CHUYỆN
CỬA THIỀN
Minh
Ðức - Triều Tâm Ảnh
---o0o---
[05]
RÁC NỞ HOA CƯỜI
LÔ SƠN
Khách là người đàn
ông chưa đến tuổi trung niên,
ăn mặc chải chuốt, đến chùa vào một
buổi chiều mùa xuân. Khách đưa mắt nhìn
chung quanh rồi hỏi chú Ða Trí:
- Chùa Huyền Không ở đâu
vậy chú?
Ða Trí ra giọng Thiền Sư thi sĩ:
- Nếu không phải là Tô Ðông Pha thì dù
đang ở tại Lô Sơn, chú vẫn cứ đi tìm
Lô Sơn như thường!
KHI ÐA THỨC BẮT
CHƯỚC CỔ NHÂN
Một vị y sĩ đến chùa
chích ngừa bệnh dịch tả. Xong xuôi, Ða Thức lân la lại gần vị y sĩ:
- Chú nè! Ða Thức hỏi nhỏ - chú
đi chích ngừa dịch tả cho người ta mà
chú có chích ngừa cho chính mình không?
- Dạ, có chớ! Vị y sĩ thật thà vén tay áo mình lên -
tôi đã chích ngừa, còn sưng
đây này!
- Không phải! Ða Thức lắc
đầu nguầy nguậy - Không phải cái đó.
Ðó là cái bệnh dịch tả thời khí, cấp tính. Cháu muốn nói
đến cái bệnh dịch tả kinh niên, truyền
đời, truyền kiếp kia!
Vị y sĩ cau mày:
- Chú nói gì, tôi không hiểu.
Bất đồ, Ða Thức
cười lạt, đứng bật dậy:
- Rứa mà cũng đòi
làm y sĩ chữa bệnh cho thiên hạ! Ngu ơi là ngu!
Vị y sĩ tím mặt, giận run lẩy bẩy.
Ða Thức mỉm cười, cất giọng huờ hưỡn:
- Cái đó! Cái
đó! Nó vừa ló một cái
đầu rắn dịch tả thâm căn cố đế bất trị ra đấy!
Còn một con nữa. Rứa chú đã tiêm ngừa
bao giờ chưa?
Y sĩ nghe xong, cung tay xá, khuôn mặt dịu lại.
HOA THẬT VÀ HOA NI
LÔNG
Vị khách tăng từ miền Nam
ra, biếu chùa một bó hoa ni-lông và một giò phong lan.
Khi trao hoa ni-lông,vị Tăng
nói:
- Loại hoa này quý và đẹp.
Lúc cắm lên, mọi người sẽ trầm trồ vì họ tưởng là hoa thật.
Và khi trao giò lan:
- Còn đây là vương
giả chi hoa, rất tuyệt vời, khi nở trông đẹp
như hoa ni-lông vậy!.
CÒN BỊ KẸT
Ða Văn từ lâu được nổi
tiếng là nghe nhiều, nhớ giỏi. Hôm kia, chẳng biết suy nghĩ
được điều gì mà chú hăm
hở chạy vào gặp Nhà Sư, lễ phép và khách sáo nói:
- Con xin được hầu chuyện
với Thầy.
- Ðược, Nhà Sư gật - có gì con hãy nói.
Ða Văn trịnh trọng:
- Thầy có biết Thầy bị kẹt gì không?
- À, hay lắm! Con cứ thẳng thắn mà chỉ rõ ra
đi!
Ða Văn nói:
- Một cái tên là đã
kẹt rồi! Mà Thầy, nào là tục danh, bí danh, pháp danh, tự hiệu, ... sao mà
Thầy ham danh quá vậy?
Nhà Sư:
- A ... ơ ... !
Ða Văn bước ra nói vọng
lại:
- May mà Thầy không có cả hàng chục chức vụ
đi theo sau, nếu có, con mà không nhớ
hết thì còn gì là "đa văn" này nữa!
THỨC BIỂN
Một cư sĩ chuyên nghiên cứu và dạy Duy Thức mấy chục năm.
Một hôm, ông ta đến thăm Nhà Sư và kể huyên thuyên những sở
đắc của anh. Cuối cùng, vị ấy kết
luận:
- Tất cả đều do thức biến,
chỉ là thức biến! Cả Thầy, tôi, tài sản, y áo, vật thực, ... tôi
đều có thể lý luận rất rõ ràng và cụ
thể là do thức biến ráo trọi!
Nhà Sư gật đầu tán thưởng.
Ðến giờ ngọ trai, Nhà Sư lặng lẽ ăn
một mình. Khách đợi hoài chẳng
thấy ai mời cơm trưa. Nhà Sư thủng thỉnh ăn,
rồi đưa tay chỉ vào mâm cơm, thong thả nói:
- Phần cơm hủ lậu quê mùa này là do "nhà trù biến" chứ
bần tăng chẳng có tài cán gì. Ðạo hữu
có sẵn thần thông Duy Thức quảng đại, thì
cứ tuỳ nghi biến hoá một mâm cơm "rõ ràng và cụ thể" mà dùng vậy nhé!
VÔ CÔNG
Bữa nọ, nhân một đêm
trăng sáng, Nhà Sư cao hứng xuống sông
gánh nước. Khi nâng gánh, vì mất thăng bằng nên
nước đổ ào xuống sông.
Vô Văn đang đứng trong
biền bắp, thấy vậy, bật ra hai câu thơ, ngâm sang sãng.
- "Nhà Sư làm việc vô công
Dưới trăng gánh nước, đổ sông ta về!"
Ða Văn đang dạo chơi, tình
cờ nghe được, liền ngâm tiếp:
"Ví như gánh vác Bồ Ðề
Tâm không muôn việc, tỉnh mê bỏ ngoài!"
Nhà Sư đứng thẳng dậy,
chống đòn gánh nói lớn:
- Gánh nước mất thăng bằng
thì nó đổ, có gì là tỉnh, là
mê, là Bồ Ðề ở đây hử? Chữ với nghĩa!
TRỒNG KHOAI
Hai chú đang cuốc đất.
Vô Văn nói:
- Kể cả việc trồng khoai, một vị Bồ Tát cũng cần kinh
qua và chứng nghiệm.
Ða Lễ hỏi:
- Có lẽ là nhằm tích luỹ phương -tiện- trí
để rộng độ chúng sanh phải không?
- Không phải!
- Vậy trồng khoai để làm
gì?
- Ðể ăn độn chứ gì
nữa! Chú không biết hổm rày gạo quá đắt hay
sao?
KẸT ÐẠO! KẸT ÐỜI!
Uống xong tuần trà, khách nhìn Nhà Sư cười cười nói:
- Tôi từ phương xa tới
đây, áo lấm bụi đường, mặt chưa kịp rửa
đã được
Nhà Sư cho hầu trà, thật là duyên vạn hạnh. Nhưng tôi còn có cái
khao khát hơn, ấy là sự hiểu biết. Rất mong Nhà Sư trả lời cho vài câu
hỏi, nhưng xin Nhà Sư ...
- Ðạo hữu cứ nói!
- Dạ, xin Nhà Sư đừng dùng
những từ như khổ đế, trí tuệ, đức tin, nhân
quả, nghiệp báo v.v... Tóm lại là Sư
đừng sử dụng một thuật ngữ nào thường dùng trong Tam Tạng. Nghe
hoài những danh từ, chữ nghĩa của Ðạo, tôi chán lắm! Cái ấy gọi là kẹt
lời, kẹt chữ, kẹt Ðạo vậy!
Nhà Sư ôn tồn nói:
- Cũng được thôi!
Nhưng bần tăng cũng có một đề nghị!
Khách mau mắn:
- Dạ được! Nhà Sư
cứ nói!
- Vâng, bần tăng cũng xin
đạo hữu đặt những câu hỏi nào đừng có
những từ ngữ, lời tiếng thường dùng ở trong
đời. Vì cái ấy cũng gọi là kẹt lời,
kẹt chữ, kẹt chữ, kẹt Ðời vậy!
Khách ngẩn người giây lâu, rồi ... nhấp một ngụm trà!
TÌNH YÊU VÀ CỤC ÐÁ
Một thanh niên Phật Tử có lẽ là suy ngẫm
đạo lý đã lâu nên hôm kia
đến nói chuyện với Ða Trí:
- Nếu tôi yêu cục đá, tình
yêu ấy có phạm tội không?
Ða Trí lắc đầu nói:
- Yêu là không được rồi,
đừng yêu là hơn.
- Ðừng yêu thì tôi sợ sẽ biến thành cục
đá!
Ðà Trí ởm ờ:
- Thì tốt thôi!
Người Phật Tử nhăn mày:
- Tôi không hiểu!
- Có gì mà không hiểu! Cục
đá thì có bao giờ yêu cục đá đâu mà
sợ!
KẺ Ở NGOÀI TƯƠNG QUAN
Một Ni cô đến gặp Nhà
Sư, nghiêm trang nói:
- Có một thời pháp, Nhà Sư thuyết rằng: "Thế giới tương
quan là đau khổ", có phải vậy không?
Nhà Sư đáp:
- Ðúng thế!
Ni cô bèn nói:
- Vậy là giáo lý đã
bị giảng sai, Nhà Sư có biết không?
Hơi bất ngờ, Nhà Sư hỏi:
- Ở chỗ nào, Ni cô cứ dạy!
- Không dám! nhưng con đã
từng suy nghiệm:
"Có những pháp không nằm trong thế giới tương quan mà
vẫn đưa đến đau khổ ".
- Xin Ni cô trình bày cho rõ ràng hơn.
- Dạ! Ví dụ, con thấy thế giới tương quan là rắc rối,
não loạn, xung đột, ... con bèn rút
lui một mình, tịnh cốc, tịnh cư, sống hạnh không giao tiếp với mọi người!
- Vâng, rồi chuyện gì xảy ra?
- Dạ, ni chúng đồng đạo
nói cạnh, nói khoé, nói xa, nói gần rằng con là kẻ cao thượng hảo,
kiêu căng, ngã mạn, ... Họ nói những
điều mà con không thể chịu nổi. Vậy
là, "không tương quan" mà vẫn đưa đến đau khổ!
Từ rày về sau, Nhà Sư dạy pháp nên cẩn thận và dè dặt hơn mới
được!
Nhà Sư mỉm cười:
- Muốn làm Thượng Ðế cũng không dễ gì Ni cô ạ!
-!?
THẤY PHÁP KHÔNG PHẢI
TA
Nhà Sư đang nghỉ trưa,
bỗng nghe tiếng "sàn sạt" ở hiên sau, bèn hỏi:
- Ai đó?
- Không có ai hết!
Nghe ra là giọng chú Ða Lễ.
- Chú làm cái gì đó?
- Chẳng làm cái gì hết!
Một hồi Nhà Sư mới biết chú ấy
đang quét lá. Nhà Sư hơi ngạc nhiên về
cách trả lời trống không, vô lễ của chú tiểu
được tiếng là lễ phép bấy lâu nay. Vừa mới nhổm dậy thì Nhà Sư nghe
tiếng đọc kinh vang vang xa dần:
- "Khi trí tuệ quán chiếu
Thấy pháp không phải ta
Liều thoát ly khổ não
Ðó là Thanh Tịnh Ðạo!"
- À, ra thế! Nhà Sư lẩm bẩm gật
đầu rồi nằm xuống trở lại.
THƯỜNG ÍCH KỶ BỒ TÁT
Ða Trí tưới lan xong, ngắm những giò hoa nở một hồi
lâu, có vẻ ngẫm ngợi rồi nói với Ða Văn:
- Chú nè, mình chơi lan thế này thiệt là kẹt!
Ða Văn ngạc nhiên
hỏi:
- Kẹt sao?
- Nếu người ta xin?
- Thì cứ nhất định là
không cho!
- Vậy là ích kỷ rồi!
Ða Văn giải thích:
- Ðồng ý là ích kỷ. Nhưng chú tưởng hành theo "hạnh ích
kỷ" dễ lắm sao? Ích kỷ nhưng không phải cho cá nhân mình mà là phụng sự
cái đẹp chung. Mình mang tiếng ích kỷ,
nhưng mọi người lại có chỗ dể di dưỡng tinh thần,
để thần kinh được thư giản. Ðiều
đó nên làm lắm chứ!
Ða Trí lắc đầu:
- Ðó là tâm địa Bồ Tát,
tôi chịu thôi!
Vô Văn đi ngang qua, nghe
được liền hỏi:
- Bồ Tát ấy có tên là gì?
Ða Văn đáp:
- Ðấy được gọi là:
"Thường Ích Kỷ Bồ Tát!"
Vô Văn vỗ tay:
- Vậy từ đây ta có thêm
một Bồ Tát mới nữa rồi! "Nam mô Thường Ích Kỷ Bồ Tát Ma ha tát!" Hoan hô!
CÁI GÌ DƠ?
Buổi sáng, Ða Văn nhận
trách nhiệm phân phối công việc, chú nói:
- Hổm rày cái sân dơ quá, chỗ này chú Vô Tâm nhận cho!
Vô Tâm cười cười:
- Sân đâu có dơ, chú!
Ða Văn gặn hỏi:
- Sân không dơ thì lá dơ chắc?
Vô Tâm ỡm ờ:
- Lá có lẽ cũng không dơ!
Ða Văn nghêm mặt
lại:
- Sân không dơ, lá không dơ, nhưng chú cũng phải quét,
thế thôi!
Mọi người cười xòa.
Vô Văn nghe được, nói lầm
thầm: "Ða Văn vì dụng thường
ngữ, kẹt nơi tục đế nên gọi sân dơ! Vô
Tâm vì dụng pháp ngữ, kẹt nơi chân đế nên
gọi sân không dơ, lá không dơ! Ta biết cả hai mà còn ngứa óc, ngứa mồm
muốn nói, thế là chổi dơ! Ôi! Nếu chổi dơ thì làm sao quét và quét là quét
cái gì đây?"
MẮC MỚ GÌ ÐẾN TA?!
Một nam Phật tử đau khổ vì
tình đến Ða Văn:
- Chú ơi! Xin chú hãy giúp tôi một vài ý kiến .
Ða Văn đang ngồi lim dim
mắt:
- Chuyện gì vậy?
- Tôi có một mối tình!
- Ờ!
- Tôi rất hạnh phúc!
- Ờ!
- Không, nàng đã
phản bội rồi!
- Ờ!
- Tôi rất đau khổ!
- Ờ!
- Vậy bây giờ tôi phải làm sao?
Ða Văn mở mắt ra, hỏi:
- Ai đem hạnh phúc cho anh?
- Dạ, nàng!
- Ai mang đau khổ cho anh?
- Dạ, cũng chính nàng!
Ða Văn "hừm" một
tiếng:
- Vậy thì mắc mớ gì đến ta
mà hỏi!
-!?
AI NGỘ?
Ða Văn và Vô Văn
đang trỉa lúa khô. Ða Thức cắp nách rổ
đi hái rau, dừng lại nói:
- Nè, các chú ơi! Có một ông cư sĩ rất chi là trí thức
vừa bị Thầy "cạo" cho một trận .
Ða Văn đứng thẳng lưng dậy:
- Kể nghe!
Ða Thức hăm hở:
- Ông cư sĩ ấy đạp xe từ
dưới phố lên, Thầy hỏi: "Có mệt không con?" Cư sĩ chậm rãi dựng xe
cười: "Bạch Thầy, mệt gì đâu! Con cứ
để tâm "vô phân biệt" mà
đạp. Lên dốc thì con nghĩ: "À, lên dốc
à!" Qua ruộng thì con nghĩ: "À, qua ruộng à!" Thế là con luôn trú nơi cái
sát-na vĩnh cửu của hiện tại. Không gian, thời gian bất khả hiện hữu. Năng
tri và sở tri không hai. Vậy thì có gì xa với gần, mệt và không mệt
hở Thầy? "
Nghe xong, Thầy nói: " Hay dữ ha! Vậy ra con tu hành là
để "xa với gần không biết", "người với
đường thành mọât", "không tôi, không
người", "đàn ông,
đàn bà không khác",... "Vô phân biệt"
tuốt luốt! Hay dữ ha!
Kể xong, chú Ða Thức nói tiếp:
- Hôm trước, có một ông "phân biệt" thì bị Thầy "lóc".
Bữa nay một ông "vô phân biệt" thì bị Thầy "cạo"! Eo ôi! Khó ơi là khó!
Ða Văn nói:
- Tại cái ông cư sĩ dại, không biết
đàng mà lui tới. Thầy nói gì cứ mặc
Thầy. Có bao giờ tâm vô phân biệt mà biến thành sỏi
đá đâu mà sợ? Con ruồi bay qua vẫn
biết rõ ruồi đực ruồi cái mà tâm vẫn
vô phân biệt như thường!
Vô Văn vẫn lom khom trĩa
lúa:
- Này, thôi nghe! Hãy lo làm công chuyện!
Ða Văn nhìn Vô Văn
ngờ ngợ:
- Ê, chú ngộ rồi hả? Giải quyết sao?
Vô Văn đứng dậy:
- Ngộ cái gì? Giải quyết cái gì?
Chú Ða Thức đưa hai tay lên
trời, chiếc rổ lăn tròn xuống hồ rau
muống, than dài:
- Eo ơi! Cha nào cũng thiền sư hết trơn hết trọi! Cho
chết! Dù có biết có thấy, ta cũng không nói nữa lời
đâu!
KHÔNG THỎA HIỆP
- Chú ơi!
- Gì đó anh?
- Kỳ này tôi cương quyết "không thỏa hiệp" với trần
gian này nữa!
Vô Văn đưa lên một
ngón tay:
- Một lần nói dối!
Người thanh niên tức giận:
- Sao chú bảo tôi nói dối?
Vô Văn đưa thêm một
ngón tay nữa:
- Hai lần nói dối!
Thanh niên như không còn tự chủ
được:
- Nếu chú không giải thích, tôi không
để chú yên
đâu!
Vô Văn cười khà
khà.
Thanh niên tím mặt lại:
- Chú lại còn trút thêm dầu vào lửa!
Vô Văn bây giờ mới thủng
thỉnh nói:
- Vậy là chú có lỗi hay tôi có lỗi?
-?!
TÂM VÔ THƯỜNG
Ða Trí được Nhà Sư
giao cho việc hướng dẫn các chú giới tử sơ cơ học giáo pháp. Hôm
đó, chú đang say sưa giảng về cái tâm vô
thường của chúng sanh. Chú thao thao phân tích, đưa ra những ví dụ thực
tiễn, xác đáng, ... muốn cho đàn
em ai cũng phải khâm phục sức học uyên bác và trí tuệ thâm sâu của mình!
Nhìn xuống lớp học, Ða Trí chợt thấy Vô Tư
đang gục lên gục xuống trên bàn. Chú
gọi to:
- Vô Tư!
Vô Tư giật nẩy mình, ngơ ngác:
- Dạ!
- Ðiệu có biết điệu bao
nhiêu tội rồi không?
- Dạ, không ạ!
Ða Trí cất giọng rổn rảng:
- Này, hãy trả lời cho tôi nghe. Lần trước tôi bảo ngủ
thì điệu lấy bài ra học. Bây giờ, giờ
học thì điệu lại ngủ gà ngủ gật. Tại
sao khi siêng năng lúc biếng nhác thất thường
vậy hả?
- Dạ ... Dạ ... cái đó thì
em cũng chịu thôi!
- Sao vậy? Ða Trí gắt - trả lời cho
đứng đắn xem nào!
- Dạ, chú dạy cái gì ... à, "quán tâm vô thường". Tâm
đã vô thường thì nó thay
đổi luôn, lúc là thế này, lúc là thế
nọ! Vậy thì thử hỏi, em làm sao lại dám đi ra
ngoài định luật vô thường ấy?
Ða Trí la hoảng lên "chết tôi", rồi chú
đứng im sững!
NẾU BIẾT THẾ!
Vị sư đệ tam y nhất bát
phong trần trở về đến gặp vị trụ trì:
- Sư huynh ạ! Cái câu mà bên thiền tông họ hay
nói:"thần thông là gánh nước, bổ củi là diệu dụng" hồi trước
đệ nghĩ là nói láo,nghe láo chơi, bây
giờ đệ thấy nó chí lý làm sao!
Vị trụ trì ân cần:
- Ừ! Ðệ thấy chí lý như thế nào?
Sư đệ
đáp:
- Thiền là pháp môn tiêu hủy phiền não. Vậy thì bất cứ
khi nào tâm ta trong sáng, bình lặng, tỉnh thức thì
đấy là thể hiện thiền, là thiền quán,
là thiền Minh Sát Tuệ. Dù gánh nước hay bửa củi mà tâm ta vô ưu, vô lự, vô
phiền, thì đó là diệu dụng chân thật,
là thần thông chân thật rồi!
Vị trụ trì khen ngợi:
- Cảm ơn Phật Thánh! Ðệ đã
thấy!
Buổi chiều, sư huynh nói với sư
đệ:
- Lúc này hạn hán quá, bể cạn, cây khô, sư
đệ hoan hỷ vận thần thông diệu dụng gánh ít
chục đôi nước nghe!
Sư đệ mau mắn:
- Dạ, xong ngay!
Tối đến, lúc uống trà,
sư huynh nói:
- Thần thông và diệu dụng của
đệ quả là ghê gớm, một buổi chiều mà
gánh những bốn chục đôi nước! Sư
đệ có mệt không?
Vị sư đệ cười cười:
- Cái đó gọi là trú
nơi "tam muội chân hỏa", làm sao mà mệt được
sư huynh!
Sư huynh cười ha hả:
- Phật ôi! Nếu biết thế thì chùa mình khỏi
đặt mua cái máy nước tốn mấy chục ngàn!
-!?
CÔNG ÁN THỨ 1001
- Tôi đã bảo chú là
"ngũ ấm vốn không", các pháp vô tự tính, không có gì cả
đâu!
- Sao lại không có được!
- Không có mà. Này nhé, "sắc" có không?
- Có!
- Nói sao kỳ? Vậy "thọ" có không?
- Có!
- Vẫn cứng đầu!
"Tưởng", "hành", "thức" có không?
- Có!
- Thiệt là cái chấp kiến lì lợm! Té ra chú tu hành lâu
ni, trí tuệ được thế đấy!
- Hừ! Ðừng có lên giọng kẻ cả! Chú
được tài lập lại kinh
điển, ngôn ngữ của cổ nhân. Tôi hỏi chú, chú
bảo tôi chấp hữu, lì lợm. Nhưng mà coi chừng! hãy nghe
đây! Nói rằng, sắc, thọ, tưởng, hành,
thức là không, đồng ý! Nhưng này, ai
đang đứng trước mặt tôi đây?
- Bộ xương nặng 35 ký.
- Tầm bậy, xương không biết nói!
- Ha ... ha ... ha ...
Chú điệu cao, trắng vai
vác cây cuốc chỉa vụt cất tiếng cười rang rảng rồi chạy lên
đồi. Bóng chú lẫn vào rẫy sắn. Chú
điệu thấp, da đen cháy, tay cầm cây chổi rành
đứng dưới gốc bồ đề nhìn theo, bặm môi
tức tối.
Nắng chiều ấm, nhảy loăng
quăng trên những đọt sắn. Tiếng lá
thông reo vi vu. Tiếng chim kêu rời rạc. Mấy chiếc lá khô
đuổi nhau chạy loi choi về cuối vườn. Một đám
mây trôi bâng khuâng trên vòm trời rộng, xanh lơ.
Chú điệu thấp, đen huơ
mạnh cây chổi. Những chiếc lá vàng khô tung lên, rớt xuống. Cây
chổi lại quét mạnh đẩy chúng về một phía. Lá
lại bay lên, đáp xuống.
Những nhát chổi đều đặn
hất tới. Những tấm lá bị đùa nhích tới vài bước rồi lại lì lợm nằm
chờ nhát chổi kế tiếp.
Nắng dịu dần, gió thổi mạnh hơn. Nơi chân trời xa
đã thấy thấp thoáng vài cánh chim bay
về tổ. Tiếng nghé ọ của bầy trâu vọng lại từ con
đường băng ngang sau đồi. Giọng hát
trong trẻo của cô gái nào đó đang giặt dưới
bến sông chốc chốc lại theo gió thoảng lên. Con chích chòe
đậu trên cành thông cất tiếng hót phụ
họa ...
Chú điệu thấp dồn lá lại
thành đống rồi chạy nhanh vào
nhà bếp lấy cái bội tre. Lá sẽ được cất để
chụm dần. Chú nhanh nhẹn hốt từng ôm lá nhét vào bội. Một, hai, ba,
bốn ... Bỗng, một cơn gió quái ác: r.. ào.. ào, ào tới hất
đám lá bay tứ tung. Chú
điệu thấp loay hoay huơ chổi quét dồn lại.
Nhưng mới hốt được một ôm, cơn gió thiên lôi lại ào tới phá
đám.
- Cái lão gió này!
Chú đứng lên nhìn
theo những chiếc lá bay chờn vờn như trêu ghẹo. Chú tức bực:
- Ðồ phá đám!
- Ai phá đám?
Câu hỏi vang lên đột ngột.
Chú điệu đen, thấp quay
lại. Chú điệu cao, trắng xách hai gốc sắn còn nguyên củ, tay cầm
cái cuốc chỉa đứng đó tự bao giờ, cười hì
hì .
- Gió chứ ai!
- Gió đâu?
- Kia kìa ...
- Ðâu? Chú chỉ gió cho tôi coi nào?
- Thì đó ... ủa!
Chú điệu đen, thấp ngớ ra,
im lặng, vì lúc ấy trời không một chút gió. Những
đọt thông thôi reo. Những chiếc lá nằm yên
không nhúc nhích.
Im lặng.
- Gió đâu? Ðâu là
gió?
Chú điệu cao, trắng đứng
cười hì hì, hà hà.
Chú điệu đen, thấp nhíu mày,
bặm môi, quay qua quay lại. Chú tìm gió! Chợt chú ngồi xuống lượm cây
chổi, nhanh như chớp, quất mạnh vào đôi chân
của chú kia.
- Ý da! Sao chú đánh tôi?
Chú điệu cao nhảy cẫng lên la lớn.
- Gió đấy! Gió
đấy! Chú
điệu đen, thấp lại cười khà khà.
Chú điệu cao, trắng tức
tối:
- Ðó là chú đánh tôi chứ
gió đâu mà gió!
Chú điệu đen, thấp lên
giọng:
- Chuyển động là
gió. Kinh dạy như thế mà! Tôi là gió mà chú là vật bị gió quật chứ có gì
lạ đâu! Hì hì ...
- Ðược đấy!
Nói xong, chú điệu cao,
trắng hậm hực, quày quả đi về phía nhà
bếp.
Chú điệu đen, thấp đứng
chống chổi nhìn theo cười khì, rồi nhanh nhẹn cúi xuống ôm lá nhét
vào bội.
Trời đã nhá nhem.
Tiếng chuông công phu bắt đầu buông
thong thả từng gióng một. Trên chánh điện,
ánh sáng từ ngọn đèn lọt qua những khung cửa phóng thành những vệt
dài trên các lối đi, cây cảnh, lùm bụi
quanh chùa.
Sau giờ công phu tọa thiền, Tăng
chúng qui tụ tại pháp đường. Ba hồi
kiền chùy gióng lên. Tất cả chấp tay nghiêm cẩn. Hòa thượng bước
vào và lên pháp tòa. Sau khi niệm Phật hiệu, hòa thượng cao giọng:
- Ðêm nay, bần đạo sẽ đưa
ra một công án. Quý vị ai có đủ thẩm quyền xin bước ra ấn chứng.
Rồi Ngài tiếp:
- Sinh tử là việc lớn. Quý vị cắt ái từ thân vào chốn
thiền lâm để làm gì? Phải chăng
là nối gót chí nguyện của lão già mặt vàng và tên rợ mắt xanh? Vậy
thì hãy quyết chí hạ thủ công phu, đêm
ngày quên bặt. Trọn cả thân tâm như đặt trên
bờ vực cao ngàn trượng; như ở trong đám cháy
lớn bốn phía hừng hực, ráng mà chạy thoát ra ngoài; như ở trong cơn
đại hồng thủy bị nước cuốn trôi, cố
hết sức bám vào một mảnh gỗ duy nhất trôi bập bềnh trên sóng nước. Mau
lên! Mau lên! Chớ để bạch câu vút qua, thoi
đưa thấm thoắt rồi ngàn sau ân hận!
Nhảy qua! Nhảy qua bờ kia! Hãy nhảy qua cả bờ kia nữa,
hỡi chư thiện hữu Bodhisvahà!
"Công án thứ hai mươi ba của Vô Môn. Hai ông tăng
tranh luận gió và phướn.
Một ông nói:
- Phướn động!
Ông kia bảo:
- Gió động!
Cả hai cãi qua cãi lại không ra lẽ.
Lục Tổ đi qua bảo:
- Không phải gió động,
không phải phướn động. Tâm hai ông
động đấy.
Hai ông tăng giật mình
kinh sợ".
Bây giờ bần đạo xin được
hỏi quý vị:
- Phướn động hay gió động?
Nói mau! Nói mau!
Pháp đường ngột ngạt. Con
tắc kè trên nóc điện tắc lưỡi thở
dài.
Chợt một vị tăng bước ra.
Hoà thượng hỏi:
- Phướn động hay gió động?
Mau!
-"Gió thổi mưa dồn dập
Trời không, không gợn mây".
- Tha cho ba chục hèo!
Vị tăng cúi lạy một lạy
rồi lui về chỗ cũ.
Hòa thượng nhìn quanh cao giọng:
- Cả Pháp đường không lẽ
toàn là bọn vá áo túi cơm cả ư?
Im lặng trôi qua.
Hòa thượng bước xuống pháp tòa.
Chợt phía sau tăng chúng,
chú điệu thấp, đen chạy ra:
- Bạch hòa thượng!
Hòa thượng dừng lại, thét lớn:
- Là gì?
Chú điệu đen, thấp la to:
- Lão bán củi đất Dương
Châu động chứ không phải hai ông tăng động.
Hòa thượng chụp vội cây gậy phang thẳng cánh vào người
chú điệu.
- Ai động? Nói mau!
- Hòa thượng!
Nói xong, chú điệu thấp,
đen cúi lạy đi về chỗ cũ.
Hòa thượng đưa gậy lên
trời đứng sững, rồi bước ra khỏi Pháp đường
về tịnh thất.
Chú điệu đen, thấp cũng
lách mình ra cửa. Chú chạy về hậu viện. Trong lúc vội vàng chú vấp
phải vật gì ngáng ngang đường, té sấp xuống.
Chú vội lom khom trổi dậy.
Chưa kịp hoàn hồn thì đã
nghe quát:
- Ai động? Nói mau!
- Dạ, không biết!
Chú quay đầu lên
nhìn người lên tiếng hỏi.
- A! Té ra chú!
- Hì hì ... Ai động?
Nói mau!
Chú điệu cao, trắng vừa
cười vừa hét nhỏ.
Chú điệu đen, thấp im lặng
quay mình đi vào
đêm tối.
Bầu trời chợt như cao hơn, sâu thẳm hơn, huyền diệu và
mông lung hơn với vô vàn hạt sao li ti lấp lánh, nhảy múa.
Có tiếng rơi nhè nhẹ đâu
đây ...
Pháp Tông
(Mùa thu l980)
TR
ĂNG
KHÔNG LẶN
Chú điệu Tân vừa mới vào
ở chùa, những đêm
đầu tiên vì nhớ nhà nên chú cứ
đi thơ thẩn mãi ở ngoài vườn.
Hôm nọ chú ngồi khóc một mình, thấy Vô Văn
đi xa, điệu đánh trống lảng:
- Ồ! Ðêm nay trăng sáng
quá!
Vô Văn ra vẻ ta đây:
- Rõ vớ vẩn! Trăng thì
khi nào lại không sáng, cứ gì đêm nay!
Ðiệu Tân cãi:
- Hôm qua nó có sáng đâu.
- Có chứ!
- Tối om!
- Sao lại tối?
- Vì bị mây che.
Vô Văn cười hít hít:
- Ðấy, vì bị mây che chứ không phải trăng
không sáng.
Ðiệu Tâm im lặng.
Vô Văn lên giọng kẻ
cả:
- Nghe thơ đây:
" Trăng vốn sáng nhưng
lòng mây u uất
Che nguồn trăng không soi thấu lá cành
"
Này nhé! Trăng chính là
Tuệ Giác đấy! Mây chính là vô minh. Vô
minh che mờ Tuệ Giác! Chú em có hiểu thế không?
Ðiệu Tâm lắc đầu:
- Em không biết!
Vô Văn trừng mắt:
- Không biết? Ðồ ngốc! Thế thì học
đi! Vậy có thuộc mấy câu thơ của Ðại
Sư Bá không hở?
- Sao ạ?
- Thơ thế này:
" Ngàn xưa từ ngàn xưa
Chưa một lần trăng lặn! "
Vô phúc cho chú, vừa lúc Sư Tổ
đi ngang, nghe được, nói khẽ:
- Hoa nở rồi tàn, trăng tròn
rồi lại khuyết, ta có bảo trăng không lặn bao
giờ đâu mà nói oan cho Sư bá thế!
Vô Văn thè lưỡi,
lủi mất.
LÝ DO NGỦ KHÔNG NẰM
Vị khách kia nghe đồn Sư
ngủ không nằm, hâm mộ lắm, tìm đến và
xin được gặp mặt.
- Ðại Ðức hành pháp môn cao thượng này
được bao nhiêu lâu rồi?
- Ý Ngài muốn nói chuyện gì? Sư ngạc nhiên hỏi.
- Chuyện Ðại Ðức ngủ mà không nằm
đấy!
Sư cười:
- À, cám ơn Ngài đã
có ý hỏi han. Vâng, từ khi bần đạo bị mấy cái
mụt nhọt ở nơi lưng, nơi hông nó hành, từ
đấy, bần đạo không còn nằm
được nữa!
CHIÊU THỨC CỦA ÐA TRÍ
Một thanh niên có vẻ trí thức
đến chùa, ngồi thuyết tràng giang
đại hải về chân lý, tuyệt đối, bản thể. Cuối
cùng y tóm tắt:
- Như vậy, rõ ràng là "nhất thiết pháp không", tôi
không, các chú không, không có sở đắc, không
có Niết-Bàn, viên mãn không, tất cánh không.
Ða Trí chăm chú lắng nghe,
rồi lắc đầu:
- Vô lý, thậm vô lý!
Khách ngạc nhiên:
- Tại sao vậy? Tôi đã
nghiên cứu hầu hết hai truyền thừa Bắc và Nam tông, có khác gì những
điều tôi nói.
Ða Trí nhếch mép:
- Bởi vậy tôi mới bảo là tào lao!
Khách tím mặt giận run.
Hồi lâu, Ða Trí mới cười nhã nhặn:
- Như vậy chứng tỏ cái "giận" của ông bạn là có
đấy chứ ạ?
Khách "à" một tiếng rồi ngớ ra.
ÐÁP ÁN CỦA VÔ V
ĂN
Vô Tâm về thăm nhà
lên, gặp Vô văn đang tưới ớt bên hông
chùa, chú hí hửng kéo Vô Văn lại gốc cây.
- Công án mới đây!
Hãy chăm chú lắng nghe! Sẵn sàng chưa?
- Sẵn sàng rồi!
Vô Tâm kể:
- "Một người cha đánh con.
Lần thứ nhất bảo là không được khóc.
Lần thứ hai bảo, không khóc thì được
rồi, nhưng cấm chảy nước mắt. Lần thứ ba lại bảo, không khóc, không chảy
nước mắt, nhưng cấm cái bản mặt tỉnh bơ như thế. "
Vậy gặp trường hợp chú thì chú tính sao? Hử? Nói
đi! Nói ngay tức khắc!
Vô Văn đứng dậy:
- Tôi đi tưới cây.
-!?
ÐẠO ...LAN!
Ða Trí ngồi nhìn chú Ða Thức tưới lan, săn
sóc lan, chú nhăn mày suy nghĩ rất lâu rồi hăm
hở đến gặp Nhà Sư.
- Thầy à! Con vừa tìm ra
được cái Ðạo ... lan!
- Sao? Ðạo lan à? Thử nói ta nghe.
- Dạ, chơi lan là phải biết "cho
đi" tiền bạc, thì giờ, công lao, sức
khỏe, ... Biết "cho đi" nhiều thứ như
vậy thì có khác gì Bố Thí Ba La Mật ... lan?
Nhà Sư nhăn mày:
- Cứ nói tiếp.
- Phải chăm sóc, gìn
giữ cẩn thận từng cái rễ, cái lá, cái nụ, cái chồi, ... cũng như giữ gìn
thân, khẩu, ý vậy. Cái đó được gọi là
Trì Giới Ba La Mật ... lan!
- Ðược lắm!
- Phải cố gắng thường xuyên, không
được lười biếng, cẩu thả, bê trễ. Phải
chăm tưới hằng ngày; tưới ít hoặc
nhiều lại còn tùy nắng hay mưa, khô hay ẩm, lạnh hay nóng, không
được phép dễ duôi. Cái ấy
được gọi là Tinh Tấn Ba La Mật ...
lan, không sai!
- Ồ!
Ða Trí hăng hái nói tiếp:
- Phải biết rõ đây là
loại nấm đà, nấm
đen, nấm trắng, ... do vi khuẩn nào
gây ra. Phải biết phân biệt đâu là
bệnh rầy, bệnh cháy lá, thối đọt, thối rễ;
bệnh do ung thư, còi cọc, do úng rễ, phỏng lá; bệnh do khô quá, ướt
quá v..v... để mà cứu chữa kịp thời.
Ðấy không phải là Trí Tuệ Ba La Mật ... lan là gì?
- À!
- Khi tưới tắm chăm sóc thì
để trọn tâm hồn vào
đấy, chăm chú, chuyên nhất, ... Cái
đó gọi là Thiền Ðịnh Ba La Mật ... lan
chính hiệu!
Thấy Ða Trí còn muốn nói nữa, Nhà Sư ngăn
lại:
-Thôi đủ rồi! Vậy
là ta hiểu rồi!
Ða Trí Hỏi:
- Vậy Thầy nghĩ thế nào? Aáy có
được gọi là Ðạo chăng?
NhàSư mỉm cười:
Ta bây giờ già rồi, đầu óc
lú lẫn, không có được "biện tài giải", "tuệ phân tích" như con. Con
đã "không Thầy chỉ dạy" mà tìm ra con
đường cho chính mình, khác con
đường của các Ðấng Như Lai! Khá lắm!
Ða Trí nhũn nhặn:
- Dạ, con không dám! Con chỉ mới suy luận thôi!
- Ồ! Vậy ta cũng suy luận
đây! Ta hỏi con nhé, nếu có cái được
gọi là Ba La Mật lan, thì cũng phải có Ba La Mật cuốc
đất, Ba La Mật nhổ cỏ, Ba La Mật lái xe, Ba
La Mật họa, Ba La Mật thơ, Ba La Mật đánh cờ v..v..., có phải
không?
Ða Trí vỗ tay:
- Chính thị! Chẳng có gì không có Ba La Mật cả! Chẳng
có gì mà không có Ðạo.
" Mười phương chân lý, Ðạo
Thảy thảy hiện trần sa
Thảy thảy Ba La Mật
Thảy thảy Bồ Ðề Tát bà ha! "
Nhà Sư ôn tồn hỏi:
- Con nè, thế thì Ba La Mật lan của con với Ba La Mật
của Phật không có gì khác nhau đấy
chứ?
- Dạ, không khác. Chân lý vốn chỉ có một mà thôi. Ðã
Ðạo rồi thì đâu cũng là Ðạo cả.
- Con này, Nhà Sư chậm rãi nói - không
đâu là không có Ðạo. Ðồng ý! Nhưng cái
Ðạo lan của con có giải thoát được sầu,
bi, khổ, ưu, não không?
- Dạ, có chứ! Ða Trí mau mắn
đáp - Nhìn lan nở là con giải thoát
liền!
- Có an vui tự tại không?
- Dạ có!
- Rất tốt! Rất tốt!
Rồi Nhà Sư nhẹ nhàng vỗ vai Ða Trí mà rằng:
- Con nè, cái việc tưới lan, chăm
sóc lan, tháng này qua tháng khác, năm
này qua năm nọ thật là vất vả
nên trước đây, chư Tăng họp lại rồi phân công
đồng đều để các chú có cơ hội tu tập công
đức. Nay con
đã "thâm ngộ" cái Ðạo lan,
đã giải thoát
được nhờ Ðạo lan,
đã an vui tự tại
được cũng nhờ Ðạo lan. Quí hóa thay!
Hy hữu thay! Vậy thì từ nay, con hãy bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định, trí tuệ Ba La Mật cái vườn
lan "một mình" cho chùa vậy nhé!
Ða Trí tròn xoe mắt một hồi rồi tự rủa thầm:"Ta tự hại
ta rồi?"
ÐƯỜNG ... TA!
- Ối dào! Ðường lên chùa Sư nó xa quá trời là ... "xa"!
Sư vốn lãng tai, hỏi:
- Con nói cái gì ... "ta"?
- Dạ, đường ạ!
Sư gật gù đáp:
- Phải rồi! Ðường ... ta, ta ...
đường! Khi tâm phân biệt thì có "ta",
có "đường"! Còn khi tâm không phân
biệt thì "không thấy ta", "không thấy đường".
Ðã vong năng, vong sở, không ta, không đường
thì chẳng thấy đâu là xa,
đâu là gần cả con ạ!
NI LÂU ÐẠO HỮU BUÔN BÁN MẦN
ĂN RA SAO?
Một thương gia giàu lòng tín tâm làm phước, bố thí rất
nhiều. Sau mấy tháng chuyên sâu nghiên cứu về giáo pháp,hôm kia
đến gặp Nhà Sư:
- Bạch Thầy! Mọi pháp hữu vi
đều là vô thường,
đau khổ, vô ngã,...
- Ðúng thế!
- Nếu các pháp vốn là vô tự tính, không thực hữu, tất
cả đều là không, vậy chẳng hay tu
giới, tu định, tu huệ thì "được"cái
gì, "lợi" cái gì ?
Nhà Sư tủm tỉm cười rồi hỏi:
- Ni lâu đạo hữu buôn bán
mần ăn ra sao?
CHÉM LUÔN !
Tại sao Nam Tuyền trãm miêu?
Ðấy là câu hỏi được đem ra
bàn cãi trong giờ uống trà buổi tối.
Một vị sư nói:
- Có lẽ Nam Tuyền Lão Sư muốn xóa bỏ cái chấp thủ về sở
hữu của lưỡng đường.
Vị khác:
- Chưa chắc là vậy. Ngón trỏ chính là ở nơi ý niệm
đúng sai, có không của lưỡng chúng, chém mèo
là hành động tối hậu để đẩy tâm thức môn sinh
vượt khỏi bến bờ nhị nguyên đối đãi.
- Trật lất! Vị sư khác phát biểu - Chán chi cách khai
mở tuệ giác mà lại dùng phương tiện sát sanh
để phạm tội giới? Ý hẳn Nam Tuyền hoà thượng muốn vén mở tâm thức
giải thoát, vô tác, vô hành, không còn chi phối bởi nhân quả chăng?
Một vị la lên:
- Trời ơi! Thế là tà kiến! Thế là rơi vào "đoạn
diệt luận" của chúng ngoại đạo. Biết
đâu hành động chém mèo chỉ là
hành động bình thường nói về nhân quả,
nghiệp báo?
Thấy các Sư tranh luận, Vô Văn
không dám "thèo leo", bèn chạy một mạch ra bến sông, vừa lấy tay
phạt làm đao vừa la lớn:
- Con mèo chấp thủ: chém một
đao!
Con mèo nhị nguyên: chém một
đao!
Con mèo vô nhân quả: chém một
đao!
Con mèo hữu nhân quả: chém một
đao!
Lúc đó, Sơ Tổ
đang đi dạo mát giữa trăng, nghe được, nhẹ nhàng
bước tới:
- Vô Văn!
- Dạ!
- Còn con một đao nữa, ta
một đao nữa, chém luôn!
Vô Văn nghe một luồng khí
lạnh chạy dọc xương sống, chú quỳ xuống, sụp lạy!
HẠNG NGƯỜI ƯU THẮNG
Lúc này, giới tử vào chùa
đông: điệu Tân, điệu Lộc, điệu Hạnh
(chưa có pháp danh), Vô Tư và Vô Ý. Ða Thức nhận trách nhiệm quản
chúng cùng dạy kinh, dạy giáo lý.
Hôm kia, Ða Thức giảng một
đoạn kinh ngắn rồi chú kết luận:
- Thế là có hai hạng người ưu thắng thường
được Ðức Phật khen ngợi: "Trong tâm có
cấu uế biết rằng có cấu uế, trong tâm không có cấu uế biết rằng không có
cấu uế".
Buổi trưa có thức ăn ngon,
các điệu dùng sau, làm luôn hết phần chó và mèo, những cái bụng
đầy căng!
Ða Thức xuống tận nơi, ôn tồn nói:
- Vậy là tâm các điệu có
"cấu uế" đấy, biết không? Aên
quá độ, tham ăn là cấu uế,
đã rõ chưa?
Tất cả đồng thanh đáp:
- Dạ rõ!
Ða Thức giáo huấn:
- Vậy lần sau bỏ cái tính tham
ăn ấy đi nghe!
Vô Tư cười hì hì:
- Bỏ làm chi chú, "Tâm có cấu uế biết rằng tâm có cấu
uế" ấy là hạng người ưu thắng thường được
Ðức Thế Tôn khen ngợi mà!
Ða Thức đưa hai tay lên
trời!
CÁI GÌ BẨN ?
Mấy lúc sau này các Sư bận học hành, nghiên cứu nên
công việc trong ngoài đều giao hết cho các
chú.
Nhân đầu mùa trồng
trọt, các chú thảo luận với nhau. Vô Văn nói:
- Ta chỉ có một sào đất màu
mỡ bên sông, vậy nên trồng gì để có khả năng
kinh tế cao nhất?
Ða Trí nói:
- Nên trồng thuốc lá bán nhiều tiền, nó "lợi" hơn các
loại khác gấp bội.
Ða Văn nói:
- Thuốc lá tốn nhiều phân, nhiều công, lợi bất cập hại
đấy. Trồng bắp và
đậu là khỏe re, tuy ít tiền nhưng
được "lợi" thì giờ.
Ða Thức đứng dậy bỏ đi. Vô
Văn hỏi:
- Chú đi đâu?
- Tôi đi rửa tai!
- Tại sao?
- Tu hành mà người thì bảo lợi "tiền", người thì bảo
"lợi thì giờ"! Không bẩn tai sao được chứ?
Vô Văn bước nhanh lại,
vạch tai chú Ða Thức xem, rồi gật đầu:
- Ðúng vậy! Té ra là tai chú bẩn! Hèn gì!
Ða Trí và Ða Văn được dịp
cười khoái trá.
THIỆT LÀ TIỆN LỢI
Vô Văn và Vô Ý
đang đào lỗ trồng chuối, chợt chú Vô Ý
dừng cuốc nói:
- Chú Vô Văn nè!
Khoa học đã
đến trình
độ chế biến vải, thịt heo, ... từ dầu hỏa; làm nước ngọt giải khát
từ rong biển. Vậy tại sao người ta không sáng chế ra một loại máy, mà khi
găm xuống đất nó hút lên nào ngọt, nào
bùi, nào béo, ...? Thiệt là tiện lợi hết ý!
Vô Văn lắc đầu:
- Chẳng tiện lợi chút nào. Cả một
đống phiền phức xuất hiện: Ðầu tư công
sức thí nghiệm, chế máy; rồi nhân công, nhiên liệu, bảo trì v.v ... Chi
bằng cứ như thế này: ưa ngọt thì trồng chuối, trồng mít; ưa cay thì trồng
ớt, trồng tiêu; ưa béo thì gieo đậu phụng,
đậu nành v. v...Thế không tiện hơn sao?
MỜI QUÝ NGÀI DÙNG TRÀ KẺO
NGUỘI
Hôm đó nhân buổi Trung
Thu, tại vườn Thanh Tâm có cuộc họp mặt đông đảo các vị trí thức gồm học
giả, nhà thơ, nhà văn, nhà giáo
v. v... Trong không khí mát mẻ, đầm ấm, họ
uống trà thảo luận chuyện văn chương,
chữ nghĩa. Sau rốt, có người đặt câu hỏi, giáo pháp của Ðức Phật,
cái gì là quan trọng nhất? Thế là mọi người
đưa ra ý kiến, quan điểm của mình. Họ yêu cầu Nhà Sư chủ trì cuộc
thảo luận này.
Người thứ nhất: Theo tôi, cái quan trọng nhất của Ðức
Phật là trí tuệ. Có trí tuệ mới biết đường,
biết sá mà đi, khỏi rơi vào tà
lộ, khỏi bị lầm lạc. Nói đến Ðạo Phật
thì trí tuệ là đệ nhất.
Người thứ hai: nói thế là
đúng, nhưng là cái đúng chưa trọn vẹn.
Ðạo Phật gồm đủ cả hai: Trí Tuệ
và Từ Bi. Nếu không có Từ Bi thì Ðạo Phật có mặt trên
đời này
để làm gì? Thuyết pháp độ chúng sanh
cho ai? Coi chừng Từ Bi còn quan trọng hơn Trí Tuệ nữa
đấy.
Người thứ ba: Tự Tại mới là cái tối thượng của Ðức
Phật. Trí Tuệ và Từ Bi là hai cánh của một con chim
để bay đến chân trời Tự Tại. Nếu không có
chân trời Tự Tại, chúng ta sẽ sống đời lao chao như những con lật đật,
nghiêng bên này, ngã bên kia; sẽ bị pháp trần cuốn trôi vào giòng
sông sinh tử đầy hệ lụy và khổ não.
Người thứ tư: Thế cũng chưa rốt ráo. Nói tự tại thì
phải nói đến Tự Do mới trọn nghĩa. Không có
tự do thì làm gì có tự tại? Không có tự do, mình sẽ bị lệ thuộc,
gông cùm, ràng buộc. Vả lại, kẹt vào tự tại có nghĩa là nô lệ, phụ thuộc
tự tại vậy. Theo tôi, Tự Do mới là cái chân phúc.
Người thứ năm:
Không có ai sai cả, nhưng Giải Thoát mới là cái cao nhất, rốt ráo nhất.
Quý vị không từng thấy thế gian này đau khổ vì
bị buộc ràng bởi tiền tài, danh vọng, sự nghiệp, vợ con, ... Không, biết
bao nhiêu máu và nước mắt đã
đổ ra từ những tham vọng quyền lực,
tham vọng thế gian kia! Giải Thoát mới là cái tối thượng của Phật
đà.
Người thứ sáu: Ngài nói không sai! Nhưng mà nếu hiểu
giải thoát là buông bỏ tất cả những điều ấy,
coi chừng sẽ rơi vào "hư vô luận". Không rơi vào "hư vô luận" cũng
dễ bị thế gian hiểu lầm là thiếu trách nhiệm, thiếu bổn phận với cuộc
đời. Theo tôi, Giác Ngộ mới là mục
đích tối thắng của Phật Ðạo. Ðức Phật
cũng được gọi là Ðấng Giác Ngộ, Ðấng
Toàn Giác, Ðấng Diệu Giác! Rồi Thanh Văn
Giác, Duyên Giác, Ðộc Giác. Ở đâu cũng
có chữ Giác ấy cả. Không có giác ngộ thì chúng ta sẽ còn theo
đuổi không biết bao nhiêu mục
đích hư huyễn trên trần gian này.
Không giác ngộ chúng ta sẽ lặp đi lặp lại mãi
những việc làm vô ích, ngu si chỉ đem đến đau
khổ cho mình và người thôi. Vậy Giác Ngộ mới là
đích điểm rốt ráo.
Sau lời phát biểu của vị thứ sáu, không khí lắng lại
một lúc. Mọi người đều có vẻ trầm ngâm. Chợt
một người trung niên đeo mắt kiếng,
cười cười góp ý.
Người đeo kiếng:
Tôi phát biểu có lẽ hơi lếu láo, xin chư quân tử xá tội cho. Tôi thấy ai
phát biểu cũng đúng cả. Người sờ đến cái trán
Trí Tuệ thì nói Phật Giáo là Trí Tuệ,
đâu có sai! Người sờ được cái tâm Từ
Bi thì nói Phật Giáo là Từ Bi, cũng
đúng! Tự Tại, Tự Do, Giải Thoát, Giác Ngộ, ...
đều như vậy cả. Xin thưa, Phật Giáo phải là
toàn diện những điều quý vị vừa nói. Thiếu
một, thiếu hai, thiếu ba, ... thì con-voi-thực-tại-toàn diện của
Phật Giáo bị què, bị cụt còn gì? Vậy xin quý Ngài cho biết tôn ý?
Người đeo kiếng phát biểu
xong, ai cũng cảm nhận là ông ta nói
đúng nhất. Ðúng! Phải là toàn bộ con voi, toàn bộ thực tại ấy.
Chẳng có ai tranh luận vượt qua kiến giải ấy. Tuy nhiên, chợt có người thở
dài, nhìn sang thì đấy là tiếng thở
dài của một lão ông tóc trắng. Rồi vị ấy nói chậm rãi, nói nhỏ, như chỉ
nói với mình:
- Trí Tuệ ư? Cũng hay! Nhưng kẻ có
được trí tuệ thì dễ sinh cống cao, ngã
mạn, coi thế gian này như cỏ rác. Trí tuệ thường
đứng cao hơn nhân thế một cái đầu, hai cái
đầu, sẽ cách biệt với cuộc đời. Do vậy, đã mấy năm
sau này, tôi không còn dám học trí nữa mà tôi lại học "ngu". Học
"ngu", cái mới kỳ! Tuy nhiên học "ngu" là để
"hòa kỳ quang, đồng kỳ trần"
đấy quý vị ạ. Tôi còn nhớ Thiền Sư
Huyền Quang có mấy câu:
"Ngu-trí trí-ngu bình
đẳng tướng
Ma cung, Phật quốc hảo sinh quan".
Còn Từ bi? Cái này thì
đúng rồi. Thiếu từ bi thì cuộc đời này
đầy nước mắt, đầy gian ác, hận thù,
... Nhưng mà coi chừng, từ bi quá thì chúng sanh cứ ỷ lại, biếng nhác,
luôn luôn mong cầu ơn trên cứu rỗi. Con hư tại mẹ
đó mà! Vậy từ bi cực
đoan sẽ làm cho cuộc
đời này cũng hư như thế. Lại nữa, tâm
từ bi quá cũng phiền. Có mật ngọt thì kiến ruồi dễ bu. Có từ bi thì chúng
sanh dễ tìm đến hưởng lợi. Vô tình bị
hệ lụy, bị ràng buộc mất rồi! Do vậy, ai thì tôi không biết, riêng tôi,
tôi còn học thêm cái hạnh "không từ bi" nữa. Không từ bi nhưng không phải
là ác tâm, hận tâm, sân tâm, xin quý vị hiểu cho.
Còn Tự tại? Tôi cũng đồng
ý. Nhưng tự tại quá tôi cũng ớn lạnh. Vì sao vậy? Người tự tại
trước hoàn cảnh nào cũng trầm ổn, định tĩnh,
bình chân như vại, lúc nào cũng tỉnh queo, tỉnh khô. Nếu tự tại hơn
chút nữa thì sẽ biến thành tảng đá, đỉnh núi
khư khư bất động cũng chán lắm. Lẽ đó, tôi còn học thêm cái "không
tự tại".
Tự do cũng vậy, cũng hay, nhưng tự do tâm linh hay tự
do bản năng đây? Tự do bản năng
thì không được rồi, còn tự do
tâm linh thì lại khác. Kẻ có tự do tâm linh thì không còn thích sống tự
do, họ tự qui định mình trong những
mẫu mực, qui cũ, hình thức, lễ nghi. Và tôi cũng vậy, tôi
đang tụ tập trên lối về "không tự do".
Giải thoát à? Ðạo Phật thường nói
đến chủ đích này. Nhưng mà giải thoát
hết thì tôi không thích, vì tôi đang còn
ở trong cuộc đời này, tôi còn vợ con,
gia sản, tình huynh đệ, bằng hữu, thầy trò,
thôn xóm, quê hương và cả nhân loại nữa. Nên tôi, với từng này tuổi
đầu, tôi đang tập tành cái "không giải
thoát".
Giác Ngộ nữa, đồng ý!
Nhưng giác ngộ quá thì ta còn làm được điều gì
trên cuộc đời này? Không làm
được cái gì cả. Vì sao vậy? Vì giác
ngộ nên ta đã biết ráo mọi kết quả sau
cùng, mọi kết quả hư huyễn "dã tràng xe cát biển Ðông" của nó. Giác ngộ
thì sẽ không còn vọng tưởng để mà tạo
hỏa tiễn, máy bay, chinh phục sao Kim, sao Hỏa, xây dựng lâu
đài, dinh thự ... Do vậy sau này tôi
còn học cái bài học "không giác ngộ" nữa.
Nói tóm lại, cả hai đàng
đều phải học hết mới là trọn vẹn Ðạo
Phật. Xin cạn lời!
Cuộc thảo luận đến đây
dường như hết ý. Mọi người quay qua muốn nghe lời phát biểu của vị chủ trì.
Nhà Sư mỉm cười nâng chung trà lên:
- Xin chư vị dùng trà kẻo nguội lạnh lâu rồi!
Mọi người cười ha hả.
Viết xong, Yên Hà Các, thu 1981
Nhuận sắc, Phong Trúc Am, thu 1996
- Minh Ðức Triều Tâm Ảnh -
- HẾT -
---o0o---
Mục
Lục | 01
|
02
|
03
|
04
|
05
---o0o---
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Source: Buddhasasana Homepage
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :
01-02-2003