CHUYỆN
CỬA THIỀN
Minh
Ðức - Triều Tâm Ảnh
---o0o---
[02]
TRÊN ÐƯỜNG DU HÓA
Gần nửa đêm, Bất Ác
không ngủ được, chú trằn trọc, thao thức vì
mấy con cá quẫy lộn trong thùng. Giường bên kia Nhà Sư
đang đọc sách với ngọn đèn dầu tù mù.
Nhà Sư hỏi nho nhỏ:
- Sao mà con trăn trở hoài
vậy?
Bất Ác thở dài thườn thượt:
- Bạch Thầy! Ðộ ai chứ độ
gia đình thật là quá khó! Ðối với mọi người thì con vẫn là
đứa bé ngỗ nghịch, ham chơi. Con thật không
thể lớn trong mắt họ, nhất là mẹ con, thứ
đến là anh chị trong nhà, con mãi là "
thằng út hỉ mũi chưa sạch, mỏ ác chưa hết cức trâu ".
Nhà Sư cười khẽ:
- Thì con cũng đã
lớn với ai đâu? Con vẫn là chú
điệu bé tý hon trong mắt Thầy đó mà!
Giây lâu, Nhà Sư ngồi dậy nói tiếp:
- Như vậy là con phải lớn mãi, lớn hoài! Lớn với
giới đức, trí đức và minh
đức của mình. Lớn với vô tham,
vô sân và vô si của mình! Chuyện cứu
độ gia đình ai cũng khó khăn
cả chứ không riêng gì con đâu. Mỗi lần
về thăm gia đình, con hãy ít nói năng,
chỉ nên thể hiện nơi hành động, nơi
đời sống. Con phải sống tri túc, dễ nuôi, hoà nhã, vui vẻ và giản
dị. Phải biết kính trọng, lễ độ, thương yêu
và thông cảm với mọi người. Sống hoà với mọi người nhưng
đừng đánh mất mình bởi mọi người. Do
vậy, khi mềm, khi cứng phải rất linh hoạt. Lắm lúc cũng cần một vài thái
độ cương quyết, dứt khoát về một số việc nào
đó, như việc ác, hủ tục mê tín dị
đoan ... của người khác! Con làm
được vậy, sống được vậy thì ai dám chê
con là nhỏ bé nữa?
Bất Ác nhũn mặt đáp:
- Con sẽ nghe theo lời Thầy dạy. Hành
động tạo sức mạnh cho lời nói. Lời nói có
được sức mạnh là do đời sống có giới,
có trí. Con hiểu rồi, con sẽ cố gắng.
- Ừ! Tất cả hành động phải
biết dựa theo trí tuệ và từ bi. Bao giờ cũng với tâm thái bén nhạy,
trong sáng và định tĩnh để nhìn ngắm
vấn đề và giải quyết vấn
đề.
Bất Ác chợt ngồi dậy:
- Bây giờ con hiểu là con phải làm gì với mấy con cá
rồi ...
Nhà Sư cười khẽ:
- Ðúng vậy! Thấy việc gì hợp với từ bi vô ngã, trí
tuệ vô ngã là làm ngay, không do dự, không phân vân, lưỡng lự.
- Bờ sông rất xa nhà, Bất Ác âm thầm làm việc trong
đêm. Khi nghe
được tiếng cá quẫy đuôi giữa dòng sông
rộng, chú mới nở được nụ cười hồn nhiên
và sung sướng.
Nhà Sư chờ Bất Ác ở đầu ngõ,
thấy chú với những bước dài xăng xái thì
đã hiểu chuyện gì, bèn nói:
- Từ lâu, con mới chỉ không làm
điều ác - bất ác - bây giờ con
đã biết làm thêm việc thiện. Con
đã biết bổ túc cái thiếu sót cho công
hạnh của mình.
Ðêm mùa hè, trời rất mau sáng, Nhà Sư vừa mới ngồi
thiền một lát thì gà đồng quê
đã đua
nhau gáy vang rân. Tiếng người giục trâu ra đồng, tiếng gọi nhau ơi ới,
tiếng chó sủa, tiếng heo kêu ... từ chỗ này, nơi kia vọng lại tạo
nên một âm thanh yên ả, thanh bình.
Nhà Sư vừa mở mắt, thò chân xuống giường tìm
đôi dép thì Bất Ác
đã mang chậu nước và khăn
sạch đứng một bên.
- Vì con mà Thầy phải một
đêm thức trắng.
- Không can gì đâu con,
sức khỏe Thầy còn tốt. Vả lại đôi khi
nghĩ đến sức khỏe của mình thái quá thì dễ sinh những thói hư tật
xấu; sinh ra mê đắm cái thân ...
- Dạ, con hiểu!
Lát sau, Nhà Sư mặc y, ôm bát ... chào mọi người trong
gia đình xin từ giã. Người mẹ nói với
Bất Ác:
- Út, má đã chuẩn
bị món ăn sáng. Con hãy dâng Thầy
điểm tâm rồi hẳn lên
đường.
Bất Ác nói với giọng ẩn ức trong lòng:
- Thưa má, Thầy con dùng no rồi.
Người mẹ ngạc nhiên:
- Dùng rồi? Dùng bao giờ?
Bất Ác có vẻ hờn mát:
- Thưa má, Thầy con đã
ăn no cái đau khổ của chúng sanh, đã
ăn no cái si mê
độc ác của con người. Suốt đêm, Thầy
con đã ăn
no những thứ đó!
Người mẹ hạ thấp giọng, hai mắt mở lớn:
- Út, con nói cái gì kỳ lạ vậy, má không hiểu.
Bất Ác chợt ngẹn ngào, sa nước mắt:
- Má không hiểu đấy chứ! Vì
một miếng ăn ngon, vì một chút khoái
lạc của khẩu dục mà đang tâm đày
đọa kẻ khác. Má bảo má không thấy sao?
Người mẹ đã hiểu:
- À ... thì ra là vậy. Con Bảy
đó con à! Con Bảy nó mua nó nhốt
đó. Con Bảy nói hôm qua ngày rằm nó
không sát sanh. Nó ăn chay tháng bốn kỳ. Còn
má thì má hiểu chứ. Từ lâu má có sát sanh hại vật,
ăn gian, nói dối ai đâu! Má không biết tụng
kinh niệm Phật, không biết ăn chay, nhưng má ăn hiền ở lành lắm con
à! Cả làng, cả xóm má chẳng dám làm mất lòng ai, kể cả một
đứa con nít!
- Cảm động, Bất Ác chạy
lại ôm mẹ, khóc nức nở:
- Tội con đáng chết! Xin
mẹ hãy hỉ xả tha thứ cho đứa con ngu
dại bất hiếu!
Người mẹ già đỏ lệ lưng tròng,
đưa tay vuốt ve đứa con út mà bà không
ngờ nó mau lớn khôn đến vậy.
Lát sau, Bất Ác quay lưng
đi, bịn rịn:
- Má à! Mỗi lần anh chị Bảy móc gan mổ ruột một con cá,
má cứ nói với anh chị là coi như đang móc
gan, mổ ruột thằng Út đó. Mỗi lần anh chị Bảy thọc huyết, chặt đầu con
vịt, con gà thì coi như đang thọc
huyết,
- Chặt đầu thằng Út đó. Má
hãy nói như vậy nghe má!
Hai Thầy trò đứng đợi xe
"lam" bên đường. Một người ăn xin tàn
tật đi qua: áo quần tả tơi, hôi hám, mình
mẩy ghẻ lở; da bọc xương, mũi và miệng chỉ còn một, trông như con quái
vật. Bất Ác rụt rè nói với Nhà Sư:
- Bạch Thầy, con thấy ghê ghê nhưng mà tội nghiệp quá.
Muốn giúp người ta một cái gì, nhưng ..., nhưng ...
Nhà Sư hiểu:
- Con muốn cho mà sợ không còn tiền
đi xe phải không? Còn nghĩ về cái tiện
nghi, cái an toàn cho mình thì dễ sinh ra vị kỷ , ích kỷ. Nếu con muốn cho
thì cứ đem cho rất là thanh thản. Hết
tiền xe thì chúng ta xin "quá giang" chứ có vấn
đề gì
đâu!
Lời khích lệ của Nhà Sư như một tác
động mãnh liệt. Chẳng còn lưỡng lự
nữa, chú lấy số tiền ít ỏi trao tặng hết cho người
ăn xin khốn khổ.
Nhà Sư cười nhẹ:
- Thấy không! Tâm con bây giờ nhẹ như một mảnh lông
hồng. Ấy chính chính là hỷ tâm, là lạc tâm, là phước báu hiện tiền, nó trả
quả ngay, không đợi ở đâu xa. Cái phước này
tương đương với cõi trời Dục giới,
hiện tại thì có công năng làm mát mẻ
và lắng dịu tâm hồn.
Bất Ác thấy mình lâng lâng, thật hạnh phúc.
Nắng bắt đầu lên.
Những chuyến xe qua tung bụi mù mịt. Chẳng ai cho hai người quá giang. Bất
Ác lại trở nên nóng nảy:
- Giờ phải làm sao hở Thầy?
- Thầy có muốn làm sao
đâu!
- Người ta không cho đi?
- Thì mình hãy đợi!
Mồ hôi đã rịn trên
vầng trán hai người. Ở đó không một bóng cây.
Bất Ác len lén đưa mắt nhìn: sắc mặt Nhà Sư vẫn bình thản, an
nhiên; như có một nụ cười lặng lẽ ở trong tâm!
- Bạch Thầy - Bất Ác đã
cảm thấy khô cổ - đợi hoài như thế này
thì biết đến bao giờ?
Nhà Sư giờ mới quay lại, ân cần nói:
- Bây giờ con hãy đứng
thẳng, nhắm mắt lại, thư thái, buông xả. Xong rồi, con hãy bỏ tất
cả chuyện hiện tại, quá khứ, tương lai. Bỏ quá khứ là bỏ tất cả các hoài
niệm, bỏ những gì xảy ra dù chỉ cách đây một,
hai phút. Bỏ hiện tại là bỏ quên chuyện nắng nôi, bụi cát,
đón xe và
đợi xe. Bỏ tương lai là bỏ mọi dự định
đến đâu và sẽ đi đâu. Trong tâm thái
như vậy, con hãy lắng nghe, nghe được
gì hãy nói cho Thầy biết.
Bất Ác làm theo, một lúc sau, chú mở mắt ra:
- Con không thấy gì cả. Không nghe gì cả!
Nhà Sư thản nhiên:
- Phải! Nếu nhiếp tâm đúng
thì sẽ không thấy gì cả, không nghe gì cả.
Bất Ác ngạc nhiên:
- Con vẫn không hiểu.
- Có gì đâu mà
không hiểu? Khi với tâm thái như vậy con có nóng nảy và bất an không?
- Dạ không!
- Con có lưỡng lự, băn
khoăn và lo lắng gì chăng?
- Dạ không!
- Vậy thì Thầy đã
làm như vậy. Thầy đợi chờ mà như không
đợi chờ gì cả. Nói cách khác, nhờ Thầy
trú tâm rỗng không nên Thầy được an nhiên
và tự tại. Con đợi chờ mà có cái
đợi chờ trước mặt, thế là con bị tương
lai tưởng vọng! Con đợi chờ mà bị chi
phối bởi nóng nôi và bụi cát, thế là con bị hiện tại cuốn trôi! Do
đó, con sinh ra nóng nảy, bất an và
phiền não! Thật là giản dị, thật là dễ hiểu!
Bất Ác la lên:
- Ồ! con đã hiểu!
Nhà Sư cười nhẹ:
- Vấn đề là "thấy"
và "biết" chứ không phải là "hiểu". Nếu hiểu thì con sẽ bất
an trở lại.
Ðúng như Nhà Sư nói, một lúc không lâu lắm, Bất Ác lại
nói:
- Không biết trưa nay mình sẽ dùng cơm ở
đâu? Ðợi cái kiểu này thì có lẽ
đến chiều tối cũng chưa chắc có xe!
Nhà Sư mỉm cười:
- Ðấy, thấy không? Con có thật thấy, thật
biết đâu! Con vẫn bồn chồn vì một
cái gì đó ở trước mặt. Con vẫn mong muốn rằng
sẽ như thế này hoặc như thế kia. Con còn sinh ra sợ hãi vì không
biết ăn trưa ở đâu, nghỉ trưa ở đâu. Tất cả
những ước vọng này đều phát sanh bởi
Vô Minh và Ái Dục. Dường như có lần Thầy
đã dạy các con rằng: nghệ thuật sống
Ðạo, sống Thiền là sống không chuẩn bị, không lưỡng lự, không chờ
đợi cái gì hết, luôn luôn với tâm thái
trong sáng, tự tại và an nhiên! Nghệ thuật ấy con
đã không nắm
được.
- Con có hiểu được một
phần, nhưng bạch Thầy, như trong trường hợp này, nếu mình cứ
đứng mãi nơi
đây thì làm sao
đến?
- Nếu con muốn đến, cũng
có đến được đâu? Vậy sao con không coi chỗ này như là chỗ
đến của con? Muốn đi thì cái
đi ấy cũng là chổ
đến của mình? Hãy coi mục
đích là "cái bây giờ". Phương tiện và
cứu cánh đều đầy đủ trong sát-na hiện tại này.
Nguyên nhân chính là kết quả. Vậy lúc nào, bao giờ, tâm chúng ta cũng phải
an trú nơi chỗ không có thời gian, không có không gian ấy. Bao giờ
và lúc nào tâm ta cũng phai tỉnh giác và chánh niệm trong cái hiện tại
luôn luôn trôi chảy, mới mẻ, phong phú và sinh
động này. Ôi! Chỉ có như vậy mà sao
tâm con cứ đòi rắc rối!
Im lặng một lúc cho người
đệ tử thẩm thấu ý nghĩa sâu xa, mầu nhiệm nhưng giản dị trong lời nói vừa
rồi, nhà Sư chậm rãi tiếp:
- Cuộc nhân sinh nầy thật là lắm hệ lụy và nhiều khổ
đau, vì con người cứ mong chạy
đuổi, rượt đuổi, rượt tìm mục
đích trước mắt. Con người luôn luôn mơ tưởng
cái phía trước, không bao giờ bằng lòng với cái bây giờ! Họ
đã dùng mọi phương tiện, toan tính,
mưu mô xảo quyệt, lọc lừa không từ nan cả những cách thế phi luân, vô
đạo để đạt kỳ được mục đích hẳn thôi! Nhưng
mục đích nào có đạt được? Vì
sao? Vì tâm tham dục vốn là một hố thẳm không
đáy, chẳng bao giờ lấp đầy, nên dẫu có hụt hơi kiếm tìm họ vẫn
không thỏa mãn, không vừa lòng. Họ tìm kiếm nữa, khát khao nữa ... Họ chạy
đuổi đến sức cùng lực kiệt, và chung
cuộc, chỗ họ gặp chính là nấm mồ! Có kẻ đến
tuổi già tóc trắng vẫn chưa thỏa mãn
được ước vọng, nhưng một sớm mai kia. Tử thần đến gõ cửa rồi mang
họ ra đi, đến nơi chốn y như tội lỗi, như ác
nghiệp mà họ đã bôn ba tạo tác
ở trong đời ...!!
Bất Ác lắng nghe những lời, những chữ như len thấm vào
tận xương tủy:
- Con đã hiểu!
- Con ạ! Chỉ có mong cầu một mục
đích phía trước thôi mà thế gian này
đã xảy ra muôn vạn nhân duyên chằng
chịt của khổ đau như thế. Xã hội nào,
tôn giáo nào, con người nào, chủ thuyết nào, triết thuyết nào cũng
đẻ ra một lý tưởng, một mục đích cao cả ở
phía trước mặt rồi đổ dồn mọi hành
động về một lý tưởng và mục đích ấy. Và
rồi chuyện gì xẩy ra? Ðấy chính là chiến tranh, là xung
đột, là
đố kỵ, là ganh ghét ... xảy ra tràn lan trên thế giơí. Vì sao vậy?
Vì mục đích đồng nghĩa vơi dục vọng,
đồng nghĩa với quyền lợi lẫn quyền
lực. Vậy khi mà các mục đích va chạm nhau thì
đấy là bi kịch máu xương kinh khiếp
nhất mà con người vừa là diễn viên, vừa là khán giả trên sân khấu cuộc
đời .
Bất Ác cúi đầu:
- Con không ngờ bài học hôm nay lại sâu rộng
đến thế !
- Do đó! Ngay từ bây giờ,
con phải biết đợi chờ như không đợi
chờ gì hết! Ở đâu cũng là mục
đích cả, chứ đừng lầm lẫn nguy hại phương
tiện và mục đích khác nhau. Có
người lại bảo phương tiện hy sinh cho cứu cánh.
Thật là khiếp! Thật là si mê! Thật là ác
độc! Chúng ta là con Phật, phương tiện
và mục đích nó hoà tan trong cái bây
giờ. Ở đây cũng vậy, lên xe cũng vậy,
đến chỗ nào
đó cũng vậy. Nhân quả viên dung! Bờ
này bờ kia viên mãn! Như thế thì những cái gọi là hỗn loạn, giật giành,
nóng nảy, bất an, thống khổ làm sao tồn tại? Ta luôn luôn sống trong giây
khắc hồn nhiên, thiên thu, rỗng không và tự tại này. Con nên nhớ rằng, chỉ
một khỏi niệm vọng cầu là con đã góp
thêm năng lực xung đột, rối loạn cho cuộc đời
này rồi! Hãy nhớ lấy nghe con.
- Bạch Thầy, con sẽ khắc sau trong tâm khảm.
Giọng Bất Ác run run chứng tỏ chú
đang xúc động mảnh liệt.
Nhà sư gật đầu hài
lòng:
- Ừ! Thầy cũng không hi vọng là con hoàn toàn thấy rõ.
Nhưng mà con cứ nghe, tất cả rồi sẽ ẩn tiềmtrong vô thức, một lúc nào
đó tự con sẽ giác ngộ điều ấy.
Khoảng mười giờ trưa, Bất Ác nói:
- Bạch Thầy, con muốn đi
bộ!
- Ừ, như vậy đấy! Muốn
đợi, thì cứ đợi như không
đợi gì cả. Muốn
đi thì cứ
đi như không đi gì cả. Con ạ!
Nghệ thuật sống Ðạo là đừng bao giờ phân vân
giữa hai vấn đề. Ðừng lưỡng lự trong việc chọn lựa, bằng cách dứt
khoát chọn ngay một cái! Ðừng ở núi này mà trông núi kia! Ðừng vừa bên này
đừng vừa bên kia. Nếu lơ lửng thì cứ
là lơ lửng. Ðừng bỏ chân một lúc cả hai bên mà không bước
đi được. Không bước đi được là dừng
lại. Dừng lại là bị đẩy lùi, là bị
chìm, là khổ đau!
Bất Ác nói:
- Xin Thầy cho ví dụ để dễ
hiểu.
- Thì đây, con muốn đợi:
thì cứ đợi! Con muốn đi: thì cứ
đi! Nếu vừa muốn đợi vừa muốn đi thì
chắc chắn tâm ta sẽ bát an.
- Thầy cho một ví dụ nữa.
- Ví như chuyện người ăn
xin hồi nãy! Muốn cho thì cứ cho, không cho thì thôi. Nếu lưỡng lự
giữa hai đàng sẽ phát sanh bức rức,
khó chịu ở trong lòng.
- Con xin một ví dụ nữa.
- Bao nhiêu ví dụ cũng
được cả. Như chuyện thả cá hồi sáng nhé. Muốn thả thì ra sông thả
ngay. Muốn đợi sáng cho mọi người hay, thì
hãy đợi sáng. Bởi con đã không nhất
quyết, dứt khoát chọn lựa cái nào nên suốt đêm
con đã trằn trọc thao thức
đó, con không nhớsao?
- Bây giờ thì rõ ràng quá rồi, con không còn hoài nghi
gì nữa.
Hai thầy trò Nhà Sư vừa đi
vừa trò chuyện trên đoạn đường dài
nắng đổ lửa. Nhựa đường chảy loang loáng,
lổ chổ. Không một ngọn gió giữa bầu trời nóng nắng như thiêu người. Cả
hai, đầu trần, chân đất; một hình ảnh
kỳ quái, lạ đời trong đôi mắt của mọi người.
- Muốn dập tắt tâm ngẵ mạn, con hãy coi chúng ta không
là cái gì hết, chẳng ai thèm để ý đến chúng
ta hết. Chúng ta là người ăn xin tầm
thường nhất trên thế gian này! Tâm niệm
được như vậy, bản ngã sẽ không có cơ
hội tăng trưởng!
Bất Ác phải chịu là đúng,
nhưng lát sau lại xảy ra vấn đề khác:
- Nóng quá Thầy à, chân con như muốn phỏng!
Nhà Sư vẫn thản nhiên:
- Nóng thì phỏng chân chứ có gì lạ
đâu con? nó rất hợp với tự nhiên mà!
Bất Ác nói:
- Ðúng thì đúng, nhưng bây
giờ phải làm sao?
- Thầy có muốn làm sao
đâu?
- Nhưng nóng chân quá, con không chịu nổi!
Nhà Sư mỉm cười:
- Vậy thì dễ dàng thôi. Một là con bỏ cuộc,
đầu hàng, tìm một bóng cây mà ngồi.
Hai là cứ tỉnh bơ ra đi, chấp nhận nó một
cách hoàn toàn, không có điều kiện.
- Con chấp nhận nó!
-Vậy thì cứ an tĩnh mà bước
đi. Bởi sợ nóng nên nóng nó sẽ tấn
công con. Nếu con trọn vẹn nhìn ngắm sự nóng ấy, mỉm cười với nó, xem nhẹ
nó là nó sẽ bỏ đi. Nó sẽ hổ thẹn và bỏ
đi!
Chịu đựng một lúc Bát Ác
lại la lên:
- Vẫn nóng quá Thầy à!
- Thầy sẽ cho con thêm khí giới mới, nghị lực mới. Hãy
coi thường thân xác, khinh bỉ thân xác. Một chút nóng ở ngoài da
đâu bằng lửa địa ngục. Không chịu nổi một
chút nóng thì làm sao đeo đuổi được
con đường gian nan thiên vạn lý để đạt
đạo quả Vô Thượng Bồ Ðề, hở con?
Một chốc, Bất Ác vẫn nhăn
mặt, Nhà Sư gắt:
- Không thể dừng lại được
nữa. Hãy đi! Phải coi đây là
cuộc chiến đấu sống còn. Nếu con
đi qua đoạn đường này với tâm vô ngã,
mát mẻ và vắng lặng là con đã kề bên
Niết Bàn!
Lời khích lệ cuối cùng như một tác
động tâm lý cực mạnh làm cho Bất Ác
mỉm được nụ cười thản nhiên, mặc dầu
lòng bàn chân đã rát bỏng.
Ðến đoạn đường hai bên
đầy cỏ mọc, Bất Ác reo lên:
- Thế là con đã
"gần đạt đạo".
Nhà Sư nghiêm mặt:
- Ðừng tự đắc, tự mãn.
Làm thế nào đạt đạo được với cái bản ngẵ to
lớn hiện giờ ở trong con?
Bất Ác le lưỡi. Họ dừng chân nơi một miếu hoang. Bất Ác
xoa chân xong rồi nằm dài ra thở, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Nhà Sư ngồi lặng,
mỉm cười tự nhủ:
- "Nếu được gọi là
khổ hạnh, thì đấy là một khổ hạnh cần
thiết cho những kẻ bản chất mềm yếu, thiếu nghị lực như Bất Ác. Phải tập
cho nó cứng và mạnh. Phải tập cho nó có ý chí hơn, kiên
định hơn, dõng lực hơn ...
Ðưa mắt nhìn xóm nhà ven
đường, Nhà Sư ôm bát đứng dậy. Khi ấy
một người đàn ông đi ngang qua cũng
vừa dừng xe lại.
- Bạch Thầy! Thầy đi đâu mà
giữa đường nắng nôi như thế?
Ngước lên, thấy một người
đệ tử, là một thiện nam học thức, nhiều tín tâm; Nhà Sư mỉm cười:
- À, con đấy à!
Thầy đang chuẩn bị đi bát đây!
Người Phật tử dựng xe, chấp tay xá thật sâu, cười sung
sướng:
- Vậy là may mắn cho con! Sắp
đúng ngọ rồi, xin thỉnh Thầy về nhà
con, cũng gần đây thôi, để chúng con có dịp
cúng dường một bữa.
Nhà Sư im lặng nhận lời.
Bất Ác thở ra một hơi dài nhẹ nhõm!
Ðộ ngọ xong, cả nhà quây quần dưới giàn dưa tây mát mẻ,
Nhà Sư nói về Tam Quy và Ngũ Giới, tóm tắt như sau:
- Từ lâu, chư Phật Tử đã
có nơi nương tựa. Quý vị nương tựa nơi Tam Bảo, nơi Phật, nơi Pháp, nơi Tăng.
Nhưng quý vị còn nương tựa ở đâu nữa?
Quý vị còn phải nương tựa nơi sự giác ngộ giải thoát, nương tựa nơi
sự sáng suốt, nương tựa nơi cái Bồ Ðề Tâm, nương tựa nơi khả năng
thành Phật của chính mình. Ðấy là nghĩa thứ hai của quy y Phật. Quý
vị quy y Pháp, còn có nghĩa là nương tựa chân lý, nương tựa sự thật, nương
tựa vào cái như thật trong lòng mình. Ðấy là nghĩa thứ hai của quy y Pháp.
Quý vị quy y Tăng, còn có nghĩa là
nương tựa vào đức tính cao cả của Tăng sẵn có
trong quý vị, ấy chính là chân chánh, chánh hạnh, hiền thiện, thanh
tịnh, trực hạnh ... Ðấy là nghĩa thứ hai của quy y Tăng.
Nghĩa thứ hai của quy y Tam Bảo này có công năng
khai mở trí tuệ, thấy rõ đám mây mù
của Vô Minh và Ái Dục, để xô
vẹt, đoạn lìa vô lượng phiền não và nghiệp chướng, trả lại khung
trời bình yên và chân phúc cho tất cả chúng ta.
Những lời giảng về quy y Tam Bảo này có vẻ mới lạ nên
cả nhà lắng nghe một cách chăm chú. Thật chăm
chú. Biết vậy, Nhà Sư nói thêm về Ngũ Giới:
- Chư Phật tử! Quý vị đã
biết rằng Ngũ Giới không phải là những điều
luật bắt buộc; nó là hàng rào ngăn giữ
những vọng độc của thân, khẩu, ý. Giữ được một giới là ngăn
được một điều ác, giữ được năm giới là ngăn
được năm điều xấu. Giữ Ngũ Giới là ngăn
chặn những vọng động do tham, sân và si - là các nguyên nhân
đưa đến đau khổ trong tương lai.
Ðến ngang đây thì
một người nói:
- Thưa Thầy! Giữ Ngũ Giới quả thật là khó!
Nhà Sư đáp:
-Ðúng thế, ngay thời Ðức Phật mà các hàng cận sự nam nữ
cũng ta thán với Ngài như vậy. Nhưng phải hiểu rằng, ngay chính nơi tâm
thái chăm chú và trầm lặng lắng nghe
như vừa rồi, quý vị đã thọ trì trọn
vẹn Ngũ Giới!
Thấy mọi người có vẻ ngơ ngác, Nhà Sư tiếp:
- Khi chăm chú và
trầm lặng lắng nghe, thì chư vị đang mở rộng
tâm hồn; ở trong chư vị chan hoà một cảm giao, cảm ứng mênh mông.
Khi ấy những cái gọi là hung dữ, độc ác, hiềm
thù, ganh ghét ... những thuộc tính của tâm sân ấy có tồn tại trong
tâm quý vị không? Ngay khi ấy quý vị có móng khởi giết hại? Quý vị có tác
ý tiê6u diệt sự sống, sát hại sanh mạng?
- Dạ không!
- Lại nữa, khi chăm chú và
trầm lặng lắng nghe như vậy, tâm của chư vị sẽ công bằng và chánh trực;
quý vị không hề khởi niệm chiếm đoạt tài
sản, của cải vật chất của người. Quý vị đâu
có tham lam, xan tham mà phạm giới trộm cắp, có phải thế không?
- Quả đúng vậy.
- Cũng từ tâm thái chăm
chú và trầm lặng lắng nghe như vậy, quý vị có sanh tâm tà tâm hoặc
tà hạnh?
- Dạ không!
- Quý vị có nói dối? Rộng và
đầy đủ hơn nữa, quý vị có nói lời điều ngoa,
xảo trá, nói hai lưỡi, nói đâm thọc, nói trườn uốn như con lươn, nói ngọt
như đường, nói trơn như mỡ, nói thêu dệt, nói hoa ngôn xảo ngữ? Nói
như vậy để làm gì phải không? Biện hộ
cái chi, bảo vệ điều gì, có phải thế
không?
- Phải rồi! Không thể vọng ngữ
được.
- Và thế nào là không uống rượu, các chất say? Chỉ ở
trong tâm thái chăm chú và trầm tĩnh
lắng nghe như kể trên, là quý vị sẽ không còn uống rượu, các chất say nữa.
Vì sao vậy? Vì chư vị sẽ không còn muốn chạy trốn cái "bây giờ", quý vị sẽ
không còn tìm quên, núp bóng trong những thoả mãn nhất thời của cảm giác,
của ảo giác. Chí đến những nhu cầu khoái lạc
cho tri thức, quý vị cũng không cần nữa. Vì quý vị
đã đầy đủ
tất cả: niềm bình an vô lượng và sự tĩnh lặng phi thường. Như thế
quý vị đã có
được "chất rượu vĩnh cửu" rồi, quý vị còn
cần gì nữa chất say tầm thường trên thế gian?
Nói tóm lại, ở cả hai phương diện tiêu cực và tích cực,
Ngũ giới có công năng khai phóng và
đem con người ra khỏi mọi ám ảnh tội lỗi, sợ
hãi, là giải thoát tâm; chuẩn bị cho giải thoát trí, là con
đường tối hậu của Chư Phật ba đời.
Nhà Sư nói xong, không gian im lặng. Hai vợ chồng giáo
sư già cùng vợ chồng con cái, cháu chắt, dâu rể gồm bác sĩ, kỹ sư, giáo
viên, bộ đội, công nhân, sinh viên,
mấy người giúp việc ... cả thảy gồm hai mươi người bỗng
đâm ra trầm mặt, không ai nói gì,
không ai hỏi gì.
Chị Tư lặng lẽ đứng dậy,
dâng cho nhà Sư ly chanh đá. Chị nói:
- Thầy nói Ngũ Giới mà cao siêu quá, con không hiểu gì
hết. Xin Thầy giảng cho bình dân tí nữa, vì con không thể như ông bà, thầy
cô trí thức ở đây được.
- Nhà Sư cười:
- Khi con kính thành đem
dâng cho Thầy ly nước, trong tâm thái ấy, con đã giữ tròn Ngũ Giới
mà con không biết sao?
Mọi người chợt cười ồ. Chị Tư bẽn lẽn
đi lẫn vào phía sau, nói lí nhí:
- Bạch Thầy, con không hiểu.
- Phải rồi, con không hiểu là phải. Vì khi dâng ly
nước, tâm con chỉ còn là sự kính thành vắng lặng, chứ không có ý nghĩ gì
khác có phải vậy chăng?
- Dạ...
- Khi ấy con có khởi niệm sân hận,
độc ác, hung dữ, giết người, giết vật?
- Dạ không ...
- Khi ấy con có khởi niệm tham lam chiếm
đoạt của người, cướp bóc của người?
- Dạ không ...
- Khi ấy con có khởi niệm tà dâm, tà vạy, tà hạnh, bất
chánh?
- Dạ không ...
- Khi ấy con có chạy trốn sự thật mà sinh ra nói dối,
nói trườn uốn và những cách nói hư vọng khác?
- Dạ không ...
- Khi ấy con có muốn tìm quên cái hiện tại, chìm
đắm trong những ảo giác, cảm giác ... như là
dùng các chất say?
- Dạ không ...
Nhà Sư cười khẽ:
- Như vậy đấy. Khi mà
con kính thành, thương yêu ông bà, các thầy các cô, các em ... cùng tất cả
mọi người xung quanh, là con đã giữ
tròn Ngũ Giới một cách rốt ráo. Bằng ngược lại là con
đã phá giới, tâm con
đã phá giới.
Chị Tư có vẻ chăm chú lắng
nghe. Chị thưa:
- Con chỉ hiểu được một
tí, nhưng xin thầy giảng thêm.
Nhà Sư quay sang phía chị:
- Con hãy thử nói lên một công việc gì mà con thường
làm trong ngày cho Thầy nghe xem nào.
- Bạch Thầy, như rửa chén bát, nồi niêu, xoong chảo ..
Mọi người cười vui, Nhà Sư cũng mỉm cười:
- Phải rồi, như rửa chén bát vậy.Nếu con rửa không
sạch, thì tự sâu xa, con đã phá giới.
Mọi người yên lặng lắng nghe, Nhà Sư nói tiếp:
- Rửa chén bát không sạch, là vì lúc ấy tâm con
đang bồn chồn, nóng nảy, muốn làm cho
mau xong. Con có biết tất cả những cái gọi là bồn chồn, nóng nảy, muốn làm
cho mau xong ... ấy, nó phát sanh từ đâu? Gốc
của nó chính là tâm sân, là tâm sát con có biết không?
Có người la lên:
- Ðúng thế! Thật là khủng khiếp!
Người khác lại nói:
- Trông thì bình thường nhưng khi phân tích ra mới thấy
rõ được cái gốc phát sanh tộì.
Nhà Sư tiếp lời ;
- Sát sanh phát sanh bởi tâm sân hận, còn trộm cắp sinh
ra từ tâm tham lam.
Chị Tư thưa:
- Xin Thầy cho ví dụ.
- Ðược rồi, nghe nhé! Con làm việc trong ngày, ông bà
sẽ trả cho con một số tiền tương đương với
khối lượng công việc mà con phải làm. Vì mong việc chóng thành, con
đẵ làm cẩu thả, làm cho có lệ. Như vậy
việc gì cũng làm, nhưng việc gì cũng không tới nơi tới chốn. Suy nghĩ cho
sâu xa, là con đã
đánh cắp thời gian, tiền bạc của ông bà
một cách rất khéo léo. Vậy khi rửa chén bát không sạch là tâm con
đã vi phạm giới thứ hai này một cách
thật tinh vi, khó có người biết được!
Có tiếng "a" có vẻ ngạc nhiên. Nhà Sư vẫn
đều đều cất giọng:
- Thấy không, do tham, do sân, chúng ta
đã nuôi dưỡng tâm sát, tâm trộm cắp.
Cũng do tham do sân, chúng còn nuôi dưỡng thêm tà niệm, tà vạy, rồi dung
dưỡng cả những cách nói thiếu chân thật. Tại sao lại phạm luôn giới ẩm
tửu? Vì rằng, kẻ dùng những chất say là kẻ tự
đánh lừa mình bằng những ảo giác, những hưng phấn giả tạo. Ở
đây, ngay khi rửa chén bát không sạch, làm
công việc cho qua mau, mau xong là chúng ta cũng muốn tìm thụ hưởng bằng
sự nhàn rỗi, nghỉ ngơi ... Thỏa mãn, thụ hưởng, nhàn rỗi, nghỉ ngơi ... là
chúng ta đã dùng các chất say dưới
hình thức khác, không hơn không kém.
Cuối cùng, Nhà Sư kết luận:
- Vì tham, vì sân, chúng sanh phạm sát,
đạo, dâm, vọng, tửu. Vì tham, vì sân,
màtâm chúng sanh trầm luân mãi giữa biển đời
sinh tử khổ đau. Ngũ Giới nhằm xa lìa những ác nghiệp tiền căn
và cắt đứt mọi trói buộc do những vọng
tâm sai sử. Như vậy,kẻ giữ Ngũ Giới đúng nghĩa là phải
đoạn tuyệt tham sân, đúng như Pháp Cú kinh,
Phật thuyết: "Như bông lài buông rơi những cánh hoa tàn úa, cùng
thế ấy, này chư Tỳ kheo, hãy buông bỏ tham sân". Kẻ nào sát sanh, lấy của
người mà không được cho, lân la vợ người, nói
lời hư vọng và dễ duôi dùng chất say, kẻ ấy
đã tự đào
lỗ chôn mình.
Vậy này chư Phật tử! Hãy bảo trọng Tam Quy và Ngũ Giới
như bảo trọng con ngươi của mắt mình, như chim bảo vệ cặp cánh, như người
mẹ bảo vệ đứa con một ... Chớ quên!
Chớ dễ duôi! Chớ quên! Chớ phóng dật!
Rời gia đình người
Phật tử, hai thầy trò lại lên đường. Lúc ấy
khoảng ba giờ chiều.
Bất Ác nói:
- Sao Thầy không chấp thuận lời mời,
để trời mát hãy
đi cho khoẻ!
Nhà Sư nói:
- Bất Ác! Con có thấy rằng, trong lời nói của con vừa
rồi ẩn chứa một kiếm tìm nghỉ ngơi nào đó?
Một thoả mãn hoặc một tiện nghi an toàn nào
đó? Tất cả đấy là những trá hình của
dục vọng, của bản ngã? Tất cả đấy là
những cách thế trốn chạy thực tại mà người học Ðạo, học sự Giác Ngộ có bổn
phận phải thấy, phải biết?
Bất Ác le lưỡi:
- Thầy nói đúng y chang!
Con đã thấy rồi!
Bước chân của hai người dẫn
đến một khu phố náo nhiệt, có một số người ăn
xin nằm, ngồi, đứng vất vơ bên đường.
Nghĩ đến bài học hồi sáng, Bất Ác đem
cho hết mấy chiếc khăn mặt, cùng với số tiền mà gia
đình kia
đã cúng dường.Thấy trên khuôn mặt Bất Ác loé sáng niềm vui,
đến một khoảng đường vắng, Nhà Sư mới
nói:
- Con ạ! Chính những điều
Thầy đã dạy, con cũng đừng nên
coi đó là những mẫu mực, những quy
tắc. Ðấy không phải là những công thức cố
định nhằm áp dụng cho tất thẩy mọi tình huống phức tạp và
đa dạng của cuộc đời. Ðấy chỉ là sự
gợi ý, mở phơi để cho con tự học lấy bài
học Giác Ngộ. Bởi vậy, con phải biết vượt qua lời Thầy bằng sự sáng tạo
linh động từng lúc ở nội tâm con, bằng
tuệ-minh-sát thường trực ở trong con. Nếu thấy "sự cho" vừa rồi là
nhằm "thoả mãn" một cái gì đó ở trong con, thì
sự "thoả mãn" ấy cũng được nhìn ngắm:
nó là hỷ tâm? là an lạc? Là dục vọng? hay bản ngã? Hãy cho với tâm của hư
không vắng lặng. Tâm xả. Ðừng trụ tướng. Hãy trôi! Hãy chảy! ...
Bất Ác nhíu mày suy nghĩ.
Nhà Sư vỗ về:
- Thầy biết đấy là
những bài học qúa sức con. Con có thể hiểu nhưng chưa biết! Con có thể
biết nhưng chưa thấy! Thầy muốn dẫn con đi lên,
đi lên mãi cho
đến chỗ không còn gì
để lên. Chỉ có sự
đi lên toàn triệt và tối thương ấy,
chúng ta mới đến được chỗ giải thoát. Con ạ!
Bất cứ ai trên lộ trình ấy cũng ít nhiều va vấp, dính mắc, chấp
trước, dừng lại ... chứ không phải chỉ riêng con
đâu. Ðừng lo ngại,
đừng sợ hãi,
đừng bận tâm. Bên con còn có huynh
đệ, chư Sư Thúc, Thầy, Sư Bá
... và cả Sư Tổ Vô Tướng Ðại Sư nữa. Nhiều lắm! Con
đường ấy không phải chỉ có một mình
một nình con đi!
Căn nhà khá khang
trang được hiện rasau bờ tường thấp, cổng mở,
hai thầy trò bước vào. Một con chó lớn chồm lên sủa inh ỏi, hung
tợn. Hai thầy trò giữ tâm xả, lặng yên. Không thấy một năng
lực xung đột, kháng cự nào, con chó lùi dần. Một người làm vườn
đứng tuổi, lễ độ bước ra chào hỏi:
- Thưa Thầy, chẳng hay ...
Nhà Sư mỉm cười:
- Bần Tăng là bạn
vong niên của chủ nhà!
- Dạ, có ạ, để tôi dẫn
lối.
- Cảm ơn. Phải chăng chủ
nhà vẫn hay tham thiền ở sau thiền thất vào mỗi buổi chiều?
- Dạ!
- Vậy thì không dám phiền,
để chúng tôi tự đi!
Lối đi lót sỏi trắng. Vườn
hoa, non bộ, cây cảnh được chăm sóc, tỉa tót một cách công phu, có nghệ
thuật. Bất Ác tấm tắc khen ngợi.
Nhà Sư nói với chú:
- Con ạ! Lối đi lên
của mỗi người tu Phật cũng cần được lót sỏi
trắng. Con đường ấy cần phải phong quang, sáng sủa, đẹp, thanh cao; ấy là
Bát Chánh Ðạo. Tâm viên của mỗi người cũng cần phải có công phu và nghệ
thuật như thế này. Những lau lách, gai góc và cỏ dại cần
đốn bỏ, làm sạch tận gốc, nhất là
những bụi tham, khóm sân, cây si. Các thiện pháp cần
được vun quén, chăm sóc tỉa tót, nâng niu. Và
như vậy thì những đoá hoa vô ưu, vô phiền sẽ
nở; những cành lá tươi tắn sẽ nẩy lộc,
đâm chồi ...
Bất Ác đang cúi đầu suy
nghĩ về những lời dạy bảo ấy thì một người hiện ra:
- Chào Ðại Sư!
- Chào Thượng nhân! Thầy trò chúng
- Dạ, không dám! Mấy khi chúng tôi có
được hân hạnh thế này.
Chủ nhà tuổi trung niên, người gầy cao, ốm xanh, vận
đồ bà ba trắng dẫn lối hai thầy trò.
Vào phía trong, dưới mái hiên xanh, một bộ ghế mây
đặt trên vuông
đất lót đá hoa, xung quanh mấy bụi hoa lài,
hoa sói, tường vi thoảng mùi thơm thanh khiết, dịu dàng.
Sau khi pha trà, châm trà, cạn vài chung
đậm đà, chủ nhân dẫn chuyện.
- Mấy năm gần đây, tâm tôi
chán nản thế gian thật sự. Tôi đã thấy rõ
đây là cõi tạm trú chứ không phải quê
hương đích thực của mình. Quả thực là
có một cảnh giới thanh cao hơn, vi diệu hơn mà tôi
đã gặp luôn,
đã thấy luôn trong những cơn xuất thần
ngây ngất của thiền định ...
Nhà Sư chăm chú lắng nghe,
chủ nhà tiếp:
- Ðôi khi lạc vào một cảnh giới, trở về, chung quanh
tôi còn thơm ngát những mùi hoa kỳ diệu mà ngôn ngữ thế gian không thể
diễn tả nổi. Tôi chìm ngập, đắm say, hỷ hoan,
lạc phúc; và rồi cảm nhận ra được cái
tục lụy, bất tịnh, ô nhiễm của thế gian này. Nếu không còn bổn phận
với gia đình thì tôi
đã ra đi,
ra đi hẳn, không thèm trở về đây
nữa...
Chủ nhà ngưng nói, Nhà Sư thấy cần phải tỉnh thức người
đối diện:
- Quả vậy! Quả thật là có cảnh ấy, có lạc phúc, có
hương thơm vi diệu. Và Thượng nhân đến một
lúc nào đó sẽ bỏ thế gian bất tịnh,
xấu xa này để ra đi, ra đi mãi
và không có chỗ trở về! Thượng nhân sẽ ra đi
mãi để chạy tìm, săn
đuổi những thỏa mãn của cảm giác: những hình thức từng lúc từng
tinh vi và xảo trá hơn của Ma Vương, của Dục Lạc! Thượng nhân thấy cái ô
nhiễm, cái tục lụy của trái đất vì cái
đó không làm thỏa mãn
được bầu dục vọng, hố si mê trong
Thượng nhân! Trái đất này và những hoa
trái của nó không làm vừa lòng Thượng nhân, nên Thượng nhân muốn
đi tìm những hạnh phúc khác. Nhưng
đấy có phải là hạnh phúc chân thực chăng?
Hạnh phúc chân thực không phải là sản phẩm của ý thức, của tâm trí,
cũng không phải là sản phẩm của cảm giác. Thượng nhân phải coi chừng và
lưu ý, kẻo đến một lúc nào
đó, Ma Vương và Dục Vọng sẽ lôi kéo
Thượng nhân ra đi mà không thể cưỡng
lại được nữa! Hãy dừng lại, bậc thượng
trí! Hãy dừng lại, người bạn vong niên! Hãy dừng lại, ngắm nhìn nó và xem
nó là cái gì?!
Giọng nói hùng hồn và ý nghĩa
đanh thép của Nhà Sư như một gáo nước
lạnh hắt tạt vào người đối diện. Chủ nhà
chợt dựng thẳng lưng, bàng hoàng, kinh ngạc. Nhà Sư nghĩ thầm là phải
đánh phá triệt để, phải đập cho ông ta tỉnh
dậy, không thể nương tay được nữa:
- Thượng nhân bạc nhược và yếu
đuối. Thượng nhân đang đen tối và
đang si mê. Thượng nhân chưa học
được giáo pháp cơ bản, chưa phân biệt đâu
chánh, đâu tà; huống hồ là tinh yếu của giáo pháp, huống hồ là
trang bị cho mình trí tuệ để tự soi! Thượng
nhân có thấy rằng, vì bất lực, bất an, bất mãn cái hiện tại nên
muốn đi tìm một cái khác cao thượng
hơn? Thượng nhân có thấy rằng vì chán nản, xung
đột tự bên trong nên Thượng nhân muốn
đi tìm một cái "ở ngoài mình", cái
khác với "cái bây giờ"? Thượng nhân có biết rằng, cái cảnh giới kia chính
là ý niệm dự phóng của Thượng nhân; và cái "ở ngoài mình", "cái khác với
cái bây giờ', là "hướng ngoại cầu huyền" và vọng tưởng
đó chăng?
-Thấy chủ nhân đang ôm đầu
suy nghĩ, Nhà Sư cất giọng như thác
đập vào ghềnh đá:
-Này Thượng nhân! Thượng nhân có biết rằng chân lý,
Niết Bàn nó ở ngay nơi chính cái hiện tiền
đang trôi chảy này không? Chỉ có cái hiện tiền
đang trôi chảy ấy là "thực"! Nó "thực"
với chẳng sinh chẳng diệt, chẳng hữu chẳng vô, chẳng thường chẳng
đoạn, chẳng khứ chẳng lai, chẳng nhất chẳng
dị, chẳng tịnh chẳng cấu, chẳng tăng chẳng giảm, chẳng khổ chẳng vui,
chẳng bờ này chẳng bờ kia không? Vậy Thượng nhân phải biết quay trở
lại với hiện tiền này, trọn vẹn con người mình
đây với ngoại giới; nơi ấy chính là sự
sống, là vận hành thiên thu của sự sống. Khổ
đau và phiền não là ở đây.Vô phiền, vô
khổ cũng ở đây. Chẳng có một quê hương nào khác. Chẳng có một vĩnh
cửu nào khác. Hãy lấy chính quả đất hoạn nạn
và đau thương này làm chổ ở y
mà hiện quán. Hãy giải thoát sinh tử trầm luân. Ðừng chấp nhận một vài an
vui dễ dãi, tạm thời. Hãy lên đường! Hãy
"hồi đầu thị ngạn"!
Uống cạn thêm mấy chung trà trong dáng dấp trầm tư ,
sầu não; chủ nhà chậm rãi nói:
- Ðại sư đã cho tôi
uống những chén thuốc đắng, quá đắng.
Ðại sư đã quẳng tôi vào rừng hư vô bát
ngát. Tôi đang không thấy gì, không
biết gì, chẳng rõ mình là ai, r ồi phải làm gì? Tôi
đang thất vọng, đang tuyệt vọng. Hãy
cứu tôi!
Nhà Sư đứng dậy:
- Vì hoài niệm quá khứ,
đeo níu quá khứ nên bị bít bùng, đoanh
vây trong ma ảnh, ảo ảnh; những đám mây đen không thực có, những xác chết
đã chôn lấp lâu rồi! Vì vọng tưởng, vọng móng, mơ về tương lai chưa
đến nên bị vong thân, ly tính; bị chập
chùng trong những dự cảm, dự thức của dục vọng và bản ngã. Vì dính mắc
trong hiện tại nên bị đắm, bị chìm, bị
rối loạn và đánh mất sự quân bình tâm
hồn.
Hỡi kẻ thượng trí! Hỡi bậc thượng nhân! Hãy nghe lời
của Ðức Phật:"Hãy gỡ mình ra khỏi quá khứ, hãy gỡ mình ra khỏi tương lai,
hãy gỡ mình ra khỏi hiện tại để đến bờ kia,
chẳng nên cam chịu hoài cảnh sinh tử nữa".
Chủ nhà ngơ ngác ngước đầu
lên hỏi:
- Làm sao gỡ mình ra khỏi hiện tại?
- Thượng nhân phải biết trầm lặng,
định tĩnh tâm hồn để lắng nghe. Phải biết
lắng nghe với tâm thái trong sáng trong từng giây khắc một. Lắng nghe tất
cả các pháp đến và đi, không thủ,
không xả, không chấp trước, không khởi ý, hoàn toàn vắng lặng và
viên minh. Chỉ có thế thôi! Rồi Thượng nhân sẽ thấy gỡ mình ra khỏi
hiện tại nó như thế nào! Hãy tự mình thắp
đuốc lên mà đi. Hãy nương tựa
nơi chính mình, là hòn đảo của mình,
đừng tìm nơi nương nhờ nào khác!
Bần Tăng đã khuấy
sóng mặt hồ bình yên giả tạm của Thượng nhân và
để lại đấy những xáo trộn, những bất an. Vậy
hãy thử lắng nghe cái xáo trộn, cái bất an. Vậy hãy thử lắng nghe
cái xáo trộn, cái bất an ấy? Thượng nhân là cái ấy, hay không là
cái ấy?
- Tôi vẫn chưa hiểu.
- Vấn đề không phải là
hiểu. Phải biết. Phải thấy. Vấn đề là
biết và thấy.
- Tôi vẫn chưa biết, chưa thấy.
- Ðừng lặp lại một cách máy móc, một cách vô thức! Cũng
đừng nỗ lực vận dụng tâm trí, vì nếu
vậy, Thượng nhân sẽ rơi vào cái bẫy dịu dàng và êm ái của ý dục và
trí dục.
- Tôi lại càng rối loạn.
- Hãy lắng nghe chính cái rối loạn ấy. Nó là
ta hay không phải là ta?
- Tôi đang không biết gì
hết.
- Kể cả cái "không biết gì hết" ấy. Nó là ta hay
không phải là ta?
- ......!?!?!?
- Kể cả cái "khoảng trống" mà Thượng nhân
đang im lặng đó nữa, nó là ta
hay không phải là ta?
Ðể cho kẻ đối diện trầm
tư. Nhà Sư quay lưng từ giã:
- Chúng tôi xin chào và ra
đi, xin gởi đến Thượng nhân một lời cuối cùng: "Bây giờ Thượng nhân
đang cố vận dụng tâm trí nhằm thỏa mãn
sự hiểu biết, tìm ra một lời giải, một đáp số
nào đó, cũng như Thượng nhân đã
từng dụng công thiền định để thoả mãn
tham vọng tâm linh của mình. Lòng sở cầu của Thượng nhân sẽ
đạt được - bần Tăng
tin như vậy - nhưng cuối đường tìm
kiếm của tham vọng, của thỏa mãn ấy là gì? Là thực tại ư? Là chân lý ư? Là
Thượng Ðế ư?"
Ði bên cạnh Nhà Sư mà Bất Ác còn như nghe văng
vẳng bên tai những đoạn đối thoại kỳ
lạ vừa rồi. Chú không hiểu gì hết. Té ra tri thức của con người còn
quá cao vời, sâu thẳm hơn là chú tưởng. Nhưng tri thức, hiểu biết
đường như không phải là trí tuệ? Ôi!
Thật là biển học mênh mông, không bến, không bờ!
- Con vừa thở dài, hiện con
đang bị bấn loạn bởi điều gì?
- Dạ, quả thật như vậy!
- Và rồi hiện giờ, cũng như cư sĩ kia, tâm trí con
không còn biết bám víu vào đâu, có phải vậy
chăng?
- Dạ, đúng thế!
Nhà Sư cất lời an ủi:
- Con ạ! Rồi một lúc nào
đó con sẽ thấy thôi. Ðừng nóng nảy. Trái cây chưa chín vì
chưa đủ thời gian, vậy đừng mong nó sẽ chín
vội; chín vội nó sẽ đắng, sẽ chát. Cũng vậy, hãy lặng lẽ
đi theo lộ trình,
đi theo dấu chân của chính mình, bằng
toàn bộ con người mình, thường trực tỉnh giác và thường trực lắng nghe. Và
như vậy, sáng suốt và định tĩnh sẽ luôn luôn
có mặt ở nơi con. Lối đi ấy là chánh
đạo. Mà chánh đạo thì
đến bến đến bờ, không chóng thì chầy
thôi!
Trời đã tối hẳn,
hai thầy trò xin vào trú ngụ nơi một ngôi chùa vắng ở ngoại ô. Vị Sư già
người gầy guộc, quắc thước, dáng dấpnhanh nhẹn, diện mạo nghiêm trang;
tiếp Nhà Sư bằng nụ cười cởi mở, thân thiện:
- Nghe tiếng Nhà Sư đã
lâu nay mới hân hạnh được gặp mặt, thật là
nhân duyên lớn. Xin Nhà Sư cạn chung trà cho ấm lòng.
Hai người cùng chấp tay tương kính. Những nụ cười
đầm ấm, dịu dàng. Bất Ác
đứng khép nép bên sau Nhà Sư mà cảm
nghe tâm hồn thật là yên ả, thanh bình.
Vị Sư già lim dim mắt một lúc rồi nói:
- Ðời sống của một vị du tăng
hành cước như Nhà Sư quả thật là nhẹ nhàng, thanh thoát. "Dã hạc
vô lương, thiên địa khoan". Quả
vậy, chỉ có tam y, bình bát, chiếc mỏ, cặp cánh mà thong dong biển rộng
sông dài, gác ngoài tai muôn hệ lụy nhân sinh.
Nhà Sư vẫn im lặng, vị Sư già tiếp:
- Ðời sống của Nhà Sư quả là giải thoát. Vậy chẳng hay
Nhà Sư có sứ mạng gì để làm nữa? Mục
đích nào
để đạt tới? Bổn phận và trách nhiệm nào phải hoàn thành? Hay Nhà Sư
dã hoàn toàn rãnh việc, đã hoàn toàn
buông bỏ mọi gánh nặng trên vai?
- Cám ơn sự tán thán của Ngài, quả thật bần Tăng
chưa dám là như vậy.
Vị Sư già mở mắt ra, nụ cười xởi lởi:
- Quý hoá thay! Quả đúng
Nhà Sư là một người cao thượng có một
đời sống rất cao thượng vậy!
Nhà Sư cất giọng điềm đạm:
- Trước khi trả lời, bần Tăng
xin hỏi Ngài về ý nghĩa của hai chữ "cao thượng"? Phải chăng
cao thượng là vì thấy mình thành tựu những giá trị to lớn? Ðã thấy
mình đủ giới và trí? Ðã thấy mình
trong sạch và vắng lặng giữa thế gian bất tịnh và huyên náo nầy?
- Phải vậy!
- Thế thì bần Tăng chẳng
có cốt cách gì cao thượng như Ngài đã
nghĩ. Bần Tăng sống đời bình thường
của một tỳ khưu xin ăn bình thường.
Vị Sư già nhạc nhiên:
- Sao lại thế được! Không
cao thượng sao được khi cuộc đời này Nhà Sư không còn dính líu dù
chỉ cái gót chân? Nhà Sư đã xa lìa bụi
bặm cuộc đời, sống hạnh khước từ, tri túc,
tri chỉ; giới luật tinh nghiêm, lục căn
thu thúc, thiền quán tinh cần; sống đời vô trú rày
đây mai đó, tùy duyên hoá
đạo như mây trắng ngàn phương, thong
dong tự tại. Ðời sống như vậy mà không cao thượng thì trên thế gian này
còn gì gọi là cao thượng nữa?
Nhà Sư mỉm cười:
- Ngài nói hơi quá! Tuy nhiên, nếu sống mà tốt
đẹp được như thế thì tôi cũng không
dám nghĩ rằng sống vậy là để mà hơn
người, hơn đời, hay để cho mình
được cao thượng hơn.
Vị Sư già nhíu mày:
- Vậy sống như thế để làm
gì?
- Thưa Ngài, là để mà
học bài học Giác Ngộ!
Vị Sư già ngẫm ngợi hồi lâu:
- Dẫu thế nào Nhà Sư cũng quá khiêm nhường!
Nhà Sư đáp:
- Chẳng phải thế!
Vị Sư già ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao?
- Vì bần Tăng biết và
thấy. Bần Tăng biết và thấy rằng,
khiêm nhường là ngã mạn, khiêm nhường là thấy mình ở trên cao phải hạ thấp
xuống, khiêm nhường là để được an toàn
bản ngẵ, để được người ta kính trọng, nể vì.
Trên tất cả, khiêm nhường thường ẩn chứa bóng tối của dối trá và hư nguỵ.
Bởi vậy, bần Tăng như thế nào thì xin
được là như thế ấy. Bần Tăng
là người ăn xin đúng nghĩa, cho nên
cao thượng không có trong bần Tăng mà
khiêm nhường cũng không có trong bần Tăng!
Vị Sư già lưng thẳng dậy:
- Thật là lạ lùng. Quả là tôi mới nghe lần
đầu. Nhưng xin Nhà Sư cho tôi dược hỏi
tiếp: Tại sao cao thượng là không mà khiêm nhường cũng bảo là không?
- Thưa, tất thảy chúng là vận hành của bản ngã, nói rõ
hơn, là chiếc bẫy vô hình của Vô Minh và Ái Dục.
- Khiếp!
Nhà Sư tiếp lời chậm rãi:
- Chúng ta nên sống với tri như thực, kiến như thực;
đừng sống với những quy ước, những tầng bậc
giá trị của thế gian. Chúng ta là kẻ tu hành, vậy thì hãy bước ra
ngoài mọi hào quang của chân lý ước lệ và hào quang của những ngôn ngữ sáo
mòn. Sự sống đích thực không cần chúng. Chân
trời giác ngộ, giải thoát nó rộng rãi, khoáng
đãng và mênh mông vô lượng hơn nhiều.
Vị Sư già nắm chặt hai tay Nhà Sư, cất giọng xúc
động:
- Thật là tri ân, Nhà Sư đã
mở mắt cho tôi, nhờ vậy tôi mới biết rằng, từ lâu, tôi
đã sống trong cái giá trị hữu vi, tôi
sống với sự vận hành của bản ngã.
Nhà Sư cũng cảm động:
- Ðấy là lời chân thật tự
đáy lòng, bần Tăng rất hoan hỷ.
Vị Sư già cúi đầu hồi lâu:
- Nhà Sư có thể giảng giải rộng những
điều vừa nói cho tôi thông suốt vấn đề, được
chăng?
- Xin vâng! Nhà Sư nói - Ngài là một vị chân tu,
đứng đắn, đàng hoàng,
đạo đức nhưng vì thiếu trí tuệ nên kết
quả tu hành của Ngài chỉ gặt hái được phước
hữu lậu nhân thiên mà thôi.
Vị Sư già nói:
- Ðúng vậy, nhưng tôi còn có hành thiền
định.
- Tại sao Ngài lại công phu thiền
định?
- Là để đối trị với xáo
trộn, bất an, phóng dật, lo âu, sợ hãi ...
- Ðồng ý thế rồi, và Ngài
đã tìm được hạnh phúc?
- Thú thật là có, hai ba giờ hoặc một hai ngày, tôi cảm
thấy hạnh phúc khi nhập định.
NhàSư mỉm cười:
- Có khi nào Ngài nghĩ rằng vì bực tức, bất mãn, không
hài lòng những cái diễn ra nơi nội tâm, nên Ngài mong muốn nhập
định để tìm cái hạnh phúc và an lạc
khác. Bực tức, bất mãn, không bằng lòng là do sân, và thoải mái
trong hạnh phúc thiền định là do
tham, Ngài có thấy không?
- Quả thật tôi chưa hề nghĩ
đến.
- Như vậy là vì bất an, bất an, bất mãn cái hiện tại
nên Ngài muốn chạy trốn cái hiện tại. Ngài mong một cái gì khác
để khỏa lấp chúng đi! Tất cả đấy chứng tỏ
rằng, Ngài đang muốn thành tựu
cho một bản ngã, khuếch đại bản ngã
bằng tham vọng vi tế hơn là sở đắc thiền
định!
Vị Sư già ngạc nhiên:
- Vậy thì các vị thánh nhân A La Hán, Chư Phật không có
hành, không có đắc, không cao thượng gì
hết sao?
- Dĩ nhiên các Ngài có hành, có
đắc, có cao thượng.
- Tôi nghe dường như mâu thuẫn.
- Không có mâu thuẫn đâu
- Nhà Sư ôn tồn đáp - các Ngài
hành, đắc, cao thượng, để mà giác
ngộ "cái tôi", các Ngài vô ngã, còn
đắc định như vừa rồi là hữu ngã.
Vị Sư già gật đầu nhưng
lại hỏi:
- Vậy làm thế nào để được
vô ngã?
- Vô ngã không phải là làm như thế này hoặc làm như thế
kia. Vô ngã cũng không phải là cái để mà
hành, mà đắc hoặc là
để hiểu và biết. Vô ngã thuộc phạm
trù của "cái thấy", của tuệ giác. Ngài nên nhớ rằng,
đừng mong cầu để được vô ngã, tại sao
vậy? Vì khi Ngài mong cầu vô ngã, rồi quyết
định thành tựu cái vô ngã ấy, thì cuối cùng Ngài sẽ
đạt được một cái NGÃ VÔ NGÃ!
Vừng trán vị sư già cau lại, Nhà Sư nghĩ rằng
đã buông lời là buông luôn, không còn
giữ lại:
- Ngài như thế nào thì Ngài thấy như thế ấy, như thế ấy
với khuôn mặt như thực của mình, không thêm, không bớt, không thủ,
không xả. Và đấy mới bước qua phạm trù
của quán chiếu bát nhã, của tuệ giác. Tuệ giác là thường
trực trú nơi "vô ngã". Tôi nói "trú" một cách cố ý, vì rằng, Ngài phải
thường trực trú nơi cái hiện tiền trôi chảy của tâm niệm, của tư tưởng.
Bất kể tâm niệm, tư tưởng ấy là gì, là tốt, là xấu, là
đục, là trong cũng
đều được ghi nhận một cách rõ ràng,
chính xác! Nói cách khác, Ngài phải thường trực chánh niệm, tinh tấn và
tỉnh giác trước các pháp đến và
đi qua tâm thức. Thường trực lắng nghe chính
mình một cách khách quan, đừng đồng lõa
với cái gì, mà cũng đừng chấp nhận, phản ứng
hoặc biện hộ cho cái gì. Tuệ minh sát phải trong sáng, sắc bén,
không thiên vị và hoàn toàn trung chính. Ðừng bất mãn cái gì,
đừng mong muốn cái gì, vì bất mãn là
sân, mong muốn là tham! Vậy chỉ có một việc duy nhất là chăm
chú và trầm tĩnh lắng nghe. Chỉ có lắng nghe như vậy Ngài mới cắt
đứt được tham sân và thấy rõ vô ngã
là gì!
Nhà Sư ngừng nói hồi lâu, vị Sư già mới góp lời:
- Bấy lâu, tôi thấy tôi thành tựu
được nhiều, Nhà Sư
đã lột trần tôi ra và tôi thấy mình
chẳng còn gì nữa cả!
- Ðúng vậy! Lời thổ lộ ấy của Ngài mới thật là cao quý:
Lời của ý-thức-vô-ngã! Như vậy, thưa Ngài, cao thượng
đúng nghĩa là khi mình toàn triệt vứt
bỏ được "cái tôi". Vứt bỏ cũng chỉ là
cách nói, chứ thật ra, khi thấy thì Tất cả Pháp
đều là vô ngã. Các Pháp là vô ngã thì
lấy gì để sở đắc, thành tựu? Hoàn toàn
không! Rốt ráo không! Tuy nhiên, cái không ấy không phải là hư vô mà nó là
chìa khoá để mở cửa Niết Bàn!
Trên đường trở về chùa,
Bất Ác nói với Nhà Sư:
- Một ngày hai đêm
đi với Thầy con học được một vài
điều.
- Con hãy nói xem nào.
- Thứ nhất, thấy việc thiện là làm ngay, cương quyết và
dứt khoát.
- Giỏi lắm!
- Thứ hai, chỉ có việc chăm
chú và trầm tĩnh lắng nghe, còn hiện tại, quá khứ, vị lai
đều đẹp qua một bên.
- Khá lắm!
- Thứ ba, kham nhẫn hoàn cảnh và chịu
đựng gian khổ.
- Rất đúng! Còn gì
nữa không con?
Bất Ác lắc đầu:
- Chỉ chừng đó thôi, còn
câu chuyện thiền và vô ngã gì gì đó thì
con mù tịt!
Nhà Sư trầm ngâm một lúc lâu:
- Thật ra, con học đươc
như vậy cũng đã khá nhiều. Vậy từ bài học ấy, từ nay, con
đã biết cách
đối trị với cái tâm thụ động, tiêu
cực, đôi khi lại còn biếng nhác, dễ
duôi nữa. Tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác con cũng còn thiếu, có phải thế
không? Nhưng còn điều quan trọng hơn,
là Thầy chỉ muốn đánh thức ở nơi con một điều
gì đó, để con tự tỉnh dậy và tự
bước đi bằng hai chân của mình, trên
lộ trình của chính mình!
---o0o---
Mục
Lục | 01
|
02
|
03
|
04
|
05
---o0o---
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Source: Buddhasasana Homepage
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật :
01-02-2003