101 TRUYỆN THIỀN
* Diệu Phương xuất bản 2004 *
101 ZEN STORIES
transcribed by
NYOGEN SENZAKI and
PAUL REPS
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
chuyển ngữ
-----o0o-----
Lời Nói Ðầu
↑
Cuốn "101 Zen
Stories" ("101 Truyện Thiền") đã được ấn hành lần đầu vào năm 1939 bởi
Rider and Company, Luân Ðôn, và David McKay Company, Philadelphia. Những
truyện và những giai thoại về Thiền này đề cập tới những kinh nghiệm thực
chứng của các vị Thiền sư người Trung Hoa và Nhật Bản trải qua một thời
gian dài hơn năm thế kỷ.
Tài liệu được
chuyển sang tiếng Anh bắt nguồn từ một cuốn sách có tên gọi là Shaseki-shu
(Collection of Stone and Sand: Thạch Sa Tập hay Góp Nhặt Cát Ðá), viết vào
cuối thế kỷ thứ 13 bởi một vị Thiền sư Nhật Bản có tên là Muju (the
"non-dweller": Vô Trú) và gom góp từ những giai thoại khác của các vị
Thiền sư, Thiền tăng, đồ đệ dòng Thiền xuất hiện rải rác trong nhiều cuốn
sách khác nhau đã được ấn hành tại Nhật Bản vào khoảng thế kỷ 20.
Nội dung các
truyện nói trên được chuyển ngữ sang tiếng Việt dựa theo phần đầu tiên
trong tuyển tập "ZEN FLESH, ZEN BONES" (A Collection of Zen and Pre-Zen
Writings), ấn bản của nhà xuất bản Shambhala, Boston & London, năm 1994.
Phần đầu tiên có tiêu đề là "101 ZEN STORIES" do Nyogen Senzaki và Paul
Reps kể bằng tiếng Anh.
Bản chuyển ngữ
sang tiếng Việt có chủ đích gần như theo sát với nguyên bản tiếng Anh, kể
cả cách hành văn, cấu trúc câu cú, chứ người dịch không nhắm đưa ra một
văn thể bóng bẩy nào khác.
Mong rằng các câu
truyện và những giai thoại thơm ngát hương Thiền trong cuốn "101 ZEN
STORIES" này sẽ chuyên chở được một triết lý cao siêu và thâm thúy nào đó
khiến cho người đọc và người nghe phải tĩnh tâm để mà suy nghĩ rồi tự thức
tỉnh mà tìm theo một con đường tốt đẹp hơn trong cuộc sống của mình.
DI_U PHƯƠNG
( Mùa Phật Ðản
năm 2004 )
* 1 *
↑
Một
Tách Trà
Nan-In, một thiền sư Nhật Bản
vào thời Minh - Trị (1868 - 1912), tiếp một ông giáo sư đại học đến tìm
hiểu về Thiền.
Nan-In mời dùng trà.
Ông đã rót đầy vào tách của khách và vẫn tiếp tục rót thêm.
Ông giáo sư nhìn nước
tràn cho đến khi tự mình không nhịn được thêm nữa. "Tách đã đầy tràn rồi.
Không thêm vào được nữa đâu!"
"Giống như cái tách
này" Nan-In nói, "ông mang đầy ý kiến và suy đoán riêng của ông. Làm sao
tôi có thể chỉ cho ông về Thiền trừ phi ông cạn cái tách của ông trước
đã?"
* 2 *
Tìm
Thấy kim cương Trên Ðường Bùn
Gudo là thầy của hoàng đế vào
thời đó. Tuy thế, ngài vẫn thường hay du hành một mình như là một khất sĩ
lang thang. Một lần khi ngài trên đường đi tới Edo, trung tâm văn hóa và
chính trị của một địa phương quan trọng, ngài đến gần một làng nhỏ có tên
là Takenaka. Trời đã chiều tối và một cơn mưa đang rơi nặng hạt. Gudo ướt
sũng. Ðôi dép rơm của ngài giã ra từng mảnh. Tại một căn nhà nông trại gần
làng ngài nhận thấy có khoảng bốn hay năm đôi dép trong cửa sổ và định hỏi
mua một đôi khô ráo.
Người đàn bà biếu dép
cho ngài, thấy ngài bị thấm ướt quá, mời ngài ở lại qua đêm trong nhà bà.
Gudo nhận lời và cám ơn bà ta. Ngài vào và tụng một thời kinh trước bàn
thờ của gia đình. Sau đó ngài được giới thiệu với mẹ và các con của bà chủ
nhà. Nhận thấy cả nhà đều buồn bã, Gudo hỏi xem có điều gì xảy ra không.
"Chồng con là một kẻ cờ bạc và say sưa", bà
chủ nhà thưa với ngài. "Khi anh ấy mà được bạc thì anh ấy uống rượu rồi
trở nên thô lỗ. Khi anh ấy thua thì lại vay mượn tiền người khác. Ðôi khi
say sưa quá mức thì anh ấy lại chẳng về nhà gì cả. Con phải làm sao đây?"
"Ta sẽ giúp anh ấy
cho," Gudo nói. "Ðây có ít tiền. Hãy đi mua cho ta một hũ rượu tốt và ít
đồ gì ngon để ăn. Rồi bà có thể vào nghỉ ngơi đi. Ta sẽ thiền định trước
bàn thờ."
Khi anh chủ nhà trở về vào khoảng nửa đêm, say
mèm, anh ta tru tréo lên: "Này, mụ vợ ơi, ta đã về đây. Mụ có gì cho ta ăn
không?"
"Ta có đồ ăn cho anh
đây" Gudo nói. "Ta bất ngờ bị mắc mưa và bà vợ anh tử tế cho ta tạm trú
tại đây qua đêm. Ðể đáp lại ta có mua một ít rượu và cá, như vậy anh có
thể dùng được đấy."
Anh chồng hài lòng.
Anh ta uống rượu ngay rồi nằm lăn xuống trên sàn nhà. Gudo ngồi thiền bên
cạnh anh ta.
Vào buổi sáng khi anh
chồng tỉnh dậy anh ta quên hẳn mọi chuyện đêm qua. "Ông là ai? Ông ở đâu
đến đây?" anh hỏi Gudo, khi ngài vẫn còn đang thiền định.
"Ta là Gudo ở Ðông
Kinh và ta đang trên đường đi đến Edo," vị thiền sư trả lời.
Anh chồng quá xấu hổ.
Anh rối rít xin lỗi vị thầy của hoàng đế của mình.
Gudo mỉm cười. "Mọi
vật trên cõi đời này đều vô thường," ngài giảng dạy. "Cuộc đời rất ngắn
ngủi. Nếu anh cứ tiếp tục đánh bạc và uống rượu thì anh chẳng còn lại thì
giờ đâu mà hoàn thành được việc gì khác, và anh sẽ làm khổ cho cả gia đình
của anh nữa."
Anh chồng chợt tỉnh
ngộ như ra khỏi cơn mê. "Ngài nói đúng," anh ta lên tiếng. "Làm sao con có
thể đền ơn cho ngài về lời dạy tuyệt vời này! Hay là để con tiễn chân ngài
và mang hành lý hầu ngài một quãng đường."
"Nếu anh muốn," Gudo
đồng ý.
Cả hai người lên
đường. Sau khi đi được chừng ba dặm đường Gudo bảo anh ta quay về. "Chỉ
xin được thêm năm dặm nữa thôi," anh năn nỉ Gudo. Họ tiếp tục đi tới.
"Anh có thể trở lại bây giờ," Gudo đề nghị.
"Sau khi thêm mười
dặm nữa," anh ta đáp lại.
"Bây giờ hãy quay trở
về đi," Gudo nói, sau khi đã đi qua hết mười dặm.
"Con sẽ theo ngài
suốt quãng đời còn lại của con," anh ta tuyên bố.
Những thiền sư hiện đại ở Nhật Bản đều xuất
phát từ dòng của một vị thầy nổi danh, ngài là người kế thừa của Gudo. Tên
của ngài là Mu-nan, người không bao giờ quay trở lại.
* 3 *
↑
Vậy
Sao?
Thiền sư
Hakuin được mọi người chung quanh ca tụng là một người sống cuộc đời trong
sạch.
Một cô gái Nhật Bản
xinh đẹp, mà bố mẹ có một cửa hàng thực phẩm, sống gần ngài. Bỗng nhiên,
thật chẳng ai ngờ, bố mẹ cô khám phá ra rằng cô đang có thai.
Ðiều này làm bố mẹ cô
tức giận. Cô không chịu thú nhận ai là người làm chuyện đó, nhưng sau bao
phen bị vặn hỏi cuối cùng cô chỉ tên người đó là Hakuin.
Cha mẹ cô giận dữ vô
cùng, đến kiếm ông thiền sư. "Vậy sao?" ngài chỉ nói có vậy thôi.
Sau khi đứa trẻ sinh
ra, người ta mang nó tới cho Hakuin. Vào lúc này ngài đã mất hết cả danh
tiếng rồi, nhưng điều đó không làm ngài bực bội, ngài chăm sóc đứa trẻ
rất là chu đáo. Ngài xin sữa của những người lối xóm và các thứ khác mà
đứa trẻ cần đến.
Một năm sau cô gái
làm mẹ kia không chịu đựng được điều đó thêm nữa. Cô bèn thú thật với bố
mẹ cô rằng người cha thật sự của đứa con là một anh trẻ tuổi làm việc
trong chợ cá.
Mẹ và bố cô gái vội vàng tìm đến Hakuin xin
ngài tha thứ, sau khi xin lỗi hết lời, rồi xin nhận lại đứa trẻ.
Hakuin ưng thuận. Khi trao đứa trẻ lại ngài
chỉ nói: "Vậy sao?"
* 4 *
↑
Tuân
Lời
Những buổi
thuyết pháp của thiền sư Bankei không những chỉ có các thiền sinh mà còn
có thêm người thuộc các đẳng cấp và tông phái khác tham dự. Ngài không bao
giờ viện dẫn kinh điển cũng chẳng hăng say thuyết giảng về những điều nặng
phần học thuật. Thay vào đó, lời ngài nói đi thẳng từ tâm ngài tới tâm các
người nghe ngài.
Số thính giả đông đúc
của ngài làm cho một tu sĩ của môn phái Nichiren tức giận bởi vì các môn
đồ của ông ta cũng bỏ đi nghe Thiền. Ông tu sĩ môn phái Nichiren tự đắc
kia tìm đến thiền đường, định tranh luận với Bankei.
"Này, ông thầy dạy
Thiền!" ông ta kêu lớn tiếng. "Ðợi một chút đi. Bất cứ ai kính phục ông
đều nghe theo lời ông nói cả, nhưng một người như ta đây không hề kính
phục ông đâu. Ông có thể làm cho ta tuân lời ông được không?"
"Hãy đến gần tôi đây và tôi sẽ chỉ cho" Bankei
nói.
Với vẻ tự hào, ông tu sĩ chen lấn đường qua
đám đông bước đến phía thiền sư.
Bankei mỉm cười. "Ông hãy sang bên phía trái
tôi."
Ông tu sĩ tuân theo.
"Không," Bankei nói,
"chúng mình có thể nói chuyện thoải mái hơn nếu ông ở phía bên phải. Hãy
bước qua đây."
Ông tu sĩ kiêu hãnh
bước sang bên phải.
"Ông thấy đấy" Bankei
nói, "ông đang tuân theo lời tôi và tôi nghĩ rằng ông là một người rất hoà
nhã. Bây giờ hãy ngồi xuống và lắng nghe nhé."
* 5 *↑
Nếu
anh Yêu,
Hãy
Yêu Công Khai
Hai mươi tăng sinh và
một ni sinh, cô được đặt tên là Eshun, đang tu tập thiền định với một vị
thiền sư nọ.
Eshun rất xinh đẹp
mặc dù đầu cô đã cạo và quần áo của cô thì đơn sơ. Một vài tăng sinh thầm
yêu cô. Một tăng sinh trong nhóm đó viết cho cô một lá thư tình, ước mong
được gặp gỡ riêng tư.
Eshun không trả lời. Ngày hôm sau thầy giảng
bài cho cả nhóm, và khi bài giảng chấm dứt, Eshun đứng dậy. Nhắm về người
đã viết thư cho cô, cô nói: "Nếu anh thực sự yêu tôi quá nhiều, thì hãy
đến đây và ôm tôi bây giờ đi."
* 6 *↑
Không Có tâm Từ
Có một bà lão ở Trung Hoa đã
cung dưỡng cho một ông sư hơn hai mươi năm. Bà đã cất một thảo am nhỏ cho
ông và cung cấp lương thực cho ông khi ông thiền định. Cuối cùng bà muốn
thử biết xem ông đã đạt được tiến bộ đến đâu trong suốt thời gian này.
Muốn khám phá ra điều
đó bà tìm một cô gái nhiều dục vọng nhờ giúp đỡ. "Hãy đến và ôm ông ấy,"
bà bảo cô, "và rồi hỏi ông một cách bất ngờ: ‘Làm gì nữa bây giờ đây?’"
Cô gái đến thăm ông
sư và chẳng cần làm bộ làm tịch gì cả cô vuốt ve ông ta, rồi hỏi ông xem
ông sẽ làm gì tiếp về chuyện này.
"Một cây cổ thụ mọc trên một tảng đá lạnh vào
mùa đông," ông sư trả lời một cách hơi thi vị. "Không đâu còn chút ấm áp
nào."
Cô gái quay về và
thuật lại những gì sư đã nói.
"Nghĩ xem ta đã nuôi cái ông này cả hai mươi
năm trời!" Bà già kêu lên giận dữ, "Ông ấy đã không thèm đếm xỉa đến nhu
cầu của cô, đã không có ý muốn giải thích cho cái tình cảnh của cô. Ông ấy
không cần phải đáp ứng sự tham dục, nhưng ít nhất ông ấy cũng phải tỏ lộ
ra một chút tâm từ chứ."
Bà già lập tức đi
ngay tới thảo am của ông sư và đốt rụi nó luôn
* 7 *↑
Thông Báo
Tanzan viết sáu mươi tấm bưu
thiếp vào ngày cuối cùng của đời ông, và sai một người hầu cận gửi bưu
thiếp đi. Xong rồi ông từ giã cõi đời.
Những tấm thiếp viết:
Ta sắp rời
khỏi cõi trần gian này.
Ðây là lời
thông báo cuối cùng của ta.
Tanzan.
Tháng
7 ngày 27, 1892
* 8 *↑
Những Con Sóng Lớn
Vào những ngày đầu
của thời Minh Trị có một tay đô vật nổi tiếng tên là O-nami, Sóng Lớn.
O-nami khoẻ vô cùng
và biết nghệ thuật đô vật. Trong những lần đấu riêng tư chàng còn hạ ngay
cả thầy của chàng nữa, nhưng trước công chúng thì chàng lại nhút nhát đến
nỗi những học trò riêng của chàng cũng quật ngã được chàng.
O-nami thấy chàng cần
phải tìm đến một thiền sư nhờ giúp đỡ. Hakuju, một ông thầy du hành lang
thang, đang dừng chân ở một ngôi chùa nhỏ gần đó, cho nên O-nami tìm đến
gặp ông và trình bày cho ông rõ về cái trở ngại của chàng.
"Sóng Lớn là tên của
anh," ông thầy khuyên nhủ, "vậy thì hãy ở lại trong chùa này tối nay. Hãy
tưởng tượng rằng anh là những cuộn sóng lớn đó. Anh không còn là một tay
đô vật bị hãi sợ nữa. Anh là những đợt sóng hùng vĩ này cuốn phăng đi tất
cả mọi thứ ở trước sóng, nuốt đi tất cả mọi thứ trên con đường sóng cuộn.
Hãy làm như vậy và anh sẽ là tay đô vật vĩ đại nhất trong nước".
Ông thầy lui vào. O-nami ngồi thiền định cố
tưởng tượng chính mình là những cuộn sóng. Chàng nghĩ ngợi đến nhiều thứ
khác nhau quá. Rồi dần dần chàng chuyển càng ngày càng nhiều hơn nữa qua
cái cảm giác của những cuộn sóng. Ðêm càng về khuya thì những cuộn sóng
càng lúc càng lớn thêm lên. Sóng cuốn phăng đi những bông hoa trong các
bình. Ngay cả ông Phật trên bàn thờ cũng bị ngập chìm. Trước khi trời sáng
thì ngôi chùa chẳng còn là gì nữa mà chỉ còn là sóng dâng lên rồi lại rút
đi trong một đại dương bao la.
Vào buổi sáng ông
thầy thấy O-nami đang thiền định, một nụ cười thoáng nhẹ trên khuôn mặt
chàng. Thầy vỗ vào vai tay đô vật. "Giờ đây không còn gì có thể quấy nhiễu
anh nữa," ông nói. "Anh là những cuộn sóng đó. Anh sẽ cuốn phăng đi mọi
vật trước anh."
Cùng ngày hôm ấy
O-nami tham gia vào các cuộc thi đấu vật và chiến thắng. Sau đó, không còn
ai ở Nhật Bản có thể đánh bại được chàng nữa.
* 9 *↑
Mặt
trăng không thể bị ăn cắp
Ryokan, một thiền sư, sống cuộc
đời đơn giản nhất trong một thảo am nhỏ bé ở dưới chân một ngọn núi. Một
đêm có một tên trộm đến viếng thảo am nhưng chỉ thấy rằng chẳng có gì
trong đó để lấy trộm cả.
Ryokan trở về và bắt
gặp hắn. "Có lẽ anh phải đi khá xa để đến thăm ta," ngài nói với kẻ rình
mò, "và anh chẳng nên quay về với tay không. Hãy lấy bộ quần áo của ta mà
làm quà."
Tên trộm chưng hửng. Hắn lấy bộ quần áo và
chuồn đi ngay.
Ryokan ngồi trần
truồng, ngắm mặt trăng. "Anh bạn đáng thương," ngài trầm ngâm, "Ta ước gì
ta có thể tặng cho anh ấy mặt trăng đẹp đẽ này."
* 10 *↑
Bài
Thơ Cuối cùng
Của
Hoshin
Thiền sư Hoshin sống
ở Trung Hoa nhiều năm. Rồi ngài quay về vùng đông bắc nước Nhật Bản, ở đó
ngài dạy các đệ tử của ngài. Khi ngài quá già, ngài kể cho họ một câu
chuyện mà ngài đã nghe được ở Trung Hoa. Ðây là câu chuyện:
Một năm vào ngày hai
muơi lăm tháng chạp, Tokufu, đã rất già, nói với đệ tử của ngài: "Ta không
sống nổi được đến sang năm vậy các con hãy chăm sóc ta cho chu đáo trong
năm nay."
Các đệ tử nghĩ rằng
ngài nói đùa, nhưng vì ngài là vị thầy có tấm lòng cao cả cho nên mỗi
người trong nhóm đệ tử thay phiên nhau đãi tiệc ngài trong những ngày kế
tiếp của năm sắp tàn.
Vào đêm giao thừa,
Tokufu sau chót nói: "Các con đã tử tế với ta. Ta sẽ xa các con vào chiều
mai khi tuyết ngừng rơi."
Các đệ tử đều cười,
nghĩ rằng ngài đã có tuổi và ăn nói lẩm cẩm bởi vì đêm thì quang đãng và
không có tuyết. Nhưng vào nửa đêm tuyết bắt đầu rơi, và đến ngày hôm sau
thì họ chẳng thấy ông thầy họ đâu nữa. Họ đi đến thiền đường. Ngài đã qua
đời nơi đó.
Hoshin, người kể câu
chuyện này, nói với các đệ tử của ngài: "Một thiền sư đoán trước ngày mình
viên tịch cũng không phải là một điều cần thiết chi, nhưng nếu vị ấy thực
sự muốn làm như vậy, vị ấy có thể làm được."
"Thầy có làm được không ạ?" một đệ tử hỏi.
"Ðược chứ," Hoshin
trả lời. "Ta sẽ cho các con biết ta có thể làm được những gì sau bảy ngày
nữa tính từ hôm nay."
Chẳng có một đệ tử
nào tin ngài hết, và hầu như đa số trong bọn họ cũng đã quên câu chuyện
rồi cho đến lần sau khi Hoshin cho gọi họ tụ họp lại.
"Bảy ngày trước đây," ngài nhắc lại, "Ta nói
ta sẽ xa lìa các con. Theo lệ thường thì nên viết một bài thơ từ biệt,
nhưng ta chẳng phải là thi sĩ cũng không là người viết thư họa. Vậy một
người trong các con hãy ghi lại những lời cuối cùng của ta."
Các môn đồ của ngài
tưởng ngài nói đùa, nhưng một người trong bọn họ đã sửa soạn để viết.
"Con sẵn sàng chưa?"
Hoshin hỏi.
"Thưa thầy rồi ạ"
người viết đáp lời.
Rồi Hoshin đọc:
Ta đến từ
tánh sáng
Và về với
tánh sáng.
Ðây là cái gì
vậy?
Bài thơ thiếu một
dòng nữa để trở thành một bài tứ tuyệt thường làm, vì vậy người đệ tử nói:
"Kính thầy, chúng ta thiếu một câu."
Hoshin, với tiếng gầm
của một con sư tử chiến thắng, la lớn lên: "Kaa!" rồi ra đi.
* 11 *↑
Câu
truyện
Nàng
Shunkai
Người đẹp Shunkai còn
có tên khác là Suzu đã bị ép buộc kết hôn trái với ý nguyện của nàng khi
nàng còn quá trẻ. Sau đó, khi cuộc hôn nhân này đã chấm dứt, nàng theo học
tại trường đại học, ở đó nàng học môn triết.
Nhìn thấy Shunkai là
yêu nàng ngay. Hơn nữa, nàng đi đến đâu, chính nàng cũng lại phải lòng các
người khác. Tình yêu đến với nàng ở trường đại học, và cả sau đó nữa, khi
môn triết học không làm nàng hài lòng và nàng đến viếng một thiền viện để
học về Thiền, các thiền sinh lại thương yêu nàng. Cả cuộc đời của Shunkai
đắm chìm trong tình yêu.
Cuối cùng ở Kyoto
nàng trở thành một thiền sinh thực sự. Các huynh đệ của nàng ở thiền viện
phụ Kennin đều ca ngợi lòng thành thật của nàng. Một người trong số đó tỏ
ra có tinh thần tương thân và giúp đỡ nàng thấu triệt được môn Thiền.
Viện trưởng của thiền
viện Kennin, Mokurai, Tiếng Sấm Im Lặng, thì nghiêm khắc. Chính ngài tự
giữ giới luật và đòi hỏi mọi tu sĩ của ngài cũng phải giữ như thế. Trong
nước Nhật Bản hiện đại khi các tu sĩ này mất đi nhiệt tâm cho Phật giáo
thì họ lại có nhiệt tình khi lấy vợ. Mokurai thường phải lấy một cây chổi
và xua đuổi phụ nữ đi chỗ khác khi ngài thấy họ trong bất cứ thiền viện
nào của ngài, nhưng ngài càng đuổi bao nhiêu bà vợ ra thì hình như lại
càng có nhiều bà quay trở lại.
Trong thiền viện đặc biệt này bà vợ của ông tu
sĩ trưởng tràng trở nên ghen tuông với lòng sốt sắng và sắc đẹp của
Shunkai. Nghe các thiền sinh ca tụng môn Thiền đứng đắn của nàng khiến bà
vợ này bực bội và bồn chồn. Sau cùng bà tung ra một tin đồn về Shunkai và
người thanh niên, là bạn của nàng. Hậu quả là anh ta bị trục xuất và
Shunkai bị chuyển ra khỏi thiền viện.
"Mình có thể phạm lầm lỗi vì tình yêu,"
Shunkai nghĩ, "nhưng bà vợ của ông tu sĩ cũng không nên được ở lại thiền
viện khi bạn của ta bị đối xử một cách bất công như thế."
Shunkai ngay đêm đó
với một bình dầu lửa đã phóng hỏa vào ngôi thiền viện cổ xưa có từ năm
trăm năm nay và đốt nó cháy rụi hết. Vào buổi sáng nàng bị cảnh sát bắt
giữ rồi.
Một ông luật sư trẻ
tuổi chú ý đến nàng và cố gắng giúp làm cho án phạt của nàng nhẹ hơn.
"Ðừng nên giúp tôi," nàng nói với ông ấy. "Tôi có thể quyết định sẽ làm
chuyện gì khác để rồi lại bị bỏ tù nữa thôi."
Cuối cùng hình phạt
bảy năm tù cũng mãn hạn, và Shunkai được phóng thích khỏi nhà tù, nơi đó
ông cai ngục sáu chục tuổi đầu cũng say mê nàng.
Nhưng giờ đây mọi người đều coi nàng như một
"con mọt tù." Không ai muốn liên hệ với nàng. Ngay cả các người theo
Thiền, những người vốn tin tưởng vào sự giác ngộ giải thoát trong đời này
và với tấm thân này, cũng xa lánh nàng. Shunkai khám phá thấy rằng Thiền
là một việc và những kẻ theo Thiền lại là một việc hoàn toàn khác biệt.
Những thân nhân của nàng cũng tránh xa nàng. Nàng mắc bệnh, nghèo nàn, và
yếu đuối.
Nàng gặp một tu sĩ
phái Shinshu ông ta dạy nàng danh hiệu Ðức Quán Thế Âm, nhờ vậy Shunkai
tìm được niềm an ủi và thanh thản trong tâm hồn. Nàng qua đời khi còn rất
xinh đẹp và gần ba mươi tuổi đầu.
Nàng đã cố gắng viết lại câu chuyện riêng của
nàng để kiếm sống cho chính nàng và một phần câu chuyện thời nàng kể lại
cho một người phụ nữ viết. Bởi thế câu chuyện đã tới tai dân chúng Nhật
Bản. Những kẻ đã từng từ bỏ Shunkai, những kẻ đã từng vu cáo và ghét bỏ
nàng, nay đọc chuyện về đời nàng trong nước mắt hối hận.
* 12 *↑
Ông
Tàu sung sướng
Bất cứ ai đi quanh các phố Tàu
ở Mỹ cũng đều nhận thấy những pho tượng của một ông mập mạp vác một cái bị
bằng vải. Những người buôn bán Trung Hoa gọi ông ta là Ông Tàu Sung Sướng
hay Ông Phật Cười.
Ông Hotei này sống ở đời nhà Ðường. Ông chẳng
có lòng ham muốn tự gọi mình là một thiền sư hoặc thâu nạp nhiều đệ tử
quanh ông. Thay vào đó ông đi khắp phố phường với một cái bị lớn trong đó
ông đựng các món quà như kẹo, trái cây, hay bánh. Những thứ này ông sẽ
mang phân phát cho những đứa trẻ con hay quây quần quanh ông chơi đùa. Ông
đã tạo lập một vườn trẻ ngoài đường phố.
Mỗi khi ông gặp một người tôn sùng đạo Thiền
ông liền chìa tay của ông ra và nói: "Cho tôi xin một xu." Và nếu có ai đó
yêu cầu ông trở về một thiền viện để dạy dỗ người khác, ông lại trả lời
là: "Cho tôi xin một xu."
Một lần ông đang làm
cái công việc chơi đùa, có một thiền sư khác tình cờ đi ngang và hỏi: "Thế
nào là ý nghĩa của Thiền?"
Hotei lập tức buông
rơi cái bị của ông xuống đất để trả lời một cách yên lặng.
"Vậy thì," thiền sư
kia hỏi, "cái thực dụng của Thiền là gì?"
Tức khắc Ông Tàu Sung
Sướng quăng cái bị lên vai ông và tiếp tục con đường của mình.
* 13 *↑
Một
Ông Phật
Sống tại Ðông Kinh
vào thời đại Minh Trị có hai ông thầy nổi bật với tính tình trái ngược hẳn
nhau. Một ông là Unsho, giáo sư ở Shingon, giữ giới luật của Phật một cách
nghiêm túc. Ông không bao giờ uống đồ uống có chất rượu, cũng chẳng ăn sau
mười một giờ sáng. Ông thầy kia, Tanzan, một giáo sư triết học tại trường
đại học hoàng gia, chẳng hề bao giờ giữ giới. Khi ông thấy thích ăn thì
ông ăn, và khi ông thấy thích ngủ lúc ban ngày thì ông ngủ.
Một hôm Unsho đến
thăm Tanzan, lúc đó ông này đang uống rượu, dù cho lưỡi của một Phật tử
không được phép đụng tới thứ này dù chỉ một giọt.
"Chào sư huynh,"
Tanzan lên tiếng đón mừng. "Uống một ly nhé?"
"Tôi chẳng bao giờ
uống!" Unsho lớn tiếng một cách nghiêm trang.
"Ai không uống đâu có
còn là người nữa," Tanzan nói.
"Sư huynh định coi
tôi không phải là người chỉ vì tôi không ham những thứ chất lỏng độc hại
à!" Unsho la lớn giận dữ. "Vậy nếu tôi không phải là người thì tôi là cái
gì vậy?"
"Một ông Phật," Tanzan trả lời.
* 14 *↑
Ðường Bùn Lầy
Tanzan và Ekido một lần cùng đi với nhau xuống
một con đường lầy lội. Một cơn mưa nặng hạt vẫn còn đang rơi.
Tới một khúc quanh,
họ gặp một cô gái dễ thương trong bộ áo kimono và đai lưng bằng lụa, không
thể băng qua ngã tư đường được.
"Ði nào cô bé,"
Tanzan liền nói. Ðưa tay nhấc bổng cô gái, ông đưa cô qua vũng bùn.
Ekido không nói năng
lại nữa cho mãi đến tối hôm đó khi họ tới một ngôi chùa tạm trú. Rồi tự
mình không thể nhịn được thêm nữa. "Những nhà sư chúng ta không đến gần
phụ nữ," ông nói với Tanzan, "nhất là không được gần những người trẻ và
đẹp. Nguy hiểm đấy. Tại sao sư huynh lại làm như vậy chứ?"
"Tôi đã bỏ cô gái lại
chỗ đó rồi," Tanzan nói. "Sư huynh vẫn còn mang cô ấy theo hay sao?"
* 15 *↑
Shoun Và Mẹ
Shoun đã trở thành
một ông thầy của phái Thiền Soto. Khi ông còn là một thiền sinh cha ông
qua đời, để lại cho ông phải chăm nom bà mẹ già.
Mỗi khi Shoun đến thiền đường ông đều dẫn mẹ
theo với ông. Vì bà theo bên cạnh ông, cho nên mỗi khi ông viếng các tu
viện ông không thể sống cùng các nhà sư. Do đó ông xây một căn nhà nhỏ và
săn sóc bà ở đó. Ông thường chép kinh, những bài kệ Phật giáo, và nhờ cách
đó mà nhận được ít tiền để mua thực phẩm.
Khi Shoun mua cá cho
mẹ ông, người ta giễu cợt ông, bởi vì một ông sư không được ăn cá. Nhưng
Shoun chẳng thèm lưu tâm tới. Tuy nhiên, mẹ ông lại đau khổ khi thấy mọi
người cười chê con bà. Cuối cùng bà bảo Shoun: "Mẹ nghĩ mẹ có thể trở
thành một ni cô được. Mẹ cũng có thể là một người ăn chay nữa." Bà liền
thực hiện điều đó và hai mẹ con tu học cùng nhau.
Shoun yêu thích âm
nhạc và từng là một ông thầy về đàn hạc, thứ đàn mà mẹ ông cũng biết chơi.
Vào những đêm trăng tròn, hai mẹ con thường hòa đàn cùng nhau.
Một buổi tối có một
cô gái trẻ đi ngang nhà họ và nghe thấy tiếng nhạc. Cảm động sâu xa, cô
mời Shoun đến thăm cô vào đêm hôm sau và chơi đàn. Ông nhận lời mời. Một
vài ngày sau ông gặp cô gái trẻ ở ngoài phố và cám ơn cô về lòng hiếu
khách của cô. Những người khác cười nhạo ông. Ông đã ghé thăm nhà của một
cô gái đứng đường.
Một hôm Shoun phải đi
đến một ngôi chùa ở xa để thuyết giảng. Một vài tháng sau đó ông trở về
nhà và mới hay mẹ qua đời. Bạn bè trước đó không biết liên lạc với ông ở
đâu, nên tiến hành đám tang.
Shoun bước đến và gõ
lên quan tài bằng cây thiền trượng của mình. "Thưa mẹ, con của mẹ đã trở
về," ông nói.
"Mẹ vui mừng khi thấy
con đã trở về, con ạ!" ông trả lời thay cho mẹ ông.
"Vâng, con cũng rất
vui mừng," Shoun đáp lại. Rồi ông loan báo với mọi người ở chung quanh
ông: "Tang lễ xong rồi. Quý vị có thể chôn cất thi hài."
Khi Shoun về già, ông biết sắp tới cuối đời.
Ông liền gọi các đệ tử đến quây quần chung quanh ông vào buổi sáng, bảo họ
rằng ông sẽ viên tịch vào buổi trưa. Ðốt hương trước ảnh của mẹ ông và của
người thầy cũ của ông, ông viết một bài thơ:
Trong năm
mươi sáu năm trời ta đã cố sống cho thật tốt đẹp nhất,
Lang thang
trong cõi trần gian này.
Giờ đây mưa đã ngừng rơi, mây đang trôi
tản mác,
Bầu trời xanh xuất hiện một bóng trăng
tròn.
Các đệ tử của ông tụ
họp quanh ông, tụng kinh, và Shoun ra đi trong tiếng nguyện cầu.
* 16 *↑
Không Xa Cõi Phật
Một sinh viên đại học khi
viếng thăm Gasan đã hỏi ông: "Có bao giờ ngài đọc Thánh Kinh Thiên Chúa
không?
"Không, hãy đọc kinh
đó cho ta nghe," Gasan nói.
Chàng sinh viên mở cuốn Thánh Kinh và đọc
trong phần Thánh Matthew: "Và các ngươi lo nghĩ làm chi về phần đồ mặc?
Hãy ngẫm xem hoa huệ ngoài cánh đồng, chúng mọc lớn lên như thế nào. Chúng
chẳng hề lao khổ, chúng cũng chẳng kéo chỉ, và tuy nhiên ta nói cùng các
ngươi rằng dù cho Solomon vinh quang biết mấy, cũng không ăn mặc được bằng
một trong những hoa ấy... Vì vậy cho nên, chớ lo nghĩ gì cho ngày mai, vì
ngày mai sẽ tự lo nghĩ cho mọi sự của ngày mai."
Gasan nói: "Bất cứ
người nào đã thốt ra những lời đó ta coi như là một người đã giác ngộ
rồi."
Chàng sinh viên tiếp
tục đọc: "Hãy xin và cái đó sẽ cho ngươi, hãy tìm và ngươi sẽ thấy; hãy gõ
và cái đó sẽ mở cho ngươi. Vì mọi người ai xin thì được, và ai tìm thì
thấy, và ai gõ thì được mở cho."
Gasan phê bình: "Thật là tuyệt vời. Vị nào đã
nói điều đó thời không xa cõi Phật."
* 17 *↑
Hà
Tiện Lời dạy
Một y sĩ trẻ ở Ðông Kinh
tên là Kusuda gặp một người bạn từ hồi đại học, người này đang nghiên cứu
về Thiền. Anh y sĩ trẻ hỏi người đó Thiền là gì.
"Tôi không thể nói
được cho bạn cái đó là gì," người bạn trả lời, "nhưng có một điều chắc
chắn. Nếu anh hiểu được Thiền, anh sẽ không còn sợ chết nữa."
"Ðược thôi," Kusuda
nói. "Tôi sẽ thử điều đó. Ở đâu mà tôi có thể tìm gặp được một ông thầy?"
"Hãy tới thầy
Nan-in," người bạn bảo anh ta.
Thế là Kusuda đi tìm
thăm Nan-in. Anh mang theo một con dao găm dài chín phân rưỡi để xem chính
ông thầy có thực sự sợ chết hay không.
Khi Nan-in trông thấy
Kusuda, ông nói lớn tiếng: "Chào bạn. Bạn khỏe không? Chúng mình không gặp
nhau đã lâu lắm rồi!"
Việc này khiến Kusuda
bối rối, anh trả lời: "Chúng ta chưa từng gặp nhau trước đây mà."
"Ðúng thế," Nan-in
trả lời "Tôi nhầm anh với một y sĩ khác anh ấy đang thụ huấn ở đây."
Vì khởi đầu như vậy,
Kusuda đã mất đi cơ hội của anh để thử thách ông thiền sư, vì thế anh ta
miễn cưỡng hỏi xem anh có thể học Thiền được hay không?
Nan-in nói: "Thiền chẳng phải là một chuyện
khó khăn. Nếu anh là một y sĩ, hãy chữa trị cho các bệnh nhân của anh với
hảo tâm. Ðó là Thiền."
Kusuda đã đến viếng
Nan-in ba lần. Mỗi lần Nan-in đều nói với anh cùng một câu như vậy. "Một y
sĩ chớ nên phí phạm thời giờ ở quanh đây. Hãy đi về nhà và chăm sóc các
bệnh nhân của anh."
Kusuda chưa thấy được sáng tỏ tại sao lời
giảng dạy như vậy có thể làm tan đi nỗi sợ chết. Vì thế đến lần viếng thăm
thứ tư anh phàn nàn: "Bạn con bảo con rằng khi ai học thiền thì không còn
sợ chết nữa. Mỗi lần con đến đây tất cả những điều thầy bảo con chỉ là
phải chăm sóc cho bệnh nhân của con. Con biết nhiều về việc đó chứ. Nếu đó
là cái gọi là Thiền của thầy thì con sẽ không đến thăm thầy nữa đâu."
Nan-in mỉm cười và vỗ
vai anh y sĩ. "Ta đã quá nghiêm khắc với anh. Ðể ta đưa cho anh một công
án." Ông trao cho Kusuda công án về "Không" của Triệu Châu để quán tưởng,
đó là vấn đề đốn ngộ tâm đầu tiên trong cuốn sách có tên là Vô Môn
Quan.
Kusuda suy tư về vấn
đề "Không" này trong hai năm trời. Cuối cùng anh nghĩ rằng anh đã ngộ được
chân tâm. Nhưng ông thầy của anh phê phán: "Anh chưa đạt vào."
Kusuda tiếp tục tập
trung quán tưởng thêm một năm rưỡi nữa. Tâm của anh bắt đầu ổn định. Các
vấn đề được lý giải. Cái "Không" trở thành chân lý. Anh ta phục vụ bệnh
nhân của anh đàng hoàng và chính anh cũng chẳng hề nhận biết là anh đã
không còn quan tâm về chuyện sống và chết nữa.
Từ đó mỗi khi anh đến
thăm Nan-in, ông thầy già của anh chỉ mỉm cười.
* 18 *↑
Một
ngụ ngôn
Ðức Phật kể một ngụ ngôn trong một kinh:
Một người đi ngang qua một cánh đồng và gặp
một con hổ. Anh chàng chạy trốn, con hổ đuổi theo anh. Tới một bờ vực sâu,
anh nắm được vào rễ một cây nho dại và đu mình xuống qua bờ vực. Con hổ
đánh hơi anh ở phía bên trên. Run sợ anh chàng nhìn xuống, phía xa bên
dưới, lại thấy một con hổ khác đang chờ ăn thịt anh. Chỉ có cây nho giúp
đỡ anh.
Hai con chuột, một
con trắng và một con đen, đang bắt đầu gậm nhấm bứt cây nho dần dần từng
chút một. Anh chàng nhìn thấy một quả dâu ngon gần bên anh. Một tay nắm
cây nho, tay kia anh hái quả dâu. Dâu nếm sao ngon ngọt đến thế.
* 19 *↑
Ðệ
Nhất Ðế
Khi
ai đến thiền viện Obaku ở Kyoto đều nhìn thấy có khắc trên cổng những chữ
"Ðệ Nhất Ðế". Những chữ to một cách bất thường, và với những người biết
thưởng thức lối viết thư họa ai cũng luôn khâm phục những chữ này là một
tuyệt tác. Những chữ này do Kosen vẽ hai trăm năm về trước.
Khi ông thầy vẽ những
chữ này ông vẽ trên giấy, rồi người thợ mới dựa theo đó mà khắc lớn ra vào
gỗ. Khi Kosen phác họa chữ thì một chú học trò dạn dĩ ở gần bên ông, chú
mài cả mấy hũ mực cho việc phác họa và cũng không ngừng bình phẩm công
trình của ông thầy chú.
"Cái đó không đẹp,"
chú thưa với Kosen sau lần vẽ thử thứ nhất.
"Cái kia thì thế
nào?"
"Xấu. Dở hơn trước, "
chú học trò lên tiếng.
Kosen nhẫn nại viết
hết bản này qua bản khác cho đến khi tám mươi tư bản "Ðệ Nhất Ðế" đã chất
đống mà chẳng được học trò chấp nhận.
Thế rồi, đến khi anh chàng trẻ tuổi bước ra
ngoài trong chốc lát, Kosen nghĩ: "Bây giờ là cái cơ hội của ta để thoát
ra khỏi con mắt sắc sảo của nó," và ông liền viết một cách vội vã, với một
tâm trạng không còn bối rối: "Ðệ Nhất Ðế."
"Một tuyệt tác." chú
học trò reo lên.
* 20 *↑
LờI
Khuyên
Của
Một Bà Mẹ
Jiun, một thiền sư
Shingon, là một học giả chữ Phạn nổi tiếng vào thời đại Tokugawa. Lúc còn
trẻ ông thường hay diễn thuyết cho các anh em bạn học.
Mẹ của ông nghe được
về chuyện này và viết cho ông một lá thư:
"Con à, mẹ không nghĩ rằng con trở thành một
người hiến mình vào cửa Phật bởi vì con muốn trở thành một cuốn tự điển
sống cho các người khác. Sự hiểu biết và phê phán, vinh quang và danh dự
cũng chẳng đi đến đâu. Mẹ muốn con hãy chấm dứt cái việc diễn thuyết đó
đi. Hãy tự lánh mình trong một thiền viện nhỏ bé ở một nơi xa xôi trong
núi. Con hãy dành thì giờ của mình để thiền định và bằng cách đó mà đạt sự
chứng ngộ thật sự."
* 21 *↑
Âm
thanh
Của
Một Bàn Tay
Thiền sư của chùa Kennin là
Mokurai, Tiếng Sấm Yên Lặng. Ông có một đệ tử bảo trợ nhỏ tên là Toyo chỉ
mới mười hai tuổi. Toyo thấy các môn đồ lớn tuổi hơn đến thăm phòng thầy
vào mỗi buổi sáng và mỗi buổi tối để được chỉ dạy về thiền định an tâm
theo đó họ được trao cho những công án để ngăn chặn cho tâm khỏi chao
động.
Toyo cũng mong ước
được ngồi tham thiền.
"Hãy chờ đợi thêm ít
lâu," Mokurai bảo. "Con hãy còn nhỏ lắm."
Nhưng cậu bé nài nỉ,
nên cuối cùng ông thầy ưng thuận.
Vào buổi tối cậu bé
Toyo đến bên ngoài ngưỡng cửa phòng thiền của Mokurai vào một thời điểm
thích hợp. Cậu đánh chiêng báo hiệu mình hiện diện, cúi chào cung kính ba
lần phía ngoài cửa, rồi đến ngồi trước mặt thầy yên lặng kính cẩn.
"Con có thể nghe thấy
âm thanh của hai bàn tay khi chúng vỗ vào nhau," Mokurai nói. "Bây giờ hãy
cho ta biết về âm thanh của một bàn tay."
Toyo cúi chào và lui
về phòng mình mà nghiên cứu vấn đề này. Từ cửa sổ phòng mình cậu có thể
nghe thấy âm nhạc của các cô đào hát. "A! Ta thấy được rồi!" cậu reo lên.
Ðêm hôm sau, khi thầy
của cậu bảo cậu diễn tả âm thanh của một bàn tay, Toyo bắt đầu chơi âm
nhạc của các cô đào hát.
"Không, không,"
Mokurai nói. "Chẳng bao giờ như vậy đâu. Cái đó không phải là âm thanh của
một bàn tay. Con chưa thâu thái được gì hết."
Cho rằng âm nhạc như
thế có thể làm gián đoạn, Toyo di chuyển chỗ ở của cậu đến một nơi yên
tĩnh. Cậu ta lại tham thiền. "Âm thanh của một bàn tay có thể là gì?"
Cậu chợt nghe tiếng nước nhỏ giọt. "Ta thấy rồi," Toyo tưởng tượng.
Lần sau khi cậu đến trước mặt thầy của cậu,
Toyo bắt chước tiếng nước nhỏ giọt.
"Ðó là cái gì vậy?"
Mokurai hỏi. "Ðó là tiếng nước nhỏ giọt, nhưng không phải là âm thanh của
một bàn tay. Cố nữa đi."
Toyo trầm tư để nghe
âm thanh của một bàn tay nhưng chẳng ăn thua gì. Cậu nghe thấy tiếng thở
dài của gió. Nhưng âm thanh bị bác bỏ.
Cậu nghe thấy tiếng
kêu của một con cú. Tiếng đó cũng bị từ chối.
Âm thanh của một bàn
tay không phải là những con châu chấu.
Cả đến hơn mười lần
Toyo đến viếng thăm Mokurai với các âm thanh khác nhau. Tất cả đều sai.
Gần suốt một năm cậu cứ nghĩ ngợi xem âm thanh của một bàn tay là thế nào.
Sau cùng cậu bé Toyo
nhập vào thiền định thật sự và vượt qua tất cả các âm thanh. "Ta không còn
thâu thập được thêm gì nữa," cậu giải thích về sau này, "bởi vậy ta đã đạt
tới âm thanh không âm thanh."
Toyo đã ngộ được âm
thanh của một bàn tay.
* 22 *↑
Tim
Ta Cháy Như Lửa
Soyen Shaku, thiền sư
đầu tiên tới Châu Mỹ, nói: "Tim ta cháy như lửa nhưng mắt ta lạnh như tro
tàn." Ngài đặt ra những quy luật sau mà ngài thực hành mỗi ngày trong cuộc
đời ngài.
Buổi sáng trước khi
khoác y phục, hãy thắp nhang và thiền định.
Lui vào an nghỉ theo
một giờ giấc nhất định. Nhận phần ăn uống vào những lúc nhất định. Ăn điều
độ và không bao giờ tới mức thỏa mãn.
Tiếp một người khách
với cùng một thái độ mà bạn có khi ở một mình. Khi ở một mình, cũng giữ
nguyên thái độ như lúc bạn tiếp khách.
Lưu ý vào điều gì bạn
nói, và bất cứ bạn nói điều chi, hãy thực hành điều đó.
Khi một cơ hội đến
đừng để nó trôi đi, tuy nhiên luôn luôn suy nghĩ hai lần trước khi hành
động.
Ðừng nuối tiếc quá
khứ. Hãy nhìn tới tương lai.
Nên có thái độ không
hãi sợ của một người anh hùng và trái tim thương yêu của một đứa trẻ.
Khi đi ngủ, hãy ngủ như là bạn đang bước vào
giấc ngủ cuối cùng của bạn. Khi thức dậy, hãy rời bỏ cái giường lại phía
sau bạn ngay tức khắc như là bạn vứt bỏ đi một đôi giày cũ.
* 23 *↑
Sự
Ra Ði Của ESHUN
Khi Eshun, thiền sư ni, đã
ngoài sáu mươi tuổi và sắp lìa cõi dương gian này, bà bảo một vài sư chất
củi thành đống ở trong sân.
Ðích thân ngồi vững vàng ở ngay giữa giàn hỏa
táng, bà ra lệnh châm lửa ở xung quanh giàn.
"Sư bà ơi!" một sư
kêu lớn lên, "trong đó có nóng không?"
"Chuyện như thế chỉ
có kẻ ngu xuẩn như ngươi mới quan tâm đến mà thôi," Eshun trả lời.
Ngọn lửa bốc lên cao, và bà qua đời.
* 24 *↑
Tụng
Kinh
Một bác nông dân
thỉnh một thầy tu phái Tendai tụng kinh cho vợ bác ta, bà ấy vừa qua đời.
Sau khi kinh tụng đã xong, bác nông dân hỏi: "Thầy có nghĩ rằng vợ tôi sẽ
được phước vì việc này không?"
"Không những chỉ vợ
bác, mà tất cả chúng sinh hữu tình đều được hưởng phước trong việc tụng
kinh," thầy tu trả lời.
"Nếu thầy nói mọi chúng sinh hữu tình đều được
hưởng phước," bác nông dân nói, "vợ tôi có lẽ rất yếu đuối và những người
khác sẽ dành mất phần của bà ấy, tranh phần phước mà bà ấy đáng lẽ được
hưởng. Cho nên xin thầy làm ơn tụng kinh cho riêng bà ấy thôi."
Thầy tu giải thích rằng mong ước của một người
Phật tử là hồi hướng phước báu và công đức cho tất cả mọi chúng sinh.
"Ðó là một lời dạy
cao quý," bác nông dân kết luận, "nhưng xin thầy hãy cho một ngoại lệ. Tôi
có một tên hàng xóm, hắn thô lỗ và xấu ác với tôi. Chỉ xin thầy loại bỏ
tên đó ra khỏi cái thành phần chúng sinh hữu tình kia thôi."
* 25 *↑
Ba
Ngày Nữa
Suiwo, đệ tử của Hakuin, là một
thiền sư giỏi. Trong một mùa an cư kiết hạ, một đệ tử từ một hòn đảo miền
nam Nhật Bản đến thăm thầy.
Suiwo trao cho anh ta
một công án: "Hãy nghe âm thanh của một bàn tay."
Anh đệ tử ở lại ba
năm trời mà vẫn chưa vượt qua được cuộc trắc nghiệm này. Một đêm anh ta
mắt đẫm lệ tìm đến Suiwo. "Con phải trở về miền nam trong sự nhục nhã và
ngượng ngùng," anh ta thưa, "vì con không thể giải đáp được vấn đề của
con."
"Hãy đợi thêm một
tuần nữa và siêng năng thiền định." Suiwo khuyên. Anh đệ tử vẫn không giác
ngộ được. "Hãy cố gắng thêm một tuần nữa," Suiwo nói. Anh đệ tử vâng lời,
nhưng vô ích.
"Vậy thêm một tuần nữa." Tuy nhiên vẫn không
có hiệu quả. Anh đệ tử thất vọng xin được bãi miễn, nhưng Suiwo yêu cầu
thêm năm ngày thiền định nữa. Không có kết quả gì. Rồi ông nói: "Thiền
định thêm ba ngày nữa, nếu anh không đạt được giác ngộ thì tốt hơn hết là
anh nên tự tử đi."
Ðến ngày thứ hai anh đệ tử giác ngộ.
* 26 *↑
Đối
thoại dành chỗ trú ngụ
Nếu mở một cuộc tranh luận về
Phật pháp và thắng được các người đang cư trú ở nơi đó thì bất kỳ một nhà
sư nào lang thang đi thuyết pháp cũng có thể được lưu lại trong một thiền
viện. Nếu nhà sư đó bị bại, sư phải đi nơi khác.
Trong một thiền viện
ở miền bắc Nhật Bản có hai ông sư huynh đệ kia đang cư ngụ cùng với nhau.
Sư huynh thì có học thức, nhưng sư đệ thì ngu dốt và chỉ có một con mắt.
Một nhà sư lang thang
ghé đến và xin trú ngụ, đã chính thức thách họ tranh luận về giáo pháp
thượng thừa. Sư huynh, ngày hôm đó đã mệt mỏi vì nghiên cứu nhiều, nói sư
đệ thay thế mình. "Ði ra và đề nghị đối thoại trong tĩnh lặng" sư huynh
cẩn thận dặn dò.
Bởi thế nhà sư trẻ và
người khách lạ cùng đi tới trước bàn thờ Phật và ngồi xuống.
Một lát sau đó, người
du khách đứng dậy rồi đi vào gặp sư huynh và nói: "Sư đệ của ông quả là
một tay phi thường. Ông ấy đánh bại tôi rồi."
"Hãy thuật lại cuộc
đối thoại cho tôi nghe," sư huynh nói.
"Ðược chứ!" người du khách kể, "thoạt tiên tôi
giơ lên một ngón tay, tượng trưng cho Ðức Phật, đấng Giác Ngộ. Cho nên ông
ấy liền giơ lên hai ngón tay, biểu hiệu cho Ðức Phật và giáo pháp của
ngài. Tôi giơ lên ba ngón tay, tượng trưng cho Ðức Phật, giáo pháp của
ngài và các môn đệ của ngài sống một cách hòa đồng. Lúc đó ông ấy liền giơ
nắm đấm vào mặt tôi, ám chỉ rằng cả ba đều khởi từ một sự chứng ngộ. Như
vậy là ông ấy đã thắng và vì thế tôi không có quyền lưu lại nơi đây." Nói
xong, người du khách ra đi.
"Cái tên đó đâu rồi?"
sư đệ chạy vào hỏi sư huynh.
"Ta biết rằng sư đệ
đã thắng cuộc tranh luận."
"Chẳng thắng cái quái
gì cả. Tôi sẽ đập cho hắn một trận."
"Kể cho ta biết đề
tài tranh luận," sư huynh hỏi.
"Tại sao à! Ngay lúc hắn vừa trông thấy em hắn
giơ một ngón tay lên, sỉ nhục em bằng cách ám chỉ rằng em chỉ có một con
mắt. Vì hắn là người lạ nên em nghĩ rằng em nên lịch sự với hắn, bởi thế
em giơ lên hai ngón tay, chúc mừng hắn rằng hắn có hai con mắt. Rồi thì
tên hèn hạ vô lễ lại giơ lên ba ngón tay, muốn tỏ lộ rằng giữa hai người
chúng ta chỉ có ba con mắt. Cho nên em phát điên lên định đấm hắn, nhưng
hắn lại chạy ra mất và rốt cuộc chỉ có vậy thôi!"
* 27 *↑
Giọng Nói
Của
Hạnh Phúc
Sau khi Bankei lìa trần, một người mù sống
cạnh thiền viện của thiền sư kể với một người bạn rằng: "Vì tôi mù, tôi
không thể nào nhìn thấy được mặt người, cho nên tôi phải đoán tâm tánh của
người qua thanh âm tiếng nói của người đó. Thông thường khi tôi nghe thấy
ai chúc mừng người khác được hạnh phúc hay thành công, tôi cũng nghe được
một cái giọng ganh tị thầm kín. Khi nghe lời chia buồn với điều bất hạnh
của người khác, tôi nghe có sự vui thích và mãn nguyện, tưởng chừng như
kẻ đang chia buồn nhưng thật sự sung sướng vì có chút gì bỏ lại để cho
mình kiếm chác trong cõi riêng tư.
"Tuy nhiên, với bao
kinh nghiệm của tôi, giọng nói của Bankei luôn luôn thành thực. Mỗi khi
ông bầy tỏ sự vui sướng, tôi chỉ nghe thấy giọng sướng vui mà thôi, và mỗi
khi ông tỏ ra phiền muộn, tôi chỉ nghe thấy một giọng muộn phiền."
* 28 *↑
Hãy
Mở Kho châu Báu
Của
riêng ông
Daiju đến thăm thiền
sư Baso ở Trung Hoa. Baso hỏi: "Ông tìm gì vậy?"
"Sự giác ngộ," Daiju
trả lời.
"Ông có kho châu báu
của riêng ông. Tại sao ông phải kiếm ở bên ngoài?" Baso hỏi.
Daiju dò hỏi: "Kho
châu báu của tôi ở đâu?"
Baso trả lời: "Cái mà
ông đang hỏi là kho châu báu của ông đấy."
Daiju giác ngộ! Từ
đấy về sau này ông hối thúc các bạn bè của ông: "Hãy mở kho châu báu của
riêng ông và hãy xử dụng những của báu này."
* 29 *↑
Không Nước, Không Trăng
Khi ni cô Chiyono học Thiền với Bukko của phái
Engaku, cô không đạt được kết quả của sự thiền định trong một thời gian
dài.
Sau cùng vào một đêm
sáng trăng cô xách nước trong một cái thùng xô cũ buộc bằng nan tre. Nan
tre bị đứt và cái đáy rớt ra khỏi thùng xô, và ngay vào lúc đó Chiyono
được giác ngộ.
Ðể kỷ niệm, cô viết một bài thơ:
Bằng cách
đó và ta đã cố bảo toàn
cái thùng xô cũ
Vì dây nan tre đã yếu và sắp đứt
Cho đến
lúc cuối cùng cái đáy rớt ra.
Không còn nước trong thùng nữa!
Không còn trăng trong nước nữa!
* 30 *↑
Danh
Thiếp
Keichu, đại thiền sư
thời Minh Trị, là người đứng đầu của Tofuku, một tu viện ở Kyoto. Một ngày
thống đốc của Kyoto đến viếng thăm ngài lần đầu tiên.
Người hầu cận của
ngài trình vào tấm thiếp của vị thống đốc, đọc thấy là: Kitagaki, Thống
đốc Kyoto.
"Ta không có việc gì
dính dáng với một kẻ như thế," Keichu nói với người hầu cận của ngài. "Hãy
bảo ông ấy ra khỏi nơi đây."
Người hầu cận mang
tấm thiếp ra đưa lại với lời cáo lỗi. "Ðó là sự lầm lẫn của tôi," vị thống
đốc nói, và lấy bút chì ông gạch bỏ đi mấy chữ Thống đốc Kyoto. "Hãy thưa
lại với thầy anh."
"Ồ! đấy là Kitagaki
ư?" thiền sư reo lên khi ông nhìn thấy tấm thiếp. "Ta muốn gặp ông bạn
đó."
* 31 *↑
Mọi
Thứ Ðều Hạng Nhất
Khi Banzan đi ngang qua một khu chợ ông bất
chợt nghe được một cuộc đối thoại giữa một bác bán thịt và người khách
hàng của bác ta.
"Bán cho tôi miếng thịt ngon nhất mà bác có,"
người khách hàng nói.
"Mọi thứ trong cửa
hàng của tôi cũng đều là hạng nhất cả," bác hàng thịt đáp lại. "Ôn