HỒI ẤY
MỘT THẦY TU
Giác
Đạo Dương Kinh Thành
- - -o0o- - -
*Chiến thắng ba vạn quân giặc không bằng tự chiến thắng mình.
THÍCH CA MÂU NI
Kính tặng:
Những vị Tỳ Kheo trang nghiêm khả kính, đã dâng trọn đời mình cho sự
nghiệp hoằng hoá chánh pháp và bền bỉ đi suốt lộ trình giải thoát bản
thân, nghiệp lực.
Đồng riêng tặng Ni Sư T.N.P.T.
Trong đời tôi, rất nhiều
lần được ngủ lại chùa, đặc biệt là những ngôi chùa có nghi thức hành lễ
theo Bắc-Tông. Theo từng giai đoạn lớn lên, tri thức Phật Pháp cũng theo
đà tăng trưởng. Mỗi lần như thế, trước khi thời công phu khuya râm rang là
ba hồi bê bảng như xé toạc màn đêm thanh vắng; tiếp theo đó là tiếng Đại
hồng chung gióng giã (đôi khi những thời hô chuông khuya đó lại do chính
vị trụ trì hô), không chần chừ, tôi phải ngồi bật dậy, dù là ngay trong
mùng và cho dù xa Chánh điện hoặc có khi phải trải chiếu ngủ ngay tại chỗ
đó. Ban đầu vì sợ tội; lớn hơn chút nữa vì sợ phải đoạ làm kiếp bò-sát, và
sau này khi ý thức tương đối, vẫn phải như vậy, nhưng là tâm niệm “tập
mình vào khuôn khổ” để phần nào cảm nhận được sự bền bỉ, đúng luật, đúng
thời khoá của các vị tu hành! Cho dù ngồi một chút rồi nằm xuống trở lại
cũng chẳng sao! Tuy vậy không làm sao ngủ trở lại, nhất là đến thời công
phu (Lăng-Nghiêm Thập chú…) của chư Tăng. Nhờ đó, những lời xướng đảnh lễ
về công ơn Thuỷ Thổ, công ơn Đất nước, Tín thí, Tây thiên Đông Độ truyền
giáo truyền giới, Phụ mẫu ân; cho đến vị Pháp vong thân, vị quốc vong xu
Quảng-Đức Bồ Tát.v.v…Giữa đêm khuya những điều đó đã ít thì nhiều ghi vào
tâm khảm tôi biết bao suy nghĩ tốt lành. Và cũng nhờ đó tôi đã sống theo,
thực hành, không biết là có trọn vẹn lắm không, nhưng dù trong hoàn cảnh
nào, tôi vẫn nhớ mãi hoài những điều đó tưởng cũng “an tâm” với chính mình
và không hổ thẹn mỗi khi đối diện với tượng Phật.
Phải chăng, dù có ba vạn
tám ngàn Pháp môn để đến được với Đạo, với Phật, chỉ ngần ấy ân (Tứ Ân)
tiêu biểu đã làm nên nét đẹp, đẹp tuyệt vời nơi công hạnh của các bậc xuất
gia, từ đó tô điểm thêm màu Đạo vàng rực rỡ đầy vẹn nghĩa ân mà không phải
tôn giáo nào cũng có được? Tôi “thương” Đức Phật và kính trọng chư Tăng từ
đó. Nhờ đó tôi luôn hãnh tiến là người con Phật, cũng nguyện trọn đời làm
theo những điều Phật dạy. Sau này lớn lên, có chức phận nghề nghiệp an ổn,
tôi lại đem những lợi lạc bản thân trở về phục vụ cho Chánh pháp. Với tư
cách người cư sĩ Phật tử, cộng vào nghề nghiệp bản thân, tôi có rất nhiều
thuận duyên tiếp xúc với rất nhiều giới tu sĩ và đến được rất nhiều nơi.
Dĩ nhiên là không phải đến chùa cầu phúc rồi! Do đó tôi tự đề ra phong
cách tu cho mình là “Báo đáp Hồng ân Thầy Tổ để cúng dường Tam Bảo”. Bạn
bè có người cho rằng tôi hơi tự cường điệu. Cũng chẳng sao, bởi Phước báu
và nghiệp lực mỗi người đâu ai cũng giống ai, làm sao nắm bắt, rờ mó được
mà trưng ra bằng cớ để xác tín. Thôi thì đành vậy, thời gian sẽ được mời
làm chứng nhân vậy.
Hồi đó, tôi những tưởng gặp
đạo đức là biết tu, biết tin Phật và cái lòng phái quy y là điểm cuối cùng
xác minh cho sự “gặp” đó. Vậy mà, hởi ơi! Làm sao cảm thấu hết những lời
dạy của đức Phật, cho dù Ngài cho rằng những lời Ngài chỉ dạy là…nắm lá
trong tay? Có người rẽ ngoặc giữa đường; có người ngã gục đau thương do
vấp ngã, mặc dù riêng các vị Tỳ Kheo có “diễm phúc” hơn Tỳ Kheo Ni là sau
mỗi lần vấp ngã ấy có quyền đứng dậy…những 3 lần! Vậy mà nghiệp lực con
người quá nặng hay sao ấy, vẫn có kẻ ngã, ngã và ngã liên tục. Thậm chí có
vị đi gần trọn tuổi đời tu hành, sắp trút hơi tàn lại bỗng hoá tiêu tan!
Hoá ra gặp Phật khó lắm thay!
Cũng…hồi đó! Bọn chúng tôi
gồm có bốn đứa, chơi với nhau rất thân trong tình Đạo bạn. Thường hay tự
nhủ rằng: Mình không có được cái diễm phúc sanh nhằm thời có Phật, nhưng
được nghe Pháp Phật; được gặp người bạn đồng tu và được làm thân người.
Như vậy so với kẻ khác mình đã vượt trội hơn họ ba điều khó (được làm thân
người, được nghe Pháp Phật và được gặp bạn đồng tu) chỉ còn một điều khó
là không sanh nhằm thời có Phật. Còn họ, chỉ có một điều là làm thân người
mà thôi! Ấy vậy cái điều duy nhất đó muốn trọn vẹn ý nghĩa cũng đâu là
điều đơn giản. Khi mà: Phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, xiểm, hại,
kiêu, vô tàm, vô quí, hôn trầm, giải đãi, vô ký, trạo cử, bất tín, phóng
dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri, vẫn còn thì chưa thể gọi là con
người thật sự. Khó khăn vô vàn! Con người đây có 100 pháp, nhưng trong đó
chỉ có 11 tâm sở thôi. Chia ra 26 tâm sở xấu, 4 tâm sở bất định, ngoài ra
các tâm sở còn lại hoàn toàn vô ký! Ôi! Xét ra tường tận như vậy mới thấy
phần nào để gọi là nghiệp lực nặng nề, cũng như cách gọi “biển khổ sông
mê” rõ ràng được hiểu theo nghĩa chính xác nhất. Ngược lại làm sao tin
được khi mọi thứ vui, lạc dục, hưởng thụ.v.v…là mục đích sống của không
biết bao người. Nhưng nó lại chính là nguồn cội sinh ra luân hồi sinh tử
không dừng. Còn những người tu đây, phạm trù “giải thoát” là điều căn bản
nhất. Người tu sĩ thì hạnh nguyện xa rộng, dứt lìa sanh tử, tạo quả giải
thoát. Phật tử cư sĩ như mình thì thấp hơn; ít ra tu để giải thoát một
giai đoạn, một kiếp thọ nghiệp. Cả hai, Tu sĩ và Cư sĩ đều có mỗi trách
nhiệm và luôn luôn là mắc xích hỗ tương lẫn nhau theo công thức Trên-Dưới
Bên phải-Bên trái-Trong ngoài và chính giữa. Đó là nhận thức chính yếu bọn
chúng tôi cảm nhận được trong quá trình tu học. Từ đó, những thâm ân nơi
nguồn sáng Đạo vàng luôn luôn bọn chúng tôi khắc ghi vào tâm khảm, hằng
mong sẽ đền đáp bằng bất cứ giá nào.
Bốn người bạn, rất may là
trong chúng tôi không đứa nào dưới trình độ tú tài đôi (tương đương lớp
12/12 hiện nay). Do vậy, con đường của mỗi đứa được vạch ra khá mạch lạc.
Tuy vậy, diễm phúc sống với tình Đạo bạn phải đâu ai cũng vẹn toàn, hai
đứa đã xuất cảnh, hiện đang ở nước ngoài, đang là những ông chủ chễm chệ,
đường bệ. Bặt giao. Còn lại với quê hương này chỉ có tôi và Hoà. Hoà thì
sau khi tan đàn rẽ nghé, nó may mắn được xuất gia với một vị thầy có đầy
đủ điều kiện để tiến thủ. Còn lại một mình tôi và là người lận đận nhất
trong cuộc sống đời thường với biết bao nhiêu lớp sóng trào đến nghiệt
ngã. Hai kẻ còn lại này từ ấy cũng bặt tin nhau. Một mất mát rất to lớn,
càng thấy nó to lớn hơn khi chen chúc giữa xã hội với rất nhiều vai tuồng,
vỏ bọc khác nhau, tôi đã chạm phải, gặp phải, thậm chí phải giao kết phải
những thứ tình người có điều kiện và có gian ngoa xảo trá. Do lòng tự
trọng quá mức đã biến con người tôi trở thành kẻ luôn mặc cảm và…tự ái.
Thế nên, manh áo chén cơm tôi kiếm được để tự nuôi sống mình, nuôi sống
tâm Đạo rất là gian khổ, cơ hàn. Cùng thời gian này Hoà đang là một vị Tỳ
Kheo đang được sủng ái nhất nhờ khả năng Phật học và tri thức sẳn có, lại
gặp môi trường thuận duyên tác động nên tiếng tăm của Hoà thêm vang dội,
tôi thầm mừng cho Hoà, dù có không biết bao nhiêu lần tìm tôi, nhưng tôi
lánh mặt…
Những đoản khúc “Hồi Đó”
này bây giờ đã trở nên xa xưa, mà nếu có lặp lặp nữa phải gọi là “Hồi
Xưa”, để nhường cái “Hồi Đó” để nói về giai đoạn cách trở giữa hai chúng
tôi. Và như vậy, chuyện bọn chúng tôi bây giờ chỉ còn là chuyện…hai chúng
tôi. Câu chuyện sẽ được kết thúc nơi đây nếu ngay thơ cho rằng tình bạn,
kỷ niệm và đặc biệt nhất là những tinh hoa Phật Đà sẽ cũ mòn theo thời
gian. Vâng! Mãi mãi vẫn luôn ngời sáng. Và như thế, cái “Hồi Đó” này lại
được kéo sang giai đoạn hôm qua của tôi và Hoà. Hoà là điểm tựa cuối cùng,
hy vọng cuối cùng qua cuộc đời tôi, của tình bạn “rớt lại” của chúng tôi
mà những trang đời qua đầy nước mắt, gian khổ giữa trường đời của tôi
không đáng phải đưa vào câu chuyện này. Tôi đang muốn nói về niềm tự hào
cho Hoà.
“Trăm ngàn muôn kiếp khó
tìm cầu…” Vâng, gặp Đạo khó lắm thay, những lúc trôi lênh đênh giữa dòng
đời nghiệt ngã, lúc đói lòng, khi thiếu áo mà tôi vẫn bền bỉ giữ gìn tâm
không xa Đạo như thế, bởi mất thân này, thoát kiếp nghiệp trần hay mất bất
cứ vật báu nào cũng có thể tìm lại được không sớm thì chầy. Nhưng còn để
mất Đạo, xa tâm thì liệu kiếp sau mình có còn đủ nhân duyên để gặp được?
Mà dẫu ai đó có đặt mình vào hoàn cảnh mất Đạo như thế thì cho là đã đành,
thế nhưng còn những nguồn thâm ân (Tứ ân) ơn Thầy Tổ, ơn Tam Bảo và đặc
biệt là ơn Đàn na tín thí, mình mang đến tận bao lâu. Đó chính là lực cản
to tát để kiếp sau dù tái sanh trở lại thân người vì mang những ân nợ ấy
làm sao gặp được Đạo! Do đó, dù mang danh nghĩa bạn bè nhưng tôi làm sao
không kính phục Hoà cho được.
Hiện giờ, ngồi đối diện với
tôi là một thanh niên chưa ngoài ba mươi nhưng nét phong trần đã biểu lộ
trên khuôn mặt khắc khổ. Căn nhà lá, nói đúng hơn là cái chòi lá, chưa đầy
sáu mét vuông, nhưng nắng mưa có thể lọt vào một cách dễ dàng. Không có
lấy một chỗ ngồi, có chăng chỉ là phiến đá ong đỏ nằm sát vách, chứng tỏ
nó được dựng lên ngay trên ngôi mộ lâu đời nào đó, vật dụng trong nhà
không có gì ngoài hai cái nồi và soong nhỏ móp méo cộng với đôi cái chén
mẻ… Sau lưng có lẻ là ba đứa con của anh, trông nhớp nhúa đến tội nghiệp.
Cái nghèo khổ đã được báo trước bằng những cảm quan đó của tôi đối với gia
đình anh. Và cái nghèo khổ đã mua đi nét trẻ trung, sự bặt thiệp xả giao
và ngay cả sự giáo dục đối với những đứa trẻ vô tội kia! Bất giác tôi thở
dài ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại không kém. Điều đó chứng tỏ anh có suy
nghĩ và có thể trong anh còn một nỗi ưu uất nào đó. Anh tiếp tôi miễn
cưỡng, với tôi chỉ là giây lát dừng chân trú nắng, chờ tài xế xe khách
thay lốp xe ngoài đường cái. Tôi gợi chuyện và mời thuốc nhưng anh không
biết hút.
-
Nhà anh cách thị trấn không xa nhưng anh đào chi cái ao lớn như thế
này? Tôi hỏi.
-
Nuôi cá trắm cỏ, ba trăm con và để thả đàn vịt hơn hai trăm con cho
nó mau lớn…
Anh trả lời hờ hửng như thế
và tầm mắt nhìn ra trước mặt cái ao hơn 50 mét vuông đầy nước. Tôi hỏi
tiếp:
-
Chà! Đất đỏ ba dan liệu có phèn không anh, và cá trám cỏ sống phát
triển chứ?
Anh lắc đầu ngao ngán.
-
Tôi nào có biết kinh nghiệm nuôi trồng gì đâu. Mọi việc đều do vợ
tôi quyết định cả.
Tôi móc trong túi ra 20
ngàn xin phép anh cho ba đứa nhỏ. Cả ba đứa đều lắm lét nhìn anh, anh hiểu
ý gật đầu, thế nhưng chúng cũng không dám đưa tay ra cầm tờ giấy bạc. Một
kiểu xác minh lời anh vừa nói ban nảy. Tôi vội đứng lên tiến đến gần chúng
ngồi xuống đưa và nói: - Chú cho các con! Cứ lấy đi, mẹ về chú nói lại
cho!
Chúng cầm tờ giấy bạc lật
qua lật lại rồi bỗng chạy ùa ra cửa mất hút. Thông thường với số bạc như
thế so với hoàn cảnh gia đình như anh, là cha mẹ ai chẳng dặn dò con cái
đừng ăn hàng bậy bạ hoặc là để dành đó… Nhưng ở anh hình như có một sự
chai cứng đến thảm hại. Tôi hiểu điều đó và để phá bớt hàng rào ái ngại
tội tiến lại gần vỗ vai anh:
-
Bây giờ phần mình, xin phép được mời anh ra quán nước…
Anh vừa trả lời vừa gỡ tay
tôi ra:
-
Cảm ơn anh, tôi còn phải…hơn nữa tôi không biết nhậu…
-
Nhậu nhẹt gì, mình chỉ uống nước thôi. – Tôi cười xoà trả lời.
-
Nhưng anh còn phải đi, xe chắc họ đã chữa xong…
Tôi khoát tay dứt khoát:
-Không cần, Tôi sẵn sàng bỏ
nó, đón chuyến khác. Hơn nữa nơi tôi đến chắc không cần nữa đâu.
Anh miễn cưỡng đi theo tôi.
Anh chọn cái quán nước nơi đầu hẻm. Khi ngồi nơi một góc bàn rồi vẫn ngó
quanh quẩn chi đó, chỉ một đoạn đường ngắn từ trong nhà ra đến quán này
anh vẫn luôn có thái độ như vậy cho đến khi tiếng ông chủ quán cất lên mới
giựt mình bối rối:
- Chà, dữ ác hôn, quán tôi
hôm nay mới được chú Hoà ghé vô. Bảy tám năm trời dìa đây sống với cô
Lành…
Ông chủ còn nói gì nữa đó
nhưng tai tôi lùng bùng khi nghe nói tên Hoà, nếu không kềm chế có lẽ tôi
đã giật thót người. Chả lẽ người bạn tôi đây sao? Chả lẽ tôi đã quen nhìn
mọi thứ tốt đẹp đến nỗi không còn khả năng nhận ra dù nét khắc khổ nào ngự
trị đi nữa? Không! Nhất định đây không phải là Hoà của tôi, Hoà của tôi
hiện nay là một vị Tăng sĩ có đầy đủ đức hạnh lẫn tri thức, được mọi người
biết đến và cũng có lẽ đang trụ trì một ngôi chùa nào đó… Sao lại là anh
chàng này? Không! Khốn khổ thay, khi ly cà phê được chủ quán bưng ra chưa
kịp đặt xuống bàn và nỗi xao động trong tôi chưa dứt thì anh ta vụt đứng
dậy với tiếng la hét của người phụ nữ đứng ngoài cửa:
- Mẹ bà nó, nhà cửa, heo,
vịt, ruộng rẫy, con cái không lo, bữa nay bày đặt la cà quán xá! gối rơm
không lo phận gối rơm. May nhà cửa chui rúc trong xó xỉnh, xập xệ, vậy mà
bữa “Ông thầy chùa này” kiếm, mai “ông thầy chùa kia” khác tới tìm… Anh
liệu không ở được với mẹ con tui thì đi dìa nhà anh đi, hay đi trở lại nơi
đã ra đi ấy…tưởng…là…
Tai tôi không còn muốn nghe
những lời đay nghiến đó nữa. Anh ta ngoan ngoãn bước ra khỏi quán lầm lũi
đi theo cô ta trở lại nhà. Tôi đoán không sai và hiểu vì sao tự nảy giờ
anh hay nhìn ngoáy về phía sau…
- Tội nghiệp! - Vị chủ quán
buồn bã ngồi xuống cạnh tôi, cắt đứt lòng suy tư – Chú ấy về đây được bên
vợ cho mảnh đất để trồng tỉa và dựng căn nhà nhỏ để hai vợ chồng sinh
sống. Nhưng nghề nghiệp và tiền bạc không có nên cứ đào đất lên bán cho
những lò làm gạch, lu, chén, riết rồi thành cái ao tành hoành đó đó, sâu
lắm!
Ông chủ quán nói đến đó kèm
theo hơi thở ra dại thượt. Tôi nhân đó hỏi thêm:
- Ông à, ảnh là người như
thế nào mà hồi nảy nghe vợ ảnh nói “thầy chùa” tới tìm hoài là sao ạ?
- Tui cũng hổng rành lai
lịch lắm. Chú ấy sống sao coi có vẻ khép kín qua thành khó mà biết được.
Có điều chú ấy ít nói, lại hiền lành, bảy tám năm trời dìa đây chưa bao
giờ thấy la cà quán xá hay làm mếch lòng ai. Cho nên tôi nghĩ người hiền
lành vậy thầy bà người ta thương, tìm hoài. Mình đây còn thương nữa huống
là mấy ông thầy, phải không chú? Mà con Lành, vợ chú ấy chanh chua lắm, ăn
nói bất kể quân thần. Nghĩ ông trời sao bất công quá xa, thương chi vậy mà
thương…
Tôi tin những lời ông cụ
chủ quán ấy nói, bởi ông cụ trông có vẻ thật thà. Những thông tin ít ỏi đó
chứng tỏ ông cụ không phải hạng thài lai, chuyên dòm ngó chuyện người.
Cộng vào đó, tôi thấy căn nhà phía trong nơi phòng khách, ông có thờ bàn
Phật rất trang nghiêm. Chi tiết này khiến tôi càng tin và quý trọng ông
chủ quán hơn và cũng nhờ đó tôi mạnh dạn hỏi thêm:
- Cụ à, cụ có nghĩ ảnh trước
đây là một thầy tu không?
Ông cụ nhanh nhẹn trả lời:
- Hông à! Tui hổng nghĩ vậy
đâu, làm gì có chuyện một vị thầy tu mà ra đời dễ dàng, lại còn ăn ở với
bà vợ trời thần đất lở như vậy. Mà nếu có vậy thiệt đi nữa chắc tui cũng
chẳng thèm dòm mặt chú ấy nữa.
Như để cũng cố thêm lời
khẳng định ấy, ông cụ nói tiếp:
- Đây nè, có một vài lần,
có một vài vị thầy đến tìm chú ấy, cũng bị miệng con Lành làm như vậy đó,
nên hết hồn nhanh nhẹn trở ra. Tui có thỉnh thoảng vô phòng khách ngồi
nghỉ và tiếp chuyện. Chú biết hôn, mấy thầy ấy hay tìm đến là để cho tiền
bạc, giúp đỡ kẻ nghèo khó. Lòng từ bi của người ta chớ…có phải…
Thì ra là vậy, đến lúc này
thì tôi quả quyết đúng anh ta là một vị thầy đã hoàn tục, còn việc có phải
là Hoà bạn tôi hay không để hạ hồi phân giải. Còn hiện tại, hãy để cho ông
cụ chủ quán này giữ vẹn những điều suy nghĩ tốt lành ấy, cũng như giúp cho
anh này hoàn thành mục đích “khép kín” với chung quanh. Trong tôi chỉ còn
sự thỉnh cầu với cô Lành, với các vị Tăng nào đó hay đến tìm anh, tiếp tục
giúp cho anh bằng thái độ cũng khép kín ấy. Có những quan niệm ấy, bởi
trong tôi vẫn còn một thắc mắc chưa có lời giải.
Tôi trả tiền và cúi đầu
chào vị chủ quán ra đi. Ông chủ quán tiễn tôi ra vệ đường cái, bỗng chợt
vỗ vai tôi nói:
Nếu tôi đoán không nhầm thì
chú đây cũng là một Phật tử?
Tôi vội không chế:
- Dạ điều đó đâu có gì liên
quan đến chuyện anh Hoà ạ. Tình cờ bị ban xe cháu ghé vô chồi anh ấy, vì
thấy hồ nước lớn, gió mát…
Vậy hả? Tưởng chú là Phật
tử mà còn dùng từ gọi quý Thầy là “Thầy chùa” là không ổn.
- Dạ cái đó cháu dựa theo,
lặp lại của cô Lành đó mà.
- Không được, cô Lành khác.
Còn mình, đó là những cụm từ nghe chói tai. Chỉ dành cho hạng vô Đạo thôi.
&
& &
Lại thêm một lần trong đời
tôi được ngủ tại chùa. Ngôi chùa thuộc dạng chùa làng nằm không xa vùng
dân cư và là ngôi chùa duy nhất, cho nên hầu hết nơi đây đều là Phật tử,
lại rất thuần đạo. Trụ trì ngôi chùa này lại là một vị Ni Sư thuộc dòng
phái Khất sĩ, nhưng điều đáng quý nơi vị Sư này là một người có đầy đủ
nhận thức cơ bản nhất không chỉ riêng với đạo mà ngay cả cuộc đời, rất
phóng khoáng nhưng rất an nhiên tự tại. Công hạnh của Ni Sư là thực thi
công tác từ thiện cao cả, chính điều đó đã giúp cho Ni Sư hoằng hoá Phật
sự một cách hanh thông, được các cấp chính quyền ủng hộ và tạo điều kiện
thuận lợi. Ni Sư rất thích làm thơ và nghệ thuật. Vì vậy nếu ai đến được
nơi đây vẫn không cảm thấy gò bó từ quan điểm cho đến phong cách.
Ba ngày liền tôi được phép
trò chuyện với Ni Sư trong mọi vấn đề. Những lúc như thế tôi cảm thấy như
mình là một người thân lâu ngày gặp lại. Do đó mặc dù Ni Sư không đồng ý
nhưng tôi vẫn gọi Ni Sư bằng thầy và xưng bằng con.
- Bạch thầy! Thầy cho phép
con được chép bài thơ này.
Ni Sư nhìn vào quyển tập
thơ để trên bàn theo dấu tay chỉ của tôi. Và như chợt thầm mong mỏi nơi
tôi một kỳ vọng nào đó Ni Sư bèn nhanh nhẹn nói:
- Đây không phải là thơ.
Nhưng con muốn chép thầy cũng sẵn long hoan hỷ. Con cũng cần phải đọc và
học thuộc nó nữa nhé? Đây:
“Thôi con nhé, đừng màng chi
chữ sắc
Thân bảy báu con dằn lòng cho
chặt
Hàng nữ lưu phải cúi mặt kính
thờ.
Thái tử xưa gương còn mãi đến
giờ
Đừng hạ liệt mộng mơ hình
bóng nữ
Đem thân ngọc hy sinh cho thú
dữ
Còn danh thơm hơn ma nữ khiến
sai
Trí hụê con rộng lớn với tài
trai
Nhiều lợi ích muôn loài đang
chờ đợi…”
Với rất nhiều bài thơ,
không bỗng dưng tôi tâm đắc với những dòng này. Với Ni Sư cũng tương tự.
Bởi đó mới chính là tấm lòng thật sự ưu ái của Ni Sư dành cho các đệ tử và
cho những ai Ni Sư cho rằng đang sống và cống hiến đời mình cho chánh Pháp
đó là điều đáng quý nhất nơi Ni Sư. Ni Sư đứng trên thực niệm. Đức Phật
chỉ nơi hàng nữ giới nghiệp lực nặng nề mà “Bát kỉnh pháp” đâu phải là
phương thuốc thần dược duy nhất để chặn đứng hay hạn chế. Cho nên Ni Sư đã
ý thức trọn vẹn và gởi gấm bao nhiêu kỳ vọng cho hàng đệ tử nam giới bằng
tất cả tấm lòng hy sinh tất cả. Bởi vậy, câu chuyện “Anh Hoà” tôi đã kể Ni
Sư nghe và Ni Sư cũng đưa ra câu chuyện về một người đệ tử cũng không kém.
Và bài thơ đó được ra đời từ sự tím bầm, đau xót giành cho vị đệ tử kia.
Người ta luôn đồng cảm khi bắt gặp một vấn đề mang nặng sự trầm lặng, đôi
lúc trở nên ưu tư với riêng mình. Trên quảng đường trần đầy ngắn ngủi
nhưng lại có không ít dấu mòn dẫn người ta rẽ sang nhiều ngỏ hẹp. Vì vậy
mà gặp nhau ngay giữa con lộ chính, dễ dàng cùng người song hướng nhìn
chung một tầm nhìn, tưởng đó không là duyên may bất kỳ ai cũng có được.
Thế cho nên, Ni Sư bắt đầu câu chuyện cũng bằng hai từ…hồi đó!
Vâng! Hồi Đó Ni Sư độ xuất
gia cho anh Hoà khi vừa tròn 18 tuổi, tôi tự đặt tên cho nhân vật đó cũng
là Hoà để sau này đúc kết nên một cuộc đời – cùng lứa với Hoà còn có hai
người nam nữa, đã trở nên tình huynh đệ đồng sư, và cả ba đều tiến bộ như
nhau trong tu học, nhận thức và nghiêm trì giới hạnh rất nghiêm mật. Ở đây
tôi chẳng hề có một dấu hỏi, Ni Sư có đệ tử Tỳ Kheo mặc dù với hệ phái này
tôi chưa đạt nhiều thông suốt. Tôi chỉ biết rằng Ni Sư đã xây riêng một
tịnh xá để ba người ở cách đó khá xa. Cách xưng hô với ba vị này Ni Sư
cũng thi hành đúng giới luật, cho dù ba vị rất kính cẩn, trọng thị và gọi
bằng thầy. Bài thơ đã dẫn ở trên; Ni Sư là hàng Ni giới… Tất cả đã đủ sức
mạnh đánh tan câu hỏi đó mà có thể với người giáo điều khô khan sẽ trở
thành sự thắc mắc…
Với điều kiện sẵn có, bên
dưới giáo luật Phật Đà, Ni Sư còn đùm bọc, lo lắng cho các vị này như một
người mẹ đảm đang hết mực. Ba người, mỗi người đều có một tính và trí huệ
khác nhau, sự ưu ái của Ni Sư cũng nương đó đặt để những quan tâm cần
thiết. Với anh Hoà, Ni Sư đặc biệt chú ý chỉ vì anh rất cần cù nhẫn nại
trong mọi công việc và hầu như chưa lần nào dám làm trái ý Ni Sư. Hoàn
cảnh lúc này hãy còn khó khăn về mọi mặt nên Ni Sư nhìn những đệ tử xuất
gia của mình bằng nhiều điều quí trọng. Làm rẫy, se nhan là điều kiện kinh
tế không nhỏ đối với chùa lúc này, ba vị sư trai hổ trợ Ni Sư rất lớn với
những sự nặng nhọc. Dù vậy, việc nâng cao trình độ trí thức lẫn Phật học
luôn được Ni Sư khuyến cáo sách tấn. Bởi thế cho nên ba vị chỉ bước vào
tuổi 20 đã đủ điều kiện tham dự khoá hạ đầu tiên tại trường hạ Tỉnh hội,
mọi công việc phải dừng lại dù có đổ dồn lên đôi vai Ni chúng, để dành cho
các vị bước ngoặc quan trọng này và là điều khẳng định to lớn; các vị từ
đây đã thực thụ trở thành một Tỳ Kheo vẹn toàn ý nghĩa.
Được Ni Sư sớm trang bị cho
các vị tinh thần tiến thủ, cầu tiến, nhất là phương châm lục hoà triệt để,
nên ba vị luôn được lòng mọi người, không mặc cảm tự ti. Trong mọi sự ma
sát, các vị luôn nhớ lời thầy mình dạy: “Trên dưới phải biết kính nhường
dù phận mình quần lồng đèn, áo ống thụt vẫn phải luôn gìn giữ và cố gắng
học hỏi, vì giáo Pháp Đức Phật là trên hết…” Trước ngày khai mạc khoá hạ,
Ni Sư buộc các vị đệ tử của mình phải đến sớm hơn mọi người để phụ giúp
các công việc từ nhẹ đến nặng như quét dọn trong ngoài, đào thêm giếng
nước, đóng bàn ghế…hầu cung ứng cho hơn 400 người trong suốt ba tháng
trường vân tập. Khi đã mãn hạ, các vị cũng là người về sau cùng. Công lao
vun bồi ấy của Ni Sư được đền bù thoả đáng khi những tiếng thơm về các vị
đệ tử của mình từ trường hạ đưa về tới tấp. Nhất là hai trong ba bài
thuyết Pháp được đưa lên lịch trình thử giảng trước đại chúng. Người được
chú ý nhất là Sư Hoà (cách gọi của Ni Sư) với bài thuyết giảng “Tứ Diệu
Đế” có mặt hầu hết Chư Tôn Hoà Thượng trách nhiệm của trường hạ Sư Hoà
đang thuyết giảng tới hồi lý giải phương pháp Đạo Đế thì Hoà Thượng Thiền
chủ bước lên ngay bụt giảng trước sự ngạc nhiên của đại chúng và sự lo
ngại của Sư Hoà! Nhưng không, Hoà Thượng nắm lấy vai sư tay cầm micro cắt
ngang bài giảng và từ tốn nói: “Các thầy thấy đó, Sư Hoà còn trẻ, lại chịu
khó trau dồi. Y áo dù vá chằng vá đụp như vầy mà có đâu nghĩ riêng cho
mình. Tôi rất cảm động và đặt mọi tương lai Phật Giáo khi có những vị như
vầy. Hồi sáng này trường hạ có trai tăng, thế mà món quà của riêng phần sư
đây đang nằm trong phòng của tôi. Còn bì thư thì lại đang nằm trong thùng
phước sương trong chánh điện. Tôi tán thán công lao dạy dỗ của những vị
thầy đang un đúc nên những người như thế. Ở đây, điều tôi cảm động nhất là
thầy của Sư Hoà đây là một Ni Sư, hiện giờ đang dốc hết mọi nỗ lực để cho
các đệ tử mình an tâm tu học. Đường từ đây về chùa xa lắm, vậy mà cứ ba
bốn ngày sau khi nghi lễ buổi tối xong, Sư xin phép được về để chở bột
nhang cho thầy rồi trở lại vừa đúng mười giờ đêm…”
Vâng! Đường từ đây về chùa
mình xa lắm! Với chiếc xe đạp cọc cạch cũ kỷ, Sư Hoà giữa đêm hôm như thế
phải đạp theo lộ trình hình chứ T (nơi xưởng mộc để mua mạt cưa) rồi mới
đạp ngược trở xuống, rẽ sang hướng chùa mà về, chưa tính con đường quay
trở lại trường hạ. Những khi như thế, có ai thấy cảnh thầy trò dặn dò hay
chỉ dạy…mới cảm nhận hết những nỗ lực to lớn của Sư Hoà. Đường về chùa lúc
này hãy còn ngắn, ngắn vì tấm lòng trời biển của thầy mình, ngắn vì nỗi cơ
cực của thầy mình mà với bệnh đau cột sống, giữa mưa hay trời mưa nắng hạ
vẫn phải ngồi se từng cọng nhang…! Cứ như thế qua ba mùa kiết hạ, như ung
đúc thêm ý chí sắt đá nơi các đệ tử mình và với Ni Sư đó còn là khối bê
tông rắn chắc được đổ móng bền chặt, sẽ chẳng còn gì lo ngại trước huỷ
diệt vô thường.
Rồi một mùa an cư nữa trôi
qua, lần này sau khi mãn hạ mười ngày, thời gian đó là Sư Hoà lo phụ giúp
dọn dẹp mọi thứ mới được trở về theo lời dạy của Ni Sư hằng năm. Sư khép
nép bạch với thầy mình về yêu cầu của vị Hoà Thượng ở chùa tỉnh bạn có
nhiều dịp về trường hạ này giảng dạy hằng năm và biết được công hạnh cũng
như tính cần cù nhẫn nại, muốn Sư về ở phụ giúp một thời gian. Ni Sư cầm
là thư của vị Hoà Thượng ấy đọc xong, nhìn vị đệ tử thân thương nhất của
mình bằng cả niềm tự hào khôn tả, hoan hỷ chấp thuận. Nhân đó Ni Sư khuyến
khích Sư Hoà tranh thủ thời gian này để học thêm chữ nho nơi Hoà Thượng.
Sư Hoà vẫn tuân thủ mọi quyết định dạy răn của thầy, nhưng lần này có hơi
ái ngại bởi sức khoẻ Ni Sư có phần sa sút hơn trước kia do lao tâm lao lực
để cho mình tu học. Hiểu được điều đó Ni Sư bèn phải nói theo cách dựa
Giáo luật:
- Sư chẳng có gì phải ái
ngại cho tôi cả. Đó là phước báu rất lớn trong đời Sư đó, phải cố gắng mà
thọ lãnh. Hơn nữa, lệnh của bề trên, phận thầy không dám cãi, phục dịch
các Ngài cũng đâu có khác ý nghĩa lo cho tôi. Sư cứ hãnh tiến mà an tâm.
Sư Hoà vẫn còn e ngại dùng
dằng:
- Bạch thầy! Nếu con lên
trển ở, Hoà Thượng bắt con đắp y thì phải làm sao ạ?
Ni Sư mỉm cười như để đệ tử
mình hiểu rộng xa hơn:
- Vấn đề là Sư có tinh tấn
bằng tất cả chí nguyện hay không, chứ còn biểu đắp cái gì thì cũng chẳng
sao, Sư ạ. Huống đây là biểu tượng của nhà phật mình, có phải là gì đâu mà
Sư lo ngại.
Rồi có một đêm mưa bão tơi
bời, thân mình ướt sủng, Sư Hoà về thăm lại thầy sau ba tháng trời kể từ
ngày ấy mang lời dạy ra đi. Sư nói rằng có lẽ do phước báu mình còn mỏng
manh nên thời gian ấy về hầu Hoà Thượng lại chính là lục bắt đầu Hoà
Thượng lâm trọng bệnh. Đệ tử, Tăng chúng của Ngài nhiều, lại ở khắp mọi
nơi, việc coi sóc chùa đều nằm dưới quyền một nữ cư sĩ vốn là con cháu của
những vị mà trước kia đã hiến cúng đất và chùa cho Hoà Thượng. Vì vậy Sư
cũng không nằm ngoài sự phân công của vị nữ cư sĩ này. Tuy vậy, mong mỏi
của Ni Sư cũng phần nào toại ý bởi dù bị nghịch cảnh như vậy, Sư vẫn bền
bỉ học và viết được chữ Nho không ít.
Ni Sư vẫn không có vẻ ưu
phiền hỏi: - Vậy chắc hôm nay Sư về vì đã chu toàn mọi việc, mà về có xin
phép Hoà Thượng hay cô Phật tử đó không?
Thoáng một chút chua chát
dù đã cố tình ém nhẹm, Sư nói:
- Bạch thầy! Không đâu ạ.
Hôm nay con chỉ về thăm thầy đôi chút rồi lại đi tiếp. Lần này vắng có thể
hơi lâu vì con phải về làm lúa và coi sóc việc chuyên chở lúa gặt về cho
chùa Hoà Thượng.
Ni Sư có hơi bất ngờ:
- Ủa! Vậy là…! – Ni Sư chợt
giữ lại phong thái muôn thửơ, vội hạ giọng trầm tĩnh, hỏi tiếp việc này do
Sư quyết định hay Hoà Thượng bắt buộc phải làm như vậy?
Sư Hoà vẫn điềm tĩnh:
- Dạ do chính con quyết
định!
Ni Sư như thở phào nhẹ nhỏm
vì có mỗi Ni Sư hiểu hơn ai hết đệ tử của mình. Công việc nặng nhọc kia
chẳng nghĩa lý gì so với đại chí nguyện, ai lại chẳng vượt lên được lại
chẳng qua lửa hồng thử thách. Khi những suy nghĩ chưa được nối tiếp bằng
những huấn thị tiếp theo, làm hành trang cho đệ tử mình cất bước vào cuộc
gian nan thử thách thì tiếng Sư Hoà nghe chừng ri rí bên tai:
- Hoà Thượng thì Ngài chẳng
hề hay biết gì những diễn biến sắp xếp điều hành trong chùa lúc này đều do
vị nữ đại thí chủ kia chủ động. Bà ta đã không ít lần tạo điều kiện cho nữ
giới Phật tử đến gần con để gọi là săn sóc hay giúp đỡ con bởi lao động
cực nhọc. Bà ta tỏ vẻ không mấy hài lòng mỗi khi con tìm cách lánh xa các
sự gần gũi ấy, cho nên bằng mọi cách bà ta muốn thử thách con, nếu không
muốn nói là rắp tâm gài bẫy chi đó, con có cảm giác như vậy. Vì vậy, sau
một ngày rằm lớn, bà khui thùng phước sương ra mà miệng cứ lẩm bẩm nghi
nan ai đó lấy bớt tiền. Bà kêu con lên và phân công từ nay con phải có
trách nhiệm giữ két bác của chùa cũng như của miếu Ngũ Hành bên cạnh. Con
thưa rằng: - Thầy tôi hằng dạy, tuổi trẻ cần phải học, học và mọi cách
phải học, phải tinh tấn, những vấn đề tính toán lợi hại phải tránh xa,
nhất là tiền bạc, dù bất cứ của ai. Bà ta liền đưa ra điều kiện nếu không
chịu thì phải qua chùa A bên tỉnh X hay xuống chùa B làm ruộng. Vậy là con
chọn công việc nặng nhất, làm ruộng…
Ni Sư thế là đã hiểu ra mọi
lẽ, dù đệ tử mình có chút không hài lòng về vị nữ Phật tử kia, nhưng lớn
hơn hết nhận thấy Sư Hoà không có tâm phân biệt. Bởi vì hầu hết các đệ tử
của Hoà Thượng đều đã trưởng thành và mỗi người đang trụ trì các ngôi chùa
lớn rải rác khắp trong và ngoài tỉnh, dưới các vị ấy còn có các đệ tử và
Phật tử nữa. Trong khi đó hai năm nay ngoài cơ sở làm nhang của Ni Sư, Tổ
hợp gia công Mây tre lá xuất khẩu do chính Ni Sư làm chủ nhiệm đang trên
đà phát triển, tạo điều kiện giúp chánh quyền địa phương giải quyết lao
động nhàn rỗi rất lớn. Dù đệ tử mình không dám nêu lên ước mong xin phép
trở về để phụ giúp một cánh tay, nhưng Ni Sư vẫn bầm gan tím ruột, đè nén
lại để chỉ khuyên một đôi câu lấy lệ. Nhưng có một câu hoàn toàn không
phải lấy lệ trước khi nhìn vị Sư trẻ này giã từ mình trở gót ra đi đêm mưa
gió:
- Sư Hoà ơi! Dù trong hoàn
cảnh nào hãy cố gắng. Tôi nguyện xả thân này để hộ trợ Sư vững vàng tiến
bước trên lộ trình giải thoát. Đường về chùa từ đây sẽ càng xa hơn, mong
Sư cố gắng nhớ ghi những lời tôi nhắn nhủ. Tôi mong ngày Sư trở về, sẽ
mang theo bề dày công hạnh được tự tay Sư tác tạo cũng như tiếng thơm cho
cả thầy trò. Nếu khó khăn đi lại hoặc đường xa dịu vợi, cần gì Sư cứ nhắn
tôi sẽ cho người đến tận nơi…
- Sư Hoà từ chối số tiền và
đôi y áo mới Ni Sư may dành cho và bước ra đi. Trước khi xụp tấm phên cửa
xuống để chắn gió tạt, qua ánh chớp lật, Ni Sư còn kịp thấy đệ tử mình
trượt ngã trên con lộ đất đỏ nhầy nhụa.
Ruộng lúa chùa H thuộc vùng
nhiễm phèn, ngập nước nên mỗi năm chỉ có thể trồng trọt một vụ lúa mùa,
giống địa phương. Do đó sau khi xong mùa vụ, vận chuyển lúa thóc chia đều
cho các chùa đệ tử của Hoà Thượng và đôi khi bất kể khuya khoắc, còn phải
chở chút ít về nhà riêng cho cha nữ thí chủ kia ở tít triền đồi phía bên
kia, Sư Hoà phải nhanh chóng thu xếp để đến chùa A phụ lên giồng tỉa ngô
đậu và cột rừng cây ăn trái. Có thể nói đất ruộng rẫy khắp mọi nơi có chùa
đệ tử Hoà Thượng đều là đất hương quả của sự phước báu tự bao đời.
Ngôi Tịnh Xá Ni Sư cất
riêng dành cho các Sư, lâu nay không được chăm sóc nên cỏ mọc um tùm che
khuất cả lối đi, Hai vị Sư huynh đệ kia vẫn thương xuyên ở đó sau khi mãn
các khoá hạ. Nhưng việc tu học luôn bận rộn ở trường cơ bản, mỗi tuần mới
về một lần hoặc các ngày Bố Tát, tụng giới. Đêm nay mùa đông, gió đông bắc
thổi về từ cánh rừng bên cạnh làm se buốt nỗi cô đơn trống trải của những
ai ly hương cách trở. Nhưng với khung cửa sổ ngôi Tịnh Xá này đêm nay ánh
đèn vàng vọt thường khi như sáng hơn, bề ngoài trong có vẻ như một sự đoàn
tụ ấm cúng. Thời gian này, dù trời đông lạnh lẽo, nhưng oái oăm làm sao
mọi người thế tục lại đang rộn rịp để đón mừng năm mới! Vì thế ít ai chú ý
việc ai, thế mà trong ánh sáng ấm áp kia, người ta thấy Ni Sư ngồi giữa,
trước mặt là Sư Hoà và sau lưng nữa là hai vị huynh đệ của Sư. Ni Sư ít
khi đến Tịnh Xá này, có lẽ do hôm nay Sư Hoà, vị đệ tử mình đặt để nhiều
tin tưởng nhất đã về sau bao nhiêu năm dài xa cách, nên Ni Sư quên đi lẽ
ra họ phải đến vái chào, lại phải thân hành đến đây? Nhưng kìa! Ngày đoàn
tụ mà sao không ai hân hoan, Ni Sư lại ngồi bất động, còn Sư Hoà thì y áo
chỉnh tề quỳ trước mặt? Chẳng làm sao nghe được những lời họ nói với nhau,
nét mặt Ni Sư vẫn không có chút gì thay đổi ngoài dáng ngồi khó thấy. Còn
hai vị kia, một tỏ ra giận dữ! Một tỏ ra thành khẩn chi đó, tất cả đều dồn
hướng về Sư Hoà mà từ nảy giờ vẫn không có một lần ngẩng mặt lên…
- Bạch thầy! Con không thể
nào quên được cô ấy!...
Đấy, có thể Sư Hoà không
phải luỵ vì những cử chỉ chăm sóc mỗi lúc lao động nặng nhọc về, hoặc
những nếp ly áo được ủi thẳng tắp và những chiếc khăn ấm có mùi nước hoa
được để sẵn mỗi khi rửa mặt, sau bữa ăn.v.v… Mà là do Bị-Tại-Bởi-Thì-Là …
Nên … Chỉ có mỗi mình Sư hiểu và giải đáp điều đó đầy đủ hơn ai hết. Những
lá thư ngọt lịm lời êm ái được Sư trình bày cặn kẽ và bộc bạch hết trước
thầy và các sư huynh và sám hối lần cuối cùng một cách dõng mãnh, chứng tỏ
Sư không phải người hèn nhát của trí huệ mà bao nhiêu năm trời được un đúc
dưới mái chùa. Sau đó, Sư Hoà đem đốt tất cả những lá thư đó. Ni Sư nhìn
ánh lửa hỗn hào ngoạm lấy những lá thư như chính mình bị thiêu đốt đến tan
nát nỗi lòng. Ước chi đó là thứ lửa…làm sao ước được khi con nhà Phật phải
hiểu đó là thứ lửa gì rồi! Là một vị Tỳ Kheo Ni, có đệ tử và với ngần ấy
tuổi đời là cũng chừng ấy tuổi Đạo, Ni Sư thừa hiểu nghiệp lực không phải
chuyện đùa, hơn nữa những gì đáng nói, Ni Sư đã nói. Ni Sư lặng lẽ trở về…
Những đồng bào dân tộc ít
người, phần lớn là người Ba-na và Ê-đê chung quanh đó, buổi sáng sớm ấy,
lên rừng chứng kiến cảnh đuổi bắt giữa ba người và một người bị tát tay để
rồi cả ba sau đó cùng ôm nhau khóc nức nở! Họ còn nói sau khi ông mặt trời
vừa nhú đầu núi có một người rẽ ngang đường rồi đi hoài mà không hề quay
lại với hai người còn đứng cuối đoạn bìa rừng. Ít ra họ cũng biết đó là
một cuộc chia ly!
Chuỗi ngày kế tiếp được xâu
bằng từng hạt nước mắt đã khô nhưng không bao giờ để rơi rớt trên mảnh đất
trần tục. Đó còn là những cố gắng trong mọi cố gắng để chỉ mong làm sao
giành lại từ vũng lầy đứa đệ tử yêu quý của mình, kể cả đi chuộc bùa, giải
ngãi. Một hành động mà đã đến hôm nay, mỗi lần nhớ lại Ni Sư vẫn còn cười
cho chính mình. Nhưng có ai nỡ trách hay bới lông tìm vết khi biết rằng đó
còn mang ý nghĩa của sự cố gắng nhằm cứu lấy một con người. Không có thứ
bùa ngãi nào có thể mê hoặc được con người để dễ dàng sa ngã, hoặc cứu lấy
một kẻ u mê. Có lẽ nếu ngay từ đầu Ni Sư ý thức được rằng mọi sự cố gắng,
đấu tranh với “Ma nữ” cám dỗ nơi Sư Hoà để đến nỗi như một kẻ chạy trốn,
lánh xa những nơi mà Sư đến vừa để tránh, vừa để thực thi công hạnh bằng
các việc làm lao động ruộng rẫy kia chỉ là cái vòng lẫn quẫn được bố trí
như những vệ tinh xoay quanh nhau bằng một thứ định luật vật lý. Làm sao
thoát ra khỏi quỹ đạo ấy, nếu có chăng thì khác nào Sư Hoà đã phụ bạc và
làm nhơ danh cả mình lẫn thầy. Và như thế Sư như con tàu vũ trụ đang làm
công việc dò tìm, thám hiểm những hành tinh xa xôi, mang về những dữ kiện
bằng các phương tiện tinh vi tiên tiến nhất cho các nhà “Bác học” đang
hằng ngày chực chờ đón nhận với nụ cười hả hê! Để rồi khi hoàn thành sứ
mạng, nó sẽ tự huỷ hoại giữa lòng không gian vô tận, chẳng bao giờ trở về
nữa. Nguyên liệu để nuôi sống con tàu là gì? Với Sư Hoà đó là 250 Tỳ Kheo
giới cộng với Bồ Tát giới, nó sẽ có được sự phân định bằng 10 giới trọng,
và 48 giới khinh. Tiếc rằng những nguồn nguyên liệu quý hơn vàng này Sư đã
tiêu thụ trước khi bước ra khỏi tầng khí quyển chẳng còn chịu ảnh hưởng
của sức hút của trái đất.
Càng văn minh tiến bộ, trí
não con người càng ngày càng tỏ ra tinh xảo hơn. Chỉ một cái ấn nút, biểu
hiện bằng những màu xanh, đỏ, là đạt đến những kết quả mong muốn. Thế mà
mong muốn được thấy chính mình hoặc chung quanh không phải ai cũng đạt
được. Chỉ với những cái nút xanh, đỏ, những tiếng kêu tít tít còn biểu
hiện được cho kết quả thời vi tính. Còn nỗi niềm nào của Ni Sư được thể
hiện qua các bài thơ rút ra từ gan ruột, sao lại chẳng có tên? Phải chăng
vì vậy mà Ni Sư đã để lạc mất tín hiệu phản hồi từ con tàu vệ tinh mình
phóng lên, qua tay người khác? Để nó trở thành vật hy sinh sau khi đem lại
lợi ích lẽ ra từ nơi được phóng lên, để rồi tự huỷ hoại.
Với thầy mình, Sư Hoà thừa
hiểu rằng kết quả trưởng thành không ngoài tham vọng chỉ muốn đệ tử mình
bay ngay trong tầng khí quyển, để vừa đủ thấy và kiểm soát được mình. Với
độ bay đó vừa đủ để thấy những con đường dẫn về các mái chùa hiện hữu trên
mảnh đất Việt Nam thân thương này và với bề dày lịch sử 20 thế kỷ có được
do biết bao công lao chư liệt vị Tổ Sư khó nhọc gầy dựng để lại đến hôm
nay. Ngôi chùa Phật giáo chung. Nhờ đó đệ tử mình sẽ không lầm lẫn màu mái
ngói rêu phong của thời gian lịch sử khác sự rêu phong của định kiến Tông
phái, hàng rào đố kỵ, mới có thể xoá tan vị kỷ “đệ tử thầy, đệ tử tôi”
từng làm suy yếu tiềm năng tinh hoa Phật Giáo. Tinh thần to lớn ấy được
thầy mình thể hiện trong cộng đồng Giáo Hội hôm nay, là đệ tử lẽ ra Sư Hoà
là người tự hào trước nhất. Tiếc thay!
&
& &
Hai vị Sư huynh của Sư Hoà
còn lại với Ni Sư hiện đang vững bền ý chí. Đó cũng chính là hai ông “thầy
chùa” thường xuyên đến với anh Hoà (bạn của tôi - được kể ở phần đầu) cốt
ý là để giúp đỡ anh trước hoàn cảnh túng quẩn theo chỉ thị của Ni Sư. Và
cũng chính Ni Sư đã một lần đến đây theo lời chỉ dẫn của một vài Phật tử
người dân tộc, với hy vọng nhìn lại cuộc sống đời thường của vị đệ tử mình
kể từ ngày cởi bỏ lớp áo Thiền gia. Nhưng anh Hoà không dám tiếp và Ni Sư
không có kiên nhẫn ngồi chờ khi hình ảnh tang thương cuộc sống đó luôn làm
lòng người xuất gia đau xót, và tôi là người sau đó nữa đã tìm có đến được
với anh. Tất cả đều phủ nhận đó là Sư Hoà, lại chẳng phải Hoà bạn của tôi,
nhưng chắc chắn anh là một người đã từng là một vị xuất gia. Tất cả mọi lý
giải để khẳng định “không phải” đều có lý: Sư Hoà (đệ tử của Ni Sư) thường
được đồng bào thiểu số gọi đùa là “người Việt gốc Sư” trước đó đã gặp hai
người sống bằng nghề đốn củi rừng phía bên kia sườn đồi, và người con gái
ấy là cháu gọi bằng bà cô của vị nữ đại thí chủ kia, lúc này cả hai còn ở
chính trong căn nhà của vị nữ thí chủ ấy. Còn Hoà, bạn của tôi? Tôi không
dám chắc rằng hiện giờ ra sao và như thế nào. Tôi chỉ muốn tin rằng vẫn
đang là một thầy tu đang thời hoá Đạo hanh thông, được thầy Tổ thương yêu,
mọi người kính nể.
Chúng ta ai cũng có quyền
tin những điều tốt lành cho mình cho cả người thân của mình. Mới đồng cảm
được nỗi đau của những mất mát mà sự thật phủ phàng đổ ập vào ai đó. Bởi
vậy, đã gọi đời là bể khổ chơi vơi cho nên có ai chúc nhau những lời lẽ
không hay đâu! Toàn là tốt lành, hoa mỹ cả. Những nhân vật còn lại trong
truyện ngắn này có quyền hy vọng và tin tưởng như thế, không chấp nhận
những cái xấu, không hay cho mình, cho những người thân mình; âu đó cũng
là chuyện thường tình của thế gian vốn sớm nắng chiều mưa này.
Gặp Đạo khó lắm thay! Vì
vậy hãy tha thứ và hoan hỷ cho những người đã vắng mặt. Vả lại “đường về
chùa xa lắm”, chắc rồi đây vào một ngày đẹp trời nào đó, họ cũng về tới
thôi!
Tất cả những thương-yêu
buồn-vui giận-hờn phản-trắc lọc-lừa vốn đều không thực có, và ngược lại.
Trong truyện ngắn này cũng không nằm ngoài quy luật đó./.
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi tính: THÍCH ĐỨC TUẤN.
Cập nhật : 01-11-2003