi hoa."
(8)
Hai câu thơ mang phong thái
thiền dùng làm sách kế an dân có phần khó hiểu, nhưng Nguyễn Hoàng ôm ấp
như sấm ký, chờ đến phút linh ứng mà xử dụng.
Thuận Hoá và các vùng đất đai
mới khai phá, lòng dân chưa định. Những kẻ tiền phong dựng nước phương
nam, tính khí vốn ngang tàng khó uốn nắn. Họ khao khát tự do và vượt
thoát khỏi sự ràng buộc cuả phép Vua luật nước. Vả chăng, dòng họ Nguyễn
đối với dân cũng xa lạ, do đó, tâm nguyện thu phục nhân tâm của Nguyễn
Hoàng gặp nhiều trở ngại. Chúa lo lắng cải tổ hành chánh địa phương, chăm
sóc thương yêu dân, mà tình hình cũng không cải thiện. Vì vậy, Chúa
thường rời dinh cơ tại Ái Tử, để giả dạng đi đó đây dò xét dân tình. Một
hôm, Chúa đi hành dọc sông Lô Dung, lên đến khúc sông uốn cong như rồng
lượn bao phủ một quả đồi xinh xinh, thì dừng lại trên đồi. Tại đây, Chúa
gặp một bà cụ già mặc áo đỏ, phong thái trang nhã thần tiên, tự xưng là
Liễu Huệ công chúa, căn dặn: "Đây là huyệt đất đã hội tụ đủ linh khí,
nhưng phải xây dựng ngôi chùa, mời cho được Vô Sự chân nhân về trụ trì,
thì sự nghiệp mới bền vững". Dứt lời, bà cụ biến mất. Lời dạy của bậc
thần tiên, suy ra phù hợp với cẩm nang Trạng Trình, khiến Chúa vô cùng
phấn khởi. Chúa liền cho khởi công xây cất ngôi tự viện trên đồi Kim
Long, đặt tên là LINH MỤ, Nghiã là Cụ bà linh thiêng, rồi đích thân lên
động Thảng Lai, núi Đông Ngãi, dùng lễ cầu hiền để thỉnh Vô Sự chân nhân
về trụ trì.
Theo lời khuyên của chân nhân,
dựa vào Phật giáo để liên kết nhân tâm tạo sức mạnh tinh thần dân tộc,
Chúa thực thi kế sách nhân dân đến đâu, chùa chiền đến đó, nhiên hậu khi
mọi việc ổn định, mới hình thành chính quyền địa phương. Từ đó, nhân tâm
được thu phục lần lần, tạo nên khí thế hùng mạnh cho xứ đàng trong. Chúa
Nguyễn Hoàng đối xử với chân nhân cực kỳ cung kính. Chúa thường đến chùa
học đạo hoặc thỉnh ý chân nhân về những vấn đề hệ trọng, và thường thân
mật gọi chân nhân là SƯ ÔNG LINH MỤ. Quân dân bắt chước, nhưng gọi trại
đi thành Ôn Linh Mụ, chữ Ôn phát sinh từ đó.
Vô sự chân nhân, nguyên là một
sơn tăng không thích ràng buộc bởi lễ nghi phiền phức. Từ ngày bất đắc dĩ
hạ sơn nắm giềng mối đạo, để rồi bị mọi người, từ Chúa Thượng cho đến thứ
dân cung kính suy tôn, là việc trái lòng. Do đó, chân nhân vẫn giữ nếp
sống thanh đạm cũ, cũng như thời dụng biểu thiền quán cũ. Pháp môn thiền
của chân nhân đặt căn bản trên kinh An ban thủ ý (9), nên rất giản dị:
"Khi thở vào hành giả biết mình đang thở vào, khi thở ra hành giả biết
mình thở ra", nói khác, khi nghe người tâng bốc hành giả biết mình đang
nghe người tâng bốc, và chính vì vậy nên chân nhân luôn luôn tỉnh thức.
Chiều chiều, chân nhân thường đi thiền hành một mình dọc theo bờ sông,
những lúc đó, chân nhân không bị ngoại cảnh chi phối, nên cảm thấy thật
thảnh thơi, an lạc. Chân nhân bước từng bước thanh thản, đi để mà đi chớ
không phải đi để mà tới (10), thích dừng thì dừng... Yên lặng trong tỉnh
thức. Một hôm, chân nhân đi xa hơn thường lệ, dừng chân nhìn giòng sông.
Nước trong, êm ả và nhẹ. Giòng sông nầy, thuở nhỏ chân nhân đã từng lặn
hụp, giờ phút hồn nhiên đó rất tuyệt diệu. Bốn bề thanh vắng gợi chân
nhân thú tắm sông. Chân nhân cởi đồ rồi thoải mái trầm mình trong nước
mát. Giòng nước xoa nhẹ làn da như cuốn trôi đi hết bụi trần, bụi chùa
bám trên người sư. Chân nhân khoan khoái thở thật sâu và hụp đầu xuống
nước. Khi chân nhân ngoi đầu lên, thì có tiếng trẻ nít la to:
-Ấy chết! Coi chừng ông trọc
đầu nớ!
Bấy lâu nay tai của chân nhân
bị bắt buộc phải nghe toàn là những lời cung kính hoa mỹ: Bẩm đại lão hòa
thượng, Kính trình Ôn, Thỉnh nguyện, Thỉnh cầu, Chúng con đê đầu đảnh
lễ..., thật là nhàm chán. Nay chân nhân mới được gọi một cách hồn nhiên
là ông trọc đầu, điều đó khiến chân nhân vô cùng sảng khoái. Chân nhân
quay đầu nhìn lại. Té ra đó là hai chú tiểu, lén cắp xuồng ra chốn vắng
vẻ để đùa giỡn, mà lại còn lớn gan gọi Ôn là lão trọc đầu. Hai chú sợ
điếng người, cuống quít xá lia, miệng lắp bắp chẳng nên lời, suýt rơi tòm
xuống nước. Chân nhân thương quá lên tiếng:
- Cái thằng ni lạ quá! Tao
trọc đầu, mi gọi tao trọc đầu là đúng quá rồi! Có chi mô mà mi sợ hãi như
rứa?
Chân nhân thốt lời đó trong một
tâm trạng an lạc, không mảy may dính mắc ràng buộc gì với lễ nghi phiền
phức của xã hội câu nệ. Và trong giây phút hồn nhiên đó, bỗng dưng chân
nhân hoát nhiên đại ngộ".
( Chư thiền sư, khi công phu
viên mãn, thì đôi khi chỉ cần nghe tiếng chim hót, tiếng lá rơi....làm trợ
duyên mà ngộ đạo. Sơ tổ Linh Mụ, sau hơn 50 năm nghiêm trì tu tập, tâm đã
rỗng rang không trở ngại, nên nghe tiếng hồn nhiên của trẻ, mà đại ngộ
cũng là việc bình thường )
Câu chuyện sơ tổ giúp sư Trí
Thông định hướng cho nếp sống tu hành. Lòng đã chủ định nên sư bình thản
trở về Kim Quang tự. Sư soạn thảo một bức thơ dài viết cho bổn sư, Ôn
Linh Mụ. Trong thơ, sư thú nhận rằng bấy lâu không nghiêm túc tu trì, thả
lỏng tâm quay cuồng theo danh lợi hư hỏng mà không hay. May nhờ thiện
tri thức nhắc nhở mới hồi tỉnh. Do đó, sư quyết định xin từ bỏ chức vị
trụ trì Kim Quang tự, để theo hạnh khổ đầu đà hoằng hoá phương Nam, hầu
xám hối lỗi lầm. Thứ đến sư thỉnh cầu bổn sư đứng ra đem pho tượng vàng
thanh toán để lấy tiền cúng dường cho nạn nhân bão lụt. Ngoài ra, cũng
xin bổn sư giải quyết những việc cần thiết trong đó có việc chọn lựa vị
tân trụ trì cho Kim Quang tự. Viết xong, sư hướng về chùa Linh Mụ, lạy
từ tạ thầy rồi giao thơ cho thị giả mang đi. Đoạn, sư âm thầm rời chùa,
chỉ mang theo một bình bát, một tay nải đựng hai y hậu tầm thường, bộ kinh
Lăng Nghiêm cùng vài món hành trang lặt vặt của một du tăng khất sĩ.
Trước sự thay đổi nếp sống đột
ngột, từ một vị trụ trì tôn kính lắm kẻ cung phụng, thành một khổ đầu đà
lang bạt sư Trí Thông cũng gặp những khó khăn lúc đầu. Tuy nhiên, sự yếu
đuối thể xác dễ dàng khuất phục bởi sức mạnh tinh thần, được củng cố bằng
pháp môn hành trì buông bỏ, không dính mắc như vị sơ tổ Linh Mụ, nên sư
cảm thấy an lạc. Niềm an lạc mà trước kia, khi bận rộn với ngôi vị trụ
trì, sư không bao giờ hưởng được.
Sư thường chọn những con đường
làng vắng vẻ, tránh qua lại khu phố ồn ào. Đi khoan thai từng bước: Đi để
mà đi chớ không phải để mà tới, cũng như, tu để mà tu chớ không nhằm đắc
đạo. Thở ra sư biết mình thở ra. Thở vào sư biết mình thở vào. Bước
chân thanh thản, êm ái, trân qúi đặt vững vàng trên mặt đất thương yêu,
như đang đi trên tịnh độ. Sư ngủ ở đình, míu hoang, góc cay, mái hiên
nhà..., và thọ thực thất thường tùy tầm hỹ cúng của đồng bào phật tử. Xóm
làng nào thuận duyên, sư lưu lại đôi ngày hay vài tuần, tùy nghi giảng
Pháp sống thực và đơn sơ. Sư đến với họ như người bạn đồng hành trên con
đường tu tập hơn là vị thầy xa cách. Sư có thể ngồi đan thúng, dệt
chiếu... hay đi mót lúa với đồng bào rồi tùy cơ giảng đạo. Sư cũng có
thể làm vú em, chơi đùa hồn nhiên với trể con, để dạy chúng câu thơ, bài
ca dao nhẹ nhàng đạo vị. Mà thật ra, sư cũng không nhất thiết phải mở
lời. Sư hiện hữu của sư cạnh những người dân chất phác, nụ cười, dáng
điệu, tư cách của sư... có cái gì gần gũi, ấm áp khiến cho họ tự nhiên
thương mến đạo.
Càng đi lần về phương Nam, hệ
thống chùa chiền càng khiếm khuyết về phẩm lẫn lượng. Chùa chỉ tập trung
tại Gia Định thành và vài thị trấn lớn, còn vùng xa xôi thì hầu như vắng
bóng. Nhu cầu hoằng pháp đôi khi đòi hỏi sự dừng chân một thời gian dài,
và nếu hợp duyên sư cũng đứng ra tạo dựng một ngôi chùa làng xinh xắn.
Dân quê dốt nát, nên sư chỉ hướng dẫn họ giáo lý đơn giản và thực tiển,
như tam quy ngũ giới, tu tâm dưỡng tánh, tránh ác hành thiện mà thôi.
Điều đó rất hợp với sư, vì từ lâu, khi hành hạnh khổ đầu đà, sư chỉ chuyên
tâm quán niệm hơi thở, còn cải sở học bao la huyền đàm sư không còn nhớ
đến nữa. Dĩ nhiên, sư cũng truyên cành công phu, nhưng đọc tụng kinh
điển, sư tụng để mà tụng, để tự nhiên cho kinh thẩm thấu trực nhận, chớ
không dùng lý trí xét đoán, hay suy luận tìm hiểu như xưa nữa. Khi ngôi
chùa thành lập đã có cơ sở vững chắc, sư đến các đại tòng lâm, thỉnh một
vị đạo đức tăng để giao ngôi chùa, hầu tiếp tục tâm nguyện một khổ đầu
đà. Cứ thế mà trong thời gian hơn hai mươi năm, sư đã lần lượt tạo dựng
được 9 ngôi chùa làng tại khắp vùng Vàm Cỏ và Tiền Giang.
Sư lại xuôi về miền Hậu
Giang. Mùa thu năm Giáp Thìn, một trận lụt mà lúc khởi đầu có vẻ chỉ là
chuyện ngập nước bình thường, lại biến thành tai họa thảm khốc. Nguyên
hàng năm, vào mùa nước nổi, sông Cửu Long dâng cao tràn ngập ruộng đồng,
đường xá, chợ búa. Dân chúng theo lệ, ở nhà sàn hay đắp nền nhà cao vừa
phải, nước có dâng cao khỏi nền nhà chăng nữa, thì cũng chịu đựng vài ngày
thì lại từ từ rút xuống. Nhưng đến năm Bính Thìn, nước dâng lên mãi đến
độ bất ngờ, và vì không chuẩn bị nên có kẻ khi thấy nguy hiểm, muốn di tản
thì đã muộn, đành đeo mái nhà chờ chết. Sư liền vận động những đàn ghe
cấp cứu người sống sót đem về những giòng đất cao tạm trú. Riêng những
xác thây ma trôi phập phều, sư cũng đích thân vớt về. Và vì lý do nước
ngập không thể đào huyệt, sư kết bè làm một bãi tha ma nổi, chờ nước rút
rồi mới chôn cất. Cứu lụt xong, sư lại lên đuờng. Một hôm, hành hóa tại
trấn Kiên Giang, vô tình sư khám phá đuợc một ngôi chùa lá hoang vắng nhỏ
bé, nằm lẻ loi ở đầu xóm Vĩnh Hiệp. Trước cửa có treo biển đề " Vô Môn
Tự", mà nét chữ nguệch ngoạc đã lu mờ. Chùa vắng người, nhưng cũng không
đến nỗi lạnh lẽo. Có lẽ, tuy không có người ở thường trực, nhưng cũng có
thiện tín đến chùa đốt nhang, lễ Phật. Tượng Phật bằng đất, đắp vụng về,
vừa thiếu cân xứng, vừa làm gương mặt kém từ bi. Thật tiếc! Sư thầm
nghĩ, rồi sư liên tưởng đến tượng Phật vàng Kim Quang Tự. Tượng Phật vàng
như vết thương đã lành, mà sẹo vẫn còn, nên dù trên 24 năm qua, sư hành
pháp buông bỏ, mà vẫn gợi nhớ khi vô tình thấy một pho tượng kém mỹ
thuật. Như thường lệ, sư quán niệm câu kinh Kim Cang "Nhược dĩ sắc kiến
ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai" để
đối trị.(11)
Mây đen vần vũ từ lúc nào, mà
mưa nặng hột rơi ào ào trên mái lá. Mái chùa mục nát. Nước dột vài
nơi. Trước mặt sư, một dòng nước to bỗng rơi thẳng xuống tượng Phật. Đất
bị thấm nước rả dần đi. Chứng kiến cảnh tượng Phật bị hư hoại, bất giác,
sư nhớ đến bài pháp của tổ Triệu Châu:
"Đừng để Phật đồng vào lò, đừng
để Phật gỗ vào lửa, đừng để Phật đất vào nước. Phật thứ thiệt ngồi ở bên
trong. Bồ đề và niết bàn, Chân như và Phật tánh, tất cả là chiếc áo
ngoài buộc siết thân thể. Chúng được coi như là phiền não..."
Sư bỗng nhiên lặng người, thân
tâm biến mất, chỉ thấy trước mặt mình hiển hiện một khối duy nhất quang
minh chiếu diệu lung linh tuyệt vời. Một thoáng sau kinh nghiệm đó sư
bừng tỉnh lại nhìn tượng Phật thì thấy tượng đã trở thành một đống đất khô
nứt nẻ. Té ra một thoáng của cơn đại định, là đã mấy ngày trôi qua rồi.
Sư quyết định dừng lại nơi
nầy. Hàng ngày sư đọc tụng kinh Lăng Nghiêm để kiểm chứng sở đắc mình,
đồng thời, bắt đầu thăm nom săn sóc đám dân chài. Những kẻ sinh nhai về
nghề biển, làm việc nhọc nhằn và thập phần nguy hiểm nhưng thu hoạch tương
đối khá cao. Sau chuyến đi mươi ngày họ có thể nghỉ ngơi cả tháng. Đó là
thời gian cờ bạc, rượu chè ... để rồi gây chuyện chửi bới, hục hặc nhau
suốt năm. Giáo hóa họ đạo lý là việc khó khăn, đó cũng là nguyên nhân
khiến vị sư kiến tạo ngôi chùa ngày trước đã thất vọng bỏ đi.
Tuy nhiên đạo đức của sư Trí
Thông đã cảm hóa họ nhanh chóng. Thú cờ bạc, rượu chè bừa bãi giảm dần.
Nhận thấy nghiệp sát sanh của họ quá nặng, sư khởi xướng phong trào ăn
chay tập thể. Nhà chùa nấu cơm chay sẵn rồi khuyến khích Phật tử quây
quần ăn chung. Lúc đầu, sư tổ chức mỗi tháng một ngày, rồi tăng dần đến
mười ngày. Số Phật tử tham gia ngày càng đông, nên sư cần những cái nồi
thật to. Một khách thương hồ chuyên buôn bán nồi tại vùng Sóc Soài, đặt
một chiếc nồi đặc biệt to như một cái lu, nhưng thấp hơn, để cúng dường
cho sư. Nồi quá lớn, không có dịp xử dụng, nên sư để ở mái hiên trước
chùa, hứng nước mưa. Trẻ con gọi chiếc nồi đó là " nồi Ông", và cũng có
đứa gọi là ®g nồi". Từ đó, dân chúng thích gọi chùa của sư là chùa Ông
Nồi, cái tên nôm na dễ nhớ và gần gũi với họ.
Vào một đêm trăng tròn tháng
chạp năm Mậu Thân, sau phần công phu, chú khu ô sa di (12) Quảng Hiền đã
chuẩn bị giờ chỉ tịnh, thì có tiếng quân lính rầm rộ la hò bao vây khu xóm
như đang lùng bắt kẻ trọng phạm.
Một người trẻ tuổi, hoảng hốt
phóng chạy vào chùa, vừa thấy sư Trí Thông đã vội vàng quì xuống cầu xin
cứu giúp. Sư bình tĩnh bảo khách nằm gọn trong chiếc "nồi ông", đậy nắp
lại. Sau đó, sư ngồi thiền như thường lệ. Toán lính tràn vào chùa lục
soát, chỉ thấy một vị sư già ngồi thiền và một em bé nằm ngủ. Chùa trống
trải không có nơi nào ẩn nấp, và cũng không thấy điều chi nghi ngờ, nên
toán quân lính trở ra, lùng kiếm nơi khác.
Khi những tiếng la ó của quân
lính nhỏ dần, sư Trí Thông, dở nắp nồi lên, gọi nhỏ:
- Nguyễn công tử. Mọi việc đã
yên ổn. Xin công tử an tâm bước ra.
- Nhà ngươi...À ! Sư cũng biết
ta sao?
- Dạ biết ! Ngài chính là Chúa
Nguyễn Phúc...
Sư Trí Thông chưa nói hết câu
thì mũi kiếm từ tay người khách trẻ đã đâm thẳng vào ngực sư. Sư ngã quỵ
xuống, máu ra thành vòi. Người tuổi trẻ, thật ra, tâm địa không đến nỗi
quá ác độc. Y chỉ có khuyết điểm là xem ngôi Vua quá trọng, nên hy sinh
tình nghĩa. Vì ngai vàng ám ảnh nên đa nghi quá đáng, thủ hạ trung thành
như Đỗ Thành Nhơn mà vẫn đang tâm hạ độc thủ, huống chi sư chỉ là kẻ xa
lạ. Đang cơn nguy khốn, Chúa lo sợ tông tích bị tiết lộ, nên hạ sát người
bịt miệng như một phản ứng tự vệ mà thôi. Hành động xong, nhìn thấy vị
sư già hấp hối, lòng Chúa hơi rung động, nên Chúa ngần ngừ chưa vội chạy
đi.
- Quảng Long! Quảng Long! Ta
thật cảm ơn con đã thành toàn cho ta.
Đoạn sư ngoắt Chúa lại gần, cố
gắng nói tiếp:
- Công tử hãy chạy về hướng
biển, đến căn nhà tận cùng, tìm cho được đệ tử ta là Trần Trung để nhờ chở
ra khơi thì mới mong thoát nạn.
Nghe lời chỉ dẫn, Chúa vui mừng
gật đầu rồi chạy biến đi.
Chú tiểu thức giấc từ lâu, mục
kích nội vụ run sợ im thin thít trên chõng tre, giờ mới loi ngoi chạy đến
bên thầy, khóc thút thít.
Sư nắm tay đệ tử, thương yêu
dặn dò:
- Sanh tử là việc thường, cớ
sao con lại khóc? Nghiệp quả trả xong, thầy rất an lòng đã thành toàn
tâm nguyện.
Sư đã yếu lắm rồi, âm thanh nhỏ
mà vẫn rõ ràng. Sư cố gắng móc túi lấy một phong thơ viết sẵn đưa đệ tử,
nói tiếp:
- Con hãy tìm đến pháp huynh ta
là sư cụ Vĩnh Tràng tại Định Tường để tiếp tục học đạo.
Chú Quảng Hiền thương thầy
quá. Té ra thầy biết sẽ gặp tai kiếp, và đã chu đáo sắp xếp tương lai
cho chú. Cảm động chú lại ồ lên khóc nức nở.
- Con nên cười lên và niệm chú
vãng sanh với thầy nghen con !
Sư niệm chú vãng sanh. Tiếng
của sư nhỏ dần, nhỏ dần rồi tắt hẳn, mà gương mặt tươi nhuận vẫn như còn
phảng phất nụ cười.
****
Chúa Nguyễn được Trần Trung đưa
đi lánh nạn tại các hòn đảo Lõi Sơn, Củ Tron, Nghệ..., rồi sang Xiêm La
cầu viện. Câu chuyện thoát hiểm được tô điểm lại, theo đó Chúa ẩn thân
trống trải sau một pho tượng tại ngôi chùa nhỏ thộc trấn Kiên Giang, nhưng
nhờ "chân mệnh đế vương", được Phật Trời phù hộ, nên giặc Tây Sơn lục tìm
mãi vẫn không thấy. Câu chuyện biến thành huyền thoại được nhân dân miền
Tây tin tưởng, nên mặc dầu, lực lượng của Chúa bị đánh tan rã nhiều lần,
Chúa vẫn tái lập và phục hồi nhanh chóng. Không bao lâu, đến năm Nhâm
Tuất Chúa khôi phục giang sơn, tự xưng là Vua, đổi tên nước là Đại Nam.
Vua là người ân oán phân minh, nên một mặt đào mồ cuốc mả kẻ thù, và mặt
khác ban bố lợi lộc chỗ có ân. Không nhớ đích xác ngôi chùa thoát hiểm,
Vua ban sắc tứ cho tất cả các chùa thộc thị trấn Kiên Giang, và ra lệnh
xuất công khố tu bổ những chùa nầy. Hai ngôi chùa Thập Phương và Tam Bảo
(13), nhờ vậy, được sắc tứ và kiến thiết trở thành hai ngôi chùa cổ khang
trang nhất tại miền Tây.
Trong thời gian nầy, chùa Ông
Nồi đã hư hoại nên không được hưởng ân Vua. Mãi đến mười năm sau, tỳ kheo
Quảng Hiền tu học về, thương nhớ thầy nên tái dựng lại ngôi chùa cũ. Thầy
cũng theo truyền thống của sư phụ, là nấu cơm chùa cho những đồng bào
nghèo ꮠchùa", nên mặc dầu chiếc "Nồi Ông" đã bị hư nát, mà đến nay người
dân vẫn quen gọi ngôi chùa là Chùa Ông Nồi, như 200 năm về trước.
Tháng 11, 1988
Huỳnh Trung Chánh
==========
GHI CHÚ:
(1) Nguyên tác bài Đường thi của Thôi Hộ:
Khứ niên, kim
nhật, thử môn trung
Giả ngoại, đào
hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất
tri hà xứ khứ?
Đào hoa y cựu
tiếu đông phong.
Tạm dịch:
Tại đây, năm ấy,
ngày nầy
Hoa đào, người
đẹp hây hây má hồng
Hoa đào vẫn cợt
gió đông
Mà nay chẳng
biết bóng hồng nơi nao?
(2) Thiên Ấn tự do thiền sư Pháp Hoá, gốc Tiều Châu
tạo dựng năm 1694 trên núi Thiên Ấn, Quảng Ngãi. Hai vị tổ kế vị sư là tổ
Khánh Vân và tổ Bảo Ấn.
(3) Phú Xuân: Làng Phú Xuân tuộc huyện Hương Trà,
Thuận Hoá, đã trở thành kinh đô của xứ đàng trong sau khi Chúa Nguyễn Phúc
Trăn thiên phủ về năm 1687.
(4) Chùa Linh Mụ do Chúa Nguyễn Hoàng ra lệnh xây dựng
năm 1601 trên đồi Kim Long. Đến đời Minh Mạng, chùa được cải danh hiệu
lại là THIÊN MỤ.
(5) Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-65) là vị chúa nhân
từ và mộ đạo. Ngài tự xưng là Từ Tế đạo nhân khi ban sắc tứ các chùa.
(6) Xứ đàng trong: Chỉ cho phần đất từ sông Gianh trở
vào Nam trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh.
(7) Lô Dung: Tên xưa của sông Hương
(8) Phát xuất từ bài thơ "THẾ SỰ":
Chưa dễ ai là
Phật Thích Ca
Mọi niềm nhân
ngã, nhẫn thì qua
Lòng vô sự,
trăng in nước,
Của thảng
lai, gió thổi hoa.
Kìa khách
xuân xanh khi trẻ
Mấy người đầu
bạc tuổi già!
Thanh nhàn
ấy, ắt là tiên khách
Được thú ta,
đã có thú ta.
Nguyễn Bỉnh Khiêm
(9) Kinh An ban thủ ý: Tức kinh Quán niệm hơi thở.
Kinh đã được thầy Nhất Hạnh dịch và chú giải. (Lá Bối 1987)
(10) Phỏng theo Thiền Hành Yếu Chỉ của thầy Nhất Hạnh
(11) Việt dịch:
Nếu thấy ta
bằng sắc tướng
Nghe ta bằng
âm thanh
Người nầy đi
đường tà
Không thấy
được Như Lai
Trích Kinh
Kim Cang (T.T.Thiện Hoa)
(12) Khu Ô Sa Di: Nghĩa đen là sa di đuổi quạ, tức là
loại sa si tuổi từ 7 đến 13, chỉ có thể làm những việc lặt vặt như xua
đuổi quạ, chớ chưa đúng hợp ngôi vị sa di.
(13) Các ngôi "Sắc tứ Tam bảo tự" tại ấp Vĩnh Lạc,
"Sắc tứ Thập Phương tự" tại ấp Vĩnh Thanh, và chùa Ông Nồi ấp Vĩnh Hiệp
đều là những ngôi chùa xưa, và vẫn còn tồn tại thị xã Kiên Giang.